Mật Mã 813

Lượt đọc: 216 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
hắc y nhân

1.

Ngay lúc đó, Arsène Lupin có một cảm giác, một cảm giác chắc chắn, rằng mình đã bị dụ vào ổ phục kích, bằng một cách nào đó mà anh ta không có thời gian để hiểu cặn kẽ, nhưng anh ta thấy kỹ năng và độ tinh vi của nó thật sự hết sức phi thường. Tất cả mọi đường đi nước bước đều được tính toán kĩ lưỡng, được sắp đặt đâu ra đấy, không chút sơ hở; đầu tiên là lừa người của anh ta đi chỗ khác, những người hầu đột ngột bỏ đi, hoặc đã phản lại bà chủ, rồi nhử cho anh ta phải vào trong nhà bà Kesselbach.

Rõ ràng tất cả những điều này đã thành công đúng theo ý kẻ thù, nhờ vào hoàn cảnh thuận lợi tới mức kỳ diệu; bởi nghĩ mà xem, anh ta có thể đến đây trước khi bức điện tín giả kia được gửi tới lắm chứ. Đáng lẽ đã xảy ra trận chiến giữa băng đảng của anh ta với băng của Altenheim. Nhớ lại cách hành xử của Malreich, vụ ám sát Altenheim, vụ đầu độc cô gái điên ở Veldenz, Lupin tự hỏi liệu cuộc phục kích này có thật chỉ nhắm vào một mình anh ta hay không, hay là Malreich không lường trước được khả năng xảy ra một cuộc hỗn chiến, kéo theo việc giết hại những đồng phạm lúc này đã khiến hắn khó chịu.

Một tia trực giác, hay đúng hơn, một ý nghĩ chợt vụt qua trong đầu anh ta. Đây là lúc dành cho hành động. Anh ta phải bảo vệ Dolorès - người rất có thể sẽ bị bắt cóc, mục tiêu đầu tiên và chính yếu của cuộc tấn công này.

Anh ta hé cánh cửa ở ô cửa sổ nhìn ra đường phố và chĩa súng ra. Một phát súng, xóm giềng sẽ tỉnh giấc và náo động, và những tên cướp sẽ phải bỏ chạy.

“Chà, không được!” Anh ta lẩm bẩm. “Không được! Không được để người ta nói rằng mình trốn tránh cuộc chiến. Cơ hội ngàn vàng thế này... Vả lại, ai mà biết chúng có bỏ chạy hay không!... Chúng rất đông, đủ để áp chế mấy người hàng xóm.”

Anh ta quay lại phòng của Dolorès. Có tiếng động ở tầng dưới. Anh ta lắng tai nghe và xác định được tiếng động phát ra từ phía cầu thang. Anh ta khóa cửa lại.

Dolorès khóc thút thít và quằn quại trên chiếc ghế dài.

Anh ta khẩn khoản van xin nàng: “Bà đủ sức chứ? Chúng ta đang ở lầu một. Tôi có thể đỡ bà xuống. Chúng ta có thể thả khăn trải giường qua cửa sổ làm dây đu...”

“Không, không, đừng bỏ tôi... Chúng sẽ giết tôi... Xin hãy bảo vệ tôi.”

Anh ta ôm nàng vào lòng và bế nàng sang phòng bên cạnh. Cúi xuống bên nàng, anh ta nói: “Đừng cử động và hãy giữ bình tĩnh. Tôi xin thề với bà, một khi tôi còn sống, không ai trong số chúng được động đến bà.”

Cánh cửa căn phòng đầu tiên bật mở. Dolorès lấy hết sức bám chặt lấy anh ta, khóc lóc: “Ối, chúng tới rồi! Chúng tới rồi!... Chúng sẽ giết anh mất... Anh chỉ có một mình!...”

Anh ta tha thiết nói với nàng: “Không, tôi không chỉ có một mình... Em ở đây... Em ở đây bên cạnh tôi...”

Anh ta cố tách ra khỏi nàng. Nàng lấy hai tay ôm lấy đầu anh ta, nhìn thật sâu vào mắt anh ta và thì thầm: “Anh định đi đâu? Anh định làm gì? Đừng... Anh không được chết... Tôi không cho phép... Anh phải sống….. Anh phải sống.”

Nàng lắp bắp những từ gì mà anh ta không nghe được và hình như nàng giấu những lời ấy giữa làn môi để anh ta không nghe được; và, đã sức cùng lực kiệt, nàng lại bất tỉnh.

Anh ta nghiêng người về phía nàng, chăm chú ngắm nàng trong giây lát. Thật dịu dàng, thật khẽ, anh ta đặt một nụ hôn lên tóc nàng.

Rồi anh ta quay lại căn phòng đầu tiên, cẩn thận đóng kín cánh cửa thông giữa hai phòng, bật đèn điện lên.

“Từ từ đã nào, các anh!” Anh ta nói lớn. “Xem ra các anh sốt ruột muốn bị dần cho tan xương thật đấy!... Các anh không biết Lupin đang ở đây à? Tôi sẽ khiến các anh phải nhảy múa!”

Vừa nói, anh ta vừa kéo màn để che chiếc ghế dài nơi bà Kesselbach nằm khi trước; rồi anh ta ném váy áo và chăn màn lên đó. Cánh cửa chuẩn bị bật tung ra trước những cú húc của lũ người bên ngoài.

“Đây! Tôi tới đây! Các anh đã sẵn sàng chưa? Nào, các quý ông, từ từ thôi!”

Anh ta nhanh tay vặn chìa khóa và kéo chốt.

Tiếng la hét, dọa dẫm, một mớ âm thanh hỗn độn om sòm phát ra từ một đám lúc nhúc những con thú điên rồ ào qua ngưỡng cửa rộng mở.

Vậy mà không tên nào trong số đó dám tiến lên phía trước. Trước khi lao đến Lupin, chúng ngập ngừng, hoảng hốt, sợ hãi...

Anh ta đã tính tới tình huống này.

Đứng giữa căn phòng sáng rực ánh đèn, tay dang ra phía trước, anh ta kẹp giữa hai ngón tay một xấp tiền mà anh ta đã chia sẵn thành bảy phần bằng nhau, phẩy tay lên xuống để đếm từng tên một. Và anh ta điềm nhiên nói: “Ba nghìn franc tiền thưởng cho mỗi người nếu đưa được Lupin về chầu tiên tổ hả? Các anh được hứa hẹn như thế phải không? Đây, hẳn gấp đôi!”

Anh ta đặt xấp tiền lên bàn, ngay trong tầm với của bọn cướp.

Gã Lái Buôn hét lên: “Tầm phào! Hắn đang cố câu giờ đấy. Bắn hắn đi!”

Gã giơ tay lên. Đám đi cùng kéo gã lại.

Lupin nói tiếp: “Dĩ nhiên, chuyện này không ảnh hưởng tới kế hoạch tác chiến của các anh. Các anh đột nhập vào đây, đầu tiên là để bắt cóc bà Kesselbach; kế đến là để khoắng hết đồ trang sức của bà ấy. Tôi mới là nạn nhân khốn khổ cuối cùng nếu nhúng tay can thiệp vào phi vụ đáng ca ngợi này của các anh.”

“Mi muốn nói gì?” Lái Buôn gầm gừ. Dẫu không muốn, gã vẫn đứng đó nghe Lupin nói.

“A, Lái Buôn, tôi bắt đầu thấy quan tâm đến anh đấy... Vào đi, anh bạn... Vào hết cả đi... Đầu cầu thang bao giờ cũng có gió lùa đấy... và những con người dễ thương như các anh không nên để mình bị cảm lạnh đâu... Gì thế? Mình có gì phải sợ nào? Chỉ có mình tôi ở đây thôi! Nào, can đảm lên, các chú cừu của tôi.”

Chúng bước cả vào phòng, vừa tò mò vừa ngờ vực.

“Đóng cửa lại, Lái Buôn... như thế chúng ta sẽ thoải mái hơn. Cảm ơn, ông bạn! Ồ, nhân tiện, tôi thấy mấy tờ bạc biến đầu cả rồi. Thế nghĩa là chúng ta đồng ý với nhau rồi nhé. Những người lương thiện với nhau làm việc mới dễ dàng làm sao!”

“Rồi sao nữa đây?”

“Sao nữa á? Chà, do chúng ta là cộng sự...”

“Cộng sự?”

“Sao? Không phải các anh đã nhận tiền của tôi rồi ư? Chúng ta đang làm việc cùng nhau, anh bạn ạ, và chúng ta sẽ cùng nhau bắt cóc người phụ nữ trẻ kia trước; rồi ôm hết chỗ trang sức đi sau.”

Lái Buôn nhếch mép chế nhạo: “Việc ấy không cần đến mi.”

“Có, cần đấy, anh bạn ạ.”

“Sao lại cần?

“Vì các anh làm gì biết chỗ cất nữ trang ở đâu, còn tôi thì biết.”

“Bọn ta sẽ tìm ra thôi.”

“Mai. Không phải tối nay.”

“Nào, nói đi. Mi muốn gì?”

“Một phần trong chỗ trang sức.”

“Thế sao mi không lấy đi, mi biết chỗ cất kia mà?”

“Một mình tôi thì không mở được. Có cách mở bí mật, mà tôi lại không biết cách. Các anh cũng đang có mặt ở đây, nên tôi sẽ tận dụng các anh.”

Lái Buôn lưỡng lự.

“Chia nhau chỗ trang sức... chia nhau chỗ trang sức... Mấy viên đá với một ít đồng, chắc thế.”

“Đồ ngốc!... Những hơn một triệu đấy!”

Băng cướp rùng mình khi nghe tin ấy.

“Được lắm!” Lái Buôn nói. “Nhưng ngộ nhỡ Kesselbach trốn thì sao? Cô ta đang ở phòng bên cạnh, phải không?”

“Không, bà ấy đang ở đây.”

Lupin kéo một lá bình phong vào trong giây lát, để lộ đống váy áo và chăn màn mà anh ta xếp trên ghế, rồi che lại ngay.

“Bà ấy đang ở đây, đã ngất đi rồi. Nhưng tôi sẽ không giao bà ấy cho các anh chừng nào chưa chia phần xong.”

“Nhưng…”

“Các anh có thể đồng ý hoặc không mà. Tôi làm một mình cũng không sao. Các anh đều biết tôi giỏi xoay xở thế nào. Tùy các anh thôi...”

Băng cướp quay sang bàn bạc với nhau, rồi Lái Buôn nói: “Nơi cất giấu mà mi nói ở đâu?”

“Dưới lò sưởi. Nhưng do các anh không biết bí mật nên đầu tiên, các anh sẽ dỡ hết các thứ ra: ống lò, kính, đá lát... Dỡ hết! Hẳn sẽ như thế. Vất vả thật!”

“Xì! Bọn ta không ngốc thế! Mi cứ chờ mà xem. Năm phút...”

Gã hạ lệnh, và đồng bọn của gã lập tức bắt tay vào việc với sự hăng hái và kỷ luật đáng ngưỡng mộ. Hai tên đứng trên ghế, cố nhấc tấm kính lên. Bốn tên còn lại tập trung vào lò sưởi. Lái Buôn quỳ xuống, xem xét lòng lò sưởi và ra lệnh: “Hăng hái lên, anh em!... Cùng đẩy nào!... Cẩn thận!... Một, hai... A! Được rồi, nó di chuyển rồi này!...”

Đứng đằng sau bọn cướp, hai tay đút túi quần, Lupin trìu mến nhìn bọn chúng, đồng thời, anh ta say sưa với tất cả niềm tự hào, với tư cách một nghệ sĩ và một bậc thầy, trước một minh chứng cực kỳ ấn tượng về uy quyền của mình, về sức mạnh của mình, về sức thống trị phi thường đối với những người khác. Làm thế nào mà những tên vô lại này có thể lập tức tin sái cổ vào câu chuyện vô lý kia và vội vàng đánh mất hết lý trí, đến mức dâng toàn bộ lợi thế chiến thắng lên cho anh ta như vậy?

Anh ta rút từ trong túi ra hai khẩu súng lục ổ quay rất lớn, điềm nhiên chọn hai nạn nhân đầu tiên mình sẽ bắn hạ và hai kẻ sẽ phải gục xuống tiếp theo, rồi đưa súng lên ngắm và bóp cò, cứ như đang ngắm vào mấy tấm bia trong trường bắn vậy.

Hai phát súng vang lên cùng lúc, rồi hai phát nữa... Những tiếng kêu đau đớn rú lên... Bốn gã đàn ông lần lượt ngã nhào, giống như những con búp bê trong trò ném bóng. “Bảy trừ bốn còn ba.” Lupin nói. “Tôi có nên bắn tiếp không?”

Hai cánh tay anh ta vẫn gio ra phía trước, hai họng súng chĩa thẳng vào Lái Buôn cùng hai tên đồng bọn.

“Thằng khốn!” Lái Buôn gầm lên, tay quờ vào túi tìm vũ khí.

“Giơ tay lên!” Lupin thét lớn. “Nếu không, tôi sẽ bắn!... Đúng thế... Giờ, hai người, tước vũ khí của anh ta. bằng không…”

Hai tên cướp còn lại run rẩy vì sợ hãi, giữ chặt lấy gã cầm đầu, và buộc gã phải phục tùng.

“Trói hắn lại!... Trói mau! Mẹ kiếp!... Trói hắn thì các anh sứt mẻ gì à?... Khi tôi đi khỏi, tất cả các anh đều sẽ được tự do... Nào, xong chưa? Cổ tay trước... Dùng thắt lưng của các anh ấy!... Rồi cổ chân... Mau lên!...”

Bị đả bại và bị trói chặt, Lái Buôn không chống cự gì nữa. Trong lúc đám đồng bọn trói gã, Lupin nhoài người tới, dùng báng súng giáng thật mạnh vào sau gáy chúng. Cả hai gục xuống thành một đống.

“Quá ngon lành!” Anh ta hít một hơi và nói. “Tiếc là không có thêm năm mươi tên nữa. Mình đang có hứng thế mà... Dễ như trở bàn tay... Và ai cũng cười... Anh nghĩ sao hả, Lái Buôn?”

Tên vô lại chỉ nằm đó chửi rủa. Lupin nói: “Vui lên đi, anh bạn! Hãy nghĩ rằng mình đang hợp tác làm việc tốt là cứu nguy cho bà Kesselbach, như thế anh bạn sẽ thấy được an ủi lắm đấy. Và bà ấy sẽ đích thân tới cảm ơn anh vì việc nghĩa hiệp này.”

Anh ta bước tới cánh cửa thông sang căn phòng thứ hai và mở nó ra.

“Chuyện quái gì thế này?” Anh ta giật mình, đứng chết sững ở ngưỡng cửa và kêu lên.

Căn phòng bên đó trống không.

Anh ta bước tới gần cửa sổ, và thấy có một cái thang dựng vào ban công, một cái thang bằng thép có thể thu gọn và kéo dài ra được. Anh ta nghiến răng. “Bị bắt đi mất rồi... Louis de Malreich... Tên khốn kiếp!...”

2.

Anh ta suy nghĩ một lúc, cố gắng kiềm chế nỗi lo lắng trong lòng và tự nhủ, rốt cuộc, có lẽ trước mắt bà Kesselbach sẽ không gặp nguy hiểm gì nên không cần phải lo lắng. Nhưng một cơn thịnh nộ bất ngờ trào lên làm anh ta run rẩy. Anh ta lao vào bọn cướp, đá mấy phát vào những tên bị thương đang động đậy, lục tìm và lấy lại tiền, rồi bịt miệng, trói tay chúng bằng tất cả những gì anh ta tìm được - dây kéo cửa, dây buộc rèm, thậm chí anh ta xé cả chăn, ga trải giường thành từng dải để làm dây trói - và cuối cùng, nằm thành hàng trên tấm thảm, đằng trước ghế xô pha, bảy tên vô lại bị buộc chặt vào nhau như những gói hàng.

“Bảy xiên thịt nướng.” Anh ta cười khùng khục. “Một món ngon dành cho kẻ nghiệp dư! Đồ ngốc, thế đã sướng chưa? Các người nằm đây hệt như mấy cái xác chết trong nhà xác... Dám tấn công Lupin thì bị vậy là đáng lắm! Lupin, người bảo vệ của những quả phụ và trẻ mồ côi!... Các người run sợ ư? Đừng, không cần thiết đâu, bầy cừu của ta ạ! Lupin, đến con ruồi cũng không bao giờ làm hại... Chỉ có điều, Lupin là người đứng đắn, không ưa bọn vô lại, và Lupin biết trọng trách của mình. Chà, tôi hỏi nhé, người ta có thể sống được với những kẻ khốn nạn như các anh không? Nghĩ thử xem: không thèm tôn trọng mạng sống của người khác; không thèm tôn trọng của cải của người khác; không thèm tôn trọng luật pháp, xã hội; không có lương tâm; không có một thứ gì hết! Rồi chúng ta sẽ đi đến đâu? Chúa ơi, chúng ta sẽ đi đâu về đâu?”

Thậm chí còn không thèm khóa cửa phòng, anh ta cứ thế bỏ ra ngoài, đi ra đường và đi bộ tới chỗ chiếc taxi đang đợi. Anh ta sai người lái xe tìm thêm một chiếc taxi khác, rồi cho cả hai xe quay lại nhà bà Kesselbach.

Tiền trả trước một cục, lại boa thêm hậu hĩnh, khỏi phải giải thích lằng nhằng. Được hai người lái xe giúp đỡ, anh ta khiêng bảy tù nhân của mình ra ngoài, tống cả lên xe, mặc kệ cho kẻ nọ nằm đè lên kẻ kia. Những tên bị thương kêu gào và rên rỉ. Anh ta đóng cửa xe, hô lớn: “Cẩn thận cái tay!”

Anh ta leo lên chiếc xe đầu tiên và ngồi bên cạnh người tài xế.

“Ta đi đâu đây ạ?” Người lái xe hỏi.

“Số 36, bến Orfèvres, Phòng Điều tra, Sở Cảnh sát.”

Xe rùng rùng nổ máy, hai bác tài cho xe chạy và đám rước kỳ lạ bắt đầu lao xuống dốc Trocadéro.

Trên đường, họ đi ngang qua mấy chiếc xe kéo chở rau đi bán, những người cầm sào dài đi tắt đèn đường.

Trên trời, lác đác mấy vì sao. Một làn gió mát khẽ lướt qua không gian.

Lupin hát to: “Kìa quảng trường Concorde, Bảo tàng Louvre... Xa xa, sừng sững Nhà thờ Đức Bà...”

Anh ta ngoái người lại và hé cửa. “Vui chứ, các bạn? Tôi cũng vui lắm. Cảm ơn nhé! Tối nay đi dạo bằng xe hơi là tuyệt lắm đấy! Không khí mới trong lành làm sao!”

Xe bắt đầu xóc lên khi chạy trên con đường lổn nhổn đá ở bến cảng. Chẳng mấy chốc, họ đã tới Cung Pháp đình và cửa dẫn vào Phòng Điều tra.

“Chờ ở đây nhé!” Lupin nói với hai người tài xế. “Trông chừng bảy vị khách này cho kĩ!”

Anh ta băng qua sân trước rồi theo hành lang bên phải tới văn phòng trung tâm, thấy mấy thanh tra đang trực đêm.

“Một mẻ săn, các quý ông ạ.” Anh ta vừa bước vào trong vừa nói. “Một mẻ săn cực lớn. Ông Weber có ở đây không? Tôi là Cảnh sát trưởng mới bên Sở Cẩm ở Auteuil.”

“Ông Weber đang ở nhà. Anh có cần tôi gọi ông ấy sang không?”

“Chờ tôi một giây. Tôi đang vội. Tôi sẽ viết vài dòng cho ông ấy.”

Anh ta ngồi xuống bàn và viết:

“Weber thân mến của tôi,

Tôi mang đến cho ông bảy tên vô lại từng làm việc cho Altenheim, những kẻ đã giết chết Gourel (và rất nhiều người khác) và cũng chính là những kẻ từng giết tôi, dưới thân phận ông Lenormand.

Chỉ còn lại tay thủ lĩnh của chúng thôi. Tôi sẽ tiến hành bắt giữ hắn ta ngay lập tức. Tới tham gia với tôi. Hắn sống ở khu Neuilly, đường Delaizement, và lấy tên là Léon Massier.

Xin gửi lời chào thân ái!

Bạn của ông,

Arsène Lupin,

Trưởng phòng Điều tra.”

Anh ta gắn xi lên bức thư.

“Gửi thư này cho ông Weber. Khẩn cấp lắm. Bây giờ tôi cần bảy người ra nhận hàng. Tôi thả cả ở trên cầu tàu đấy.”

Trên đường trở ra xe, anh ta gặp một Chánh Thanh tra.

“A! Ông Leboeuf!” Anh ta nói. “Tôi vừa quét được một mẻ lớn... Toàn bộ băng đảng Altenheim... Chúng đang ở trong taxi đó!”

“Ngài tìm được chúng ở đâu thế?”

“Ngay lúc chúng bắt cóc bà Kesselbach và cướp nhà bà ấy. Tôi sẽ giải thích cặn kẽ với ông sau, khi nào đến lúc đã.”

Viên Chánh Thanh tra kéo anh ta sang một bên và ngạc nhiên hỏi: “Xin ngài thứ lỗi, nhưng tôi được cử tới gặp ngài Cảnh sát trưởng ở Auteuil. Và dường như tôi không... Tôi hân hạnh được nói chuyện với ai đây ạ?”

“Người mang đến cho ông một món quà tuyệt vời là bảy tên vô lại với chất lượng tuyệt hảo.”

“Nhưng tôi vẫn muốn biết...”

“Tên tôi à?”

“Vâng!”

“Arsène Lupin.”

Nhanh như cắt, anh ta giằng khỏi tay viên Chánh Thanh tra, chạy ra đường Rivoli, nhảy vào một chiếc taxi đang chạy ngang qua và bảo lái xe chở đến cổng Ternes.

Khu nhà ở đường Đồng Khởi đã rất gần. Anh ta chạy tới số 3.

Mặc dù đã cố dốc hết bình tĩnh cũng như vận dụng toàn bộ khả năng kiềm chế, Arsène Lupin vẫn không thể kiểm soát được cơn kích động đang lấn át mình. Liệu anh ta có tìm thấy Dolorès Kesselbach không? Louis de Malreich đưa người phụ nữ trẻ về chỗ hắn hay đến chỗ của Lái Buôn?

Lupin đã lấy được chìa khóa nhà kho từ Lái Buôn nên anh ta dễ dàng mở được cửa để vào cửa hàng đồ cũ, sau một hồi bấm chuông và chạy khắp mấy cái sân trong khu.

Anh ta thắp sáng đèn lồng của mình và xác định phương hướng. Dịch sang mé phải một chút là không gian trống nơi anh ta đã chứng kiến lũ cướp họp nhau lần cuối trước khi lên đường. Trên chiếc ghế xô pha mà Lái Buôn từng nhắc tới, anh ta thấy một dáng người màu đen. Dolorès đang nằm đó, bị quấn chặt trong chăn và bị bịt miệng.

Anh ta tới đỡ nàng dậy.

“A, anh đây rồi! Anh đây rồi!” Nàng rối rít. “Chúng vẫn chưa động vào anh!”

Và, ngay lập tức, nàng đứng dậy, chỉ ra phía sau cửa hàng. “Đằng kia... Hắn chạy ra ngoài theo lối ấy... Tôi nghe thấy tiếng hắn... Tôi chắc chắn... Anh phải đi... Làm ơn!”

“Tôi phải đưa em đi trước đã.” Anh ta nói.

“Không, đừng để ý đến tôi... Mau bám theo hắn... Tôi van anh đấy... Hãy hạ hắn!”

Lần này, nỗi sợ hãi, thay vì đánh gục Dolorès, dường như lại tiếp thêm một nguồn sức mạnh dị thường cho nàng, và nàng lặp lại, với khao khát tột cùng là giao kẻ thù khủng khiếp đang hành hạ mình cho Lupin: “Hắn trước... Tôi không thể tiếp tục sống như thế này được nữa... Anh phải cứu tôi thoát khỏi hắn... Tôi không thể tiếp tục sống…”

Lupin cởi trói cho nàng, cẩn thận đỡ nàng nằm xuống xô pha và nói với nàng: “Em nói đúng ... Hơn nữa, ở đây em không có gì phải sợ... Chờ tôi một chút, tôi sẽ quay lại...”

Khi anh ta bước đi, nàng nắm chặt lấy tay anh ta. “Nhưng còn anh?”

“Sao cơ?”

“Nếu gã đàn ông kia...”

Cứ như nàng lo sợ cho an nguy của Lupin trước trận chiến cuối cùng do chính nàng đẩy anh ta vào, và cứ như nàng sẽ lấy làm mừng nếu giữ được anh ta lại vào giây phút cuối cùng.

Anh ta khẽ nói: “Cảm ơn em, đừng lo lắng! Tôi phải sợ điều gì cơ chứ? Hắn chỉ có một mình.”

Và, rời khỏi chỗ nàng, anh ta bước xuống phía cuối kho. Đúng như anh ta nghĩ, anh ta thấy có một cái thang dựng ở tường, đưa anh ta tới ô cửa nhỏ nơi anh ta theo dõi bọn cướp khi trước. Đây là đường mà Malreich dùng để quay lại ngôi nhà của mình bên đường Delaizement.

Do vậy, anh ta cũng theo lối đó, như đã làm vài giờ trước, chui vào gác xép của nhà để xe bên kia và trèo xuống vườn. Anh ta thấy mình đang đứng đằng sau căn nhà nơi Malreich ở.

Kể cũng lạ, anh ta không hề nghi ngờ khả năng Malreich đang ở trong nhà, dù chỉ một giây. Chắc chắn anh ta sẽ chạm trán hắn và cuộc đối đầu kinh thiên động địa giữa hai người họ sắp đến hồi kết. Chỉ còn vài phút nữa thôi, dù có thế nào đi nữa, tất cả cũng sẽ kết thúc.

Anh ta kinh ngạc khi đặt tay lên nắm đấm ở cửa, nắm đấm xoay trơn tru và cánh cửa mở ra thật dễ dàng. Cửa nẻo trong nhà thậm chí còn không khóa.

Anh ta băng qua nhà bếp, qua hành lang và đi lên cầu thang; anh ta khoan thai bước, chẳng buồn chú ý để không gây ra tiếng động.

Đến chiếu nghỉ, anh ta dừng lại. Mồ hôi chảy ròng ròng trên trán, hai bên thái dương đập thình thịch vì máu dồn. Tuy nhiên, anh ta vẫn rất bình tĩnh, hoàn toàn tự chủ và vô cùng tỉnh táo. Anh ta đặt hai khẩu súng xuống một bậc thang.

“Không vũ khí.” Anh ta tự nhủ. “Chỉ tay không thôi, chỉ cần sức mạnh của đôi tay này mà thôi... vậy là đủ... và thế sẽ tốt hơn.”

Trước mặt anh ta có ba cánh cửa. Anh ta chọn cánh cửa ở giữa, xoay tay nắm. Không gặp bất kỳ trở ngại nào. Anh ta cứ thế bước vào. Trong phòng không có đèn, nhưng ánh sáng ban đêm tràn vào qua khung cửa sổ mở toang. Trong bóng tối lờ mờ, anh ta thấy ga trải và bức rèm trắng phủ giường.

Và ai đó đang đứng bên cạnh giường.

Anh ta giơ đèn lên.

Malreich!

Bộ mặt tái nhợt, cặp mắt u ám, đôi gò má gồ lên như xác chết, cái cổ khẳng khiu...

Tất cả đều đứng yên bất động, ngay đối diện anh ta, chỉ cách anh ta năm bước chân, và anh ta không tài nào biết được bộ mặt vô hồn, bộ mặt chết chóc đó có gợn lên một chút hoảng hốt hay thậm chí chỉ là một chút lo lắng nào không.

Lupin tiến lên một bước... rồi bước thứ hai... và bước thứ ba. Gã đàn ông không nhúc nhích.

Hắn có nhìn thấy không? Hắn có hiểu không? Cứ như mắt gã đàn ông nọ đang nhìn chằm chằm vào không khí và hắn nghĩ rằng mình bị một ảo giác ám ảnh hơn là đang nhìn vào một hình ảnh thực.

Thêm một bước nữa...

“Hắn sẽ tự vệ.” Lupin thầm nghĩ. “Hắn buộc phải tự vệ.”

Và Lupin vung mạnh tay ra.

Gã đàn ông vẫn không nhúc nhích. Hắn không lùi lại, mí mắt cũng không chớp.

Tay Lupin chạm vào người hắn.

Và chính Lupin, hoang mang, kinh hãi, mới là người mất bình tĩnh. Anh ta xô gã đàn ông lên giường, kéo thẳng người hắn, cuộn hắn lại trong tấm ga trải giường, quấn hắn vào chăn và đè đầu gối của mình lên người hắn, như giữ một con mồi... Thế mà gã đàn ông vẫn không hề chống cự.

“A!” Lupin kêu lên, say khướt trong niềm sung sướng và lòng hận thù nay đã được thỏa mãn. “Cuối cùng ta cũng đã nghiền nát được mi, đồ súc sinh đáng ghê tởm! Cuối cùng, ta cũng là bậc chúa trùm!”

Anh ta nghe thấy tiếng ồn ào bên ngoài, phía đường Delaizement; tiếng người đập cửa. Anh ta lao đến bên cửa sổ và hô to: “Là ông à, Weber? Sẵn sàng chưa? Tốt lắm! Ông đúng là người hầu gương mẫu! Phá cổng đi, ông bạn già, và chạy lên đây; hân hạnh được chào đón!”

Chỉ mất vài phút, anh ta đã lục xong quần áo của tù nhân, lấy ví tiền của hắn, ôm hết mớ giấy tờ mình tìm được trong ngăn bàn và ngăn kéo tủ, quẳng hết đống đó lên bàn và kiểm tra.

Anh ta mừng rỡ reo lên. Tập thư kia rồi, tập thư trứ danh mà anh ta đã hứa sẽ trao lại cho Hoàng đế.

Anh ta xếp lại chỗ giấy tờ cho gọn ghẽ và đến bên cửa sổ.

“Xong rồi đó, Weber! Ông vào được rồi! Ông sẽ thấy hung thủ giết ông Kesselbach đang nằm trên giường của hắn, bị trói gô... Vĩnh biệt, Weber!”

Lupin nhanh chóng phi xuống cầu thang, chạy đến nhà để xe và khi Weber xộc vào trong nhà, anh ta quay lại bên Dolorès Kesselbach.

Một mình anh ta tóm gọn bảy tên đồng đảng của Altenheim!

Và chính tay anh ta đã giao cho công lý tên thủ lĩnh bí ẩn của băng đảng đó, con quái vật khét tiếng, Louis de Malreich!

3.

Một cậu thanh niên đang ngồi viết trên chiếc bàn kê bên một ban công lớn bằng gỗ.

Chốc chốc, cậu lại ngẩng đầu lên và mơ màng nhìn về dãy đồi phía chân trời, nơi những tán cây bị mùa thu rũ hết lá đang thả mấy chiếc lá cuối cùng xuống những mái ngói đỏ tươi và trên bãi cỏ trong vườn. Rồi cậu lại tiếp tục viết.

Một lúc sau, cậu cầm tờ giấy lên và đọc to:

Bềnh bồng trôi mãi những ngày qua

Nước xiết cuốn ngày đến bến xa

Bến ấy phải đâu nơi chửa biết

Ra nơi cái chết dọn chờ ta.

“Không tệ!” Một giọng nói vang lên sau lưng cậu. “Amable Tastu [41] cũng chỉ viết được đến thế. Dù sao thì không phải ai cũng là Lamartine [42] ?”

“Ngài!... Ngài!...” Cậu thanh niên hoảng hốt lắp bắp.

“Phải, nhà thơ của tôi ạ. Chính tôi đây, tôi là Arsène Lupin, đến để gặp người bạn Pierre Leduc thân mến của mình.”

Pierre Leduc bắt đầu run rẩy, như thể đang phát sốt. Cậu hỏi, giọng rất nhỏ: “Tới lúc rồi ư?”

“Phải, Pierre Leduc thân yêu, đã đến lúc cậu phải từ bỏ, hay đúng hơn - phải tạm ngắt cuộc đời uể oải của một nhà thơ mà cậu đã sống suốt mấy tháng qua, dưới chân Geneviève Ernemont và bà Kesselbach, và chuyển sang diễn vai mà tôi đã soạn cho cậu trong vở kịch của mình... Ồ, là một vở kịch rất hay, tôi đảm bảo với cậu, một vở kịch được soạn đâu ra đấy, bố cục chặt chẽ, bám sát các quy tắc của nghệ thuật, có rung động, có tiếng cười và có cả những lúc nghiến răng. Lúc này, chúng ta đã ở hồi năm, màn kết sắp tới rồi, và chính cậu, Pierre Leduc, mới là người hùng của vở kịch. Vinh quang dành cho cậu!”

Cậu thanh niên đứng dậy. “Nếu tôi từ chối thì sao?”

“Ngu xuẩn!”

“Phải, nếu tôi từ chối thì sao? Rốt cuộc, điều gì buộc tôi phải phục tùng ý muốn của ngài chứ? Điều gì buộc tôi phải nhận một vai mà tôi không biết, nhưng lại hoàn toàn chán ghét và thấy vô cùng hổ thẹn?”

“Ngu xuẩn!” Lupin lặp lại.

Và, ép Pierre Leduc phải ngồi lại xuống ghế, anh ta cũng ngồi xuống bên cạnh cậu, dỗ dành bằng giọng nhẹ nhàng nhất: “Cậu đã quên mất rồi, anh bạn trẻ thân mến, quên mất cậu không phải là Pierre Leduc, mà là Gérard Baupré. Cậu mang cái tên đẹp đẽ Pierre Leduc vì một lẽ: Cậu, Gérard Baupré, đã giết chết Pierre Leduc và đánh cắp nhân thân của cậu ta.”

Cậu thanh niên đứng vụt dậy vì phẫn nộ. “Ông thật điên rồ! Ông biết rõ chính ông mới là người sắp đặt mọi chuyện...”

“Tất nhiên, đúng, tôi biết rõ điều đó, nhưng còn pháp luật, khi tôi cung cấp cho pháp luật bằng chứng chứng minh Pierre Leduc thực sự đã chết rất thảm, và chính cậu đã thế vào chỗ cậu ta thì sao?”

“Người ta sẽ không tin ông... Tại sao tôi phải làm như vậy? Với mục đích gì cơ chứ?”

“Ngu xuẩn! Mục đích quá rõ ràng mà đến Weber cũng tự nhìn ra được. Cậu nói dối khi cậu mạnh miệng tuyên bố mình sẽ không nhận vai mà mình không biết. Cậu biết khá rõ vai mình đóng. Đó là vai mà Pierre Leduc sẽ đóng nếu cậu ta không chết.”

“Nhưng Pierre Leduc, đối với tôi, với tất cả mọi người, chỉ là một cái tên. Anh ta là ai? Tôi là ai?”

“Điều đó thì có gì quan trọng với cậu?”

“Tôi muốn biết. Tôi muốn biết mình đang làm gì!”

“Thế, nếu biết, cậu sẽ đi tiếp chứ?”

“Sẽ! Nếu mục đích mà ông nói đáng để tôi đi tiếp.”

“Còn nếu không, cậu nghĩ tôi sẽ phải ôm hết rắc rối này à?”

“Tôi là ai? Và cho dù số phận của tôi thế nào đi nữa, chắc chắn tôi sẽ chứng tỏ mình xứng đáng với nó. Nhưng tôi muốn biết. Tôi là ai?”

Arsène Lupin bỏ mũ, cúi mình và nói: “Hermann IV, Đại công tước xứ Deux-Ponts-Veldenz, Thân vương xứ Berncastel, Tuyển hầu tước xứ Trêves, và Lãnh chúa của nhiều nơi khác.”

Ba ngày sau, Lupin lái xe đưa bà Kesselbach đi, hướng về phía biên giới. Chuyến đi chìm trong im lặng, Lupin xúc động nhớ lại vẻ sợ hãi của Dolorès và những lời nàng đã nói trong ngôi nhà ở đường Vignes khi anh ta chuẩn bị ra đi để bảo vệ nàng khỏi tay đồng bọn của Altenheim. Và chắc chắn, nàng cũng nhớ lại điều đó, vì nàng ngượng ngùng và rõ ràng đang e ngại trước sự hiện diện của anh ta.

Đến tối, họ dừng lại ở một lâu đài nhỏ có mái lớn lợp bằng đá phiến, bốn vách được dây leo và hoa lá phủ đầy, bao xung quanh là một khu vườn rộng toàn những cây cổ thụ.

Bà Kesselbach thấy Geneviève đã ở sẵn đây, sau khi quay về từ thị trấn kế bên. Cô sang đó để chọn lấy mấy người giúp việc trong số những người dân trong vùng.

“Đây sẽ là nhà của bà, thưa bà.” Lupin nói. “Bà đang ở lâu đài Bruggen. Ở đây, bà sẽ được an toàn, trong khi chờ kết quả của những việc vừa rồi. Tôi đã viết thư cho Pierre Leduc, và từ mai, cậu ta sẽ là khách của bà.”

Anh ta lập tức rời khỏi đó, vội lái xe đến Veldenz và đưa cho Bá tước Waldemar tập thư trứ danh mà anh ta vừa giành lại được.

“Ngài biết điều kiện của tôi rồi đấy, Waldemar thân mến ạ.” Lupin nói. “Vấn đề tối quan trọng và trước nhất là phục hồi lại nhà Deux-Ponts-Veldenz và trả lại Đại công quốc cho Đại công tước Hermann IV.”

“Tôi sẽ mở cuộc đàm phán với Hội đồng Nhiếp chính ngay hôm nay. Theo tôi biết, chuyện đó cũng dễ dàng thôi. Nhưng còn vị Đại công tước Hermann này...”

“Vương gia Điện hạ hiện đang ở lâu đài Bruggen, dưới tên Pierre Leduc. Tôi sẽ cung cấp toàn bộ những bằng chứng cần thiết để chứng minh nhân thân của anh ta.”

Cũng tối hôm đó, Lupin trở lại Paris, với ý định thúc đẩy tiến độ của phiên tòa xét xử Malreich và bảy tên vô lại.

Tóm tắt lại diễn biến vụ án hẳn sẽ rất mệt mỏi và nhạt nhẽo: Mọi sự biến, đến tận những chi tiết nhỏ nhất, đều hiện hữu trong trí nhớ của mọi người. Đó là một trong những chuyện giật gân mà đến cả những bác nông dân lam lũ nhất ở những vùng sâu xa nhất cũng truyền tai và bàn tán với nhau.

Nhưng điều tôi muốn nhắc lại ở đây chính là vai trò rất lớn của Arsène Lupin trong quá trình điều tra và khởi tố vụ án. Trên thực tế, anh ta đúng là người chỉ đạo cuộc điều tra vừa rồi. Ngay từ đầu, anh ta đã làm thay các cơ quan công quyền, ra lệnh khám xét, chỉ ra các biện pháp cần phải thực hiện, đặt ra những câu cần phải hỏi trong quá trình thẩm vấn các bị cáo, tìm được câu trả lời cho tất cả mọi khúc mắc...

Hẳn ai ai cũng nhớ dư luận đã kinh ngạc đến thế nào khi mỗi sáng lại được đọc trên báo những bức thư với lập luận cực kỳ logic, sắc bén và quyền uy cùng chữ ký:

“Arsène Lupin, dự thẩm.”

“Arsène Lupin, công tố viên.”

“Arsène Lupin, đại pháp quan.”

“Arsène Lupin, cảnh sát.”

Anh ta lao mình vào quá trình phá án với niềm say mê, cuồng nhiệt, thậm chí là dữ dội - những điều rất đáng ngạc nhiên khi ta trông thấy chúng xuất hiện ở một kẻ luôn miệng nói những lời bỡn cợt vô tư lự và luôn thể hiện niềm đam mê với cái nghề mà ai cũng biết.

Không, lần này anh ta bị hận thù thúc đẩy.

Anh ta căm thù Louis de Malreich, tên vô lại khát máu, tên súc sinh bẩn thỉu, kẻ anh ta luôn sợ hãi, và kẻ dù đã bị đánh bại, dù đã ở trong tù, vẫn khiến anh ta thấy ghê sợ và kinh tởm như khi người ta nhìn thấy một loài bò sát.

Hơn nữa, chẳng phải Malreich đã cả gan hành hạ Dolorès hay sao?

“Hắn đã chơi và thua lấm lưng trắng bụng.” Lupin nói. “Hắn phải trả giá bằng chính cái đầu của mình.”

Đó là những gì anh ta muốn kẻ thù đáng sợ của mình phải gánh chịu: đoạn đầu đài, một buổi sáng u ám khi lưỡi dao máy chém hạ xuống và trừng phạt...

Ngài dự thẩm đã thẩm vấn tù nhân kỳ lạ đó - một nhân hình kỳ lạ, một kẻ xương xẩu với bộ mặt của một chiếc đầu lâu và đôi mắt không có sinh khí - suốt mấy tháng ròng trong chính phòng giam của hắn.

Trông hắn cứ như không hiện hữu trong thân xác. Hồn hắn treo ở nơi nào đó khác chứ không phải chốn này. Và hắn chẳng mấy bận tâm đến việc trả lời!

“Tên tôi là Léon Massier.”

Đó là câu duy nhất hắn nói.

Và Lupin vặn lại: “Anh nói dối. Léon Massier, quê ở Périgueux, mồ côi cha mẹ từ năm mười tuổi, đã mất cách đây bảy năm. Anh đã lấy hết giấy tờ của anh ta. Nhưng anh quên mất giấy chứng tử. Nó đây!”

Và Lupin chuyển bản sao giấy chứng tử cho công tố viên.

“Tôi là Léon Massier.” Bị cáo lại khẳng định lần nữa.

“Anh nói dối.” Lupin đáp. “Anh là Louis de Malreich, hậu duệ cuối cùng của một quý tộc nhỏ gốc Pháp đã đến sinh sống ở Đức vào thế kỷ XVIII. Anh có một người anh trai, lần lượt lấy tên là Parbury, Ribeira và Altenheim. Anh đã giết người anh trai này. Anh có một người em gái, Isilda de Malreich. Anh cũng đã giết cô em gái này.”

“Tôi là Léon Massier.”

“Anh nói dối. Anh là Malreich. Đây là giấy khai sinh của anh. Còn đây là giấy khai sinh của anh trai và em gái anh.”

Lupin đưa ra ba tờ giấy khai sinh.

Ngoại trừ câu hỏi về thân phận của mình, Malreich không bào chữa về bất cứ điều gì khác. Những lời tự bào chữa ấy chắc chắn đã tan nát trước đống bằng chứng chống lại hắn. Hắn còn có thể nói gì? Họ có bốn mươi bức thư ngắn - đã so sánh với chữ viết tay của hắn - do chính tay hắn viết và gửi cho lũ đồng bọn trong băng, và hắn đã sơ ý, quên không tiêu hủy chúng sau khi lấy lại. Nội dung trong các thư ngắn này đều là chỉ thị của hắn cho vụ bắt cóc ông Kesselbach, vụ Lenormand và Gourel, vụ truy sát ông lão Steinweg, vụ đào hầm ở Garches... Có thể phủ nhận được nữa không?

Còn một điều kỳ lạ nữa gây cản trở quá trình xử án của các viên chức ngành luật. Khi cho bảy tên cướp ra nhận diện thủ lĩnh, tất cả đều nhất mực khai rằng chúng không biết hắn, vì chúng chưa bao giờ nhìn thấy hắn. Chúng nhận chỉ thị của hắn qua điện thoại, không thì trong bóng tối, qua những tờ giấy nhỏ ghi mệnh lệnh mà Malreich nhét vào tay chúng nhưng không nói một lời.

Dẫu vậy, không phải lối thông giữa căn nhà bên đường Delaizement với cửa hàng đồ cũ chính là bằng chứng vững chắc chứng minh sự đồng lõa giữa hai bên hay sao? Đứng trên đó, Malreich nhìn và nghe được mọi thứ. Từ vị trí đó, tên đầu lĩnh quan sát người của mình.

Những chỗ không nhất quán ư? Những cơ sở lập luận rõ ràng không khớp nhau ư? Lupin giải thích mọi thứ. Trong một bài báo tán dương được xuất bản ngay buổi sáng diễn ra phiên tòa, anh ta lật lại vụ án từ đầu, vạch trần những gì ẩn đằng sau đó, cho biết Malreich sống trong phòng do anh trai mình, Thiếu tá Parbury giả mạo thuê mà không một ai hay biết. Hắn qua lại trên hành lang khách sạn Palace như một kẻ vô hình, và sát hại ông Kesselbach, giết chết người phục vụ khách sạn, diệt khẩu Chapman - thư ký riêng của ông Kesselbach.

Phiên tòa xử án ngày ấy vẫn còn vương trong trí nhớ mọi người. Phiên xử ấy vừa kinh hãi vừa ảm đạm: Kinh hãi vì không khí tang thương bao trùm khắp những người theo dõi và vì những hồi tưởng kinh hoàng về tội ác đẫm máu ám ảnh ký ức họ; ảm đạm, nặng nề, tối tăm, ngột ngạt vì sự im lặng khủng khiếp từ phía bị cáo.

Không phản kháng, không cử động, không nói một lời.

Bộ mặt đúc bằng sáp ấy không nghe cũng chẳng thấy gì. Vẻ bình tĩnh trơ tráo đó mới kinh khủng làm sao! Mọi người trong phòng xử án ai nấy đều không khỏi rùng mình. Trí tưởng tượng điên rồ của công chúng gán cho hắn hình ảnh một thực thể siêu nhiên nào đó chứ không phải con người, một loại quỷ thần trong truyền thuyết phương Đông, một vị hung thần đại diện cho sự hủy diệt, cho những gì hung dữ, tàn ác và khát máu trong thần thoại Ấn Độ.

Về phần những tên cướp còn lại, công chúng thậm chí còn không thèm nhìn đến chúng, họ coi chúng chỉ là đám tay chân tầm thường bị tầm vóc đồ sộ của tên thủ lĩnh ác độc này che khuất.

Bằng chứng gây rúng động nhất chính là những lời làm chứng của bà Kesselbach. Trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người, thậm chí là với cả Lupin, Dolorès - vốn chưa từng đáp lại bất kỳ lệnh triệu tập nào của ngài dự thẩm và đã lui về ở ẩn nơi nào không rõ - bỗng bất ngờ xuất hiện. Bà quả phụ nặng trĩu đớn đau đã đưa ra lời khai quan trọng, khiến kẻ sát hại chồng mình phải bị kết tội.

Nàng nhìn hắn một lúc lâu rồi nói: “Anh ta chính là người đã vào nhà tôi ở đường Vignes, chính anh ta là người đã bắt cóc tôi và đem nhốt tôi vào kho chứa đồ cũ của gã Lái Buôn. Tôi nhận ra anh ta.”

“Bà có thể thề không?”

“Tôi xin thề trước Chúa và tất cả mọi người.”

Hai ngày sau, Louis de Malreich, còn gọi là Léon Massier, bị kết án tử hình. Và vì hắn quá đặc biệt, cũng như những việc hắn gây ra quá nghiêm trọng, nên có thể nói, hắn gánh hết phần lớn tội trạng và đồng bọn của hắn được lợi từ các tình tiết giảm nhẹ.

“Louis de Malreich, anh không còn gì để nói nữa chứ?” Chủ tọa phiên tòa hỏi,

Hắn không trả lời.

Câu hỏi duy nhất chưa có lời đáp vẫn mãi lơ lửng trước mắt Lupin. Tại sao Malreich lại gây ra tất cả những tội ác này? Hắn muốn gì? Mục đích của hắn là gì?

Lupin sẽ sớm biết được điều đó; và cái ngày anh ta phải thở dốc vì khiếp hãi, phải tuyệt vọng và gục ngã vì cú đánh trí mạng khi phát hiện ra sự thật kinh hoàng ấy không còn xa nữa.

Còn lúc này, dẫu những thắc mắc kia không ngừng lớn vởn trong đầu, anh ta cũng đã thôi quan tâm đến vụ án Malreich. Quyết tâm lột xác - như lời anh ta nói - để sống một cuộc đời mới; đảm bảo cho cuộc sống yên bình của bà Kesselbach và Geneviève, những người anh ta vẫn luôn đứng từ xa dõi theo; và cuối cùng, giữ liên lạc với Jean Doudeville - đã được anh ta cử sang Veldenz - để nắm thông tin về những cuộc đàm phán đang diễn ra giữa triều đình Berlin và Hội đồng Nhiếp chính Deux-Ponts-Veldenz. Anh ta dồn hết thời gian vào việc rửa sạch quá khứ và chuẩn bị cho tương lai.

Ý tưởng về một cuộc đời mới, với bà Kesselbach kề bên chỉ dẫn, đã dấy lên trong anh ta những tham vọng mới và những cảm xúc không mong đợi, lẫn với hình ảnh của Dolorès mà anh ta không thể nhận rõ chính xác ra sao và vì sao.

Anh ta bỏ ra mấy tuần để xóa bỏ hết các bằng chứng có thể gây hại đến mình, tất cả những dấu vết có thể dẫn đến chỗ anh ta. Anh ta cho mỗi người bạn cũ của mình một số tiền đủ để sống thoải mái suốt quãng đời còn lại và chào tạm biệt họ, nói rằng anh ta sẽ tới Nam Mỹ.

Một buổi sáng nọ, sau một đêm cân nhắc và nghiên cứu kĩ lưỡng tình hình, anh ta kêu lên: “Kết thúc rồi. Không còn gì phải sợ nữa. Lupin cũ đã chết. Dọn đường cho người mới thôi!”

Người của anh ta mang tới cho anh ta một bức điện từ Đức gửi về. Trong đó là tin anh ta đang chờ. Hội đồng Nhiếp chính, dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của triều đình Berlin, đã đặt vấn đề với các tuyển hầu tước của Đại công quốc; và các tuyển hầu tước, dưới sức ảnh hưởng mạnh mẽ của Hội đồng Nhiếp chính, đã khẳng định mình vẫn một lòng gắn bó với vương triều Veldenz cũ, không hề suy suyển. Bá tước Waldemar được ủy nhiệm tới lâu đài Bruggen, cùng ba đại diện của giới quý tộc, quân đội và cơ quan pháp quyền, để xác minh danh tính của Đại công tước Hermann IV, và sắp xếp với Vương gia Điện hạ những việc cần thiết để ca khúc khải hoàn về lại lãnh địa của cha ông mình, và chuyến hồi hương sẽ diễn ra vào đầu tháng sau.

“Lần này, mình đã thành công.” Lupin tự nhủ. “Kế hoạch tuyệt vời của ông Kesselbach sắp thành hiện thực. Bây giờ, mình chỉ việc làm cho Waldemar tin chuyện Pierre Leduc nữa là xong. Trò trẻ con thôi! Ngày mai, sẽ cho công bố hôn nhân giữa Geneviève và Pierre. Và vị hôn thê của Đại công tước sẽ được giới thiệu với Waldemar!”

Sung sướng tràn trề, anh ta lên xe ô tô, đến lâu đài Bruggen.

Ngồi trong xe, anh ta hát, huýt sáo, tán gẫu với tài xế của mình: “Octave, anh có biết mình đang được vinh hạnh chở ai không? Chủ nhân của thế giới!... Phải, bạn thân mến ạ, choáng lắm, đúng không? Rất choáng, nhưng lại là sự thật. Tôi là chủ nhân của thế giới.”

Anh ta xoa tay, tiếp tục màn độc thoại: “Xét cho cùng, đây quả là một việc trường kỳ. Cũng phải một năm rồi, kể từ khi cuộc chiến bắt đầu. Đúng vậy, đó là cuộc chiến dữ dội nhất mà tôi từng tham gia... Chết tiệt! Đúng là cuộc chiến của những người khổng lồ!...”

Và anh ta lặp lại: “Nhưng lần này, tôi là kẻ chiến thắng! Kẻ thù đều chìm xuống đáy cả rồi. Không còn chướng ngại vật nào ngăn giữa đích đến và tôi nữa. Mặt bằng này thông thoáng, hãy xây dựng ở đây! Mình có sẵn vật liệu trong tay, mình cũng có nhân công nữa, hãy xây thôi, Lupin! Và xây cho cung điện xứng đáng với anh!”

Anh ta cho xe dừng cách lâu đài vài trăm mét để chuyến ghé thăm của anh ta được kín đáo hơn, và anh ta nói với Octave: “Chờ tôi ở đây hai mươi phút, đến bốn giờ hẵng lái vào. Đưa va li của tôi vào căn nhà nhỏ bằng gỗ ở cuối hoa viên. Tôi sẽ nghỉ ở đấy.”

Tới lối rẽ đầu tiên trên đường, lâu đài đã hiện ra trong tầm mắt, sừng sững nơi cuối con ngõ tối có những cây chanh. Từ đằng xa, anh ta đã thấy Geneviève đi ngang qua trước hiên nhà.

Trái tim anh ta khẽ rung động.

“Geneviève, Geneviève!” Anh ta ta trìu mến nói. “Geneviève... Lời ta hứa với người mẹ đã khuất của con sắp thành hiện thực... Geneviève, nữ Đại công tước!... Và ta, từ trong bóng tối, dõi theo hạnh phúc của con... và theo đuổi mưu đồ lớn của Arsène Lupin!”

Anh ta bật cười, nhảy ra nấp đằng sau mấy cây lớn mọc thành cụm bên trái con ngõ nhỏ và sải bước dọc theo những lùm cây rậm rạp. Nhờ đó, anh ta đến được lâu đài mà không bị ai phát hiện qua cửa sổ phòng khách hoặc các phòng ngủ chính.

Anh ta chỉ mong được gặp Dolorès trước khi nàng nhìn thấy và gọi tên nàng mấy lần, như từng gọi tên Geneviève, nhưng với một cảm xúc khiến chính anh ta cũng phải ngạc nhiên: “Dolorès... Dolorès...”

Anh ta lén lút đi qua hành lang và vào trong phòng ăn. Từ căn phòng này, qua ô kính một chiều, anh ta có thể nhìn thấy một nửa phòng khách.

Anh ta tiến tới gần hơn.

Dolorès đang nằm dài trên ghế; còn Pierre Leduc đang quỳ trước mặt nàng, ngắm nàng bằng cặp mắt si mê...

« Lùi
Tiến »