Mật Mã 813

Lượt đọc: 196 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
một ngày làm việc của ông lenormand

1.

Sáng ngày Ba mươi mốt tháng Năm, trên tất cả các mặt báo đều có bài nhắc lại chuyện Lupin đã thông báo cho ông Lenormand, trong một bức thư viết cho ông, đúng ngày này sẽ cướp ngục cứu nhân viên tiếp tân Jérôme. Và một trong số các tờ báo đó đã tóm tắt lại tình hình, với cách hành văn rất có nghề như sau:

“Vụ thảm sát kinh hoàng ở khách sạn Palace xảy ra vào ngày Mười bảy tháng Tư. Kể từ đó, người ta đã khám phá được những gì? Chẳng gì hết.

Vụ án có ba manh mối: hộp thuốc lá, hai chữ viết tắt L và M, cùng gói quần áo bị bỏ lại trong văn phòng khách sạn. Từ những manh mối đó, người ta đã điều tra ra được điều gì? Chẳng gì hết.

Có vẻ như phía cảnh sát đã nghi ngờ một trong những người khách thuê phòng ở lầu một, và là người đã biến mất theo cách đáng ngờ nhất. Họ tìm được hắn ta hay chưa? Họ đã xác định được nhân thân hắn hay chưa? Chưa hề.

Tấn thảm kịch vì thế vẫn cứ bí ẩn y như lúc đầu, bóng tối bao trùm lên vụ án vẫn cứ dày đặc như lúc xưa.

Để quý độc giả hiểu đây đủ hơn về bức tranh toàn cảnh, chúng tôi xin phép kể ra đây một tin đồn. Chúng tôi nghe nói giữa Giám đốc Sở Cảnh sát và cấp dưới của ngài, ông Lenormand, đã nảy sinh bất đồng. Không những thế, ông Lenormand còn nhận thấy ngài Thủ tướng đã ủng hộ mình ít mạnh mẽ hơn trước. Thực tế, cách đây mấy hôm, ông đã đệ đơn xin thôi việc. Theo nguồn tin của chúng tôi, vụ án Kesselbach bây giờ được giao cho Phó phòng Cảnh sát Điều tra, ông Weber, kình địch của ông Lenormand.

Tóm lại, nội bộ phía cảnh sát đang rất rối ren, hỗn loạn. Khi đó, họ phải đối đầu với một Lupin lắm mưu nhiều kế, năng nổ và tinh thần kiên định.

Từ tất cả những điều trên, chúng ta rút ra được kết luận gì? Rất ngắn gọn: Lupin sẽ cướp được đồng phạm của mình khỏi chốn lao tù vào đúng ngày hôm nay, Ba mươi mốt tháng Năm, như đã thông báo từ trước.”

Kết luận này cũng được nhắc đến trên những tờ báo khác và là kết luận được đông đảo dư luận đồng tình. Và chúng ta cũng cần biết lời đe dọa kia không phải không đến được tai các cơ quan cấp trên, bởi Giám đốc Sở Cảnh sát và Phó phòng Điều tra, ông Weber, khi ông Lenormand vắng mặt (được cho là bị ốm), đã cho thực hiện các biện pháp canh phòng nghiêm ngặt nhất, cả trong Cung Pháp đình lẫn trại giam Santé nơi giam giữ bị cáo.

Đơn giản chỉ vì xấu hổ, họ không dám hoãn các cuộc thẩm vấn thường nhật của ngài Formerie vào ngày hôm đó; nhưng, từ nhà tù đến đại lộ Palais, người ta huy động một lực lượng lớn cảnh sát canh gác ở các tuyến đường.

Trước sự ngỡ ngàng tột độ của tất cả mọi người, ngày Ba mươi mốt tháng Năm cứ thế trôi qua mà cuộc cướp ngục được thông báo trước lại không xảy ra.

Có một việc quả thật đã xảy ra, một âm mưu thực hiện kế hoạch cướp ngục, vì trên đường xe chở tù nhân chạy qua bỗng dưng xuất hiện một loạt xe điện, xe buýt và xe ngựa đông bất thường, còn chiếc xe tù thì tự dưng bị gãy bánh, không thể lý giải được vì sao. Nhưng rồi cũng không có gì hơn.

Như vậy là Lupin đã thất bại. Công chúng gần như thất vọng, còn cảnh sát ầm ĩ giành chiến thắng.

Nhưng ngày hôm sau, thứ Bảy, có lời đồn rất khó tin lan khắp Cung Pháp đình, dồn dập bay đến các tòa soạn: Tay tiếp tân Jérôme đã biến mất.

Có khả năng ấy không? Dẫu các ấn bản đặc biệt đều xác nhận lời đồn đó, công chúng vẫn không chịu tin. Nhưng, lúc sáu giờ, tin vắn do tờ Công văn buổi tối [9] đăng tải đã giúp khẳng định tin đồn là thật:

“Chúng tôi vừa nhận được một thông báo có chữ ký của Arsène Lupin theo như dưới đây. Trên giấy có đóng dấu đặc biệt, giống hệt những thông cáo mà Lupin gửi cho báo chí gần đây, đảm bảo cho tính xác thực của văn bản:

Kính gửi Tổng Biên tập báo Công văn buổi tối ,

Thưa ngài,

Kính nhờ ngài gửi lời xin lỗi của tôi đến công chúng vì đã không giữ lời hứa của mình ngày hôm qua. Tới phút cuối cùng, tôi mới nhớ ra ngày Ba mươi mốt tháng Năm rơi vào thứ Sáu! Tôi có thể trả tự do cho bạn mình vào ngày thứ Sáu không? Tôi không nghĩ cứ bất chấp thực hiện trách nhiệm ấy là đúng đắn.

Tôi cũng phải xin lỗi vì đã không nhân dịp này mà thẳng thắn giải thích cách chúng tôi thực hiện cuộc giải cứu trên như thường lệ. Cách của tôi rất tài tình và đơn giản đến mức tôi sợ rằng, nếu tôi tiết lộ, tất thảy tội phạm sẽ được cách ấy soi dẫn mà làm theo. Mọi người sẽ ngạc nhiên hết sức vào cái ngày tôi được tự do lên tiếng cho mà xem! “Chỉ có thế thôi sao?” Người ta sẽ hỏi tôi thế. Chỉ có thế thôi, nhưng cũng phải tính đến.

Xin phép ngài, thưa ngài Tổng Biên tập...

Kẻ hầu cận trung thành của ngài,

Ký tên: Arsène Lupin.”

Một giờ sau, ông Lenormand nhận được điện thoại, báo tin ngài Valenglay, Thủ tướng, muốn gặp ông ở Bộ Nội vụ.

“Nhìn ông khỏe khoắn lắm đấy chứ, Lenormand thân mến! Thế mà tôi cứ tưởng ông bị ốm nên không dám quấy rầy!”

“Tôi có đau ốm gì đâu, thưa Thủ tướng.”

“Thế là ông dỗi nên đóng cửa ở nhà đấy à? Nhưng ông lúc nào cũng nóng tính cơ mà!...”

“Tôi xin nhận mình nóng tính, thưa ngài Thủ tướng, nhưng dỗi thì không.”

“Nhưng đúng thật là ông đã ở nhà suốt thời gian vừa qua! Còn Lupin thì lợi dụng lúc ấy để giải thoát bạn của hắn...”

“Tôi ngăn anh ta thế nào được?”

“Thế nào á? Sao thế? Mấy mánh lới của Lupin đơn giản thế còn gì. Vẫn theo cách thức hắn thường dùng thôi, hắn thông báo trước ngày hành động; ai cũng tin sái cổ; có hành động, tuồng như được thực hiện theo kế hoạch, nhưng lại không có vụ trốn thoát nào; và rồi, sang ngày hôm sau, khi không ai nghĩ tới việc ấy nữa - viu! - con chim cất cánh bay xa!”

“Thưa ngài Thủ tướng!” Trưởng phòng Điều tra nghiêm trang nói. “Lupin sắp đặt những kế sách mà chúng tôi bị rơi vào tình thế không thể ngăn được những gì anh ta quyết định. Vụ trốn thoát chắc chắn sẽ xảy ra. Tôi muốn bàn giao việc này... và để trò hề lại cho người khác.”

Ngài Valenglay cười khùng khục. “Quả thật là lúc này, Giám đốc Sở Cảnh sát và ông Weber không vui thích gì lắm... Nhưng, dù sao đi nữa, ông có thể giải thích cho tôi không, Lenormand?...”

“Chúng tôi chỉ biết vụ trốn thoát xảy ra ở ngay Cung Pháp đình, thưa ngài Thủ tướng. Bị cáo được cho lên xe chở phạm nhân và đưa đến văn phòng của ngài Formerie. Hắn ra khỏi phòng ngài Formerie, nhưng hắn không rời khỏi Cung Pháp đình. Và không một ai biết điều gì đã xảy ra với hắn.”

“Chuyện này khó hiểu quá!”

“Quá khó hiểu.”

“Không phát hiện thêm điều gì khác nữa à?”

“Có! Hành lang dẫn đến phòng ngài dự thẩm bên trong tòa án bất ngờ đông kín phạm nhân, lính canh tù, luật sư và mõ tòa; và người ta phát hiện ra rằng tất cả những người này nhận được lệnh triệu tập giả, yêu cầu phải xuất hiện tại đó vào cùng một thời điểm. Mặt khác, không một vị dự thẩm nào gọi họ đến văn phòng của mình vào ngày hôm đó cả; nguyên nhân là vì giấy triệu tập giả được gửi từ Văn phòng Công tố viên tới tất cả mọi ngõ ngách ở Paris... thậm chí ra cả vùng ngoại ô.”

“Chỉ có thể thôi?”

“Không! Có người thấy hai cảnh sát trật tự và một phạm nhân băng qua sân. Bên ngoài, có xe chờ sẵn và ba người họ lên xe.”

“Vậy giả thuyết của ông thế nào, Lenormand? Ông có ý kiến thế nào?”

“Thưa ngài Thủ tướng, giả thuyết của tôi là hai cảnh sát trật tự kia chính là đồng phạm của Lupin. Lợi dụng hành lang lộn xộn, họ đã thay chân lính canh thật. Và ý kiến của tôi là cuộc đào thoát này chỉ có thể thành công nhờ vào những tình huống đặc biệt như vậy, một tập hợp các sự kiện lạ lùng đến mức chúng ta phải thừa nhận: anh ta chắc chắn có đồng lõa, dù nghe có vẻ khó tin đến mấy. Nói tới vấn đề đó, Lupin có các mối quan hệ ở Cung Pháp đình làm những tính toán của chúng tôi bị cản trở. Người của anh ta có trong Bộ của ngài. Người của anh ta có trong Sở Cảnh sát. Người của anh ta ở xung quanh tôi. Đó là một tổ chức quá kinh khủng, một cơ quan điều tra tài giỏi hơn, táo bạo hơn, đa dạng hơn và linh hoạt hơn gấp một nghìn lần cơ quan dưới quyền tôi.”

“Và ông chấp nhận điều đó à, Lenormand?”

“Không, tôi không chấp nhận được.”

“Vậy tại sao ông lại chểnh mảng ngay từ đầu vụ án như vậy? Ông đã làm gì để đối đầu với Lupin?”

“Tôi đã chuẩn bị cho cuộc đối đầu này rồi.”

“A! Tốt lắm! Và trong khi ông chuẩn bị, hắn đã hành động.”

“Tôi cũng vậy.”

“Vậy là ông biết điều gì đó?”

“Tôi biết nhiều đấy.”

“Là gì vậy? Mau nói đi!”

Ông Lenormand chống gậy, trầm ngâm đi đi lại lại trong căn phòng lớn. Sau đó, ông ngồi xuống đối diện với ngài Valenglay, dùng mấy đầu ngón tay chải lên thân chiếc áo khoác dài màu ô liu, chỉnh lại cặp kính cho ngay ngắn trên sống mũi và nói, rất rõ ràng: “Thưa Thủ tướng, tôi có ba con át chủ bài trong tay. Đầu tiên, tôi biết cái tên Arsène Lupin hiện đang dùng, dưới cái tên này, anh ta sống trên đại lộ Haussmann, tiếp đón các trợ thủ của mình hằng ngày, xây dựng lại và chỉ đạo băng đảng của mình.”

“Chúa ơi, vậy tại sao ông không bắt hắn?”

“Mãi sau này tôi mới nhận được các thông tin chi tiết đó. Thân vương - hãy gọi anh ta là Thân vương S đi - đã biến khỏi đây. Anh ta đang ở nước ngoài, bận việc khác.”

“Nếu hắn không quay lại thì sao?”

“Vị trí anh ta đang nắm, cách anh ta lao đầu vào vụ án Kesselbach, bắt buộc anh ta phải quay trở lại, và dưới cùng một cái tên.”

“Dẫu vậy...”

“Thưa ngài Thủ tướng, tôi tới đây cùng con át chủ bài thứ hai. Ít nhất, tôi đã tìm ra Pierre Leduc.”

“Không thể nào!”

“Hay đúng hơn, chính Lupin là người đã phát hiện ra người đó, và trước khi biệt tăm, anh ta đã sắp xếp cho Leduc vào sống trong một biệt thự nhỏ ở ngoại ô Paris.”

“Trời ơi! Nhưng làm sao ông biết được?”

“Ồ, dễ thôi. Lupin cắt cử hai đồng phạm tới sống cùng Pierre Leduc, vừa để giám sát vừa để bảo vệ cậu ta. Giờ hai đồng phạm này lại đang là chỉ điểm của tôi, tôi đã bí mật sử dụng hai anh em nhà ấy và họ sẽ là người giao anh ta cho tôi ngay khi thời cơ tới.”

“Quá hay! Vậy thì...”

“Vậy thì, có thể nói, do Pierre Leduc là điểm mấu chốt tập trung mọi công sức, nỗ lực của những người đang cố gắng giải đáp bí mật Kesselbach nổi tiếng. Tôi, không sớm thì muộn, thông qua Pierre Leduc, sẽ bắt được: một - hung thủ của ba vụ giết người ở khách sạn Palace, vì tên khốn này đã thế chân ông Kesselbach trong việc hoàn thành một kế hoạch to lớn mà cho đến nay ta vẫn chưa rõ đầu đuôi, và vì ông Kesselbach cần phải tìm được Pierre Leduc để hoàn thành kế hoạch đó; hai - Arsène Lupin, vì Arsène Lupin cũng theo đuổi cùng một mục tiêu.”

“Tuyệt vời! Pierre Leduc là mồi nhử mà ông quăng ra cho địch thủ.”

“Và cá đã cắn câu, thưa Thủ tướng. Tôi vừa nhận được tin báo: Cách đây không lâu, đã trông thấy kẻ tình nghi lởn vởn rình mò xung quanh ngôi biệt thự mà Pierre Leduc đang ở, dưới sự bảo vệ của hai mật vụ của tôi. Bốn tiếng nữa, tôi sẽ có mặt ở đó.”

“Còn con át chủ bài thứ ba thì sao, ông Lenormand?”

“Thưa Thủ tướng ngày hôm qua, có một lá thư gửi đến khách sạn, đề người nhận là ông Rudolf Kesselbach, tôi đã lấy...”

“Lấy à? Ông đã ra tay?”

“Vâng, tôi đã lấy lá thư, mở ra và giữ lại bên người. Lá thư ấy đây. Thư gửi từ hai tháng trước. Trên thư có dấu bưu điện ở Capetown và viết mấy lời sau:

“Rudolf thân mến,

Ta sẽ tới Paris vào ngày mùng Một tháng Sáu và vẫn đang khốn khổ như hồi cháu ra tay cứu giúp. Nhưng ta đặt hy vọng rất lớn vào chuyện Pierre Leduc mà ta đã kể với cháu. Đúng là một câu chuyện kỳ lạ! Cháu đã tìm thấy người ta nói chưa? Tình hình thế nào rồi? Ta rất nóng lòng muốn biết.

Ký tên: Steinweg, người bạn trung thành của cháu.”

“Ngày mùng Một tháng Sáu...” Ông Lenormand nói tiếp. “...Chính là hôm nay. Tôi đã cho lính của mình tìm ông Steinweg này rồi. Tôi chắc chắn cậu ta sẽ tìm được người.”

“Tôi cũng chắc chắn thế.” Ngài Valenglay kêu lên và đứng dậy. “Tôi thành thật xin lỗi ông Lenormand thân mến ạ, và cũng hạ mình thú nhận với ông: Tôi đã suýt quyết định buông tay ông mãi mãi! Tôi đang chờ Giám đốc Sở Cảnh sát và ông Weber, Phó phòng Cảnh sát Điều tra tới họp vào ngày mai.”

“Tôi đã biết chuyện đó, thưa Thủ tướng.”

“Không thể!”

“Nếu không, liệu tôi có tới đây không? Giờ ngài sẽ biết kế hoạch tác chiến của tôi. Một mặt, tôi đặt bẫy nơi kẻ sát nhân sẽ bị bắt, không sớm thì muộn. Pierre Leduc hoặc Steinweg sẽ giao hắn vào tay tôi. Mặt khác, tôi đang theo dõi Lupin. Hai bộ hạ của anh ta giờ làm việc cho tôi mà anh ta cứ đinh ninh họ là những trợ thủ tận tụy nhất. Thêm vào đó, chính bản thân anh ta cũng đang làm việc cho tôi vì anh ta đang theo đuổi thủ phạm của ba vụ giết người, y như tôi. Chỉ có điều, anh ta cứ tưởng mình đánh bại được tôi, trong khi tôi mới là người đánh bại anh ta. Do đó, tôi sẽ thành công, nhưng với một điều kiện.”

“Điều kiện gì?”

“Đó là tôi được tự do hành động, được tùy cơ ứng biến mà không cần phải lo lắng về công chúng thiếu kiên nhẫn hay các cấp trên đang ngấm ngầm đối đầu tôi.”

“Tôi đồng ý.”

“Vậy, thưa Thủ tướng, một vài ngày nữa, tính từ hôm tôi sẽ là người chiến thắng... hoặc tôi sẽ chết.”

2.

Tại Saint-Cloud. Một biệt thự nhỏ xinh nằm trên một đỉnh cao trong vùng đồi núi này, trên một con đường ít người qua lại.

Bấy giờ là mười một giờ tối.

Ông Lenormand để xe ở Saint-Cloud, thận trọng bước dọc theo con đường nọ. Một bóng đen xuất hiện.

“Là cậu à, Gourel?”

“Vâng, thưa sếp!”

“Cậu đã bảo với anh em nhà Doudeville rằng tôi sắp đến chưa?”

“Rồi ạ, phòng của sếp đã chuẩn bị xong rồi, sếp có thể lên giường đi ngủ... Trừ phi đêm nay chúng tới bắt Pierre Leduc thôi, mà tôi cũng chẳng ngạc nhiên nếu điều đó xảy ra, dựa theo hành vi của kẻ mà anh em nhà Doudeville đã nhìn thấy.”

Họ băng qua khu vườn, chậm rãi đi vào nhà và lên lầu một. Hai anh em, Jean và Jacques Doudeville, đang ở trên đó.

“Không có tin tức gì của Thân vương Sernine à?” Ông hỏi họ.

“Không, thưa sếp!”

“Thế còn Pierre Leduc?”

“Cậu ta nằm ườn cả ngày trong phòng dưới tầng trệt, không thì ở trong vườn. Cậu ta chẳng bao giờ đến gặp chúng tôi.”

“Cậu ta ổn hơn chưa?”

“Ổn hơn nhiều rồi ạ. Nghỉ ngơi thế này khiến ngoại hình cậu ta thay đổi nhiều lắm.”

“Cậu ta có hoàn toàn phụng sự Lupin không?”

“Phải nói là Thân vương Sernine, bởi vì cậu ta không biết hai người ấy là một. Ít nhất là tôi đoán vậy. Chúng tôi chẳng biết gì về cậu ta. Cậu ta chẳng hé răng nửa lời. Đúng là một tay lập dị! Chỉ có một người có khả năng khiến cậu ta tươi tỉnh lên, khiến cậu ta nói và thậm chí còn cười. Đó là một cô gái trẻ ở Garches, người được Thân vương Sernine giới thiệu cho cậu ta, cô ấy tên là Geneviève Ernemont. Cô ấy từng tới đây chơi ba lần rồi... Hôm nay cô ấy cũng tới...” Anh ta còn giễu thêm: “Tôi nghĩ bọn họ cũng ve vãn nhau nữa đấy... Giống như ngài Thân vương Sernine và bà Kesselbach... Hình như hắn còn liếc mắt đưa tình với bà ấy... Tay Lupin quỷ sứ này!...”

Ông Lenormand không trả lời. Nhưng rõ ràng, dẫu có vẻ chẳng quan tâm lắm tới các chi tiết đó, ông vẫn ghi tất cả lại trong đầu để có thể dựa vào đó mà rút ra những kết luận đúng đắn, hợp lý bất cứ khi nào ông cần. Ông châm một điếu xì gà, nhai chứ không hút, lại châm lửa rồi vứt xuống đất.

Ông hỏi thêm hai, ba câu nữa, rồi cứ để nguyên quần áo như vậy, thả mình xuống giường. “Có chuyện gì, dù là vặt vãnh nhất, cũng phải gọi tôi dậy ngay đấy... Còn không, tôi sẽ ngủ xuyên đêm... Các cậu về vị trí đi.”

Ba người kia liền ra khỏi phòng.

Một giờ trôi qua, rồi hai giờ.

Đột nhiên, ông Lenormand thấy hình như có người động vào mình, và Gourel nói với ông: “Dậy thôi, sếp ơi; chúng đã mở cổng.”

“Một hay hai người?”

“Tôi chỉ nhìn thấy có một... Mặt trăng ló ra ngay lúc đó... Hắn thụp xuống một bờ giậu.”

“Còn anh em nhà Doudeville?”

“Tôi đã cho họ ra bên ngoài, vòng từ lối sau. Họ sẽ chặn đường rút của hắn khi đến thời điểm thích hợp.”

Gourel cầm lấy tay ông Lenormand, dẫn ông xuống cầu thang, sau đó, cả hai vào một căn phòng nhỏ, tối om.

“Đừng cử động, sếp ơi, chúng ta đang ở trong phòng thay đồ của Pierre Leduc. Tôi sẽ mở cửa ngách dẫn vào ngay đầu giường cậu ta... Đừng sợ... Đêm nào cậu ta cũng uống thuốc giảm đau... Trời có sập cậu ta cũng không dậy đâu. Lối này... chỗ trốn này tuyệt quá phải không?... Đây là màn phủ giường của cậu ta... Từ chỗ này, sếp có thể nhìn thấy cửa sổ và toàn bộ phần từ giường tới cửa sổ.”

Khung cửa sổ mở toang, đón một vạt sáng vàng vọt lọt vào khi mặt trăng ló ra khỏi màn mây, đôi khi rất đúng lúc. Hai người không rời mắt khỏi khung cửa trống, họ có cảm giác chuyện mình đang chờ nhất định sẽ xảy ra ở đó.

Có tiếng cót két khe khẽ...

“Hắn đang leo lên giàn hoa.” Gourel thì thầm.

“Có cao không?”

“Hai mét... hai mét rưỡi gì đấy...”

Tiếng cót két ngày càng rõ hơn.

“Đi, Gourel!” Ông Lenormand bảo thầm. “Tìm anh em nhà Doudeville, đưa họ trở lại chân bức tường, và chặn đường bất kỳ ai cố trèo xuống theo lối đó.”

Gourel nhanh chóng rời đi. Cùng lúc đó, một cái đầu nhô lên bên ngưỡng cửa sổ, sau đó là một cái chân vắt qua thành ban công. Ông Lenormand nhận thấy đó là một người gầy nhỏ, chiều cao dưới mức trung bình của đàn ông, mặc quần áo tối màu và không đội mũ.

Người nọ quay lại, nghiêng người, tựa vào ban công, nhìn chằm chằm vào khoảng không một lúc, như để chắc chắn không có mối nguy hiểm nào đe dọa mình. Sau đó, hắn thụp xuống, nằm dài ra sàn. Trông hắn như bất động. Nhưng ông Lenormand nhanh chóng nhận ra một cái bóng đen lừng lững nổi lên trong bóng tối đang tiến tới, mỗi lúc một gần hơn.

Bóng đen áp sát chiếc giường.

Ông có cảm tưởng như mình nghe rõ tiếng thở của kẻ nọ, và cùng lúc đó, hắn cũng trông thấy đôi mắt ông, đôi mắt sắc sảo, sáng quắc xé toạc màn đêm như một mũi tên lửa, đôi mắt có thể nhìn xuyên bóng tối.

Pierre Leduc thở một hơi dài và trở mình.

Yên lặng lại kéo về...

Người nọ lướt dọc theo thành giường, không rõ hắn dùng cách gì để di chuyển, chỉ biết bóng người đen ngòm của hắn lúc này nổi rõ trên nền trắng của tấm chăn mỏng rủ xuống sàn.

Ông Lenormand chỉ cần dang cánh tay ra sẽ chạm được vào hắn ngay. Lần này, ông còn nghe thấy rõ nhịp thở của kẻ lạ mặt xen lẫn với nhịp thở của người đang ngủ, và ông còn nghe thấy cả ảo thanh là nhịp tim của kẻ nọ.

Bất thình lình, một tia sáng lóe lên... Kẻ nọ vừa bật chiếc đèn điện hắn cầm theo; và mặt Pierre Leduc bị đèn chiếu rõ toàn bộ, nhưng người kẻ nọ vẫn khuất trong bóng tối, ông Lenormand không thấy được mặt hắn.

Những gì ông thấy khi đó là một thứ sáng lóa dưới ánh đèn, và ông rùng mình. Đó là một lưỡi dao; ông thấy lưỡi dao mảnh, thuôn nhọn, trông giống một mũi dùi hơn là lưỡi dao găm ấy giống hệt món hung khí ông nhặt được bên cạnh thi thể Chapman, thư ký của ông Kesselbach.

Ông dốc hết sức mạnh ý chí để ngăn bản thân lại, không lao vào kẻ đột nhập kia. Ông muốn xem hắn tới đây để làm gì...

Bàn tay hắn giơ lên. Hắn định đâm xuống? Ông Lenormand đã tính toán kĩ khoảng cách để ngăn được cú đâm... Nhưng không, đó không phải là một động tác giết người, mà là một cử chỉ đề phòng. Bàn tay sẽ chỉ giáng xuống nếu Pierre Leduc cựa quậy hay cố kêu lên. Rồi hắn cúi xuống chỗ người đang ngủ, tuồng như để kiểm tra điều gì đó.

“Má phải.” Ông Lenormand nghĩ thầm trong đầu. “Vết sẹo bên má phải... Hắn muốn chắc chắn đó là Pierre Leduc.”

Kẻ bí ẩn nọ hơi quay người nên chỉ có thể nhìn thấy đôi vai hắn. Nhưng quần áo của hắn, chiếc áo khoác ngoài, sát đến mức quệt cả vào tấm rèm nơi ông Lenormand đang nấp đằng sau.

“Hắn chỉ cần nhúc nhích một cái thôi...” Vị Trưởng phòng Điều tra nghĩ. “... Chỉ rùng mình một cái thôi, mình sẽ tóm lấy hắn.”

Nhưng kẻ đột nhập đang quá mê mải với cuộc kiểm tra kia không hề động đậy. Cuối cùng, sau khi chuyển con dao sang bàn tay đang cầm đèn, hắn lật tấm chăn mỏng ra. Ban đầu, hắn chỉ lật một chút, gần như chẳng thấy thay đổi gì, rồi cứ thế, hắn lật từng chút, từng chút một, cho đến khi bàn tay trái của người đang ngủ không bị chăn phủ lên nữa mà lộ ra hoàn toàn. Ánh đèn rọi lên bàn tay. Những ngón tay xòe rộng. Ngón út bị cụt đến đốt thứ hai.

Pierre Leduc lại trở mình. Đèn lập tức tắt ngóm; kẻ đột nhập vẫn đứng bên cạnh giường, thẳng băng, bất động suốt một lúc. Hắn sẽ quyết định đâm Pierre Leduc ư? Nỗi thống khổ khi phải đứng im quan sát trong lúc có thể dễ dàng ngăn chặn được tội ác giày vò ông Lenormand, nhưng ông không muốn ra tay khi chưa đến giây phút cuối cùng.

Một khoảng lặng dài, rất dài. Rồi đột ngột, ông thấy hay tưởng rằng mình thấy một cánh tay đang giơ lên. Theo phản xạ, ông xòe tay ra che cho người đang ngủ. Trong lúc làm động tác đó, ông húc phải người kẻ kia.

Một tiếng kêu nghèn nghẹt vang lên. Kẻ lạ mặt khua tay loạn xạ trong không khí, hắn đánh càn để tự vệ và chạy về phía cửa sổ. Nhưng ông Lenormand đã nhảy đè lên người hắn, ôm lấy vai hắn bằng cả hai cánh tay.

Ngay lập tức, Lenormand thấy địch thủ, vốn yếu hơn ông, phải chịu thua và bất lực trong đôi bàn tay sắt của mình. Hắn cố tránh việc đánh đấm và chuồi ra khỏi vòng tay như đôi gọng kìm của ông. Ông Lenormand lấy hết sức bình sinh đè sấp hẳn xuống đất, uốn cong người hắn lại rồi lật ngửa hắn lên.

“A! Mình đã tóm được hắn, mình đã tóm được hắn!” Ông đắc thắng thì thầm.

Và ông cảm thấy đặc biệt phấn khích khi tên tội phạm đáng sợ, con quái vật đáng ghê tởm giờ phải nằm im không chống trả nổi vì bị ông kẹp chặt. Ông thấy hắn sống động và run rẩy, tức giận và tuyệt vọng, hai sinh mệnh của họ hòa quyện, hai hơi thở của họ lẫn vào nhau.

“Ngươi là ai?” Ông hỏi. “Ngươi là ai?... Ngươi sẽ phải nói...”

Và ông siết lấy người địch thủ, càng lúc càng chặt hơn, vì ông có cảm giác thân thể của đối thủ đang co dần lại trong tay ông, đang dần biến đi mất. Ông lại siết... và siết chặt hơn nữa...

Bất thình lình, ông rùng mình từ đầu đến chân. Ông có cảm giác - ông vẫn có cảm giác - cổ họng như đang bị một mũi kim nhỏ đâm vào... Trong cơn điên tiết, ông càng siết mạnh hơn, cơn đau càng tăng thêm. Và ông nhận ra kẻ nọ đã xoay được cánh tay của mình, đưa bàn tay lên ngực và chĩa con dao lên. Tất nhiên, cánh tay hắn đã bất động, nhưng khi ông Lenormand siết chặt tay mình, mũi dao găm sẽ cắm sâu hơn vào vùng da thịt lồ lộ ngay trước mũi dao của ông.

Ông ngửa đầu ra sau một chút để né mũi dao nhọn, mũi dao cũng đi theo và vết thương bị cửa rộng ra.

Sau đó, Lenormand không cử động nữa, ông nhớ lại ba vụ giết người cùng tất cả những điều đáng sợ, bạo tàn và hoàn toàn thấy trước được mà mũi dao thép nhọn hoắt, nhỏ như một đầu kim đang xuyên qua da ông đại diện cho; về mũi dao, nó vẫn không ngừng thọc sâu vào da thịt ông...

Bất ngờ, ông buông tay và nhảy lùi lại. Rồi, ngay lập tức, ông cố tấn công trở lại. Đã quá muộn. Kẻ đột nhập đã vắt chân qua cửa sổ và nhảy xuống.

“Cẩn thận, Gourel!” Ông hét lên. Ông biết Gourel đang ở dưới đó, sẵn sàng tóm lấy kẻ đào tẩu.

Ông nhoài người ra ngoài ban công. Có tiếng sỏi lạo xạo... Một cái bóng chạy giữa hai cây to... Có tiếng sập cổng... Và không có tiếng động nào khác... Không thấy ai ngăn kẻ nọ lại...

Chẳng buồn nghĩ gì đến Pierre Leduc, ông gọi to: “Gourel!... Doudeville!”

Không có tiếng trả lời. Chỉ có vẻ tịch mịch của miền thôn quê lúc đêm khuya...

Không kìm được, ông cứ nghĩ đến ba vụ giết người và con dao găm bằng thép, nhưng không, không thể nào, kẻ bí ẩn nọ làm gì có thời gian, thậm chí, hắn còn không cần phải chống trả gì vì đường trốn thoát hoàn toàn chẳng có ai.

Đến lượt ông Lenormand nhảy xuống, bật đèn lên và thấy Gourel nằm sõng soài trên mặt đất.

“Mẹ kiếp!” Ông chửi. “Nếu chúng giết cậu ấy, chúng sẽ phải trả giá đắt!”

Nhưng Gourel chưa chết, chỉ ngất thôi; và, vài phút sau, anh tỉnh dậy, khàn khàn nói trong cổ họng: “Nhõn một cú đấm thôi, sếp ạ... Nhõn một cú đấm ngay giữa ngực tôi thôi. Tay ấy khỏe thật!”

“Chúng có hai người à?”

“Vâng, một tay nhỏ thó trèo lên lâu, một tay khác đánh ngất tôi lúc tôi đang canh gác.”

“Còn anh em nhà Doudeville đâu?”

“Chưa thấy họ đâu cả.”

Họ tìm được một người, Jacques nằm ở gần cổng, chảy máu vì bị đấm vào hàm; người còn lại nằm cách đó xa hơn một chút, đang thở dốc vì lãnh trọn một cú đấm vào ngực.

“Có chuyện gì? Đã xảy ra chuyện gì?” Ông Lenormand hỏi.

Jacques nói anh em họ bị một kẻ lạ mặt đánh ngất khi họ chưa kịp tự vệ.

“Hắn đi một mình à?”

“Không ạ; khi hắn đi ngang qua gần chúng tôi, hắn có đồng bọn đi cùng, gã đó thấp hơn hắn.”

“Các cậu có nhận ra gã đã tấn công mình không?”

“Xét theo bề rộng của đôi vai, tôi nghĩ hắn ta có thể là gã người Anh ở khách sạn Palace, chính là gã rời khách sạn mà chúng tôi bị mất dấu.”

“Tay Thiếu tá?”

“Vâng, Thiếu tá Parbury.

3.

Sau một hồi suy nghĩ, ông Lenormand nói: “Không còn nghi ngờ gì nữa. Hai gã đó cùng có mặt trong vụ Kesselbach: Tên có con dao găm là hung thủ giết người, còn đồng bọn của hắn là tay Thiếu tá.”

“Thân vương Sernine cũng nghĩ thế.” Jacques Doudeville lẩm bẩm.

“Và tối nay...” Trưởng phòng Điều tra nói. “... Lại là bọn chúng: vẫn là hai kẻ đó.” Rồi ông nói thêm: “Càng hay. Cơ hội bắt được hai tên thủ phạm lớn hơn gấp trăm lần so với bắt một tên.”

Ông Lenormand săn sóc cho người của mình, đưa họ về phòng ngủ và trở ra xem những kẻ vừa rồi có đánh rơi thứ gì hay để lại dấu vết nào không. Ông không tìm được gì và quay lại giường ngủ.

Sáng hôm sau, do Gourel và anh em nhà Doudeville không thấy vết thương có gì nặng hơn, ông bảo hai anh em đi tuần quanh các khu lân cận, còn ông và Gourel lên Paris để còn sắp xếp và gấp rút giải quyết vụ việc.

Ông ăn trưa ngay tại văn phòng của mình. Lúc hai giờ chiều, ông nhận được tin tốt. Một trong những cảnh sát điều tra giỏi nhất của ông, Dieuzy, đã đón được Steinweg, ông người Đức hay thư từ qua lại với ông Rudolf Kesselbach, ngay khi ông ta vừa xuống khỏi chuyến tàu tới từ Marseille.

“Dieuzy có đó không?”

“Có, thưa sếp!” Gourel đáp. “Anh ấy đang ở ngoài với ông người Đức.”

“Nhắn họ vào đây gặp tôi.”

Đúng lúc đó, chuông điện thoại reo. Là điện thoại của Jean Doudeville, gọi từ bưu điện ở Garches. Cuộc điện thoại không kéo dài.

“Là cậu à, Jean? Có gì mới không?”

“Vâng, thưa sếp, Thiếu tá Parbury...”

“Thế nào?”

“Chúng tôi đã tìm thấy hắn. Hắn đã cải trang thành người Tây Ban Nha và làm cho da tối màu đi. Chúng tôi vừa trông thấy hắn. Hắn vào một trường học miễn phí của Garches. Hắn được cô gái trẻ đó tiếp... chính là cô bé có quen biết với Thân vương Sernine, Geneviève Ernemont.”

“Thôi chết rồi!”

Ông Lenormand buông ống nói, vơ lấy mũ, lao ra hành lang, đụng ngay Dieuzy và ông người Đức. Ông chỉ kịp la lên với họ: “Sáu giờ... gặp nhau ở đây...”

Ông lao vội xuống cầu thang, theo sau là Gourel và ba cảnh sát khác ông gặp trên đường, và nhào lên một chiếc taxi. “Đi Garches... nhanh hết sức, boa cho anh mười franc!”

Ông cho xe dừng lại cách công viên Villeneuve một đoạn ngắn, ở khúc quanh của con ngõ nhỏ dẫn vào trường. Jean Doudeville đang đợi sẵn, vừa thấy ông liền lập tức nói ngay: “Hắn chuồn mất rồi, mười phút trước, qua đầu kia con ngõ.”

“Một mình thôi à?”

“Không, với cô gái nữa.”

Ông Lenormand túm cổ áo Doudeville. “Chết tiệt! Cậu để hắn thoát mất rồi! Nhưng đáng lẽ cậu phải... Đáng lẽ cậu phải...”

“Anh trai tôi đang bám theo hắn.”

“Có tác dụng lắm đấy! Hắn sẽ thoát được anh cậu thôi. Các cậu không phải đối thủ của hắn, cả hai cậu.”

Ông tự mình cầm lái, kiên quyết lao chiếc taxi xuống con ngõ, mặc kệ những vết xe ngựa chằng chịt và bụi rậm hai bên đường. Chẳng mấy chốc, họ đã ra được đường lớn của xã làm, đường này dẫn họ đến một ngã năm. Không chút chần chừ, ông Lenormand rẽ vào con đường bên trái, đường đi Saint-Cucufa. Quả nhiên, trên đỉnh con dốc dẫn xuống chỗ hồ nước, họ gặp anh Doudeville còn lại. Anh ta hét lớn: “Họ lên xe đi rồi, xe ngựa... cách đây một cây!”

Trưởng phòng Điều tra không dừng lại. Ông lao xe xuống dốc, ôm cua, chạy vòng qua hồ và bất ngờ thốt lên một câu tỏ ý đắc thắng. Ngay trên đỉnh con dốc sừng sững trước mặt họ, ông đã thấy nóc cỗ xe ngựa.

Thật không may, ông chạy nhầm đường nên phải cho xe lùi lại. Lúc ông đến chỗ hai con đường giao nhau, chiếc xe vẫn dừng nguyên ở đó. Và, bất ngờ, khi ông quay xe, ông thấy một cô gái nhảy ra khỏi xe. Một người đàn ông đứng ở cửa xe. Cô gái giơ tay lên. Hai tiếng nổ vang lên.

Hai phát đạn ấy rõ ràng không trúng mục tiêu, bởi có một cái đầu ló ra bên kia mui xe, nhìn quanh quất, và khi trông thấy chiếc ô tô, người đàn ông liền quất thật mạnh vào con ngựa. Con ngựa lồng lên phi nước đại. Giây tiếp theo, chiếc xe khuất sau một khúc quanh.

Chỉ trong vài giây, ông Lenormand đã quay xe xong lao thẳng lên con dốc, chạy ngang qua cô gái nhưng không dừng lại mà ôm cua rất gấp. Ông thấy xe chạy thẳng vào một con đường xuyên rừng, dốc và lởm chởm đầy sỏi đá. Hai bên đường là rừng cây rậm rạp, người ta chỉ có thể đi rất chậm và phải hết sức cẩn thận. Nhưng ông nào có quan tâm! Chừng hai mươi thước về phía trước, cỗ xe - loại xe ngựa hai bánh - đang nẩy trên những tảng đá, bị con ngựa lôi, hay đúng hơn là kìm lại, vì nó biết quá rõ: Khi đi trên một con đường thế này, phải đi thật thận trọng, phải dò dẫm từng bước và không được liều - đó là bản năng. Không việc gì phải sợ nữa, trốn thoát là bất khả!

Và hai phương tiện cứ thế giật lên, rung lắc dữ dội, cùng nhau nẩy xuống dốc. Có lúc, hai bên ở gần nhau đến mức ông Lenormand đã nảy ra ý nghĩ xuống xe và chạy cùng với người của mình. Nhưng ông nhận thấy rõ mối nguy hiểm khi phanh gấp trên một con dốc đứng như thế này; vậy là ông tiếp tục cho xe chạy, áp sát kẻ thù, như con thú đi săn luôn giữ con mồi nằm trong tầm mắt và tầm tay.

“Ta bắt được hắn rồi, thưa sếp, ta bắt được hắn rồi!” Các cảnh sát thì thầm, phấn khích vì cuộc rượt đuổi bất ngờ này.

Con đường bằng phẳng hơn về phía cuối và giao với một con đường chạy về hướng sông Seine, hướng đi Bougival. Khi ra đến mặt đường phẳng, con ngựa bèn đi nước kiệu, không vội vàng gì nữa mà cứ thế thong thả đi giữa đường.

Chiếc taxi tăng tốc đột ngột làm cả xe giật lên. Trông chiếc xe cứ như không phải lăn bánh nữa mà là chồm tới, hệt như loài hổ báo phóng vút tới trước để vồ mồi, và xe cứ thế trượt đi trên sườn dốc, sẵn sàng đập tan mọi chướng ngại trên đường rồi nó bắt kịp cỗ xe, đi ngang cỗ xe, sau đó vượt qua hắn.

Ông Lenormand buông một câu chửi thề… một tràng những tiếng thét thịnh nộ... Cỗ xe trống rỗng!

Cỗ xe trống rỗng. Con ngựa điềm nhiên bước, dây cương buông trên lưng. Không nghi ngờ gì nữa, nó đang trên đường quay trở lại chuồng ở một quán trọ nào đó quanh vùng, nơi người ta cho thuê xe trong ngày.

Nén cơn giận dữ lại, Trưởng phòng Điều tra chỉ nói: “Tên Thiếu tá chắc chắn đã nhảy xuống lúc ta mất dấu chiếc xe, trên đỉnh dốc.”

“Chúng ta chỉ cần lùng sục trong rừng thôi, thưa sếp, và chắc chắn ta...”

“Để trở về tay không à? Tên khốn giờ đã cao chạy xa bay rồi. Hắn không phải loại ta có thể bắt được hai lần trong một ngày đâu. Ôi trời ơi, chết tiệt! Chết tiệt!”

Họ quay lại chỗ cô gái trẻ. Lúc này, cô đang đứng cùng Jacques Doudeville, và rõ ràng cô không hề hấn gì sau tất cả những chuyện vừa rồi. Ông Lenormand tự giới thiệu bản thân và đề nghị đưa cô về nhà, rồi ngay lập tức hỏi cô về tay Thiếu tá người Anh, Parbury.

Cô kinh ngạc. “Anh ta không phải thiếu tá, cũng không phải người Anh; tên anh ta cũng không phải Parbury.”

“Vậy tên hắn là gì?”

“Juan Ribeira. Anh ta là người Tây Ban Nha, và được chính phủ Tây Ban Nha ủy nhiệm nghiên cứu hoạt động của các trường học ở Pháp.”

“Thôi được. Tên và quốc tịch của hắn không quan trọng. Hắn là người chúng tôi đang tìm kiếm. Cô quen hắn lâu chưa?”

“Khoảng hai tuần. Anh ta đã nghe nói về trường học mà tôi thành lập ở Garches, và tỏ ra rất quan tâm đến kinh nghiệm của tôi, nên đã đề nghị cấp cho tôi một khoản trợ cấp hằng năm, với điều kiện duy nhất là thỉnh thoảng anh ta có thể đến thăm và quan sát sự tiến bộ của các học sinh ở đây. Tôi không có quyền từ chối...”

“Đúng, rõ ràng là vậy; nhưng đáng ra, cô phải hỏi ý kiến những người thân quen xung quanh mình đã chứ. Thân vương Sernine không phải là bạn của cô sao? Anh ta là người có thể cho cô nhiều lời khuyên tốt đấy.”

“Ồ, tôi hoàn toàn tin tưởng vào ngài ấy; nhưng ngài ấy hiện đang đi nước ngoài mất rồi.”

“Cô không có địa chỉ của anh ta à?”

“Không! Vả lại, tôi biết nói gì với ngài ấy? Quý ông đó cư xử rất tốt. Mãi cho tới hôm nay... Nhưng tôi không biết liệu...”

“Xin cô, thưa cô, xin hãy nói chuyện thẳng thắn với tôi. Cô cũng có thể tin tưởng ở tôi.”

“Vâng, anh Ribeira cũng vừa mới đến. Anh ta nói với tôi rằng anh ta được một quý bà người Pháp hiện đang đi thăm thú vùng Bougival cử đến. Quý bà đó muốn giao phó việc học hành của một cô bé cho tôi, và bà ta muốn tôi đến gặp ngay lập tức. Tôi thấy chuyện này khá tự nhiên. Vì hôm nay là ngày nghỉ và anh Ribeira đã thuê một cỗ xe, bấy giờ xe đã đợi sẵn ở cuối đường, nên tôi chẳng khó khăn gì mà không nhận lời lên xe cả.”

“Nhưng cuối cùng, mục đích của hắn là gì?”

Cô đỏ mặt và nói: “Chỉ đơn giản là đưa tôi đi thôi. Nửa tiếng sau đó, anh ta tỏ tình với tôi.”

“Cô không biết gì về hắn cả?”

“Vâng ạ!”

“Hắn sống ở Paris à?”

“Tôi đoán vậy.”

“Hắn có viết thư cho cô bao giờ chưa? Cô có giữ thứ gì có chữ viết tay của hắn không, bất cứ thứ gì hắn bỏ lại, để chúng tôi có thể có chút manh mối?”

“Không có manh mối gì đâu ạ... À, chờ chút... Nhưng tôi không nghĩ cái đó có gì quan trọng...”

“Cô cứ nói đi... làm ơn...”

“Hai ngày trước, quý ông đó có xin phép được sử dụng chiếc máy đánh chữ của tôi; và anh ta đã soạn - trông lúng túng lắm, vì rõ ràng anh ta chưa đánh máy bao giờ - một bức thư mà tôi vô tình nhìn thấy địa chỉ.”

“Địa chỉ thế nào?”

“Anh ta viết cho tờ Tạp chí [10] , và anh ta dán tận hai mươi con tem lên phong bì.”

“Phải... Mục tìm người, chắc chắn thế rồi.” Ông Lenormand nói.

“Tôi mang theo số báo ngày hôm nay đây, thưa sếp.” Gourel nói.

Ông Lenormand giở tờ báo ra và đọc trang tám. Ông giật nẩy mình. Ông đọc mấy dòng sau, vẫn được viết tóm tắt như thường lệ:

“Xin thông báo cho bất kỳ ai biết ông Steinueg. Người đăng tin mong được biết liệu ông đã tới Paris hay chưa, cũng như địa chỉ của ông. Xin hồi đáp qua mục này.”

“Steinweg!” Gourel kêu lên. “Đây chính là người Dieuzy dẫn tới gặp sếp mà!”

“Phải, phải.” Ông Lenormand tự nhủ. “Đó chính là người viết lá thư gửi ông Kesselbach mà tôi đã cầm, người đã khiến ông Kesselbach đi tìm Pierre Leduc... Vậy là họ cũng muốn biết về Pierre Leduc và quá khứ của anh ta sao?... Họ cũng đang mò mẫm trong bóng tối ư?...”

Ông xoa tay: Steinweg đang ở chỗ ông. Chưa tới một tiếng nữa, Steinweg sẽ phải nói. Chưa tới một tiếng nữa, bức màn đen kịt đang quấn chặt lấy ông và khiến cho vụ án Kesselbach trở thành một vụ án khó nhằn, trúc trắc nhất trong những vụ ông từng xử lý sẽ bị xé toạc.

« Lùi
Tiến »