1.
Sáu giờ tối, ông Lenormand về tới văn phòng của mình ở Sở cảnh sát. Ông lập tức cho gọi Dieuzy: “Người của anh có ở đó không?”
“Có, thưa sếp!”
“Anh điều tra được gì từ ông ta rồi?”
“Chưa được gì cả, thưa sếp. Ông ta không nói một lời nào. Tôi bảo với ông ta, theo quy định mới, người nước ngoài bắt buộc phải khai báo lưu trú tại Sở Cảnh sát; và tôi đưa ông ta đến đây, tới văn phòng thư ký của sếp.”
“Tôi sẽ thẩm vấn ông ta.”
Nhưng đúng lúc đó, cậu bé chạy tin ở Sở Cảnh sát xuất hiện. “Có một quý bà muốn được gặp ngài ngay lập tức, thưa sếp.”
“Cháu có danh thiếp của bà ấy không?”
“Đây ạ!”
“Là bà Kesselbach! Mời bà ấy vào.”
Ông bước ra cửa để mời góa phụ trẻ vào trong và bảo nàng ngồi xuống. Mặt nàng vẫn đẫm nỗi phiền muộn khôn nguôi, dáng vẻ vẫn ốm yếu và chán chường cùng cực, bộc lộ rõ những bị thương, thống khổ trong đời nàng.
Nàng chìa ra tờ Tạp chí số ra ngày hôm đó, chỉ vào dòng đề cập đến ông Steinweg ở mục tìm người.
“Ông cụ Steinweg là bạn của chồng tôi.” Nàng nói. “Và tôi chắc chắn ông ấy biết rất nhiều điều.”
“Dieuzy!” Ông Lenormand nói. “Đưa người đang đợi vào đây... Thưa bà, chuyến ghé thăm của bà hôm nay sẽ không vô ích đâu. Tôi chỉ nhờ bà một việc, khi người đó bước vào, xin đừng nói lời nào.”
Cửa mở. Một người đàn ông xuất hiện, một ông lão râu tóc bạc phơ, gương mặt chằng chịt những nếp nhăn sâu, ăn mặc tồi tàn và mang dáng vẻ của những kẻ khốn cùng phải lăn lộn khắp thế gian để kiếm miếng ăn qua ngày.
Ông ta tần ngần trên ngưỡng cửa, chớp chớp mắt, trận trân nhìn ông Lenormand, hình như ông ta ngượng ngùng trước bầu không khí im lặng chào đón mình và cứ xoay xoay chiếc mũ trên tay vì xấu hổ.
Nhưng, đột nhiên, ông ta có vẻ sửng sốt, mắt mở to và lắp bắp: “Chị... chị Kesselbach!”
Ông ta đã nhìn thấy góa phụ trẻ. Thấy an tâm trở lại, ông ta mỉm cười, không còn ngại ngùng nữa, rồi ông ta tiến lại gần nàng và nói bằng giọng Đức nặng trịch: “Ôi, ta mừng quá!... Cuối cùng thì... Ta cứ nghĩ là mình sẽ không bao giờ... Ta lấy làm lạ lắm khi không nhận được tin tức gì... không có điện hay thư từ gì cả... Thế Rudolf Kesselbach thân yêu của chúng ta dạo này thế nào?”
Góa phụ trẻ loạng choạng, cứ như nàng vừa bị đấm thẳng vào mặt. Nàng ngã phịch xuống ghế và òa lên khóc nức nở.
“Sao vậy?... Có chuyện gì vậy?” Steinweg hỏi.
Ông Lenormand ngay lập tức lên tiếng: “Thưa ông, theo như tôi thấy, ông vẫn chưa biết chuyện gì mới xảy ra gần đây. Ông đã đi vắng bao lâu rồi?”
“Vâng, ba tháng... Tôi lên mỏ. Rồi tôi quay trở lại Capetown và viết thư cho Rudolf. Trên đường về nhà, tôi có nhận làm một số công việc ở Port-Saïd. Chắc Rudolf đã nhận được thư của tôi rồi, có phải vậy không?”
“Ông ấy đi xa rồi. Tôi sẽ giải thích lý do ông ấy vắng mặt sau. Nhưng, trước tiên, có một việc mà chúng tôi rất muốn biết thông tin. Việc này liên quan đến một người mà ông cũng biết, và ông đã nhắc đến trong các bức thư gửi cho ông Kesselbach, là người tên Pierre Leduc...”
“Pierre Leduc! Gì cơ? Ai nói với ngài?” Ông lão kinh ngạc tột cùng.
Ông ta lại lắp bắp: “Ai nói cho ngài biết? Ai đã tiết lộ cho ngài...?”
“Ông Kesselbach.”
“Không bao giờ! Đó là bí mật tôi nói riêng cho cậu ấy biết và Rudolf luôn biết giữ kín bí mật... nhất là bí mật này...”
“Dẫu vậy, nhất thiết ông phải trả lời chúng tôi. Chúng tôi hiện đang tiến hành một cuộc điều tra về Pierre Leduc, chuyện này phải được giải quyết ngay lập tức, không được chậm trễ và chỉ có ông mới có thể làm sáng tỏ giúp chúng tôi, vì ông Kesselbach không còn ở đây nữa.”
“Vậy thì...” Steinweg kêu lên, xem chừng đã đi đến quyết định. “Các ngài cần gì?”
“Ông có biết Pierre Leduc không?”
“Tôi chưa gặp anh ta bao giờ, nhưng từ lâu tôi đã giữ một bí mật liên quan đến anh ta. Qua nhiều sự cố mà tôi thấy không cần thiết phải kể ra ở đây, và nhờ một loạt chuyện tình cờ, cuối cùng, tôi cũng biết chắc chắn người tôi rất quan tâm, muốn khám phá bí mật đang ở Paris, sống cảnh bệ rạc. Anh ta tự xưng là Pierre Leduc, và đó không phải tên thật của anh ta.”
“Nhưng bản thân anh ta có biết tên thật của mình không?”
“Tôi đoán là có.”
“Còn ông?”
“Vâng, tôi có biết.”
“Vậy hãy nói cho chúng tôi biết.”
Ông ta chần chừ, rồi kiên quyết nói: “Không, tôi không thể. Tôi không nói được.”
“Nhưng tại sao?”
“Tôi không được phép. Toàn bộ bí mật nằm cả ở đấy. Khi tôi tiết lộ bí mật đó với Rudolf, cậu ấy coi trọng nó đến mức đã cho tôi một khoản tiền lớn để mua lấy sự im lặng của tôi, và cậu ấy còn hứa sẽ cho tôi cả một gia tài, một gia tài thực thụ vào ngày cậu ấy thành công, đầu tiên là tìm ra Pierre Leduc, sau đó là thu lợi từ bí mật kia.” Ông ta cười chua chát. “Số tiền lớn nọ đã mất rồi. Tôi đến để hỏi xem gia tài của tôi thế nào.”
“Ông Kesselbach mất rồi.” Trưởng phòng Điều tra nói.
Steinweg giật nẩy mình. “Mất? Có lẽ nào? Không, đây là một cái bẫy. Chị Kesselbach, có thật thế không?”
Góa phụ trẻ khẽ gật đầu.
Dường như tiết lộ bất ngờ này khiến Steinweg vỡ vụn; đồng thời, đối với ông ta, điều đó hẳn vô cùng đau đớn, vì ông ta khóc lóc thảm thiết. “Rudolf tội nghiệp của tôi, tôi biết cậu ấy từ hồi cậu ấy còn là một đứa trẻ... Cậu ấy vẫn thường đến nhà tôi ở Augsbourg chơi... Tôi quý cậu ấy vô cùng.” Rồi ông ta gọi bà Kesselbach tới làm chứng. “Và cậu ấy cũng vậy, phải không, chị Kesselbach, cậu ấy cũng quý ta lắm, đúng không? Cậu ấy hẳn đã kể với chị... Bố Steinweg của cậu ấy, cậu ấy vẫn gọi ta như thế.”
Ông Lenormand đến gần ông ta, và, bằng giọng rõ ràng nhất, ông nói: “Nghe tôi nói này, ông Kesselbach bị người ta sát hại... Thôi, ông hãy bình tĩnh... Kêu khóc gì lúc này cũng vô ích... Ông ấy bị người ta sát hại, và mọi chi tiết trong vụ án chứng tỏ rằng thủ phạm đã biết về kế hoạch này. Bản chất kế hoạch đó có gì giúp ông đoán ra lý do chúng giết ông Kesselbach không?”
Steinweg chết sững. Ông ta lắp bắp: “Là lỗi của tôi... Nếu tôi không đả động gì về việc đó với cậu ấy...”
Bà Kesselbach bước tới cầu xin: “Bác có nghĩ... bác có nảy ra ý nào không... Ôi, cháu xin bác, bác Steinweg...”
“Ta không biết... Ta chưa nghĩ được gì.” Ông ta thều thào. “Cho ta suy nghĩ một lúc...”
“Đầu tiên, hãy nhớ lại khung cảnh xung quanh ông Kesselbach lúc đó.” Ông Lenormand nói. “Không còn ai khác có mặt vào thời điểm ông kể chuyện cho ông Kesselbach chứ? Ông ấy còn có ai khác đủ tin tưởng để chia sẻ chuyện này nữa không?”
“Không!”
“Ông hãy nhớ kĩ lại xem.”
Cả Dolorès và ông Lenormand đều nhoài về phía ông ta, hồi hộp chờ đợi câu trả lời.
“Không!” Ông ta đáp. “Tôi không thấy...”
“Nhớ kĩ lại xem.” Trưởng phòng Điều tra nhắc lại. “Họ và tên của hung thủ có chữ cái đầu là L và M.”
“Chữ L à?” Ông ta hỏi lại. “Tôi không thấy... chữ L... chữ M...”
“Đúng vậy, các chữ cái bằng vàng ở góc hộp thuốc lá của kẻ sát nhân.”
“Một hộp thuốc lá ư?” Steinweg nói, cố căng óc nhớ lại.
“Một cái hộp bằng đồng thau... một ngăn bên trong được chia làm hai ngăn nhỏ, ngăn nhỏ hơn để giấy quấn thuốc lá, ngăn còn lại để cất thuốc lá..”
“Hai ngăn, hai ngăn.” Steinweg lặp lại, hình như ký ức của ông ta được chi tiết này gợi dậy chút gì đó. “Ngài cho tôi xem cái hộp đó được không?”
“Nó đây, hay đúng hơn là bản sao y của nó.” Ông Lenormand nói và đưa cho ông ta một hộp thuốc lá.
“Hả? Cái gì?” Steinweg cầm lấy cái hộp, thốt lên.
Ông ta ngây dại nhìn cái hộp, lật đi lật lại, xem xem xét xét... Rồi bất ngờ, ông ta kêu lên một tiếng, tiếng kêu của người vừa ngộ ra một điều gì khủng khiếp khiến bản thân kinh sợ. Và ông ta đứng như trời trồng, mặt tái mét, tay run rẩy, mắt dại đi.
“Nói đi, nào, hãy nói đi!” Ông Lenormand nói.
“Ồ!” Ông Steinweg lẩm bẩm, như thể bị một luồng sáng chói lòa làm lóa mắt. “Giờ thì mọi chuyện đều đã rõ...”
“Nói, nói đi!”
Ông ta gạt cả hai người ra, tấp tỉnh bước tới cửa sổ, rồi quay lại, chạy ào tới trước mặt Trưởng phòng Điều tra. “Thưa ngài, thưa ngài... Kẻ sát hại Rudolf... Tôi sẽ nói cho ngài biết... Đó là...”
Ông ta đột ngột dừng lại.
“Là ai?” Hai người còn lại hỏi.
Một phút im lặng. Liệu tên của kẻ sát nhân ghê tởm ấy có vang động trong sự lặng yên tột độ bao trùm lấy căn phòng, giữa những bức tường vốn đã nghe biết bao lời buộc tội và thú tội? Ông Lenormand cảm thấy mình như đang đứng bên mép một vực sâu không đáy, và một giọng nói từ dưới đó cất lên, cất lên với ông... Một vài giây nữa thôi và ông sẽ biết...
“Không!” Steinweg khẽ nói. “Không, tôi không thể...”
“Ông nói cái gì cơ?” Trưởng phòng Điều tra giận dữ hét lên.
“Tôi nói là tôi không thể.”
“Nhưng ông không được phép im lặng! Pháp luật buộc ông phải nói.”
“Ngày mai... ngày mai, tôi sẽ nói... Tôi cần thời gian suy nghĩ... Ngày mai, tôi sẽ kể với ngài tất cả những gì mình biết về Pierre Leduc... tất cả những gì tôi suy đoán về cái hộp thuốc lá kia... Ngày mai, tôi xin hứa với ngài...”
Ở ông ta hiện rõ sự ngoan cố mà có viện đến những nỗ lực mạnh mẽ nhất cũng vô ích. Ông Lenormand đành nhượng bộ. “Thôi được. Tôi cho ông hạn đến ngày mai, nhưng tôi báo trước, nếu ngày mai ông vẫn không chịu nói, tôi buộc phải đưa ông tới gặp ngài dự thẩm.”
Ông bấm chuông, kéo thanh tra Dieuzy sang một bên và dặn: “Đi theo ông ta tới khách sạn... và nghỉ luôn tại đó... Tôi sẽ điều hai người sang với anh... Và trên hết, chớ rời mắt khỏi ông ta. Có kẻ muốn bắt ông ta đấy.”
Viên thanh tra đưa Steinweg ra ngoài, còn ông Lenormand quay lại với bà Kesselbach - nàng bị cảnh vừa rồi kích động dữ dội - và xin lỗi: “Xin hãy chấp nhận lời xin lỗi của tôi, thưa bà. Tôi rất lấy làm tiếc... Tôi hiểu bà đã chấn động đến mức nào...”
Ông hỏi nàng về khoảng thời gian ông Kesselbach nối lại mối dây liên lạc với ông cụ Steinweg và thời gian đó kéo dài bao lâu. Nhưng nàng đã quá mệt mỏi nên ông không thúc ép.
“Ngày mai, tôi có cần quay lại đây không?” Nàng hỏi.
“Không, không cần thiết đâu. Tôi sẽ báo lại cho bà tất cả những gì ông Steinweg nói. Bà cho phép tôi được tiễn bà ra xe chứ? Cầu thang này khá dốc đấy...”
Ông mở cửa và bước sang một bên để nhường cho nàng ra trước. Cùng lúc đó, ngoài hành lang vang lên tiếng la hét, người trong Sở Cảnh sát đổ xô tới, nào cảnh sát đang làm nhiệm vụ, nào các cậu truyền tin, nào thầy lục sự [11] ...
“Sếp! Sếp!”
“Có chuyện gì thế?”
“Anh Dieuzy!...”
“Nhưng anh ấy vừa mới ra khỏi đây mà...”
“Chúng tôi thấy anh ấy nằm trên cầu thang...”
“Anh ấy chết rồi ư?...”
“Không, bất tỉnh, mới chỉ ngất đi thôi...”
“Nhưng còn ông cụ... ông cụ đi cùng anh ấy... ông cụ Steinweg thì sao?”
“Ông ấy biến mất rồi!”
“Mẹ kiếp!”
2.
Ông vội vã chạy thật nhanh qua hành lang, lao xuống cầu thang, và thấy Dieuzy đang nằm sõng soài trên chiếu nghỉ ở lầu một, vây xung quanh là những người tới đỡ anh.
Ông thấy Gourel đang đi lên.
“A, Gourel! Cậu mới từ dưới tầng trệt đi lên phải không? Cậu có gặp ai chạy xuống không?”
“Không, thưa sếp...”
Nhưng Dieuzy đã tỉnh lại, và gần như chưa kịp mở mắt ra, anh đã thều thào: “Đây, trên chiếu nghỉ, cái cửa ngách...”
“Ôi, chết tiệt, cửa số 7!” Trưởng phòng Điều tra kêu lên. “Không phải tôi đã bảo cửa ấy cứ khóa nguyên đấy hay sao?... Chắc chắn chuyện như thế này sẽ xảy ra mà, không sớm thì muộn...” Ông vặn nắm đấm cửa. “Ồ, hẳn rồi! Cửa bị chốt lại ở đầu bên kia!”
Cánh cửa đã được lắp kính một phần. Ông lấy báng súng đập vỡ tấm kính, thò tay sang bên kia rút chốt cửa và nói với Gourel: “Chạy qua đường này đến lối ra phía quảng trường Dauphine...”
Rồi ông quay lại với Dieuzy. “Nào, Dieuzy, mau nói tôi nghe. Làm sao mà anh bị đánh ngất đi thế?”
“Tôi lãnh trọn một cú đấm, thưa sếp...”
“Một cú đấm sao? Bị ông lão đó đấm ư?... Sao kia? Ông ta đi còn không vững nữa!”
“Không phải ông lão đó đấm tôi, thưa sếp. Là một kẻ khác, kẻ đó cứ đi đi lại lại dọc hành lang trong lúc ông Steinweg đang ở trong văn phòng với sếp, và sau đó, hắn đi theo chúng tôi, làm bộ như cũng đang chuẩn bị ra ngoài... Khi chúng tôi đi đến đây, hắn tới xin tôi ít lửa... Tôi tìm hộp diêm... Thế là hắn thừa cơ đấm thật mạnh vào giữa bụng tôi... Tôi bị ngã, và lúc ngã xuống, tôi nghĩ hình như mình đã thấy hắn mở cửa ngách và lôi ông cụ đi theo...”
“Anh nhận ra được hắn chứ?”
“Vâng được, thưa sếp... đó là một gã đàn ông rất khỏe, da rất sẫm màu... chắc chắn là người miền Nam...”
“Ribeira.” Ông Lenormand nghiến răng. “Lại là Ribeira!... Ribeira, hay Parbury... A, tên vô lại láo xược!... Hắn sợ ông già Steinweg nói ra sự thật... nên đã tới và cướp ông già đi, ngay trước mũi tôi!”
Và ông giậm chân giận dữ. “Nhưng, chết tiệt, làm sao tên đê tiện ấy biết ông Steinweg đang ở đây được kia chứ? Chỉ mới bốn tiếng trước, tôi còn rượt đuổi hắn trong khu rừng ở Saint-Cucufa... Thế mà giờ hắn đã ở đây rồi!... Làm sao hắn biết được?... Không lẽ hắn đi guốc trong bụng tôi?...”
Những câu hỏi không lời đáp làm ông mụ mị, tới nỗi dường như ông không nghe thấy gì và cũng không nhìn thấy gì xung quanh nữa cả. Bà Kesselbach đi ngang qua, cúi chào mà ông không đáp.
Nhưng tiếng bước chân ngoài hành lang đã kéo ông ra khỏi cơn mê.
“Cậu về rồi à, Gourel?”
“Vâng, thưa sếp!” Gourel vừa nói vừa thở không ra hơi. “Tôi biết chuyện thế nào rồi. Chúng có hai người. Chúng thoát theo lối này và ra khỏi quảng trường Dauphine. Có một chiếc ô tô chờ sẵn. Bên trong có hai người: một gã đàn ông mặc đồ đen, đội mũ mềm, kéo sụp xuống che khuất mắt...”
“Chính là hắn.” Ông Lenormand khẽ kêu lên. “Chính là kẻ sát nhân, đồng phạm của Ribeira-Parbury. Còn người kia thì sao?”
“Một phụ nữ, một phụ nữ không đội mũ, có vẻ là một cô hầu gái... và phải nói là xinh đẹp, tóc đỏ.”
“Hả? Cậu vừa nói cô ta tóc đỏ á?”
“Vâng!”
Ông Lenormand lập tức quay đi. Ông nhảy bốn bậc một, lao như bay xuống cầu thang, băng qua sân và chạy ra bên Orfèvres.
“Dừng lại!” Ông hét lớn.
Một cỗ xe bốn bánh hai ngựa kéo bấy giờ đang lọc cọc chạy trên đường. Đó là xe của bà Kesselbach. Người đánh xe nghe thấy bèn dừng ngựa lại. Ông Lenormand nhảy lên bậc cửa xe.
“Một ngàn lần xin bà thứ lỗi, thưa bà, nhưng tôi phải cậy nhờ sự giúp đỡ của bà. Xin bà cho phép tôi được đi cùng với bà... Nhưng chúng ta phải nhanh lên... Gourel, taxi của tôi đâu?”
“Tôi cho xe đi mất rồi, thưa sếp.”
“Chậc, vậy gọi chiếc khác đi, nhanh lên!...”
Mỗi người chạy một hướng để tìm taxi. Nhưng mười phút trôi qua mới bắt được một chiếc. Ông Lenormand điên lên vì sốt ruột. Bà Kesselbach đợi trên vỉa hè, đứng không vững, cứ loạng choạng suốt, tay kè kè lọ muối ngửi.
Cuối cùng, họ cũng ổn định được chỗ ngồi trên xe.
“Gourel, cậu lên ngồi cạnh tài xế, bảo anh ta cho xe đi thẳng tới Garches.”
“Tới nhà tôi ư?” Dolorès sửng sốt hỏi.
Ông không trả lời. Ông nhoài người ra cửa sổ, vẫy vẫy chiếc thẻ ngành, tự xưng danh với các cảnh sát đang điều tiết giao thông trên đường. Cuối cùng, khi họ chạy đến chỗ công viên Cours-la-Reine, ông mới ngồi xuống và nói: “Tôi xin bà, bà hãy trả lời thật rõ ràng những câu hỏi của tôi. Mới đây, bà có gặp cô Geneviève Ernemont không, khoảng bốn giờ chiều nay?”
“Geneviève ư?... Vâng... Tôi thay quần áo để ra ngoài gặp cô ấy mà.”
“Cô ấy có nói với bà về việc có người đăng tin tìm ông Steinweg trên tờ Tạp chí không?”
“Có ạ!”
“Vì thế bà mới tới gặp tôi?”
“Đúng vậy!”
“Bà chỉ có một mình khi gặp cô Ernemont chứ?”
“À... Tôi không biết nữa... Sao thế ạ?”
“Xin bà hãy nhớ lại. Có cô hầu nào của bà có mặt lúc đó không?”
“Chắc là có... vì tôi phải thay quần áo mà...”
“Họ tên là gì?”
“Suzanne... và Gertrude.”
“Trong đó có một cô tóc đỏ, phải không?”
“Vâng, là Gertrude.”
“Bà biết cô ta lâu chưa?”
“Em gái của cô ấy theo hầu tôi suốt... Gertrude cũng thế, nhiều năm rồi... Cô ấy là người rất tận tâm và trung thực.”
“Nói tóm lại, bà bảo lãnh cho cô ta?”
“Ồ, chắc chắn rồi.”
“Tốt... Tốt lắm...”
Lúc bấy giờ là bảy rưỡi tối, ánh sáng ban ngày đã bắt đầu tắt khi chiếc xe tấp vào đằng trước khu Nhà Ẩn Cư. Chẳng để ý gì đến người bạn đường, Trưởng phòng Điều tra vội vã lao đến chỗ người gác cổng.
“Cô hầu gái của bà Kesselbach vừa vào phải không?”
“Cô hầu gái?... Ý ông là ai ạ?”
“Sao thế? Cô Gertrude, một trong hai chị em gái.”
“Nhưng cô Gertrude không ra ngoài, thưa ngài, chúng tôi không thấy cô ấy ra khỏi cổng.”
“Tuy vậy, vẫn phải có người vừa mới vào chứ.”
“Ồ, không, thưa ngài, chúng tôi không mở cửa cho ai ra vào cả, kể từ - để tôi xem - kể từ sáu giờ tối nay.”
“Không còn lối ra nào khác ngoài cổng này à?”
“Không! Xung quanh khu nhà đều là tường vây kín, và tường rất cao...”
“Thưa bà Kesselbach, xin bà, chúng ta sẽ cùng vào nhà bà.”
Nói rồi, cả ba người cùng trở gót. Bà Kesselbach, không mang theo chìa khóa, bấm chuông cửa. Người ra mở cửa là Suzanne, cô em gái.
“Gertrude có nhà không?” Bà Kesselbach hỏi.
“Có, thưa bà, chị ấy đang ở trong phòng.”
“Làm ơn gọi cô ấy xuống giúp tôi.” Trưởng phòng Điều tra nói.
Một lúc sau, Gertrude xuống lầu, trông cô rất hấp dẫn và duyên dáng trong chiếc tạp đề trắng tinh thêu hoa.
Quả thật, cô có gương mặt khá đẹp, với suối tóc đỏ nổi bật.
Ông Lenormand nhìn cô suốt một lúc lâu nhưng không nói gì, cứ như ông đang cố tìm xem điều gì ẩn đằng sau đôi mắt thơ ngây kia.
Ông không hỏi cô câu nào cả. Một lúc sau, ông chỉ nói: “Thôi được rồi, cảm ơn cô. Đi thôi, Gourel.”
Ông và viên Hạ sĩ rời khỏi nhà bà Kesselbach. Lúc hai thầy trò men theo con đường tối trong vườn, ông lập tức nói: “Chính là cô ta!”
“Sếp nghĩ thế thật ạ? Trông cô ta điềm tĩnh lắm mà.”
“Quá sức điềm tĩnh. Người khác sẽ ngạc nhiên, sẽ hỏi tại sao tôi muốn gặp họ. Cô ta thì không hề! Mặt cô ta không lộ ra bất kỳ vẻ gì ngoài sự tập trung cao độ để cười bằng mọi giá. Chỉ có điều, tôi thấy có giọt mồ hôi chảy dài từ thái dương xuống dọc bên tại cô ta.”
“Vậy thì sao ạ?”
“Vậy thì mọi chuyện đã rõ ràng quá rồi chứ sao. Gertrude là đồng phạm của hai tên vô lại đang phá rối xung quanh vụ án Kesselbach, hoặc để tìm ra bí mật và thực hiện kế hoạch nổi tiếng kia, hoặc để chiếm hàng triệu franc của bà góa phụ. Chắc chắn, cô em gái cũng dự phần vào âm mưu này. Khoảng bốn giờ chiều, biết tôi đã đọc được mẩu tin tìm người trên tờ Tạp chí , và tôi có hẹn gặp ông Steinweg ở văn phòng, Gertrude đã lợi dụng lúc chủ nhân của mình vắng mặt, chạy lên Paris, tìm Ribeira và gã đàn ông với chiếc mũ mềm, kéo bọn chúng đến Cung Pháp đình. Ở đó, tay Ribeira đã bắt ông Steinweg đi vì mục đích riêng của hắn.”
Ông ngẫm nghĩ và kết luận: “Tất cả những chuyện này đã chứng minh cho chúng ta thấy: Thứ nhất, chúng coi ông cụ Steinweg là mắt xích quan trọng và chúng sợ những điều ông cụ có thể tiết lộ; thứ hai, thực sự có một âm mưu do chúng ngấm ngầm bày ra để hại bà Kesselbach; thứ ba, tôi không còn thời gian để mà lãng phí nữa, bởi vì âm mưu đó đã vào giai đoạn chín muồi.”
“Chà!” Gourel nói. “Nhưng vẫn có một điều chưa giải thích được. Làm thế nào mà Gertrude có thể ra khỏi khu vườn nơi chúng ta đang đứng đây và quay vào trở lại mà vợ chồng người gác cổng không hề hay biết?”
“Bằng một lối đi bí mật mà đám kẻ gian đã đào trong thời gian gần đây.”
“Và chắc chắn, lối đó có thông với nhà bà Kesselbach.” Gourel nói.
“Phải, cũng có thể.” Ông Lenormand nói. “Cũng có thể... Nhưng tôi có ý khác...” Họ lần theo vòng tường vây. Hôm đó là một đêm trời quang; dù bóng họ lẫn trong đêm tối, người ngoài nhìn vào rất khó nhận ra, nhưng phía họ, họ vẫn nhìn thấy đường, đủ để kiểm tra vòng tường đá và biết chắc chắn trên tường không có chỗ nào bị khoét, dù tay nghề đục đẽo có khéo léo đến đâu.
“Cô ta dùng thang để trèo ra chăng?” Gourel ướm hỏi.
“Không vì Gertrude ra ngoài ngay giữa ban ngày ban mặt.”
“Những lối đi bí mật kiểu này rõ ràng không bao giờ để lộ cửa ra vào. Lối vào chắc chắn đã được một công trình có sẵn nào đó che lại.”
“Ở đây chỉ có bốn căn nhà nhỏ có vườn như thế này thôi.” Gourel phản đối. “Và nhà nào cũng đều có người ở.”
“Cho cậu nói lại đấy: căn nhà thứ ba, căn Cẩm Tú Cầu, không có người ở.”
“Ai nói cho sếp biết thế ạ?”
“Người gác cổng. Vì sợ ồn ào, bà Kesselbach đã thuê luôn cả căn này. Căn này vốn gần khu nhà của bà ấy. Ai mà biết được bà ấy thuê như vậy có phải là do Gertrude xúi hay không?”
Ông vừa đi một vòng quanh căn nhà vừa nói. Các cửa chớp đều được đóng kín. Ông thử nhấc then cài, cánh cửa mở ra.
“A! Gourel, tôi nghĩ chúng ta tìm đúng chỗ rồi đó! Vào thôi. Bật đèn của cậu lên... Ồ, đại sảnh... phòng khách... phòng ăn... không có tác dụng gì. Chắc chắn phải có một tầng hầm, vì nhà bếp không ở tầng này.”
“Lối này, thưa sếp... Cầu thang nhà bếp ở đây.”
Quả đúng như vậy, chiếc cầu thang đưa họ xuống một căn bếp khá lớn, bên trong chất đống các loại ghế dùng để kê trong vườn và những giá bày chậu hoa. Cạnh đó là phòng giặt là, còn dùng làm hầm chứa rượu, bên trong cũng lộn xộn y như phòng bếp với đủ loại đồ vật xếp chồng lên nhau.
“Có cái gì sang sáng này, sếp ạ!”
Gourel cúi xuống, nhặt lên một chiếc ghim bằng đồng, trên mũ ghim có đính một viên ngọc trai giả.
“Viên ngọc trai vẫn còn sáng và bóng lắm.” Ông Lenormand nói. “Thế có nghĩa là nó nằm dưới này chưa lâu đâu. Gertrude đã đi qua đây, Gourel a.”
Gourel bắt đầu dẹp đống thùng rỗng, tủ đựng đồ và mấy chiếc bàn cũ nát, ọp ẹp sang một bên.
“Cậu đang phí thời gian đấy, Gourel ạ.” Ông Lenormand nói. “Nếu lối ra ở đó thật, cô ta làm gì có thời gian để mà dọn đống lộn xộn kia đi, rồi lại bày chúng ra trở lại chứ? Nhìn đây này, ở đây có một cánh cửa chớp không dùng tới nữa, và chẳng có lý do gì để đóng đinh nó lên tường cả. Đẩy cửa sang một bên.”
Gourel làm theo. Đằng sau cửa chớp là bức tường bị khoét rỗng. Dưới ánh sáng đèn, họ nhìn thấy một đường hầm dẫn xuống dưới.
“Quả không sai.” Ông Lenormand nói. “Lối đi này chỉ mới được làm gần đây. Cậu thấy không, đường hầm này làm vội lắm, và không định để dùng lâu dài... Không có gạch vữa gì cả... Chỉ có hai tấm ván đặt chéo nhau và một phiến rầm làm trần, tất cả chỉ có thể. Đường hầm này không trụ được lâu, nhưng vẫn đủ cho đối tượng dùng, nghĩa là...”
“Nghĩa là gì, thưa sếp?”
“À, trước tiên là để Gertrude đi đi về về gặp đồng bọn... và sau đó, đến một ngày nọ, một ngày không xa, là để bắt cóc, hay đúng hơn, để bà Kesselbach biến mất một cách kỳ dị, không sao giải thích nổi.”
Họ thận trọng bước vào đường hầm, cố gắng làm sao để không va phải những thanh chống mà vừa nhìn đã biết chẳng chút an toàn. Đường hầm dài hơn năm mươi mét, tách hẳn ngôi nhà nhỏ khỏi khu vườn xung quanh. Như vậy, đoạn cuối đường phải cách tường bao khá xa, và vượt quá con đường lượn quanh khu nhà.”
“Chúng ta sẽ không đi về phía công viên Villeneuve và hồ nước đấy chứ ạ?” Gourel hỏi.
“Không hề, hoàn toàn ngược lại.” Ông Lenormand nói.
Đường hầm hơi dốc xuống. Có một bậc thang rồi một bậc nữa; dãy bậc thang ngoặt hẳn sang phải. Bất ngờ, họ thấy có một cánh cửa được bọc viền cao su và tráng xi măng cẩn thận. Ông Lenormand đẩy thử, cánh cửa mở ra.
“Chờ đã, Gourel.” Ông nói, rồi đột ngột ngừng lời. “Hãy suy nghĩ một chút... Có lẽ, tốt hơn hết, ta nên quay lại.”
“Vì sao ạ?”
“Ta phải tính đến khả năng Ribeira đã thấy trước nguy cơ, và giả sử hắn có phòng bị trong trường hợp lối đi ngầm này bị lộ. Giờ hắn đã biết chúng ta đang lần theo dấu vết của hắn. Hắn biết chúng ta đang tìm kiếm trong vườn. Chắc chắn, hắn đã thấy chúng ta vào nhà. Làm sao tôi biết hắn không gài bẫy chúng ta cơ chứ?”
“Chúng ta có hai người cơ mà, sếp...”
“Nếu chúng có tới hai mươi người thì sao?”
Ông nhìn về đằng trước. Đường hầm bắt đầu hướng lên phía trên trở lại, và có một cánh cửa khác đóng kín ở cách đó chừng năm đến sáu thước.
“Ta hãy tới đằng kia đi.” Ông nói. “Để xem.”
Ông đi tiếp, theo sau là Gourel. Nghe lời sếp, anh không đóng cánh cửa đầu tiên lại mà cứ để mở nguyên như vậy. Ông Lenormand tiến tới cánh cửa kia, tự dặn lòng sẽ không đi xa thêm nữa. Nhưng cánh cửa thứ hai lại đóng chặt, và mặc dù khóa có vẻ không bị hóc, ông vẫn không thể mở cửa ra.
“Cửa bị chốt lại rồi.” Ông nói. “Yên lặng và quay về thôi. Khi ra ngoài, chúng ta sẽ nhớ lại vị trí đường hầm, xác định vị trí của nó trên mặt đất, rồi cứ theo đó mà lần ra lối vào còn lại.”
Nói rồi, họ trở gót. Lúc đi ngang qua cánh cửa thứ nhất, Gourel - bấy giờ đang đi đằng trước - ngạc nhiên kêu lên: “Ơ kìa, sao nó lại đóng rồi?”
“Sao mà đóng được? Tôi đã bảo cậu để cửa mở nguyên cơ mà?”
“Tôi đã để cửa ngỏ, thưa sếp, nhưng hẳn là cánh cửa đã tự sập vào.”
“Không thể! Nếu vậy, chúng ta đã nghe thấy tiếng động.”
“Vậy...”
“Vậy... vậy... tôi cũng không biết nữa...” Ông tiến lại gần cánh cửa. “Để xem nào... có chìa khóa... Nó có xoay được không nhỉ?... À, xoay được. Nhưng hình như ở phía bên kia có chốt...”
“Ai có thể cài chốt cửa được?”
“Bọn chúng chứ còn ai nữa! Ngay sau lưng chúng ta... Có thể bọn chúng còn một đường hầm nữa chạy dọc theo cái này, hoặc chạy bên trên... hoặc có khi, chúng đang chờ trên căn nhà trống đó... Chà, thế nào thì thầy trò ta cũng mắc bẫy mất rồi...”
Ông loay hoay tìm cách mở khóa, cắm dao vào khe cửa, thử đủ mọi cách, rồi, trong một giây mệt mỏi và bực bội, ông nói: “Không làm gì được!”
“Sao ạ, sếp? Không làm gì được ạ? Thế thì chúng ta mắc lỡm thật rồi!”
“Chắc vậy thật!” Ông Lenormand nói.
Họ tới chỗ cánh cửa thứ hai rồi lại quay về cánh cửa đầu tiên. Cả hai cánh cửa đều bằng gỗ cứng, dày, được gia cố bằng đà ngang... Tóm lại, không thể phá được.
“Phải có rìu mới ăn thua.” Trưởng phòng Điều tra nói. “Không thì ít ra cũng phải có món đồ nào đó đáng gờm một chút... một con dao to hơn chút thôi cũng được, ta sẽ thử chặt bỏ chỗ ta nghi có chốt cửa... mà ta lại chẳng có gì.”
Ông đột ngột nổi điên, nhào người vào cánh cửa đóng kín, những mong sẽ húc đổ được nó. Rồi, bất lực và nản chí, ông nói với Gourel: “Nghe này, một hoặc hai tiếng nữa chúng ta sẽ tính tiếp... Tôi kiệt sức rồi... Tôi chợp mắt một chút... Trong lúc đó, hãy canh chừng cho tôi... ngộ nhỡ chúng có tới tấn công...”
“A, nếu chúng tới, chúng ta sẽ được cứu, sếp ạ!” Gourel kêu lên. Anh vốn là người thích giải tỏa bằng cách đánh nhau, dù đôi bên có cân sức hay không.
Ông Lenormand nằm dài xuống đất. Một phút sau, ông chìm vào giấc ngủ.
◇
Lúc tỉnh dậy, ông vẫn thấy mơ hồ và mụ mị mất một lúc, và tự hỏi không biết cơn đau nào đang hành hạ mình.
“Gourel!” Ông gọi. “Nào! Gourel?”
Không thấy ai đáp lại, ông bật đèn lên và thấy Gourel đang nằm thẳng cẳng bên cạnh mình, ngủ rất say.
“Cơn đau này là thế nào nhỉ?” Ông nghĩ. “Đau quặn cả ruột... Ôi chà, phải rồi, mình đang đói mà, chỉ thế thôi... Mình đói muốn chết đi được! Bây giờ là mấy giờ rồi nhỉ?”
Đồng hồ của ông chỉ bảy giờ hai mươi phút, nhưng ông sực nhớ ra mình chưa lên dây cót. Đồng hồ của Gourel cũng không chạy.
Gourel cũng tỉnh dậy vì cơn đau quặn bụng như thế. Cơn đau làm họ cho rằng giờ ăn sáng đã qua từ rất lâu và họ đã ngủ suốt cả nửa ngày.
“Chân tôi tê cứng cả rồi.” Gourel nói. “Còn bàn chân thì cứ như bị nhét vào xô nước đá! Cảm giác này buồn cười thật!” Anh cúi xuống xoa chân và tiếp tục: “Ồ, không phải chân tôi bị nhét vào xô nước đá, mà là bị ngâm trong nước... Sếp nhìn này... Cạnh cửa thứ nhất có một cái hồ thật...”
“Nước tràn từ bên ngoài vào.” Ông Lenormand trả lời. “Ta đi lên cửa thứ hai cho khô ráo...”
“Nhưng sếp đang làm gì vậy ạ?”
“Cậu nghĩ tôi chịu bị chôn sống trong cái hầm này sao?... Không! Tôi đã đến tuổi chết đâu!... Cả hai cánh cửa đều đóng, vậy thì chúng ta thử đi xuyên qua tường xem sao.”
Ông lay những viên đá ở ngang tầm tay của mình cho lỏng ra khỏi đất, từng viên, từng viên một, những mong khoét được một đường hầm khác hướng lên trên mặt đất. Nhưng việc đó rất mất thời gian và đau đớn, bởi vì ở phần này của đường hầm, đá kẹt chặt ở trong đất, hệt như được trát xi măng.
“Sếp... sếp!” Gourel lắp bắp, giọng nghèn nghẹt... “Sao thế?”
“Chân sếp ngập trong nước rồi.”
“Tầm phào thật!... Đúng là thế... nhưng nói chuyện ấy ra thì có ích gì? Tôi sẽ phơi nắng sau.”
“Nhưng sếp không thấy gì ạ?”
“Gì?”
“Còn gì nữa ạ? Nó đang dâng, sếp ơi, nó đang dâng lên!...”
“Cái gì dâng cơ?”
“Nước!...”
Ông Lenormand nổi da gà. Ông chợt hiểu ra. Nước không tự tràn vào đây, và không tràn vào một cách bình thường như ông tưởng. Nước được cố tình xả vào trong đường hầm nhờ một hệ thống quỷ quái nào đó. Một cái bẫy nước chết người được chuẩn bị cẩn thận, có máy móc can thiệp, không thể ngăn chặn được.
“Quân vô lại!” Ông gầm lên. “Tôi mà tóm được hắn...!”
“Vâng, vâng, thưa sếp, nhưng chúng ta phải ra khỏi đây trước đã... và, theo như tôi thấy...” Gourel trông mệt lử, không thể nghĩ ra được gì, hay đưa ra một kế hoạch nào.
Ông Lenormand quỳ trên mặt đất, đo tốc độ nước dâng. Nước đã ngập đến khoảng một phần tư cánh cửa thứ nhất, và còn một nửa đường nữa sẽ tràn đến cánh cửa thứ hai.
“Nước dâng lên chậm, nhưng không gián đoạn.” Ông nói. “Vài giờ nữa, nước sẽ ngập quá đầu chúng ta.”
“Nhưng như vậy kinh khủng quá, thưa sếp, quá kinh khủng!” Gourel rên rỉ.
“Ồ, nghe đây, đừng làm tôi bực mình với mấy lời than vãn ấy của cậu, hiểu không? Cậu thích thì cứ khóc, nhưng chớ có để tôi nghe thấy!”
“Là do cái đói làm tôi yếu đuối, sếp ạ; đầu óc tôi quay cuồng.”
“Cắn vào tay đi!”
Đúng như Gourel nói, tình hình rất tệ, nếu ông Lenormand yếu đuối hơn, ít nghị lực hơn, hẳn ông đã sớm từ bỏ những cố gắng vô ích thế này. Phải làm gì đây? Không thể hy vọng Ribeira rủ lòng thương mà để cho họ đi. Cũng chẳng thể mong anh em nhà Doudeville đến giải cứu, vì hai viên cảnh sát điều tra đó không hề hay biết về sự tồn tại của đường hầm này. Vậy là không còn hy vọng... nhưng là không còn hy vọng vào những phép lạ không thể xảy ra...
“Nào, nào!” Ông Lenormand nói. “Thế này thật ngớ ngẩn quá, chúng ta sẽ không chết ở đây! Mẹ kiếp! Phải có cái gì ở đây chứ. Soi đèn cho tôi, Gourel.”
Ông áp sát người vào cánh cửa thứ hai, quan sát thật kĩ cánh cửa từ trên xuống dưới, đủ mọi chỗ. Có một chiếc then cài khổng lồ ở bên này, chắc hẳn ở bên kia cũng vậy. Ông lấy dao vặn lỏng các ốc vít, chiếc then cài rơi xuống bàn tay ông.
“Rồi sao nữa ạ?” Gourel hỏi.
“Sao nữa à?” Ông nhắc lại. “Chà, chiếc then này làm bằng sắt, khá dài, gần như nhọn ở đầu. Rõ ràng nó không bằng cái cuốc, nhưng méo mó có hơn không và...”
Không buồn nói hết câu, ông đâm chiếc then vào thành hầm phía đằng trước cây cột bằng xi măng đỡ bản lề của cánh cửa một chút. Đúng như dự đoán, sau khi xuyên được qua lớp xi măng và đá đầu tiên, ông gặp đất mềm.
“Làm thôi!” Ông kêu lớn.
“Chắc chắn rồi, thưa sếp, nhưng sếp có thể giải thích...”
“Rất đơn giản. Tôi muốn đào xung quanh cây cột này một lối ngầm dài chừng ba, bốn mét nối với đường hầm ngoài cửa và ta sẽ thoát qua lối đó.”
“Nhưng sẽ mất hàng giờ liền, trong khi đó, nước vẫn đang dâng lên.”
“Soi đèn cho tôi, Gourel.”
“Hai mươi phút nữa, hoặc nhiều lắm là nửa tiếng, nước sẽ đến chân chúng ta.”
“Soi đèn cho tôi, Gourel.”
Ý tưởng của ông Lenormand rất đúng, và với một chút gắng sức, ông đã sớm đào được một cái hố đủ lớn để chui lọt người, chỉ bằng cách bới chỗ đất mà ban đầu ông đã làm tơi ra bằng chiếc then cửa và gạt cho đất rơi xuống đường hầm.
“Đến lượt tôi, thưa sếp!” Gourel nói.
“A ha, cậu đã tỉnh rồi đấy hả? Được rồi, bắt tay vào việc thôi... Cậu chỉ cần đào men theo dáng cây cột thôi.”
Lúc bấy giờ, nước đã lên đến mắt cá chân họ. Liệu họ có đào xong lối thoát kịp lúc hay không?
Càng làm, việc càng trở nên khó khăn hơn vì họ bị chỗ đất mình bới ra cản đường; và vì nằm úp bụng xuống đường hầm, họ buộc phải tìm cách bỏ chỗ đất đang cản trở mình đi ngay lập tức.
Sau hai giờ đồng hồ, có lẽ họ đã đào được ba phần tư lối thoát hiểm, nhưng nước cũng dâng lên đến tận bẹn. Chỉ trong vòng một giờ nữa, nước sẽ lên tới cửa hầm họ vừa đào. Và, thế là hết!
Gourel, kiệt sức vì đói, người lại quá to lớn, khó lòng di chuyển trong đường hầm vô cùng chật hẹp, đã phải bỏ cuộc. Anh không động đậy gì nữa, người run lên vì đau khổ trước cảm giác dòng nước băng giá đang dần dần nuốt lấy mình.
Còn ông Lenormand, ông làm việc không biết mệt mỏi. Đó là một công việc kinh khủng, công việc của lũ kiến được thực hiện trong bóng tối ngột ngạt. Hai bàn tay ông rớm máu. Ông muốn lả đi vì đói. Ông không thở đều được vì thiếu không khí; và thỉnh thoảng, những tiếng thở dài của Gourel lại nhắc ông nhớ tới mối nguy hiểm kinh hoàng đang đe dọa tính mạng của cả hai người họ.
Nhưng không gì có thể làm ông nản lòng, vì lúc này đây, ông đã thấy trước mặt mình là những viên đá trát xi măng, tạo nên thành đường hầm. Đây là phần khó khăn nhất, nhưng cũng sắp xong rồi!
“Nước lên!” Gourel nghẹn ngào kêu. “Nước lên!”
Ông Lenormand càng cố gắng gấp đôi. Đột nhiên, chiếc then ông đang dùng trượt vào khoảng không. Lối đi đã thông. Bây giờ, ông chỉ cần khoét rộng cửa ra nữa thôi, và việc này càng dễ dàng hơn nhiều khi ông có thể đẩy hết chỗ đất tới đằng trước.
Gourel, đã phát điên vì kinh hãi, đang gào rú như một con vật trong cơn hấp hối. Ông Lenormand chẳng buồn để ý. An toàn đã nằm trong tầm tay.
Tuy nhiên, ông vẫn lo lắng đôi chút. Dựa vào tiếng đất rơi xuống, ông nhận thấy phần đường hầm này cũng có nước - điều đó là đương nhiên, vì cánh cửa kia không phải là cửa đập hoàn toàn kín. Nhưng nào có hề gì! Lối thoát đã thông rõ ràng. Một nỗ lực cuối cùng... Ông chui qua bên kia. -
“Nào, Gourel!” Ông quay lại tìm người bạn đồng hành và kêu lớn.
Ông nắm lấy cổ tay Gourel, giờ đang dở sống dở chết, và kéo. “Nào, chàng ngốc, tỉnh táo lại đi! Chúng ta thoát rồi.”
“Sếp nghĩ vậy thật ạ?... Nước ngập lên đến ngực chúng ta rồi...”
“Không sao... miễn nước chưa lên quá miệng là được... Đèn của cậu đâu?”
“Không sáng được nữa.”
“Thôi, không sao.” Ông vui mừng kêu lên. “Một bậc... hai bậc!... Một cầu thang... Cuối cùng cũng xong!”
Họ vươn người dậy khỏi mặt nước, dòng nước đáng nguyền rủa đó đã suýt nuốt chửng họ; cảm giác ấy mới vui sướng làm sao! Việc thoát được cơn nguy khốn đã vực dậy tinh thần họ.
“Dừng lại!” Ông Lenormand nói.
Đầu ông va phải thứ gì đó. Ông dang tay, gồng người đẩy chướng ngại vật kia, nó lập tức bật ra. Đó là nắp của một cửa sập; và khi cửa sập đó mở, ông thấy mình đang đứng giữa một căn hầm có ánh sáng trăng của đêm trời quang lọt qua một ô cửa nhỏ.
Ông sập cửa lại và leo lên những bậc thang cuối cùng.
Rồi, một tấm màn trùm xuống người ông. Một vòng tay siết chặt lấy ông. Ông có cảm giác mình bị quấn trong một tấm vải, một loại bao bố nào đó, rồi bị bó chặt lại bằng dây thừng.
“Tới lượt kẻ kia.” Một giọng nói cất lên.
Gourel chắc hẳn cũng bị y như vậy, và vẫn giọng ấy nói: “Nếu chúng la hét, giết chúng ngay lập tức. Có mang dao găm đấy không?”
“Có!”
“Đi thôi! Hai người, vác tên này... Hai người, tên kia... Không đèn đóm gì hết, cũng đừng gây ra tiếng động... Nếu không, sẽ có chuyện lớn đấy. Sáng nay, chúng đã lùng sục khắp khu vườn bên cạnh rồi... Có tới mười hay mười lăm đứa lang thang ở đấy... Quay lại nhà đi, Gertrude, và nếu có việc gì, dù là nhỏ nhất, hãy gọi lên Paris cho tôi.”
Ông Lenormand có cảm giác mình bị nhấc bổng lên và mang đi. Một lúc sau, ông ra đến một nơi thoáng đãng.
“Đánh xe lại gần đây.” Một giọng nói cất lên.
Ông Lenormand nghe thấy tiếng vó ngựa và tiếng xe kéo lọc cọc.
Chúng đặt ông xuống sàn xe. Gourel cũng bị kéo lên, nằm bên cạnh ông. Con ngựa bắt đầu phi nước kiệu.
Cuộc hành trình kéo dài khoảng nửa giờ.
“Dừng lại!” Giọng nói đó ra lệnh. “Nhấc chúng lên. Này, bác đánh xe, quay đầu xe sao cho đuôi xe sát vào thành cầu... Tốt... Không có thuyền nào trên sông đấy chứ? Không à? Thế thì đừng phí thì giờ nữa... Ồ, đã buộc đá vào chúng chưa đấy?”
“Rồi, đá lát đường.”
“Thế thì tiến hành đi! Ngợi khen linh hồn ông trước mặt Đức Chúa Trời, ông Lenormand ạ, và cầu nguyện cho tôi, Parbury-Ribeira, hay còn được biết đến nhiều hơn với cái tên Nam tước Altenheim. Sẵn sàng chưa? Rồi hả? Chà, chúc ông một chuyến đi vui vẻ, ông Lenormand!”
Ông Lenormand bị đặt lên thành cầu. Ai đó đẩy ông một cái. Ông thấy mình bị rơi vào khoảng không và vẫn còn nghe thấy tiếng cười khùng khục. “Chúc chuyến đi vui vẻ!”
Mười giây sau, tới lượt Hạ sĩ Gourel.