"Lời tựa thứ nhất"
Ấn bản đầu tiên. Lời tựa của tác giả Tống Nhiễm.
Cuốn sách này ban đầu có tên là "Đông Quốc - Phù Thế Ký", khởi nguồn từ chuyến đi đến Đông Quốc của tôi sáu năm trước. Ý tưởng nảy sinh từ sáu năm trước, chấp bút từ bốn năm trước, cho đến tận hôm nay mới được ra mắt, tôi xin cảm ơn sự đồng hành không rời bỏ của người phụ trách kiêm biên tập viên, ông La Tuấn Phong.
Tên sách được đổi từ "Đông Quốc - Phù Thế Ký" sang "Cây Ô Liu Trắng", lý do có hai. Một là, dù tôi đã cố gắng đi khắp các thành trì ở Đông Quốc, ghi chép lại trăm thái của xã hội thời chiến, nhưng những gì tôi thấy và ghi lại chỉ là một góc "phù thế", còn xa mới bằng sự hùng vĩ của thế giới thực. Hai là, vì chồng tôi, Lý thượng úy.
Có một năm trên đường từ Gia La đến thành Cáp Phả, tôi và anh ấy đã cùng nhìn thấy những cây ô liu trắng trên sa mạc. Tình tiết cụ thể đã được viết trong sách, ở đây tôi không kể lại nữa.
Bốn năm viết sách không phải là sự trau chuốt tỉ mỉ, mà chỉ vì cuộc sống chiếm quá nhiều thời gian, hơn nữa vì tôi không thể làm được việc đứng ngoài quan sát một cách bình tĩnh. Mỗi lần cầm bút, tìm kiếm tư liệu, từng khung cảnh hồi ức lại hiện lên rõ nét, lòng đầy bi thương khiến cho ngòi bút trở nên chậm chạp.
Chiến tranh chưa bao giờ là một chủ đề nhẹ nhàng. Trong văn bản, tôi đã cố gắng làm nhạt đi cảm xúc chủ quan, chỉ muốn mang đến cho độc giả những ghi chép bình dị và khách quan nhất. Dù vậy, chiến tranh cũng không phải là chuyện có thể nói giảm nói tránh.
Nó luôn là bi kịch lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Chỉ tiếc là, bi kịch như vậy lại cứ lặp đi lặp lại.
Tôi học chuyên ngành lịch sử ở đại học, nhưng chiến tranh trong sách vở, nỗi đau được ghi lại bằng chữ viết còn chẳng bằng một phần vạn những gì mắt thấy tai nghe ngoài đời thực. Trước khi đến Đông Quốc, tôi có lẽ có thể dùng quan điểm lịch sử để bàn luận sôi nổi, nói rằng chiến tranh là con đường tất yếu khi mâu thuẫn xã hội tích tụ đến mức không thể điều hòa, nói rằng chiến tranh và đổ máu là tiến trình cần thiết cho sự phát triển của nhân loại.
Thế là, những con người vô tội trở thành vật hy sinh dưới bánh xe lịch sử đang lăn cuồn cuộn.
Nhưng dù có đưa ra cho tôi một nghìn hay một vạn lý do, tôi cũng không thể hiểu nổi tại sao con người lại muốn tàn hại đồng loại của mình. Càng không thể tha thứ.
Có một câu hỏi tôi luôn tự vấn bản thân: Thế giới của chúng ta có phải đang thiếu đi sự đồng cảm, thiếu đi lòng thiện lương và tình yêu đủ đầy hay không. Mỗi khi nhìn thấy mọi người bị thương, tôi cảm thấy đau đớn, nhưng lại không hiểu vì sao có những người lại không biết đau.
Ở trên chiến trường quá lâu, tôi bắt đầu hoài nghi, liệu lý trí và văn minh có phải chỉ là hư ảo; liệu mọi nan đề của nhân loại căn bản không có cách giải quyết hợp lý, mà chỉ có cực đoan, đối đầu và thù hận, chỉ có thể viện đến chém giết; liệu lịch sử có luôn rơi vào những vòng lặp quái đản, sự hỗn loạn luôn chiến thắng chế độ, sự dã man luôn chiến thắng văn minh.
Mà giấc mơ cuối cùng về hòa bình của nhân loại, liệu có phải chỉ là cây ô liu trắng trên sa mạc.
Rực rỡ, tốt đẹp, thuần khiết, huy hoàng.
Đã thấy một lần thì khắc cốt ghi tâm, cả đời theo đuổi.
Nhưng trớ trêu thay, nó lại hư ảo, phiêu diêu, xa tận chân trời, không thể nắm bắt.
Thậm chí, căn bản là không tồn tại.
Chỉ là ảo ảnh trong chớp mắt, chỉ là ảo tưởng cuối cùng của con người khi đang lún sâu vào vũng bùn.
Tôi hoang mang, không tìm thấy phương hướng, nhưng lại luôn bị kéo về con đường đúng đắn.
Bởi vì sau này tôi phát hiện ra, thế giới có lẽ tối tăm, có lẽ không ánh sáng, nhưng lòng thiện lương của từng cá nhân lại giống như những viên ngọc sáng lấp lánh trên bãi cát. Dù khi tìm kiếm nó bị cát sỏi đâm đau, nhưng một khi nâng niu nó trong lòng bàn tay, ánh sáng dịu dàng xinh đẹp mà nó tỏa ra sẽ khiến bạn mỉm cười mà không hối tiếc.
Những cá nhân như vậy, giống như những người lính Cook mang mật danh B, G, L, M, K, S, A mà tôi đã viết trong sách.
Họ kiên cường, lương thiện, kiên trì; họ có nụ cười ôn hòa và rạng rỡ nhất, họ có gương mặt kiên định bất khuất nhất; họ nhẫn nhịn những nỗi đau và nỗi sợ hãi mà người thường không thể chịu đựng được, giống như những que diêm nhỏ bé, cháy lên ánh sáng rực rỡ nhất trong cái thế giới đáng thất vọng này.
Có lẽ nhân loại chính là loại sinh vật như vậy, trong họ tồn tại cả thiện và ác, vĩ đại mà cũng tàn nhẫn.
Sau khi đã nhìn thấy bóng tối sâu thẳm nhất, tội ác hung dữ nhất, sự khủng bố xấu xí nhất,
Tôi vẫn cảm thấy may mắn, vì tôi đã nhìn thấy ánh sáng, nhìn thấy lòng thiện lương, nhìn thấy những tâm hồn đẹp đẽ nhất.
Phải rồi, tôi vẫn cảm thấy biết ơn vì chính mắt mình đã nhìn thấy rừng cây ô liu trắng ấy.
Tống Nhiễm
Ngày 07 tháng 10 năm 202X
Tại Giang Thành
"Lời tựa thứ hai"
Ấn bản kỷ niệm 5 năm xuất bản. Lời tựa của người phụ trách La Tuấn Phong.
Tôi và Tống Nhiễm quen nhau từ mười một năm trước. Năm đó, chuyên mục "Tiền tuyến chiến sự" của đài truyền hình Lương Thành nổi tiếng khắp cả nước, phóng viên Tống là người phụ trách quay phim và ghi chép hơn 90% tư liệu cho chuyên mục đó. Những câu chuyện dưới ống kính của cô ấy tinh tế, mộc mạc, chạm đến lòng người, ngay lập tức đã thu hút tôi.
Tôi thích những câu chuyện hay, lại càng thích những người kể chuyện giỏi. Tống Nhiễm chính là kiểu người kể chuyện mà tôi ngưỡng mộ nhất: ôn hòa, kiên nhẫn, luôn mang lòng trắc ẩn. Nhiều người nói tôi là một người phụ trách sách bán chạy thành công, nhưng ngay cả tôi cũng không ngờ tới, sách của Tống Nhiễm lại là cuốn sách bán chạy thành công nhất mà tôi từng phụ trách. Trong vòng năm năm, doanh số hơn năm triệu bản đã trở thành một huyền thoại hiếm thấy trong thị trường sách. Hiện tại, bản dịch của bảy ngôn ngữ như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức... đã hoàn thành, chỉ chờ in ấn phát hành. Tôi nghĩ điều này không chỉ vì danh hiệu người chiến thắng giải Pulitzer của cô ấy, mà còn vì cô ấy đã viết nên một bức tranh "phù thế" mộc mạc và cảm động sâu sắc nhất.
Cuốn sách này lấy thời gian và thành trì làm chỉ mục, ghi lại những gì Tống Nhiễm thấy và nghe trong thời kỳ ở Đông Quốc, từ người nhặt rác đến chỉ huy, từ người bán hàng rong đến binh lính, ánh mắt của cô ấy đối xử bình đẳng với tất cả, mỗi nhân vật nhỏ bé đều để lại vị trí ở đây. Những bức ảnh được chọn trong sách cũng đều do cô ấy chụp. Mặc dù như cô ấy đã nói, góc nhìn của cô ấy không thể ghi chép toàn diện về quốc gia trong loạn thế, nhưng cô ấy đã dùng ngòi bút chân thực và khách quan nhất để phơi bày diện mạo chúng sinh trong chiến tranh trước mắt chúng ta.
Những năm gần đây, rất nhiều bạn bè và truyền thông hỏi thăm tôi về đời tư của phóng viên Tống, càng có nhiều người tò mò không biết chồng cô ấy là Lý thượng úy là người thế nào. Do Tống Nhiễm sống kín tiếng, không chấp nhận bất kỳ cuộc phỏng vấn nào liên quan đến cuốn sách này, nên tôi không thể tiết lộ thêm.
Nhưng tôi có thể nói rằng, Tống Nhiễm là một cô gái xinh đẹp và thích mỉm cười, vẻ ngoài yếu đuối nhưng nội tâm kiên cường và kiên định. Chồng cô ấy, Lý thượng úy, là một người quân nhân anh tuấn, tính cách dịu dàng, đối xử với người khác hòa nhã. Bốn năm viết sách, Tống Nhiễm sống ở nông thôn, trước cửa nhà là một cánh đồng lúa bát ngát, phong cảnh đẹp như tranh vẽ.
Tôi từng đến thăm họ vào hai năm trước khi cuốn sách hoàn thành. Lúc đó trong nhà họ có một cậu bé vừa tròn một tuổi, tên nhũ danh là Tiểu Thụ, còn gọi là Tiểu Thụ Miêu.
Tiểu Thụ trông rất giống cha mình là Lý thượng úy. Lúc đó thằng bé vừa mới học đi, không ngồi yên được mà lại hiếu động, lảo đảo chạy quanh Lý thượng úy, thỉnh thoảng lại lao vào ôm lấy chân cha rồi cười khanh khách, trò chơi như vậy có thể chơi vô số lần. Lúc đó thằng bé chưa biết nói, nhưng đã biết gọi bố. Tiếng gọi "Ba ba", "Ba ba" vang vọng khắp phòng, nghe thật hạnh phúc và dễ chịu. Một lát sau, lại kéo ống quần cha đòi ra ngoài. Lúc thì ngắm bướm, lúc thì đuổi theo gà con.
Khi chúng tôi thảo luận về bản thảo trong phòng khách, Tống Nhiễm thỉnh thoảng lại nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi chồng cô đang dẫn đứa trẻ nhỏ chơi đùa trên sân phơi trước nhà. Lý thượng úy ngồi xổm trên mặt đất, nụ cười ấm áp, dang rộng đôi tay; Tiểu Thụ lảo đảo lao vào ôm cổ anh, buông ra rồi chạy đi một đoạn, lại chạy quay lại lao vào lòng cha.
Tống Nhiễm cười đến cong cả mắt, nói: "Chỉ là mấy trò chơi nhỏ này thôi, anh X có thể ngồi chơi với Tiểu Thụ Miêu cả buổi chiều, em cũng có thể nhìn họ chơi cả buổi chiều."
Tôi nói: "Thảo nào sách của cô viết chậm thế."
Lạc đề rồi. Tại sao đột nhiên lại viết một đoạn như vậy, chính tôi cũng không hiểu. Nó không liên quan gì đến cuốn sách này cả. Nhưng rất nhiều khung cảnh trong lần ghé thăm đó đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi mà không vì lý do gì, thỉnh thoảng lại nhớ về. Ví dụ như khi tôi đang nói chuyện với Tống Nhiễm, Lý thượng úy lặng lẽ đưa qua một đĩa táo đã gọt vỏ, Tống Nhiễm vừa nói chuyện với tôi vừa nhìn vào mắt anh, để lộ ra sự dịu dàng yêu thương trong khoảnh khắc; ví dụ như khi cô ấy nói với tôi về nội dung bản thảo, lúc dọn dẹp bàn làm việc nhìn thấy sách tư liệu và bản thảo của Lý thượng úy, sự cẩn trọng và trân trọng khi cô tiện tay sắp xếp lại; ví dụ như bình hoa nhỏ mới hái trên bàn, lá trà đang giãn nở trong ấm trà.
Tôi nghĩ, có lẽ bầu không khí ấm áp trong gia đình họ là phần thiếu hụt nhất trong cuộc sống đô thị nhiều năm qua của tôi. Cũng có lẽ là vì - những năm này, xã hội của chúng ta cổ xúy thái quá cho sự thực dụng và vị kỷ. Còn họ lại không hòa nhập, giống như một hòn đảo cô độc. Chỉ là, câu chuyện của họ tôi không thể kể quá sâu, nhưng ít nhất, những câu chuyện họ từng nhìn thấy đã được trình bày trong cuốn sách này. Để mỗi độc giả khi mở sách ra đều có thể nhìn một chút vào thế giới của họ.
Còn gần đây, nhân dịp lên kế hoạch cho ấn bản kỷ niệm 5 năm, tôi lại đến thăm gia đình Lý thượng úy và phóng viên Tống. Họ đã chuyển đến Đế Thành từ lâu, Tiểu Thụ Miêu cũng đã lớn hơn, đang học tiểu học, cả ngoại hình và dáng vẻ càng ngày càng giống cha mình. Gia đình họ có thêm một thành viên mới, cô bé Tiểu Cáp năm tuổi, đang học lớp lớn ở trường mẫu giáo. Phóng viên Tống đã mở một studio, Lý thượng úy cũng đã trở thành thiếu tá Lý, anh tự học và đọc xong sách, dù làm việc tại nhà nhưng cũng có nghiên cứu trong lĩnh vực của riêng mình. Họ dường như đã thay đổi một chút, lại dường như chẳng có gì thay đổi, sự ăn ý và dịu dàng khi ở bên nhau vẫn như thuở nào.
Tôi vốn muốn để Tống Nhiễm viết thêm một lời tựa cho ấn bản kỷ niệm 5 năm, nhưng cô ấy nói tất cả những câu chuyện và tâm trạng muốn viết đã viết xong từ bốn năm trước rồi, không còn cảm xúc nào có thể viết thêm nữa.
Tôi tôn trọng quyết định của cô ấy.
Năm năm qua, khắp nơi trên thế giới lại có những cuộc chiến tranh mới. Nhìn lại như vậy, lời tựa đầu tiên của cô ấy quả là cũ mà vẫn mới. Dù là hai mươi năm sau, cũng không cần thêm bớt gì cả.
La Tuấn Phong
Ngày 1 tháng 9 năm 203X
Tại Đế Thành
"Lời tựa thứ ba"
Ấn bản kỷ niệm 18 năm xuất bản. Lời tựa của con trai Lý Tống.
Một tuần trước, biên tập viên kiêm người phụ trách của mẹ tôi, bà Tống Nhiễm, là ông La Tuấn Phong, đã liên lạc với tôi, hy vọng tôi viết lời tựa cho ấn bản kỷ niệm 20 năm của "Cây Ô Liu Trắng". Tôi chỉ là một sinh viên ngành khoa học kỹ thuật hai mươi mốt tuổi, tuổi tác gần bằng Tát Tân trong sách, không có tài viết lách, cũng không có văn chương. Nói ra thì không có tư cách viết lời tựa cho sách, nhưng ông La Tuấn Phong bảo tôi cứ viết cảm nghĩ.
"Viết cảm nghĩ", nghe giống như một bài văn theo đề tài. Cảm nghĩ về việc gì, hay cảm nghĩ về tất cả mọi việc? Ông La Tuấn Phong không cho phạm vi, tôi cũng không suy nghĩ ra được.
Nhiều người nói đây là cuốn sách về chiến tranh. Nếu nói về cảm nghĩ đối với chiến tranh, người chưa từng trải qua như tôi cảm thấy khó xử. Mặc dù luôn có các quốc gia và khu vực nổ ra chiến tranh, nhưng đối với tôi, đó là chuyện quá xa vời.
Mặc dù thân phận cha mẹ tôi đặc biệt, nhưng cuộc sống của tôi cũng giống như những đứa trẻ bình thường, không có giác ngộ bẩm sinh gì về vấn đề chiến tranh.
Tuổi thơ của tôi trôi qua ở vùng nông thôn Giang Thành. Ký ức sớm nhất trong đời bắt nguồn từ cha tôi. Tôi lờ mờ nhớ lại khung cảnh lúc một hai tuổi, đó là một buổi hoàng hôn. Ông bế tôi còn nhỏ trên bờ ruộng đầy lá rụng, cánh tay và lồng ngực của ông là chỗ dựa ấm áp và vững chãi nhất trong ký ức tuổi thơ tôi.
Mẹ ở bên cạnh hôn lên trán tôi, gọi tôi: "Tiểu A Tán~~"
Cha liền cười: "Có cần làm thằng bé này thức giấc không?"
Tất nhiên là tôi không thức. Trong lòng cha ấm áp và an toàn, tôi duỗi tay chân, ôm lấy ông rồi ngủ khì.
Nói ra cũng lạ, mẹ luôn thích gọi tôi là Tiểu A Tán. Có lẽ vì tôi và cha trông quá giống nhau.
Người thầy đầu tiên trong đời tôi là cha. Ông dạy tôi đọc sách nhận chữ, dẫn tôi thả diều, bắt ve sầu, câu tôm hùm, bắt cua, trồng hoa nuôi cỏ. Ông nói:
"Mẹ sợ cái này, thôi chúng ta thả ve sầu đi."
"Mẹ thích ăn tôm hùm, câu thêm vài con cho mẹ."
"Hái ít hoa về cho mẹ."
Nhiều lúc, mẹ ở ngay bên cạnh,
"A Tán, anh thả thằng bé xuống đi, để nó tự đi."
"A Tán, anh nhìn mặt Tiểu Thụ đầy bùn đất kìa, ha ha ha."
"A Tán, có muốn trộm quả bưởi về không. Ừm, không được sao? Vậy thôi. Lần sau đợi lúc Tiểu Thụ Miêu không có ở đây chúng ta lại trộm."
---❊ ❖ ❊---
Sau đó, Tự Chi ra đời, tôi đến tuổi đi học, gia đình chuyển đến Đế Thành. Thời gian trưởng thành trôi qua như bay. Năm này qua năm khác, tôi dần lớn lên, có những chuyện trong năm tháng lại chẳng có gì thay đổi. Cha vẫn luôn là người dịu dàng đó, đặc biệt là đối với mẹ tôi.
Có lẽ nhiều người khó có thể tưởng tượng, nhưng cha mẹ tôi chưa từng xa nhau một ngày nào. Sức khỏe cha tôi không tốt, hàng tháng đều phải định kỳ đến bệnh viện. Hầu hết thời gian, ông cùng mẹ làm việc tại nhà, hoặc đi cùng mẹ đến studio.
Tôi phải thừa nhận, mặc dù tôi rất yêu cha mẹ, nhưng tôi cũng giống như hầu hết những người con khác, bận rộn với việc tìm hiểu thế giới và lớn lên, không quá chú ý đến cuộc sống và nội tâm của cha mẹ. Huống hồ, giữa họ còn có thế giới hai người mà chúng tôi với tư cách là con cái không thể nhìn thấu và chạm tới.
Tôi chưa bao giờ chạm được vào nội tâm sâu thẳm nhất của cha mẹ, cho đến năm chín tuổi.
Kỷ niệm mười năm ngày cưới, cha dẫn mẹ về vùng nông thôn Giang Thành. Khi tôi tìm phim tài liệu trong phòng sách, vô tình phát hiện ra bản thảo và nhật ký chưa công bố của mẹ. Ngày đó tôi mới phát hiện ra, câu "bố phải đến bệnh viện rồi" mà tôi đã quen thuộc từ nhỏ đến lớn, rốt cuộc có ý nghĩa gì. Bác sĩ đã sớm bó tay, nhưng cha vẫn luôn vùng vẫy, vì mẹ, vì sự bất khuất trong xương tủy của ông, cũng vì niềm kiêu hãnh và giấc mơ chưa thành của ông.
Cũng chính năm đó, từ ngữ mơ hồ là chiến tranh bắt đầu trở nên rõ ràng trong thế giới của tôi.
Tôi bắt đầu quan tâm đến chiến tranh, đọc lại cuốn sách này. Lúc nhỏ đọc, chỉ coi như xem truyện, cảm thấy rất hay. Đọc lại lần nữa, lại có cảm giác đau đớn.
Bây giờ viết lời tựa này, lại càng thấy bi thương.
Bao nhiêu người chỉ xem một câu chuyện, lại có bao nhiêu người quan tâm đến những người trong câu chuyện? Trong ngày kỷ niệm chiến tranh không mấy nổi bật đó, có bao nhiêu người tưởng nhớ quá khứ, lại có bao nhiêu người quan tâm đến những người sống sót sau chiến tranh?
Viết đến đây, tôi nghĩ đến trải nghiệm mấy năm nay - tôi đã vài lần gặp những cựu chiến binh lang thang trên phố, họ sa sút, tàn tạ, quần áo rách rưới, tinh thần hỗn loạn. Người qua đường vội vã lướt qua, nhưng không ai dừng bước.
Lúc đó tôi nghĩ, có phải muốn nói, cái chết trong chớp mắt là bi tráng, mà sự sống sót cả đời lại là đau đớn và đáng xấu hổ?
Sau đó tôi đi tìm sách tìm phim tài liệu, tôi tìm thấy rất nhiều ghi chép về những người hy sinh, vô số phim ảnh và tiểu thuyết được sáng tác để tưởng nhớ họ. Nhưng về những người sống sót thì rất ít. Gương mặt họ mờ dần theo thời gian, biến mất trong dòng sông dài.
Gần trăm năm nay rõ ràng đã nổ ra rất nhiều cuộc chiến tranh, Thế chiến I, Thế chiến II, Chiến tranh Việt Nam, Vùng Vịnh, Israel-Palestine... Nhưng tại sao, dường như không ai biết, cũng không ai quan tâm những người sống sót đã sống sót như thế nào.
Rất nhiều người trong số họ giống như những cựu chiến binh lang thang trên đường phố, từng chịu tổn thương to lớn, nhưng chỉ có thể tồn tại, chứ không thể sống được nữa. Không bao giờ có thể quay lại cuộc sống bình thường được nữa.
Trước mặt chiến tranh, họ trở thành quân cờ của bi kịch nhân loại, dùng xong rồi thì bị vứt bỏ.
Mẹ tôi luôn nói, khổ nạn là điều khiến người ta chán ghét, mọi người đều không muốn đối mặt và nhìn thẳng vào.
Cho nên, sự sống sót là xấu xí, sự lãng quên là lặng lẽ.
Cho nên, không ai biết, cha tôi mỗi tháng đi bệnh viện không chỉ để chữa trị vết thương trên cơ thể mà còn vì vết thương trong lòng, ông và mẹ tôi không xa nhau một ngày nào vì ông đã không thể rời xa; không ai biết, cha tôi sẽ đau xương cốt vào những ngày mưa và ngày lạnh, đau đến mức kìm nén tiếng rên rỉ trong lòng mẹ tôi; cũng không ai biết sau nhiều năm trôi qua, ông vẫn sẽ rơi lệ tỉnh giấc trong cơn ác mộng.
Anh hùng được người đời ghi nhớ, khắc trên bia đá; người sống sót bị người đời lãng quên, diện mạo không còn nguyên vẹn.
Vì người ta luôn nói, thời gian sẽ xóa sạch mọi tổn thương, sẽ có một ngày bạn sẽ quên đi nỗi đau, rồi sẽ tốt lên. Nhưng không đâu. Có những nỗi đau mãi mãi không quên được, có những vết thương mãi mãi không lành lại.
Cho nên, năm tôi chín tuổi, ông tự sát, bằng một khẩu súng tự chế.
Sức khỏe ông luôn rất kém, năm đó cuối cùng bệnh tình trở nặng. Sự sụp đổ của cơ thể đã giải phóng con mãnh thú bị phong ấn trong ý thức tinh thần. Ông rơi vào cơn ác mộng, không thể thoát ra. Ông ngày càng nhiều lần nhìn ra ngoài cửa sổ, nói ở đó có một cây ô liu trắng. Nhưng ngoài cửa sổ chẳng có gì cả. Đó là dấu hiệu ông trộn lẫn thực tế vào ảo giác. Khi ý thức không rõ ràng, ông thậm chí không nhận ra tôi và Tự Chi.
Lần đó tôi đến bệnh viện thăm ông, ông nhìn tôi trên giường bệnh, ánh mắt như rơi vào hồi ức, ông nói: "Con đến rồi à?"
Tôi nói: "Vâng, con đến thăm bố."
Ông hỏi: "Con bao nhiêu tuổi rồi?"
Tôi nói: "Chín tuổi ạ."
Ông nói: "May quá, vậy còn sớm. Đợi đến khi con hai mươi ba tuổi, đừng đẩy kẻ khủng bố đó vào nhà dân bên đường."
Tôi bật khóc ngay lập tức, nói: "Bố, con là Tống Chi, là Tiểu Thụ Miêu đây."
Ông lại mỉm cười, nói: "Tiểu Thụ Miêu, con cứ từ từ lớn lên, sau này dù có khổ thế nào, cũng đừng sợ, chú chim nhỏ của con sẽ đến tìm con. Dù con có chịu hết khổ nạn, biến thành que diêm, cô ấy cũng sẽ đến tìm thấy con."
Ông tưởng tôi là ông lúc trẻ. Ông không còn nhớ tôi. Ông chỉ nhớ mẹ tôi.
Khoảng thời gian đó, mẹ cả ngày ở bên ông, canh giữ bên giường bệnh của ông. Cũng chỉ có khi mẹ tôi ở đó, ý thức của ông mới tỉnh táo. Những ngày cuối cùng đó, ông rất yếu, nhưng luôn muốn nói chuyện với mẹ, không để cô rời đi một khắc nào.
Có lần tôi đến thăm ông, nghe thấy ông nói: "Nhiễm Nhiễm, anh hối hận rồi."
Mẹ hỏi: "Hối hận chuyện gì?"
"Em có nhớ không, anh từng nói với em, kiếp sau muốn làm một cái cây?"
"Ừm, nhớ chứ. Lâu lắm rồi."
"Anh hối hận rồi, Nhiễm Nhiễm. Kiếp sau, anh vẫn muốn làm A Tán. A Tán trong câu 'A Tán và Nhiễm Nhiễm kết hôn rồi'."
"Câu này anh vẫn nhớ sao?"
"Chẳng phải em bắt anh nhớ sao?" Ông đang mỉm cười.
Tôi đứng ngoài phòng bệnh, nước mắt rơi lã chã. Bởi vì "Nhiễm Nhiễm" của ông, ông đã tha thứ cho tất cả nỗi khổ trên nhân thế.
Ông không nói xin lỗi với cô, cũng không nói cảm ơn, chỉ nói muốn về Giang Thành, về ngôi nhà đầu tiên của họ.
Ngày trở về là một mùa đông. Vạn vật tĩnh lặng.
Ông dựa vào ghế nằm, đắp chăn, ngoài cửa sổ tuyết rơi, tuyết trắng dày đặc. Ông lặng lẽ nhìn mẹ, ánh mắt tĩnh lặng xa xăm. Lưu luyến, không nỡ, tràn đầy biết ơn.
Mẹ cũng vậy, mỉm cười nhìn chằm chằm vào ông.
Họ cứ lặng lẽ nhìn nhau như vậy, tĩnh lặng bên nhau suốt một buổi chiều trong ngày tuyết rơi đó.
Đó là khoảnh khắc tỉnh táo cuối cùng của cha tôi. Sau đó, cơ thể ông dầu cạn đèn tắt, ý thức không bao giờ quay lại được nữa, bóp cò súng trong thực tế và ảo giác. Vị trí vết thương ở trên cổ.
Khi ông qua đời rất thanh thản, mặc bộ đồ ngủ mua cùng mẹ, cổ tay buộc sợi dây đỏ đã bạc màu, ngón áp út đeo chiếc nhẫn vàng nhạt.
Ông gần như vẫn anh tuấn như thời trẻ.
Mẹ tôi không khóc, chỉ hôn ông, rất lâu.
Bà nói: "A Tán, anh vất vả rồi."
Trong mười năm vùng vẫy đầy đau khổ lại tràn đầy biết ơn đó, tình yêu và trách nhiệm của ông đối với mẹ, sự tiếc nuối hối hận về quá khứ, sự kiên trì tìm kiếm lý tưởng, sự hoang mang và may mắn về cuộc đời, sự khao khát và trân trọng sự sống, đều tan biến theo tiếng súng đó, theo sự ra đi của ông...
Chuyện của những năm sau đó, mọi người đều biết rồi.
Mẹ tôi trong chuyến thăm chiến tranh giữa hai nước A và Sa, vì cứu một đứa trẻ mà bị đạn lạc bắn trúng.
Khi bà được đưa về nước, trên quan tài phủ quốc kỳ.
Lúc đó tôi và Tự Chi theo ông nội và bà ngoại đến sân bay đón bà, đột nhiên nhớ lại lúc cha được chôn cất, mẹ nói: "Thật đáng tiếc, quan tài của A Tán nên phủ quốc kỳ mới phải."
Gió trên sân đỗ thổi bay lá quốc kỳ. Tôi nghĩ, trong cõi u minh, lại có sự sắp đặt như vậy.
Tôi đã nhìn thấy di dung của mẹ, bình tĩnh, an tường. Tôi nghĩ, có lẽ bà đã không thể chờ đợi được nữa muốn đi gặp cha. Dù sao, tôi từng nghe bà nói, bà sẵn lòng chia một nửa sinh mệnh của mình cho ông.
Viết đến đây, tôi có lẽ cuối cùng đã hiểu chiến tranh rốt cuộc là gì.
Là một nỗi đau kéo dài.
Nỗi đau này có thể vượt qua thời gian, không gian, thậm chí vượt qua cả thế hệ.
Hai mươi hai năm sau khi cuộc chiến đó kết thúc, ở tận Boston, tôi chưa đầy hai mươi mốt tuổi, lại bị thúc đẩy bởi một cảm xúc bí mật, nước mắt đầm đìa khi đặt bút viết đến đoạn này.
Nhưng, tôi không thể viết quá nhiều, khổ nạn khiến người ta chán ghét, khiến người ta bài xích. Tôi vẫn nên nói một vài điều có thể khiến mọi người mỉm cười nhẹ nhõm.
Mỗi khi nhớ về cha mẹ, tôi tuy tiếc nuối họ không tham gia nhiều hơn vào cuộc đời tôi, nhưng cũng rất biết ơn: cảm ơn họ đã ôm ấp tôi dịu dàng như vậy, cho tôi một cuộc đời tốt đẹp như thế. Để mỗi khi nhớ về họ, tôi vừa tiếc nuối, lại vừa cảm thấy được sự ấm áp bao quanh. Họ ở bên nhau bao nhiêu năm như vậy, không xa nhau một ngày nào. Mặc dù là vì bệnh tình của cha, khiến ông không thể rời xa mẹ. Nhưng cũng càng là vì, tình yêu và sự lưu luyến giữa họ quá sâu đậm, sâu hơn cả thời gian. Cho nên bây giờ sau khi họ qua đời, vẫn có người hồi tưởng và tưởng niệm tình yêu của họ.
Cuốn sách này của mẹ đạt quá nhiều giải thưởng, mà gần đây việc giải mật hồ sơ cũng mang lại tin tức cha được truy phong, ngày càng nhiều người biết câu chuyện của họ.
Nếu các bạn nhìn thấy ở đây, hy vọng đừng bi thương, tôi có thể chịu trách nhiệm nói với các bạn: sự gần gũi của họ trong những năm đó, sớm đã vượt qua cả cuộc đời của nhiều người.
Họ cứ nương tựa vào nhau như vậy, nỗ lực vì đối phương, đi hết cuộc đời rực rỡ của họ.
Tôi nghĩ, đây cũng là lý do tại sao, mỗi lần nhìn thấy cha mẹ trong mơ, họ luôn mang nụ cười dịu dàng nhất. Mẹ lải nhải nói những chuyện vụn vặt, cha mỉm cười nhìn bà, gật gật đầu.
Tôi nghĩ, đây cũng là lý do tại sao dù tôi ở nơi đâu, luôn có thể cảm nhận được tình yêu lớn lao của họ bất cứ lúc nào. Trên đại dương, trong gió núi, trên ngọn cây, trong ánh nắng, nơi nơi đều có thể cảm nhận hồi tưởng lại tình yêu của họ, tình yêu của đối phương, tình yêu đối với thế giới.
Có một câu, vẫn chưa kịp nói với cha mẹ -
Những năm này, con đã đi qua rất nhiều nơi, gặp rất nhiều người, mà nội tâm của cha mẹ là dịu dàng nhất.
Được chứng kiến cuộc đời của cha mẹ, con rất may mắn, cũng rất biết ơn.
(Toàn văn hoàn)