Trước Công nguyên khoảng sáu trăm năm, trên ngưỡng cửa của thời cổ, cả một đội quân những con người xếp hàng, như ở Trung Quốc là Khổng tử và Lão tử, ở Ấn Độ là Buddha, ở Irán là Zarathustra, hoặc, không cần đi đâu xa, ở Hi Lạp: Heracleitos, Pythagoras, Empedokles.
Hình ảnh về những con người này tỏa sáng ngay từ giây phút đầu tiên. Họ khoan thai với sự tự chủ vô bờ bến; lượng kiến thức của họ nằm trong thiên văn học, địa chất học, trong tôn giáo, giáo dục, y học, trong lí thuyết cai trị nhà nước, trong siêu hình học, trong thi ca.
Các nhân vật lớn lao với sự đa tài của họ trở nên đáng nghi ngờ trong các thời đại sau này, và sự đa tài của các nhân vật trước thời kì lịch sử đã bị truyền thuyết hóa. Sự nghi ngờ này thực ra vô nghĩa.
Hoạt động của Pythagoras xảy ra vào thời kì giáp ranh của mọi thời gian lịch sử, còn của Empedokles muộn hơn một chút. Mọi dấu hiệu đều chỉ ra rằng họ nếu không hoàn toàn như người thường thì cũng không hẳn chỉ là nhân vật truyền thuyết. Và nếu họ trong thời gian lịch sử gần như ta có thể thấy được bằng con mắt của mình, thì không có lí do gì không đặt giả thuyết, họ cũng đã từng như vậy cách đây một-hai trăm năm.
Những cá nhân mang tính vũ trụ phổ quát trở nên đáng nghi ngờ trong cái thế giới ngày nay bị thu hẹp bởi những kẻ mang tính chất chuyên ngành. Người Hi Lạp gọi họ là các nhà thần học (palaioi theologoi). Để có thể đi ngay vào bản chất sự vật, ta có thể xác định tính chất và vị trí vũ trụ phổ quát của những nhân vật này là: các chủ thể thần thánh (sakrális subjektum).
Tầm quan trọng của Pythagoras, Empedokles, Orpheus, Solon hay tính chất phương Đông hoặc Cận Đông của họ không nằm ở chỗ, gần như cùng một hình thức tự chủ như nhau, họ điều hành công việc nhà nước, làm thơ, chữa bệnh, dạy học và sáng tạo ra toán học. Tầm quan trọng của họ không nằm trong sự đa dạng về các khả năng hoạt động trên mọi lĩnh vực mà trên cái tên gọi người Hi Lạp đã đặt cho họ: các chủ thể thần thánh.
Ý nghĩa mang tính phổ quát (vũ trụ) của họ vượt quá tầm con người. Sự tỏa sáng đầy tự chủ và có ý thức thể hiện trong lời nói và hành động của họ, phẩm chất siêu việt của họ dù nhiều khi chỉ bộc lộ thông qua các giai thoại ngu xuẩn, nhưng vẫn có thể cảm nhận được.
Vị trí một nhà thần học cổ trước thời gian lịch sử (trước Công nguyên) tuy có vẻ hiếm hoi, nhưng quả thật đã từng hiện hữu. Từ đó tới nay chủ thể thần thánh này đã biến mất. Sau sự xuất hiện của một cá nhân vĩ đại cuối cùng, Platon, lịch sử không biết thêm một tầm vóc siêu việt nào nữa.
Chống lại cá nhân thần thánh, ngày nay người ta thường đưa ra một luận điểm: thời đó - người ta nói - cuộc sống còn thô thiển (primitiv), hệ thống các mối quan hệ chưa hình thành, các nhân tố kết hợp nhau ít ỏi, tri thức ít ỏi, cộng đồng bé nhỏ, nên ở một ý nghĩa nhất định nào đó tầm phổ quát không thể có.
Quan niệm này sai lầm như thế nào thiết tưởng không cần nhấn mạnh thêm. Tầm phổ quát không phải là kiến thức bách khoa toàn thư và đa ngành. Cả hai thứ này đều là tri thức vật chất cóp nhặt, thiên về số lượng. Tri thức hay phi tri thức cả hai đều không đủ, như kinh Veda từng nói. Còn Heracleitos cho rằng: tri thức không dạy thêm nhiều điều. Trang tử cũng nói đúng như vậy.
Thực chất: con người thời cổ phát triển một cách trưởng thành. Tính phổ quát không nằm trong tri thức vật chất mà trong phẩm chất tinh thần. Không nảy sinh từ bản chất đời sống nguyên thủy, mà từ những sức mạnh tinh thần khủng khiếp, từ sự trực tiếp và độ sâu sắc của những sức mạnh ấy.
Rất có thể trong thời cổ, sự xuất hiện và sự hoạt động của các chủ thể thần thánh là tất nhiên; và rất có thể chủ thể thần thánh thể hiện sự sống cổ còn sống động, xác thực, sinh động hơn những văn bản truyền lại ghi chép về họ.
Với vai trò, vị trí và nhiệm vụ của họ có thể thu nhận một điều: họ là người Thầy của Đời sống. Giảng hòa các nhà nước như Bias? Chấm dứt các mối quan hệ xã hội và viết các cuốn luật như Solón? Là nhà thơ, nhà tiên tri, linh mục và là một vị thánh như Orpheus? Đúng. Chuyên môn hóa trong mọi lĩnh vực đời sống chưa chứng tỏ hết bản chất hoạt động của họ, họ còn biết ứng dụng vào từng lĩnh vực ấy khả năng tổng quát của mình.
Chưa hết. Sau nhiều thế kỉ, khi sự sống cổ dường như một lần nữa xuất hiện trong thời đại của Julius Caesar, có vẻ như chủ thể thần thánh một lần nữa lại xuất hiện. Trong giây phút, như thể sự sống mở quay lại lần nữa, xoa dịu mọi mâu thuẫn của đời sống, Schuler viết, như thể trong đó xuất hiện sự sống tinh túy, như thể bằng cá nhân này trích dẫn một lần nữa tính chất thần linh cổ.
Nhưng khoảnh khắc ấy trôi qua, từ trời đất cổ không có gì quay lại hết. Julius Caesar không phải là một chủ thể thần thánh. Sau ánh hào quang siêu việt đem ra trình diễn trước công chúng và lịch sử là những che giấu bẩn thỉu của cuộc đời riêng ma quỷ và đen tối của ông ta.
Bên cạnh đời sống trong sạch như pha lê và như khí ê ter của Empedoklés và Pythagoras, đời sống của Caesar như vũng nước bùn. Caesar chỉ là một nhân vật lịch sử lớn, nhưng không phải là một chủ thể thần thánh, không phải là người Thầy của Đời sống. Trọng tâm đời sống Caesar là cái TÔI cá nhân, không phải sự sống Thượng Đế.
Chủ thể thần thánh có thể và là người Thầy của Đời sống bởi vì, như lời của Schuler, bằng cá nhân mình họ triệu tập thần linh, bởi bên trong họ là sự sống tinh túy thể hiện, bởi từ bản chất tổng quát của họ tỏa sáng sự sống cổ tỉnh táo. Sự sống tổng quát vũ trụ, thứ từng hiện thực hóa trong thời cổ, cô đọng trong họ, và tiếp tục tồn tại trong vài trăm năm, sau khi thời cổ biến mất. Những con người này là chủ thể thần thánh bởi bên trong cái cá nhân của họ, họ giữ gìn một bản chất thần thánh-Thượng Đế của sự sống cổ.
2.
Trong những khổ thơ của Đạo Đức Kinh có một (khổ XV) nói về người Thầy thời cổ: “Những người Thầy cổ xưa biết mở các bí ẩn khóa kín” - khổ thơ vào đề như vậy.
Sau khi trình bày về sự sống và đời sống, sự khép kín và sự khóa kín, sự thức tỉnh và sự mê muội, khổ thơ không đề cập tới những gì khó hiểu hơn. Hành động và tiêu chí lớn nhất của người Thầy của Đời sống là tháo gỡ. Nơi nào đời sống bị khóa lại, nơi nào đời sống bắt đầu bị chìm đắm và không là gì khác ngoài chỉ là một quá trình sinh học, ở đó có người Thầy, như kẻ dẫn đường cho dân chúng trong sa mạc, như khi nước phụt lên từ khe núi, sự sống dành cho đời sống lại một lần nữa mở ra.
Tại vị trí, nơi đời sống bình yên mềm mại bắt đầu trở nên chai sạn, người Thầy giải phóng nó, khiến đời sống lại tiếp cận với những sức mạnh tâm linh. Đây là tri thức của người Thầy.
Bởi vì cuộc sống cần phải bình yên, mềm mại, cần phải nhạy cảm, nhạy cảm cao độ để có thể tiếp nhận được những sức mạnh thần thánh của sự sống. Cần phải mềm mại như người đàn bà hoặc như trẻ sơ sinh. “Thứ gì trên trái đất mềm mại nhất sẽ chiến thắng thứ cứng nhất trên trái đất”. “Mềm thắng cứng, yếu thắng mạnh”- “nếu con người mạnh lên, họ già đi”.
“Họ nhận biết và hiểu sự vật” - khổ thơ nói tiếp. “Sức mạnh của họ là sự tỉnh táo”. Tình thế ngày càng rõ ràng hơn. Lão tử trong câu thơ thứ hai nói có một khả năng duy nhất của con người để nhận thức và hiểu được sự vật, đấy là sự tỉnh táo.
Câu thơ thứ ba: “Trong sự tỉnh táo của sức mạnh đời sống, họ trở nên lớn lao”. Không còn gì rõ ràng hơn. Cái gì là chủ thể thần thánh của người Thầy Đời Sống? Cái không thể học và truyền lại, gắn bó với một cá nhân duy nhất, một tài năng không bao giờ lặp lại trong một phẩm chất hướng tới sự nhạy cảm cao độ với sự sống Thượng Đế.
Khả năng này của toàn bộ thời cổ tồn tại một cách cơ bản trong người Thầy. Khả năng này là chủ thể; chủ thể sự tỉnh táo; chủ thể thần thánh và cao độ. Tài năng này bản thân nó là thời gian, là dân tộc, với số phận, sự hoạt động, sự sùng bái, trật tự sống của nó truyền những sức mạnh Thượng Đế của sự sống, kêu gọi, tiếp nhận, bắt buộc, sống cùng và vì những sức mạnh ấy - tài năng này là một chủ thể bình thản, là sự mềm mại, nhún nhường, phục vụ: đây là chủ thể trong người Thầy, xuất hiện với cường độ thường xuyên.
“Ta thử kể lại - Lão tử nói - họ như thế nào. Họ miễn cưỡng như kẻ mùa đông đi qua sông. Tỉnh táo như kẻ sợ quân thù ẩn dật. Họ minh mẫn như kẻ đến từ quốc gia khác. Họ yếu thế như băng tan chảy. Họ nguyên sơ như vật chất chưa chế biến. Họ sâu sắc như vực thẳm, bí ẩn như nước khuấy động”.
Người Thầy không chủ động. Người Thầy là công cụ. Công cụ của các sức mạnh Thượng Đế truyền từ cá nhân người Thầy. Người Thầy là thực thể thần thánh, kẻ thể hiện bằng sự sống vũ trụ.
Bản thân họ là cái TÔI con người, miễn cưỡng, yếu thế, nguyên sơ, minh mẫn, sâu sắc nhưng trên tất cả, họ tỉnh táo. Họ không hành động: “Thế giới là sự vật tinh thần, không thể hành động bằng nó. Kẻ nào hành động kẻ đó làm hỏng nó”.
Họ thụ động cho phép sức mạnh hoạt động thông qua nó. Họ cẩn trọng, minh mẫn, kiên trì: không tin vào bản thân mình, luôn luôn sống trong sự tỉnh táo để chú ý và nhận ra bản chất của các sức mạnh. Họ bí ẩn, không thể nhìn thấu qua như nước khuấy động. Bởi vì các sức mạnh luôn chiến đấu trong họ, không bao giờ có thể biết sức mạnh như thế nào đến trong họ. Chỉ có một điều không thể nghi ngờ đấy là sức mạnh Thượng Đế.
“Ngày nay ai có thể bằng sự tỉnh táo của mình làm tan biến đi sự mê muội của cái TÔI?”. Ngày nay ai có thể một lần nữa nâng đời sống của cái TÔI con người lên sự sống?
Tiếng kêu thét của câu hỏi này vang lên từ ranh giới thời cổ. Thời hoàng kim đã trôi qua. Người Thầy của Đời sống đã câm lặng. Không một ai có thể đánh thức dân chúng khỏi sự mê muội đờ đẫn. Bởi vì con người còn không xua đuổi nổi sự đờ đẫn của chính bản thân mình. Không còn một ai biết phá vỡ đời sống trong những phần đã chai sạn của nó và biết cách mở nó ra. Không còn một ai biết trích dẫn những sức mạnh Thượng Đế trong cá nhân của họ.
Con người giờ đây chỉ còn là những cái TÔI. Cái TÔI đắm chìm vào sự mê muội, tích góp của cải, thèm khát quyền lực, chạy theo dục vọng. Người Thầy của Đời sống không cần thiết cho những thứ đó. “Ai đi trên con đường này, không thèm muốn sự giàu có”. Bởi vì: “Kẻ giàu có vẫn có thể là kể vô giá trị”.
Người Thầy của Đời sống không phải là người hoàn hảo. Sự hoàn hảo và hoàn thiện là giấc mộng ngu xuẩn của con người. Người Thầy từng là con người, với tất cả đặc tính của sự sống người. Một đời sống đẹp, lớn lao, rõ ràng, cao quý không do sự toàn vẹn mà do sự thiêng liêng mang lại.
Đây là câu kết của khổ thơ: “Trong khiếm khuyết của mình họ nhận ra sự hoàn hảo”. Đây là tôn giáo, sự tin kính, sự nghiêm trang trong bản thân họ: họ biết họ là những con người, nhưng cũng chính vì thế họ biết và cảm nhận sự hoàn hảo của sự sống Thượng Đế vô tận cao hơn họ.
Con mắt của họ không bị trói buộc, phụ thuộc vào cái TÔI riêng của họ mà vượt qua cả thế giới của cái TÔI. Trọng tâm và nội dung cá nhân của họ, số phận họ, cuộc đời họ không chỉ là cái TÔI bé nhỏ mà còn là cái VÔ HÌNH VĨ ĐẠI. Bởi vậy họ là lời tuyên ngôn của sự sống Thượng Đế. Và bởi vậy dân chúng bị thu hút về phía họ. Và bởi vậy họ thiêng liêng.
Bởi vậy họ là những người Thầy của Đời sống. “Người nào mang trong bản thân mình hình ảnh lớn lao của VÔ TẬN, cả thế gian sẽ đến với người đó”.
3.
Người Hi Lạp gọi người Thầy của Đời sống là nhà thần học cổ, bởi công cụ của người Thầy là theosz logos, là lời của Thượng Đế.
Logos tất nhiên không chỉ là từ, mà còn là ý nghĩa, động từ, tinh thần, quy tắc, mức độ, dấu hiệu, tượng trưng, luật lệ, bản án, và nhiều thứ khác nữa.
Heracleitos có một câu nói về giá trị hợp nhất của logos, dịch ra là: sự tỉnh táo. Khi ông bảo tất cả mọi người đều có một logos riêng, nhưng không được người khác đồng tình, ở đây sự tỉnh táo mang ý nghĩa là logos. Một trích dẫn khác của ông có thể dịch như sau: pszükhész eszti logosz heauton auxón - linh hồn có sự tỉnh táo nuôi duỡng bản thân nó.
Trong thời cổ ngôn từ là thứ vô hình; hoạt động của người Thầy Đời sống là sự vô tư và không thể nắm bắt. Hoạt động này chỉ nhận ra khi bước vào thời gian của lịch sử, khi người ta bắt đầu viết. Khi chủ thể thần thánh biến mất, chuyển lại ngôn từ cho thế hệ sau: cho sách.
Ngôn từ trong sách đã đạt được tầm vóc cuối cùng của nó. Ở đây nó trở thành biểu tượng thật sự; thành ý tưởng. Ở đây nó bóc trần bản chất cho rằng ngôn từ là ma trận của mọi sự vật, như Baader viết: “ngôn từ là nguyên tắc của mọi cái tồn tại nối kết tinh thần với thiên nhiên, và hiện thực hóa cả hai”.
Bởi vì ngôn từ không phải là sự diễn đạt; điều này chỉ do cái TÔI cá nhân cho là như vậy, và nó sống trong một sự lừa phỉnh rằng thế giới xoay xung quanh nó.
Ngôn từ là tuyên ngôn, và là tuyên ngôn của sự sống tạo hóa Thượng Đế. Bởi vậy nó là sự tỉnh táo, là sự đánh thức, bởi vậy nó là hành động gọi tên sự vật, là sự thống trị mang tính chất phép thuật. Và ngôn từ gìn giữ khả năng này trong mọi thời gian và trong mọi ngôn ngữ kể cả khi ngôn ngữ đã bị hư hoại, gần như đánh mất hết ý nghĩa thần thánh thiêng liêng của nó, và trở thành công cụ thể hiện của cái TÔI cá nhân. Ngôn từ thực ra là biểu tượng của sự sống thần thánh và vũ trụ.
Thời kì mang hai ý nghĩa lớn của sáu trăm năm trước Công nguyên vẫn ngự trị trên đầu nhân loại từ đó đến nay, ý nghĩa đó là: chủ thể thần thánh và sách.
Hai thứ này là người Thầy của Đời sống. Chủ thể thần thánh phù hợp với sự sống của thời cổ: bởi vì nó sống động, tan ra, mở, tự do, trực tiếp, có tính chất cá biệt, tuyệt đối, cô đọng và hiện thực hóa.
Còn sách phù hợp với sự sống của thời gian lịch sử: bởi vì nó là đối tượng, bị ràng buộc, hình thức hóa, gián tiếp, không mang tính chất cá biệt, tương đối, mang tính mở rộng, là phản xạ.
Trong thời cổ, người Thầy của Đời sống là chủ thể thần thánh đang sống (tồn tại), còn trong thời gian lịch sử người Thầy của Đời sống là sách, là khách thể thần thánh.
4.
Những cuốn sách cổ được viết dưới dạng kinh.
Kinh (sutra) là từ sanskrit, về mặt ngữ pháp là một câu ngắn gồm những từ gần như không liên hệ lẫn nhau. Đoạn văn gồm những từ gốc này có thể gọi là một văn bản bí mật. Người đọc cần tìm ra mối liên hệ của nó. Trong các bản kinh như vậy, người ghi chép lại sử dụng các từ ngữ như các biểu tượng.
Bởi vậy về mặt bản chất cuốn sách cổ ghi bằng từ ngữ Ấn Độ hoặc Iran so với sách cổ ghi chép bằng kí hiệu của Trung Quốc, với sách viết trên giấy cói Ai Cập bằng chữ tượng hình, hoặc chữ khắc trên đá Babilon, hay chữ gút bằng dây (quipu) Peru hoặc Azték Mexiko không có gì khác nhau.
Tác dụng của phong cách này trong toàn bộ các cuốn sách thiêng, trên giấy cói tử thư, trong Kinh thánh Do Thái đều giống như trong các bản lưu cổ Kabbala, và ngay cả trong các tác phẩm của Heracleitos, Pythagoras, Hermes Trismegistos và của phái Ngộ Đạo (gnostikus) cũng có thể nhận thấy.
Phong cách sutra xuất hiện khi truyền thống truyền miệng vẫn còn, nhưng các văn bản do người Thầy viết bằng các kí hiệu cũng tiếp tục bảo lưu truyền thống, về điều này chuyện kể rằng năm tám mươi tuổi Lão tử rời bỏ quê hương, ở biên giới, ngài đã viết lại toàn bộ kiến thức của mình vào một vài khổ thơ ngắn ngủi khi một viên quan trấn thủ yêu cầu.
Nơi chưa từng tồn tại các kí hiệu, hoặc nơi mà đẳng cấp tinh thần cao miễn cưỡng ghi lại truyền thống, như trong rất nhiều trường hợp, ví dụ như ở nhóm người Kelta, ai dám viết về bất kì cái gì đều bị người Druida trừng phạt bằng cái chết, ở đó theo thời gian, truyền thống cổ một phần bị mất, phần khác hòa tan vào truyền thống mới.
Tại nơi truyền thống mới hòa lẫn một cách hữu cơ với truyền thống cũ nhiều khả năng xuất hiện một tập hợp mới giống như các tầng địa chất; đây là trường hợp của Tử thư Tây tạng hoặc của Hermes Trismegistos.
Có thể lần ngược lại để giải nghĩa phong cách sutra trong Kinh Dịch của Trung Quốc. Cuốn sách này ngày nay, về nguồn gốc không là gì khác ngoài là sự kết hợp 64 cách của 8 nhóm những đoạn que xương ngắn và dài (âm và dương). Những mối quan hệ nhất định của những đoạn que xương này mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Sáu đoạn que dài là biểu tượng của nguyên lí Tạo hóa; Sáu vạch ngắn là biểu tượng của kẻ Tiếp nhận.
Sau này người ta sử dụng các biểu tượng khi bói bằng các nhánh cỏ thi (achillea millefolii). Toàn bộ hệ thống này tượng trưng cho một thế giới khóa kín. Hệ thống này là một trong những tổng hợp cổ xưa như Kabbala của Do Thái, như chiêm tinh học (astrologia) hoặc lí thuyết thần số học (aritmologia).
Việc viết thành văn bản các hình ảnh tượng trưng và ý nghĩa của nó là một cuộc cách mạng bị đẳng cấp cao nhất của Trung Quốc phản đối. Đây là một trong những cuộc khủng hoảng lớn đầu tiên của thời kì (gọi là) lịch sử.
Việc ghi chép lại ý nghĩa của các hình ảnh tượng trưng diễn ra trong hình thức khế kinh. Cuốn khế kinh được Khổng tử cứu vãn tương đối muộn. Hoàng đế VŨ và con trai viết chú giải cho Kinh Dịch, và thế là cuốn sách được mở rộng và mang tính liên tục hơn. Lời bình luận cổ cuối cùng là tác phẩm của Khổng tử. Lúc này cuốn sách về mặt ngữ pháp cũng trở nên dễ hiểu hơn với cả những kẻ chưa nhập định.
Rất có thể những cuốn sách khác như Vedanta, Brahmana, Bundahisn, Sankhija cũng xuất hiện như vậy. Rất ít cuốn giữ được hình thức gốc ban đầu, ví dụ như Joga-sutra của Patandzsali hay Sankhja-karika.
Sự tiếp xúc phép thuật của những từ ngữ thoạt đầu có vẻ không liên quan đến nhau trong câu kinh, giống như điều người ta mong muốn thực hiện trong thơ cổ nhân loại thời lịch sử (sau Công nguyên) rất ít khi được thực hiện. So với sutra, tác phẩm thơ cổ La Rochefoucauld dù đã tẩy rửa hết những điều thừa thãi trong nó, vẫn chỉ là một sự lải nhải. Sự khác biệt không nằm trong đặc trưng hình thức. Tính chất cô đọng, sự nghiêm chỉnh và sức mạnh của ngôn ngữ viết không thể bì kịp với sutra.
Bí ẩn sau cùng của sutra là cái đưa ra không phải là khái niệm và hình ảnh, nghĩa là không liên quan gì đến kiến thức duy lí cũng như huyền thoại. Sutra là sự tiếp xúc siêu hình nguyên thủy, dùng để đánh thức. Đây là sự tiếp xúc trực tiếp của người Thầy Đời sống. Thiếu sự nhạy cảm tỉnh táo không thể thấy bất cứ cái gì trong truyền thống cổ. Dấu hiệu của đặc điểm thức tỉnh cơ bản của sutra là bằng chìa khóa cần thiết, chạm vào tâm linh người đọc và lay thức họ.
Phần lớn sutra, cho dù được tập hợp từ nhiều từ, đều thiếu một từ cho một câu hoàn chỉnh. Nếu để làm thức tỉnh cần sáu từ, sutra chỉ đưa ra năm. Từ thứ sáu là chìa khóa, hoặc người Thầy trao, hoặc cần phải đi tìm. Hoặc như vậy vẫn hiểu được, dù có thể nhầm lẫn hoặc có thể hiểu ngược lại.
Chừng nào tia chớp thức tỉnh chưa làm người ta hiểu ra, chừng đó con người không giải mã được sutra. Bởi tia chớp là căn nguyên. Đây là tia lửa bùng lên mà Platon nhắc đến trong lá thư thứ 7. Nội dung sâu xa nhất của sutra luôn siêu hình và tuyệt đối. Nội dung hình ảnh thần bí là thứ yếu. Thiếu vắng hẳn vai trò của ngữ pháp. Đôi khi sutra vang lên như một lời tiên tri, hoặc như một sự tưởng tượng. Püthia từng nói như thế, các nhà thơ từng viết như thế, các thần linh thường tuyên bố như thế.
5.
Sách cổ không thể dịch ra ngôn ngữ châu Âu hiện đại không phải vì rào cản ngữ pháp, mà vì những từ ngữ của sách cổ hoàn toàn thiếu hụt trong ngôn ngữ châu Âu. Thiếu hụt vì ngôn ngữ cổ là hệ thống kí hiệu phổ quát vũ trụ, còn ngôn ngữ châu Âu là những công cụ thể hiện cái tôi cá thể.
Ngôn ngữ châu Âu ngày nay, những từ ngữ có ý nghĩa và mang tính chất phổ quát, trừ vài trường hợp ngoại lệ đều phải vay mượn từ hai thứ ngôn ngữ vũ trụ cuối cùng là tiếng Hi Lạp và Latin.
Ngôn ngữ cao cấp của tinh thần là Hi Lạp và Latin. Những từ ngữ mang tính chất tổng quát đều hoặc là Hi Lạp hoặc là Latin. Bằng hai ngôn ngữ này tinh thần phổ quát vũ trụ của truyền thống được thể hiện. Các ngôn ngữ châu Âu đã đánh mất khả năng này của nó, mà phần lớn chỉ là công cụ truyền đạt cái TÔI cá thể.
Gúenon đưa ra giả thuyết rằng giai đoạn phi truyền thống này bắt đầu từ thời Phục hưng, khi thứ ngôn ngữ dân tộc phi khả năng biểu đạt nội dung phổ quát bắt đầu thay thế tiếng Latin. Tất nhiên quan điểm (gọi là) khoa học ngày nay nói ngược lại, cho rằng ban đầu các dân tộc còn thô sơ nguyên thủy nên ngôn ngữ cũng thế, càng cổ càng đơn giản. Nhưng ngược lại đúng hơn.
Ngôn ngữ nào càng cổ càng siêu hình. Vì nếu không như vậy chúng ta đã không bắt buộc phải vay mượn các từ ngữ mang tính chất phổ quát từ tiếng Trung Quốc, tiếng Sanscrit, tiếng Hi Lạp, Latin. Tiếng Latin từng chứa khả năng vô tận ẩn giấu của ngôn ngữ cổ để diễn tả toàn bộ sự vật. Sự phổ quát này trong chừng mực nào đó vẫn còn thấy ở tiếng Hi Lạp.
Không cần thiết nêu ví dụ bởi khả năng này không nằm trong các dữ liệu mà ở các mức độ tổng quát. Nhưng nếu ai một cách chóng vánh không tìm ra một từ nào mà sự giàu có về ý nghĩa của nó vượt qua cả không thời gian, hãy đến với từ logos. Logos cần một từ điển giải nghĩa với hàng trăm ngôn ngữ châu Âu, có thể có đến cả nghìn cuốn từ điển xuất hiện từ chính bản thân từ logos, và cũng từ chính từ này những từ ngữ mới mỗi ngày lại hình thành và hình thành tiếp. Logos - không gian tinh thần để đặt tên và khám phá, không bao giờ cạn. Ý nghĩa và hình ảnh của siêu hình học trong tiếng Sanscrit và tiếng Trung Quốc cũng rất giàu có.
Bên cạnh tiếng Latin và Hi Lạp thứ ngôn ngữ của đẳng cấp tinh thần cao, tri thức cao, đã văn minh hóa, các ngôn ngữ châu Âu khác chẳng khác nào như tiếng địa phương, như một thứ ngôn ngữ “bếp núc”.
Chỉ bằng các từ ngữ Latin và Hi Lạp mới thường xuyên duy trì nổi những hiện thực và các hoạt động đời sống, các tư tưởng ở cấp độ cao hơn. Mọi ngôn ngữ muộn hơn không thể nào đạt tới sự giàu có về ý nghĩa, về tính đa dạng ngữ pháp và cấp độ siêu hình của hai ngôn ngữ trên.
Quốc hữu hóa nhân tạo và bạo lực trong biên dịch ngôn ngữ sẽ dẫn đến việc đánh mất toàn bộ ý nghĩa, cấp độ và sự giàu có của ngôn ngữ - bởi ngôn ngữ không thể tùy tiện chọn lựa.
Giữa các loại ngôn ngữ nhiều ý tuởng nhất phải kể đến tiếng Sanscrit. Gần gũi với chúng ta nhất là tiếng Hi Lạp. Đây là thứ ngôn ngữ có khả năng gọi tên những nhân tố thế gian trong bản chất tuyệt đối của chúng, nói một cách khác: biết gọi tên sự vật một cách chính xác. Cái gì đã mang dấu ấn bằng tiếng Hi Lạp đều trở thành những hình ảnh tượng trưng.
Tư tưởng không phải việc của cái TÔI cá thể mà của cái TÔI tinh thần vũ trụ phổ quát. Nếu cái TÔI cá thể suy nghĩ, có thể thấy ngay tự bản thân nó tách rời khỏi sự vật. Cái TÔI cá thể tưởng rằng nếu nó đứng tách xa một khoảng cách nhất định và từ đó nhìn sự vật, nó sẽ thấy sự thật. Thực ra như vậy nó chỉ nhìn thấy một cách trừu tượng. Tư tưởng cần khoảng cách, tiêu chuẩn và sự tỉnh táo. Nếu ai tỉnh mới thấy bản chất, và nếu ai nhìn thấy bản chất, người đó có thể chính xác. Sự chính xác chỉ nảy sinh từ cách nhìn phổ quát vũ trụ. Những tín hiệu siêu hình học, những hình ảnh huyền thoại đều chính xác.
Cái nhìn chính xác là cái mà Platon tuyên bố trong siêu hình-ý tưởng; là cái hiện diện trong lí thuyết thần số học của Pytagoras, trong chiêm tinh học của người Chaldea, trong Kinh Dịch, trong thuật giả kim, trong tư tưởng của Böhme hoặc Baader, trong tác phẩm của một vài nhà thơ châu Âu lớn như: Shakespeare, Molie, Keats, Hölderlin, George, Rilke.
Nằm ngoài những vòng này, cùng lắm là sự trừu tượng, còn đâu đại đa số là một sự nhiễu loạn. Không còn là tín hiệu hoặc hình ảnh, chỉ là các khái niệm. Nền tảng của khái niệm là trừu tượng; trừu tượng giống như một sự không tưởng: từ sự thật, từ bản chất, từ tổng quát, từ toàn bộ, từ sự sống, cũng không tưởng nốt.
6.
Đặc trưng hình thức của sách cổ là sự nhập định, đặc trưng nội dung sách cổ là siêu hình học. Vai trò cộng đồng của con người là sự duy trì hoạt động của chủ thể thần thánh thời cổ: sự đánh thức. Sách cổ, khi chủ thể thần thánh không còn nữa, đã trở thành người Thầy của Đời sống.
Sách trở thành người cầm quyền, thành nhà tư tưởng, thành nhà tiên tri, thành vị thánh, thành linh mục, thầy giáo, thầy thuốc. Sự sống hoàn thiện giờ đây không cất lên từ cá nhân con người sống động nữa, mà từ sách. Sách bảo tồn chủ thể thánh thần; truyền bá tiếp truyền thống. Trên đôi môi con người, tiếng theos logos đã hóa câm.
Cần nói ngay để khỏi hiểu lầm: sách trở thành thế hệ tiếp nối ngôn từ sống động của chủ thể thần thánh cổ, nhưng không phải cuốn sách nào cũng thừa hưởng sự thiêng liêng này. Đặc trưng của thời khải huyền chính là, cho dù ngôn từ kết án, nhưng bản thân ngôn từ cũng đứng dưới bản án. Sự thể hiện lẫn cách gọi tên sự vật của ngôn từ đều nằm trong sự khủng hoảng.
Ngõ cụt của sự khủng hoảng là ngôn từ có khả năng tuyên bố, nhưng không bao giờ trở thành cái gì khác ngoài một khả năng, nghĩa là không thể thực hiện nổi. Bởi vậy sách thật sự thiêng chỉ có một, hoặc còn lại từ thời cổ hoặc vẫn trực tiếp tồn tại từ tinh thần cổ.
Đặc thù sâu sắc nhất của thời khải huyền là đứng trước sự giải quyết, nhưng không nhận thức nổi; luôn bỏ lỡ thời cơ để bộc lộ; không tỉnh - mà mộng du. Thậm chí bản thân thời khải huyền sử dụng những công cụ cứu vớt và chạy trốn để chống lại chính thời đại.
Trong thời cổ, sách trò chuyện như con người, từ đó đến nay con người cũng cần trò chuyện như vậy, như với sách. Thần thánh hóa sách cổ là con người; ngày nay sách cần thần thánh hóa con người. Trong thời cổ, Lời tuyên bố cần phải làm gì và viết gì; từ đó đến nay chữ tuyên bố cần phải nói gì.