Minh Triết Thiêng Liêng Tập 1

Lượt đọc: 742 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V. Ba nguồn
1.

Cái cá thể thánh thần không đánh thức được con người lịch sử đã chìm xuống mê muội. Bản chất cá thể thánh thần đã mất, nhiều cuộc thử nghiệm mong muốn lấy lại bản chất này đều thất bại.

Trong giai đoạn được đặt tên là lịch sử, người Thầy của Đời sống không phải là con người mà là sách. Tuyên ngôn trực tiếp, thứ trong thời cổ là cá thể thánh thần, giờ đây là sách. Sách là hồi chuông cảnh tỉnh. Là con gà trống gáy vang: hãy tỉnh giấc, con người, đừng để sự mê muội ma quỷ ru ngủ!

Điều kiện thiết yếu của sách là con người cá nhân câm lặng. Lên tiếng, sắp xếp hoạt động và lời nói, đưa ra tín hiệu cho sự thức tỉnh trong thời kì lịch sử, duy nhất chỉ sách có khả năng. Giữa con người với nhau chỉ có thể và chỉ là quan hệ cá nhân; chỉ chữ đã viết tuyên xưng những quan hệ vũ trụ.

Ba nguồn nhận thức của sách trong thời kì lịch sử:

1. Sự tổng hợp của truyền thống cổ

Là mọi dạng và mọi hình thức của các thể thống nhất cổ. Các thể thống nhất cổ này là các dấu hiệu và hình ảnh mang tính phổ quát của sự sống. Những ai hiểu khái niệm tổng hợp này và đồng nhất với nó, người đó thấu suốt hơn, và bắt đầu sống trong sự thức tỉnh.

2. Thiên tài

Thiên tài thời lịch sử là phiên bản khải huyền chủ thể thần thánh của thời cổ. Hiếm khi họ là một thực thể hoạt động; phần lớn là con người của lời nói, hoặc của chữ đã viết. Hãn hữu là triết gia hoặc nhà bác học; phần lớn họ là nhà thần học hoặc nhà thơ, hoặc nghệ sĩ.

3. Trực giác thần bí

Trực giác thần bí nằm trong hình dạng lịch sử của sự tỉnh táo cổ (zaéman). Gần như không bao giờ có thể thấy trực giác thần bí bằng mắt và riêng biệt; phần lớn chỉ lĩnh hội được nó ở vài điểm này nọ. Trong khoa học và triết học nó gần như vắng bóng. Lĩnh vực đặc thù của trực giác thần bí: tôn giáo, thần học và nghệ thuật.

Cần phân loại như trên bởi vì rất cần vạch ranh giới xác định đối với những hiện tượng song song của lịch sử. Cần phân biệt: khoa học với tổng hợp cổ; người thường với thiên tài; óc duy khoa học và trực giác thần bí. Cả khoa học, cả người thường lẫn óc duy khoa học đều không thức tỉnh và không thể thức tỉnh, và như vậy đều đứng ngoài vòng truyền thống, nếu như có thể trụ nổi ngoài truyền thống.

2.

Thể tổng hợp truyền thống cổ là hệ thống kí hiệu siêu hình học phổ quát, giữa những kiến thức mới như lí thuyết thần số học (aritmologia), chiêm tinh học, Kinh Dịch, đạo Lão. Ở một vài dân tộc cổ từng có một thể thống nhất duy nhất; ví dụ đồng nghĩa với dân Chaldeans là chiêm tinh học, hay việc dạy mật khải (Hermés Trismegistos) là của dân Ai Cập.

Nhưng cũng có dân tộc trong bản thân nó chứa nhiều khuynh hướng tinh thần, ví dụ ở Trung Quốc cạnh đạo Lão có đạo Khổng; ở Ấn Độ có Sankhja và Buddha; ở Tây Tạng có Bön và đạo Phật; Có những nơi hai nguồn tôn giáo hòa vào làm một, ví dụ ở Irán có Mitra và Ahura Mazda, ở Hi Lạp là Orpheus và Pythagoras, muộn hơn nữa là Platon.

Thể tổng hợp truyền thống cổ chưa bao giờ gắn với bất kì một tên tuổi nào. Và nếu có, bản thân cái tên đó cũng mang tính phổ quát, như Manu của Ấn Độ, Menes của Ai Cập, Vang của Trung Hoa. Sự thống nhất mang tính phổ quát. Sự phổ quát này từ mọi điểm tách rời hoàn toàn với xu hướng tập thể hóa.

Bước vào ngưỡng cửa của thời kì lịch sử, khi trên bờ Tiểu-Á và ở châu Âu Thalés, Parmenides, Heracleitos xuất hiện, sự tục hóa (secularization) các thể thống nhất cổ trong các khuynh hướng triết học cá nhân bắt đầu, có thể thấy rõ sự khác biệt giữa tính phổ quát và tính cộng đồng.

Thalés và các đồng sự đã nhầm khi cho rằng việc thiết lập hệ thống kí hiệu siêu hình học tổng quát có thể là nhiệm vụ của cá nhân. Hiện tượng sự sống mở bị khóa lại trong thời kì này ngày càng lan rộng. Thể hợp cá nhân, cái sau này người ta gọi là triết học trong mối quan hệ với tổng thể vũ trụ xuất hiện, giống như nền thi ca mang tính chất cá nhân so sánh với nền thi ca mang tính phổ quát.

Trong thi ca cổ đại, trong Homéros Hi Lạp, trong Mahábhárata và Ramajana Ấn Độ, và trong truyền thuyết dân gian cổ nói chung, cái bản chất không phải là tập thể, mà là: vũ trụ. Nghĩa là không phải: mang tính cộng đồng, mà là: mang tính phổ quát. Trọng lượng tác phẩm không rơi vào tác giả, mà rơi vào ý nghĩa hình ảnh tượng trưng và nội dung tác phẩm.

Quá trình sáng tạo phổ quát này trong dân chúng cần thiết như thế nào, chỉ cần nói như sau: trong phút giây lịch sử, khi dân chúng đánh mất sự phổ quát, từ lúc đó họ không bao giờ tạo dựng nổi huyền thoại nữa, thậm chí không bao giờ còn tin vào huyền thoại của họ nữa. Dân chúng ở đây cần phải hiểu là cộng đồng người cổ đại phổ quát, cần phải tách rời khỏi cộng đồng thời lịch sử: tách rời khỏi khỏi đám đông.

Bước vào thời kì lịch sử, tính phổ quát biến mất; cùng với điều này huyền thoại biến mất, và cộng đồng trở thành đám đông. Sự sống mở bị khóa lại và biến thành đời sống. Iliás, Odüssei, Gilgames, Rámájana là những tác phẩm thi ca phổ quát. Cũng như Đạo, chiêm tinh học, Bön, Sankhja là các môn siêu hình học phổ quát. Những môn siêu hình học phổ quát này là các thể tổng hợp truyền thống cổ.

Đối diện với siêu hình học và thi ca phổ quát là siêu hình học và thi ca tập thể. Tính chất tập thể hóa không tạo dựng nổi thi ca và cả siêu hình học cũng không nổi. Bởi vậy nó là thứ thi ca phi phẩm chất thi ca và phi siêu hình học, nó là một đời sống khóa kín. Bởi vậy nó không có huyền thoại của mình.

Thời kì lịch sử cá nhân đã thay thế thời cổ đại phổ quát; thi ca và siêu hình học rơi vào tay một số người. Bị khóa lại. Trở thành cá nhân hóa. Trọng tâm của nó không bao giờ là sự sống vũ trụ nữa mà là cái TÔI con người cá nhân. Cá nhân chỉ biết tạo dựng thi ca cá nhân, siêu hình học cá nhân mà thôi. Cá nhân có nghĩa là sự đứt đoạn, sự nông cạn, cá biệt và mang tính chất tùy tiện.

Thứ siêu hình học tùy tiện, cá biệt, đứt đoạn và nông cạn ấy là siêu hình học của Thalés, Parmenidés Hi Lạp sau Platón, đại diện nổi bật cuối cùng của thời cổ đại, siêu hình học đã biến đổi như vậy, để mỗi ngày siêu hình học càng cá thể hơn, đứt đoạn hơn, tùy tiện hơn và nông cạn hơn.

Truyền thống cổ là hệ thống kí hiệu phổ quát tổng hợp. Hạt nhân của nó không thể diễn đạt và hình thái tự nhiên của nó không thể xác định. Mỗi thể thống nhất cổ có một logos riêng; nhưng trung tâm của mọi thể thống nhất là logos.

Đây là sự khác biệt giữa thể thống nhất cổ và triết học cá nhân: triết học cá nhân chỉ có cái TÔI, không có logos của riêng nó. Sau này người ta đặt tên một cách ngu ngốc cho logos là nguyên lí (principium) khi tin tưởng rằng logos có nghĩa là một lí thuyết duy lí nào đó.

Logos không phải là một lí thuyết mà là một động lực tạo hóa tâm linh. Diễn đạt theo ngôn ngữ của Heracleitos: là lửa của sự sống mà thế gian cháy rực trong đó. Là Agni của Hindu, là Atar của Irán, là một trong những cái tên thần linh đầu tiên trong truyền thống Do Thái là tấm gương rực rỡ Tezkatlipoka ở Mexico, là hình tam giác chúc đầu xuống dưới ở những - kẻ mật khải (Hermetikus), là sulphur ở Böhme, là tia chớp ở Baader.

Trong thể thống nhất cổ, bản chất là logos tuyên ngôn chứa trong hệ thống các hình ảnh kí hiệu, bởi vì, theo Schuler: logos là sự hiện diện của sự sống tinh túy. Sự giải thích các hình ảnh kí hiệu như thế nào chỉ là điều thứ yếu. Thực tế, những thể thống nhất cổ như vũ trụ học, chiêm tinh học, y khoa, đạo đức và cả chính trị, thần học, xã hội học, tâm lí học và hành vi học đều thể hiện bản chất phổ quát của logos trọng tâm.

Tất cả các ngành này không thể đứng độc lập vì như vậy chẳng mang ý nghĩa gì. Con người thời lịch sử không hiểu nổi sự nhiễu nhương thường xuyên xảy ra giữa các quy tắc của khoa học; sự nhiễu nhương này không là gì khác ngoài là hoạt động tự thân của các phần bị tách rời một cách phi trật tự, bởi thiếu vắng logos trọng tâm chúng không hề mang một ý nghĩa và giá trị nào.

Y học cần gắn liền với tâm lí học, tâm lí học gắn với giải phẫu học, với vật lí và hóa học, những môn này gắn với đạo đức học, xã hội học, gắn với hệ thống của đời sống (ẩm thực, đời tư, sự giáo dục) và gắn với tính chất siêu hình học của những môn này. Các phần tách rời bị khóa lại, trở nên trừu tượng, và bởi vì mất sức sống và phi hiện thực, chúng rỗng tuếch.

Điểm phân biệt thể thống nhất cổ với (cái gọi là) khoa học thời lịch sử là hệ thống kí hiệu siêu hình học tổng hợp truyền thống cổ cùng lúc chính là hệ thống đời sống thực hành có thể ứng dụng. Bởi vì: nằm giữa trọng tâm của thể thống nhất cổ là bản thể tạo dựng logos, là thứ để hình thành và dẫn dắt đời sống.

Trong tất cả các thể thống nhất cổ, như lí thuyết thần số học (aritmológia), hay Đạo, chiêm tinh học hoặc Sankhja, Bön - đều có một tinh thần sống động tồn tại, hay nói cách khác đều đem lại một hình ảnh tượng trưng, để điều chỉnh con người theo hình ảnh tượng trưng đó.

Khi bước vào thời gian lịch sử, khoa học và triết học cá nhân đã thay thế thể thống nhất phổ quát truyền thống cổ, logos biến mất. Đánh mất logos có nghĩa là tinh thần tạo dựng-siêu hình học đã biến mất; tư tưởng và thực hành tách rời khỏi nhau. Thực hành và lí thuyết tách rời nhau.

Sự tách biệt bi kịch này bắt đầu ở châu Âu từ thời Platon trở đi. Trong đời sống, động lực và sự chiêm niệm (kontempláció) đứt đoạn, như sự đứt đoạn của đẳng cấp động lực và chiêm niệm: sự đứt đoạn của con người tinh thần (brahman) và kẻ cai trị (ksátrija). Trong thời kì lịch sử, tư tưởng và hành động không bao giờ nhận ra nhau nữa. Triết học, khoa học lí thuyết, kĩ thuật không thể là một mẫu số chung. Cả hai không còn phụ thuộc vào nhau.

Logos tạo dựng trọng tâm đã biến mất, thực hành và lí thuyết không thể bổ trợ cho nhau. Lí thuyết trở nên trừu tượng, còn lại chút gì đó trong tiêu chuẩn của thời cổ đại, nhưng lại phản thân; thực hành vô tinh thần trong nội dung, suy thoái, báng bổ; và cả hai: là một phi hiện thực mang tính cá thể, bị khóa kín và tách rời nhau.

3.

Thiên tài trong thời kì lịch sử là hậu duệ của chủ thể thần thánh cổ. Nhưng không bao giờ, dù một giây phút cũng không được phép nhầm lẫn hai loại người này.

Thiên tài không có mối quan hệ với chủ thể thần thánh giống như khoa học phản thân và trừu tượng với thể thống nhất tỉnh táo và lí tưởng hóa cổ. Thiên tài với nhân vật thần thánh chỉ như triết học với thể tổng hợp truyền thống cổ, không nhiều hơn.

Giữa hai loại người này sự khác biệt quan trọng nhất là thiên tài sống trong thời gian lịch sử, điều đó có nghĩa là không sống trong nhân dân mà trong đám đông, không trong sự sống phổ quát mà trong đời sống cá nhân, và như vậy không trong cộng đồng đời sống mà trong sự cô đơn.

Sự thiếu vắng cộng đồng đời sống đã khóa thiên tài lại, khiến nó suy thoái, trừu tượng hóa, trở thành lí thuyết suông và phi hiện thực. Sự đứt đoạn quan hệ với nhân loại luôn mang ý nghĩa là sự đứt đoạn của mối quan hệ với toàn thể sự sống, và ngược lại; bởi cả hai không khác nhau.

Thiên tài là chủ thể thần thánh, nhưng trong một sự sống mộng du, bản chất thánh thần không là vinh quang của nhân dân, mà là bi kịch của cá nhân. Bi kịch này đập tan sự trực tiếp thành từng mảnh. Bởi vậy nó buộc phải trở thành phản thân. Sự phản thân này tất nhiên một giây phút cũng không làm thiên tài thỏa mãn, bởi nó thừa biết động lực bên trong nó không chỉ là trường hợp của cái TÔI riêng; trong trường hợp này thiên tài trở thành một ý thức vô sinh, cô độc, hay nói đúng hơn: trở thành một sự nhiễu nhương, rối loạn của đời sống.

Nhưng, để bứt phá khỏi sự nhiễu nhương mơ hồ này, thiên tài không có lòng tin: không vứt bỏ nổi cái TÔI, không dám quăng số phận mình vào sự sống, không dám coi đời sống của mình là nạn nhân hoàn toàn. Chính vì vậy thiên tài không tiếp xúc được với bản chất thật sự của sự sống thống nhất, chính vì vậy bản chất thánh thần của thiên tài bí mật nằm lại, và đại đa số trường hợp trở nên bí ẩn ngay với bản thân nó.

Muộn hơn, trong đời sống khép kín của mình, một vài phần của bí mật này được tháo gỡ, bởi vậy ta thấy, cuộc đời thật sự của thiên tài lịch sử chỉ bắt đầu bằng cái chết. Gây tác động cá nhân khi còn sống chỉ là trường hợp ngoại lệ, phần lớn chỉ bằng hạt nhân thiên tài, tính chất siêu việt của thiên tài không phải là của sự sống, mà thuần túy chỉ bằng những khả năng cá nhân, bằng những thể hiện bên ngoài, bằng các vai trò và các khoảnh khắc mang tính vật lí mạnh mẽ.

Tuyên ngôn của thiên tài trong thời kì lịch sử trừ vài trường hợp ngoại lệ, phần lớn như sau: là chữ đã viết ra, là sách. Kể cả khi các thiên tài thật sự không phải là nhà thơ, nhà văn hay nhà tư tưởng, nhiệm vụ của họ cũng chỉ có thể thực hiện nổi trong sách. Trong đời sống sự trực tiếp bị đánh mất, chỉ có sự trực tiếp đã viết ra mang ý nghĩa đích thực, bởi nó bảo vệ những mảnh vỡ của logos.

Trong bản thân tất cả thiên tài, ngoài sự khác biệt về thời đại, thời gian, ngôn ngữ, chủng tộc, tri thức, đều ẩn náu một quan hệ họ hàng sâu sắc với nhau: dễ dàng nhận ra điều này từ những ví dụ thời đại. Cuối thế kỉ vừa qua giữa Kierkegaard, Dosztojevszkij, Tolsztoj, Nietzsche đều có sự khác biệt lớn về môi trường, hoàn cảnh, tính cách dân tộc, điều kiện, khuynh hướng. Nhưng trong họ không chỉ có một cái gì đấy chung mà quan trọng nhất, tư tưởng của họ hoàn toàn giống nhau.

Chỉ khác nhau về lí thuyết, về thế giới quan - nói một cách ngắn gọn: chỉ khác nhau về các hạn chế và các thành kiến. Những tư tưởng này khiến thoạt nhìn họ khác nhau, kẻ thì vô đạo đức chống lại nhà thờ, kẻ là nhà thần học ma quỷ, kẻ thứ ba là kẻ sùng đạo Thiên Chúa giáo. Đây là những cái bên ngoài, các lí thuyết, các thế giới quan. Nhưng trong một điểm tất cả bọn họ gặp nhau: muốn mở ra lần nữa đời sống lịch sử bị khóa kín, để những sức mạnh của sự sống len vào.

Tất cả bọn họ mong ước tính chất siêu hình học của sự sống. Tất cả bọn họ đều mong muốn một cộng đồng sống, nhân dân - đối lập đám đông - đối lập với phản xạ và cùng mơ ước sự trực tiếp - đối lập với sự trừu tượng và cùng mơ ước lí tưởng - đối lập với sự mê muội và cùng mơ ước sự tỉnh táo.

Thiên tài không phải là chủ thể thần thánh; chủ thể thần thánh mở đời sống bị khóa kín ra một cách tỉnh táo và trực tiếp, để giải phóng những sức mạnh của sự sống. Nhân vật lịch sử không là thần thánh, mà là thiên tài; phần lớn họ không hay biết chút gì về ý nghĩa những hoạt động của mình. Họ thức tỉnh và báo động, nhưng không hiểu tại sao mình lại làm thế.

Họ có mối quan hệ bí ẩn với những thiên tài thế hệ trước và đương thời của mình, họ học tập và thỏa thuận với những người đó. Họ mang tính chất phổ quát dưới một dạng hình thức nào đó, cho dù được thể hiện ra một cách đờ đẫn và vật vờ. Họ cảm thấy mình đang tiếp tục một tác phẩm của bậc tiền cổ nào đấy mà họ chưa bao giờ nghe thấy; họ cần hoàn thành một công việc mà họ không hiểu nổi gánh nặng của nó. Họ đối diện với sự quyến rũ phi thời gian một cách bất lực: cả Nietzsche, cả Tolstoj, cả Kierkegaard đều không thể nói tại sao mình lại gắn bó với Zarathustra, Heracleitos, hoặc với Szókrates, hoặc với Thiên Chúa giáo đến thế.

Tinh thần của truyền thống, sự tỉnh táo, ẩn náu dưới trầm tích của thời gian lịch sử. Đấy là tinh thần buộc họ lại với nhau và với những thiên tài xuất hiện trong thời gian lịch sử, nhưng trước hết với sự sống cổ xưa, hay với sự sống thật sự của con người. Tính chất phổ quát của tinh thần, tính siêu việt trong cá nhân, siêu nhiên trong thế giới quan, siêu nhiên trong lí thuyết biến thiên tài thành thiên tài.

Mọi tính chất của thiên tài bằng một cách như thế nào đó có mối quan hệ với sự sống: với toàn bộ thế giới, với ontosz on, với ý tưởng; tính chất thiên tài là một dạng nhạy cảm cao độ. Và chính vì thế với tất cả những người khác, tác phẩm của thiên tài là khả năng của sự thức tỉnh.

4.

Nguồn thứ ba của sự tỉnh táo trong thời gian lịch sử: trực giác thần bí.

Nguồn đầu tiên, sự tổng hợp cổ, vì đặc tính của nó khó đạt tới, nên khó hiểu. Nguồn thứ hai, kẻ thiên tài, có thể xa lạ và tụt hậu. Nguồn thứ ba, trực giác thần bí trong thể thống nhất cổ và trong kẻ thiên tài đều là khả năng hoạt động. Ngoài ra, trực giác thần bí còn tồn tại ở tất cả những ai đang sống, dù đờ đẫn, mê muội, mộng du, suy thoái, mang tính phản xạ hay cá thể.

Trực giác thần bí, mà Gúenon đặt tên là intuition intellectuelle, không được phép nhầm lẫn với trực giác mà triết học hiện đại hoặc tâm lí học nhắc đến. Thứ trực giác đấy không là gì khác ngoài sự đối lập và bổ khuyết của trí tuệ khoa học, nhưng kết quả cuối cùng chỉ là mảnh vụn duy lí hợp lí.

Trực giác thần bí là khả năng siêu việt của trí tuệ. Có quan hệ mật thiết với tài năng, tiếng Sankhja gọi là buddhi (phật tính), là cái mà Gúenon dịch là intellect supérieur (trí tuệ siêu nhiên). Buddhi là khả năng siêu hình vượt trội của con người, không bao giờ bị cá nhân hóa và không thể cá nhân hóa, không bao giờ có thể trộn lẫn với thế giới khóa kín của cái TÔI, mà luôn tồn tại trong phạm vi của sự sống phổ quát.

Nhân tố này chưa được chú trọng đến một cách đầy đủ. Trực giác tâm linh là khả năng tinh thần cao nhất của con người, mà đời sống cá nhân không làm lu mờ nổi, bởi vậy bằng khả năng này, bằng tài năng này con người biết tiến lên phía trước, biết phá vỡ cái TÔI khóa kín và đạt tới sự sống mở.

Một vài lời về mối quan hệ giữa csisti của Irán và trực giác thần bí sẽ làm chúng ta hiểu rõ hơn. Csisti là trạng thái thấy và tỉnh siêu hình, giống như từ vidja trong tiếng Sanscrit là thế giới hiện thực đích thực, nói cách khác là sự nhạy cảm cao độ trong toàn bộ sự sống. Nhưng từ csisti, một cách ngoại lệ cũng không được phép dịch bằng từ thấy, bởi trạng thái thấy này không chỉ là cái thấy bình thường mà là trạng thái thấy của linh hồn tỉnh táo.

Đây là sự thông minh, thông thái (clairvoyance) liên quan đến hiện thực siêu nhiên. Phù hợp với từ epopteia Hi Lạp, là một trạng thái thần diệu: con người nhìn thấy những hình ảnh cổ, những ý tưởng vĩnh cửu của sự vật. Apollon và Dionüsos mang lại epopteia.

Apollon mang lại lời tiên tri để đoán trước tương lai, sự giác ngộ siêu phàm của trí tuệ con người, sự nhận thức chớp nhoáng của những kí hiệu hình ảnh thế gian, khám phá ra toán học, thiên văn học, tâm lí học và các định luật của cộng đồng.

Còn Dionüsos mang lại epopteia, tương tự nhưng khác hẳn: đấy là cảm hứng thăng hoa của đê mê, là tỉnh ngộ siêu phàm về sự thống nhất của thế giới, là sự mê sảng sâu đậm của đồng nhất nhân loại, là sự quên mình của tình yêu. Nhưng epopteia cho dù theo kiểu Apollon hay Dionüsos, mức độ cao nhất của nó vẫn vượt ra khỏi phạm vi từ ngữ, mà kí hiệu của nó là: âm nhạc.

Chúng ta đều biết trong các tôn giáo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, Ai Cập, Hi Lạp, Judea vai trò của âm nhạc, ca hát như thế nào. Chúng ta chỉ không biết âm nhạc có ý nghĩa gì. Âm nhạc là sự thể hiện của epopteia, csisti, vidja đúng như sự nhạy cảm cao độ thể hiện trong âm nhạc, bằng âm nhạc và do âm nhạc.

Âm nhạc Apollon - có nhịp điệu, sáng sủa, có trí tuệ trong âm thanh của Pitago; hay âm nhạc Dionüsos - ngây ngất, hòa tan, nồng nàn, trong âm thanh của Orpheus, đều như vậy.

Trực giác của chàng trai trẻ Nietzsche thấy một cách không thể lầm lẫn Apollon và Dionüsos, thấy các vị thần của giấc mơ và sự hưng phấn, các vị thần âm nhạc, các vị thần epopteia, thấy sự giải phóng của linh hồn trong cơn mê sảng ra khỏi đời sống khép kín để nâng lên tầng sự sống.

Buddhi hay intution intellectuelle, hay dùng từ khác gọi là trực giác thần bí là khả năng đưa linh hồn con người ra khỏi đời sống và nâng nó lên sự sống. Đây là epopteia, tiếng Hi Lạp gọi là eksztázis, là cảm hứng hay sự thăng hoa, là dự đoán hoặc tiên tri, là ảo tưởng hay sự mê sảng, đúng vậy: là cảm hứng hay sự thăng hoa.

Trực giác thần bí dẫn dắt con người vào giấc mộng, vào sự ngây ngất, vào sự sống siêu nhiên, vào thế giới người chết, vào giữa các thần linh. Trực giác thần bí đưa người ta ra khỏi phạm vi cái TÔI và giải phóng nó, mở mắt cho linh hồn hướng tới phạm vi của những hình ảnh cổ của các hiện thực.

Điều này xảy ra lúc thiền định cô độc, trong những khoảnh khắc cảm hứng, trong giờ phút thăng hoa, lúc ngây ngất, trong phút hấp hối, trong khoảnh khắc của những vòng tay ôm tình yêu, và khi nhạc nổi lên - khi linh hồn con người trở thành sự nhạy cảm cao độ. Khi nó vứt bỏ phản xạ, tri thức, trí tuệ trừu tượng, sự mê muội - và trở nên trực tiếp, cởi mở và tỉnh táo.

Trực giác thần bí mang lại sự thức tỉnh và đánh thức thực thể người, nó không phải là một khả năng duy lí. Những sức mạnh xuất hiện khi thiền định, trong cảm hứng, trong ảo tưởng, trong sự thăng hoa và phá tan bức tường của cái TÔI, để con người đạt tới sự sống hoàn thiện, những sức mạnh này không nằm trong phạm vi lí trí, mà là những sức mạnh siêu nhân, siêu việt mang tính chất phổ quát.

Bởi vậy trong sự ngây ngất, trong cảm hứng, trong cơn mê sảng, trong sự thăng hoa con người không nhìn thấy những khái niệm trừu tượng mà là những hình ảnh tượng trưng chính xác. Trong sự thăng hoa (eksztázis) sự thống nhất giữa con người và thế giới là một hiện thực trực tiếp. Bởi vậy trong âm nhạc nó đánh thức cái TÔI mê ngủ và vứt bỏ đời sống suy thoái.

Bởi vậy tất cả, những gì tồn tại trong phạm vi trực giác thần bí: tiên tri, dự báo, epopteia, esktázis, thiền định đều làm rạn nứt cái TÔI chật hẹp, bứt nó ra khỏi thế giới hữu thể, bỏ mặc lí trí hợp lí. Từ phạm vi hư không của ảo ảnh con người bước vào thế giới phổ quát hiện thực của những sức mạnh phi thời gian. Con người hiểu ra cộng đồng, trở nên trực tiếp, mở ra; trở thành một thực thể giác ngộ, hay nói cách khác trở nên tỉnh táo.

5.

Trong thời kì lịch sử, thời gian càng tiến nhanh về phía trước bao nhiêu thì ý nghĩa và tác dụng của các thể thống nhất cổ càng giảm sút bấy nhiêu. Chiêm tinh học và thuật giả kim, thứ còn nở rộ trong thời trung cổ ngày càng trở nên nhợt nhạt và trống rỗng.

Trong thế kỉ XVIII như kỉ niệm muộn mằn về chủ nghĩa Pythagoras, Hội Tam Điểm nở rộ trong một thời gian ngắn. Trực giác thần bí ngày qua ngày càng trở nên ốm yếu, chiêm tinh học và thuật giả kim rơi vào tay những kẻ có đức tin xấu; Hội Tam Điểm, thay vì duy trì quyền lực tinh thần, ngày càng phục vụ cho quyền lực chính trị.

Hoạt động của thiên tài và trực giác thần bí trong các thể thống nhất siêu hình chấm dứt, cùng lúc đó lại xuất hiện trong thần học và thi ca. Thần học ở châu Âu thực ra ngay từ đầu, và (bằng mọi giá) từ thế kỉ XIII trở đi đã trở thành một tuyên ngôn hoàn hảo (par excellence) của tinh thần mang tính chất siêu hình, vấn đề là: các nhà thần học thời trung cổ hay thời hiện đại và sự liên quan họ hàng của họ với siêu hình học cổ hay các tư tưởng phương Đông, nhiều lần nổi lên bằng sự đồng nhất, cần phải được giải thích.

Tác động qua lại hoặc tác động mang tính chất Á châu có thể đặt ra trong trường hợp thần học Ý hoặc Tây Ban Nha; nhưng ở các nhà thần học Đức, Pháp và Anh chắc chắn nằm ở ngoại vi các khả năng. Với các nhà tư tưởng, cùng lắm có thể nhận ra truyền thống từ một vài tác phẩm của các nhà Ngộ đạo (gnostikus) hoặc Hi Lạp hóa (Dionüsios Areopagita).

Thần học ở châu Âu trở thành người lính canh cho tinh thần mang tính chất siêu hình học tỉnh táo. Tất nhiên nó không thể tạo ra một thể thống nhất. Trong thiên niên kỉ này tình trạng chống đối siêu hình học ngày càng gây ra nhiều cản trở. Thần học chỉ tạo ra những tác động cá nhân, phần lớn nằm trong bí mật và bị xua đuổi.

Trong thời hiện đại vị trí hao mòn của thần học ngày càng trở nên trầm trọng, và chỉ còn giữ được ở một vài thiên tài. Ví dụ như ở Paracelsus, kẻ thử tìm cách chê bai nền tảng thống nhất đáng chú ý từ những nguyên tố chiêm tinh học, giả kim học và thần học châu Âu. Trong thế kỉ XVIII lời tuyên bố thiên tài như vậy thuộc về Swedenborg, bằng sự tấn công những bí ẩn Ai Cập, Orphikus cổ.

Sự thức tỉnh siêu hình học thống nhất không hề xuất hiện ở đâu trên đất châu Âu. Tinh thần mang tính chất tôn giáo ẩn náu trong thần học sống một đời sống vô luật. Sự đánh thức thế gian từ tôn giáo hoàn toàn đứt đoạn, chỉ thi ca hiện đại thể hiện nổi điều này, ngoài ra không thể tìm thấy ở đâu.

Phân tích mối quan hệ giữa châu Âu hiện đại với truyền thống cổ, cần nhấn mạnh: sự tỉnh táo và truyền thống châu Âu thật sự nằm trong thần học và trong thi ca.

Thi ca, như tự nó thể hiện, cá thể hơn, tùy tiện hơn, vụn vặt hơn, rời rạc hơn, mang tính nhất thời, hạn chế hơn thần học. Nhưng bởi vậy nó có tác dụng hơn, trong đặc tính của nó thường xuyên mang tính phổ quát. Tất nhiên điều này liên quan đến thời kì rực rỡ của thi ca, ví dụ ở Ý là thời của Dante, của kịch Tây Ban Nha, thời của Shakespeare, các vở hài kịch của Molier Pháp và các tiểu thuyết gia Nga ở thế kỉ XIX. Dù thi ca ở các dân tộc và các tác giả khác mờ nhạt hơn, thực ra về bản chất cũng luôn hướng tới mục đích muốn mở ra sự sống.

Trong lịch sử châu Âu xuất hiện duy nhất chỉ có một, gần như ngang hàng với thể tổng hợp cổ trong mọi phương diện, đó là thần học của Jakob Böhme. Böhme cùng với các học trò Anh, Pháp, Đức và Nga của mình, không chỉ thống nhất hóa giả kim học, chiêm tinh học, lí thuyết thần số học làm một, mà trực giác tâm linh cơ bản của họ còn quay trở về với những lời sấm truyền tuyệt đối và cổ xưa của Ấn Độ, Trung Quốc, Irán, Ai Cập.

Học trò của Jakob Böhme: Pasqualis, Saint-Martin, Baader, sau này thông qua những người như Szlovjev, Bergyajev và Dacqué đã truyền lại những tư tưởng của ông cho đến tận ngày hôm nay. Những người học trò nổi bật nhất là Saint-Martin và Baader đồng tư tưởng với Böhme, đã thể hiện mức độ cao nhất của sự tỉnh táo siêu hình học ở châu Âu hiện đại.

6.

Trong thế kỉ XX, nhân loại khải huyền tiến đến một giai đoạn chấn động, và điều này động chạm đến lợi ích của nhân loại phương Tây. Giữa truyền thống cổ tỉnh táo và sự căng thẳng của con người hiện đại bị cảnh báo nổi lên một tâm trạng bí ẩn. Trong thời gian này nhiều nơi, ở những miền khác nhau, sau nhiều chỉ báo và từ nhiều hướng, người ta bắt đầu nhận ra ý nghĩa của truyền thống cổ.

Thế kỉ mới không thể tạo dựng một thể thống nhất giống như thể tổng hợp truyền thống cổ, như Böhme đã làm. Baader, khi được hỏi tại sao không xây dựng một hệ thống từ những tư tưởng của mình, ông trả lời: chưa đến lúc, bởi quá nửa số đông con người vẫn đang ngủ. Con người hiện đại trước tiên cần thức tỉnh. Bởi vậy cần quay lại với thời cổ đại, để yêu cầu sự giúp đỡ của truyền thống cổ.

Nhận thức về ý nghĩa của truyền thống giờ đây chỉ gắn với một vài tên tuổi. Nổi bật nhất là: René Guénon, người trên cơ sở của các vị tiền bối Pháp (Abbé Constant, Eduard Schuré v.v.) lần đầu tiên đã định nghĩa chính xác truyền thống là gì.

Những cuốn sách của Evola mang ý nghĩa quyết định liên quan đến truyền thống mật khải (hermetikus) đến cá thể tuyệt đối; những tác phẩm (Rivolta contro il mondo moderno - “Cuộc nổi dậy chống lại thế giới hiện đại” - Imperialismo pagano - “Chủ nghĩa đế quốc ngoại giáo”) muốn áp dụng tinh thần truyền thống, và đánh thức ấn tượng thức thời của truyền thống.

Công trình của Ziegler mang một thiếu sót cơ bản là chưa dứt khoát từ bỏ khoa học hiện đại; bởi vậy tác phẩm này là một văn bản tranh luận lớn, trong đó tác giả cố gắng chiến thắng khoa học từ sự vô thần mù quáng của tác phẩm. Trong ba tác giả này chỉ có Guénon là gần với sự tỉnh táo nhất.

« Lùi
Tiến »