Minh Triết Thiêng Liêng Tập 1

Lượt đọc: 745 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
II. Sruti và Smriti
1.

Ở Ấn Độ người ta phân biệt hai loại truyền thống cổ.

Một: sự biểu hiện, lời tuyên ngôn (còn gọi là Đấng Biểu lộ). Ra đời cùng thế gian. Đấy là kinh Veda. Là THỰC THỂ ĐẦU TIÊN, là Brahman - CÁI NGÃ - được bảo vệ và gìn giữ. Là thứ không thể phủ nhận, trinh nguyên và luôn có hiệu lực.

Hai: truyền thống hiện thực có ngay từ khi vũ trụ bắt đầu. Đấy là những kí ức hình ảnh nhắc đến sự hiện diện của thần linh, là sự tập hợp của những quy luật, những quy tắc, những sự kiện, những ý kiến liên quan đến đời sống con người.

Dạng đầu tiên gọi là sruti và dạng thứ hai gọi là smriti.

Sankara khi chú giải kinh Vedanta đã nói, chỉ sruti mang tầm quan trọng, còn smriti trong mức độ nào đó chỉ là lời giải thích và bổ sung. Nếu truyền thống tách rời khỏi lời tuyên ngôn (Đấng Biểu lộ), nó sẽ bị biến mất không với bất kì điều kiện nào.

Bởi vì: “Sruti biểu lộ các nguyên nhân của sự sống”, còn: “hiệu lực tồn tại của Smriti duy nhất chỉ là sự ứng dụng, sự giải thích và sự bổ sung; ví dụ: đẳng cấp này trong khoảng thời gian này thể hiện như thế nào, cần điều chỉnh đời sống và hành vi con người ra sao, cho phép truyền bá kinh Veda cho ai, khi nào có thể coi một người là có học thức, và kẻ có học sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc đưa ra đạo luật”.

Lời tuyên ngôn (Đấng Biểu lộ) và kí ức truyền thống trong thời cổ khắp nơi đều tách riêng. Sruti bị biến mất ở nhiều nơi, như ở người Kelta, hoặc một phần ở người Ai Cập là những nơi việc ghi chép lại bị cấm. Ở Palestine nó còn lại trong hình hài bị giấu giếm giống như lời tuyên ngôn bị cất giấu trong văn bản của truyền thuyết và pháp luật truyền thống.

Sự cất giấu này xảy ra như sau: Một số từ ngữ hoặc sự kiện nhất định mang một ý nghĩa bí mật nào đó chỉ kẻ nhập định hiểu được. Trong những cuốn sách thánh Do Thái chúng được cất giấu dưới ba tầng.

Tầng cao nhất có thể thấy bằng mắt, không mang ý nghĩa gì đặc biệt; đây là truyền thuyết và luật pháp. Dưới tầng thi ca và xã hội cất giấu lí thuyết về vũ trụ (kozmogonia) bí ẩn; dưới nó là tâm lí học; dưới nữa cất giấu những dạy dỗ về sự cai trị. Lí thuyết về vũ trụ và tâm lí học các đệ tử vẫn còn có thể hiểu được. Nhưng tầng thứ ba chỉ giáo chủ và Vua có thể hiểu.

Nhưng trong sách thánh còn cả tầng thứ tư. Sách Misna (văn cổ Do Thái) viết: “Về lịch sử hoàn chỉnh của tạo hóa, trong một thế hệ chỉ được phép nói cho hai người biết; còn Merkaba chỉ được phép nói cho một kẻ duy nhất có tư tưởng rộng lớn, kẻ từ những lời chỉ dẫn và những ẩn ý tự mình hiểu ra”.

Thời cổ, Zohár là người viết bình luận về ý nghĩa bí ẩn này, thời gian sau có sách của Maimuni, sau đó là sách Mysterium Magnuma của Jakob Böhme. Từ những tác phẩm này con người có thể hiểu được những bí ẩn của Đấng Biểu lộ, tuy không dễ dàng.

Lời tuyên ngôn (Đấng Biểu lộ) bắt buộc phải giấu kín, ở đâu cũng vậy. Giữa các đệ tử, Pythagoras dạy những người theo phái Công truyền (exoterikus) ở một nơi và dạy những người theo phái Bí truyền (ezoterikus) ở một nơi khác.

Hierocklés thu thập những lời dạy của Pythagoras cũng theo hai cấp độ khác biệt này. Cấp độ thứ nhất đào tạo ra người tốt, là bài giảng nói về đời sống con người thế nào là tốt và đúng, cấp độ thứ hai khi người Thầy từ người tốt đào tạo thành con người Thượng Đế. Đây là giáo huấn về sự sống tinh thần và sự sống Thượng Đế. Và ở Tây Tạng, ở Peru, ở Trung Quốc những kẻ nhập định cũng đều tuân theo hai cấp độ này.

Trả lời cho câu hỏi, tại sao cần thiết phải cất giấu bí mật của Merkaba, tại sao phải giấu giếm những bí mật của Bí truyền, và sau rốt tại sao lại cần cất giấu ý nghĩa của lời tuyên ngôn, cũng như cần cất giấu Sruti, câu trả lời như sau: sức mạnh của đời sống mà con người đang sống trong thiên nhiên vật chất rất ít ỏi. Ít ỏi đến mức chỉ cần một chút tri thức, một chút quyền lực lớn hơn nó thôi cũng đã gây ảnh hưởng đến nó, thậm chí đánh bật nó ra khỏi vòng quay. Thiếu sự nhập định, sự hiểu biết về sự thật rất nguy hiểm. Bởi vì tri thức của lời tuyên ngôn sẽ giải phóng một phần những sức mạnh của tạo hóa, thiếu sự chuẩn bị cần thiết, những sức mạnh này không thể chuyển nhập và làm thức tỉnh con người.

Có lần một người đến thăm Trang tử và hỏi về bí mật của Đạo. Trang tử trả lời, và khi người đó đi xa, một học trò của Trang tử nói: Thầy chưa bao giờ nói ra những bí mật lớn nhất bằng những ngôn từ đơn giản đến như vậy. Trang tử suy nghĩ và bảo: Ta đã làm họ bất hạnh cả đời.

Hiện tượng, khi một thế giới cao hơn thâm nhập vào thế giới vật chất nặng nề, sẽ lay động cả thiên nhiên, gây mâu thuẫn với nó, làm nó dính mắc vào đó và trật tự của thiên nhiên bị sức mạnh của một trật tự cao hơn biến đổi trong giây lát, người ta gọi: đấy là điều kì diệu.

Điều kì diệu là sự biểu lộ của một thế giới cao hơn và mạnh mẽ vô tận, khiến cái trật tự vật chất nặng nề và thô thiển đơn giản bị tan ra. Cái ý nghĩa ẩn náu trong ngôn từ là như thế, là sự biểu lộ của một sự sống tràn ngập những sức mạnh quyền lực, cực kì nguy hiểm với kẻ nào chưa được chuẩn bị, và điều này chỉ có thể chịu đựng nếu con người bằng học tập và thực hành chuẩn bị tiếp nhận. Còn nếu không sẽ thất bại.

2.

Giáo huấn đầu tiên về con người cổ như sau: con người cổ là lời tuyên ngôn (sự biểu hiện) về linh hồn và phép thuật của linh hồn. Đây là giáo huấn của kinh Veda. Còn tất cả những gì liên quan đến buddhi, đến ahamkara, đến manas, đến những tấm chăn phủ, chỉ là smriti, hay đúng hơn chỉ nhắc nhở đến smriti.

Giữa những nhân vật giải thích kinh Veda, đáng tin cậy nhất là Sankara, kẻ tiếp nhận truyền thống, bởi từ Sankara không có gì mâu thuẫn với lời tuyên ngôn (Đấng Biểu lộ). Mọi truyền thống đều dựa vào lời tuyên ngôn này, bắt đầu từ thời cổ đến tận thời Platon. Bản chất thật sự của con người cổ là linh hồn; cái bao phủ linh hồn, bao phủ bản chất thật sự lại là lớp vỏ, lớp chăn, là phép thuật. Linh hồn là thứ tồn tại; những thứ bao phủ nó là phép thuật sẽ biến mất.

Lời tuyên ngôn trên ở tất cả các dân tộc cổ đều hòa tan vào những giải thích, hoặc bổ sung khác nhau. Những giải thích bổ sung này cho dù là truyền thuyết hay không, rốt cuộc vẫn giống hệt smriti Do Thái. Siêu hình học được xây dựng từ dấu vết của kinh Veda, cần phải được quay lại dưới một hình hài nào đấy trong mọi truyền thống. Những lời giáo huấn về buddhi, ahamkára, manas, indrija, về các lớp vỏ linh hồn đều có thể bắt gặp trong Thiền Bön của Tây Tạng, hoặc bắt gặp ở Trung Quốc, Iran và Hi Lạp cổ.

Các truyền thống đáng nhớ của các dân tộc khác nhau, ngay từ đầu, cho dù thể hiện bằng hình ảnh thế gian sống động khác hẳn nhau đến mấy, cũng không bao giờ mâu thuẫn với nhau. Cái này không chỉ tồn tại cạnh cái kia mà một cách đặc thù cái này nhấn mạnh cái kia, làm điểm tựa, củng cố và soi sáng cái kia.

Tại sao vậy? Bởi vì khắp nơi đều cùng nói về một sự sống, cùng nói về một sự chấn thương, một sự thay đổi. Truyền thống của Peru và Do Thái cho dù cách xa nhau cả về không-thời gian, nhưng không tàn phá lẫn nhau. Cả hai đều nói về cùng một điều như nhau.

Trong sự bí ẩn của linh hồn bất tử xảy ra một sự kiện: cái mà kinh Veda gọi maja (ảo ảnh) và là cái con người gọi là: sự tạo dựng thế gian.

3.

Con người là tạo vật cuối cùng của tạo hóa. Là sản phẩm cuối cùng và là sự tổng hợp, là chúa tể của thiên nhiên, là bản sao của Linh hồn tạo hóa, là bản chất siêu nhiên chế ngự toàn bộ các thực thể, và là kẻ duy nhất có quan hệ trực tiếp với Tạo Hóa.

Thực thể người là toàn bộ những gì xảy ra trước khi có sự tạo dựng: là sự phản chiếu của các sức mạnh tinh thần, là các Quyền Lực vũ trụ, là bản chất của trời và đất, là tư tưởng của vũ trụ, là những đặc tính của các thực thể - thống nhất lại trong bản thân con người.

Thiên nhiên chưa từng là vật chất. Sự tạo dựng vật chất trong thế gian cũng chưa từng có bao giờ. Và như vậy thiên nhiên đầu tiên cũng chưa từng là thiên nhiên vật chất.

Thế giới là một tư tưởng tinh thần trong vắt, và con người là chúa tể của một thế giới tinh thần chứa đầy những sức mạnh này. Các bộ phận và bản chất của thế giới là sự biểu lộ (lời tuyên ngôn - Đấng Biểu lộ) của những đặc tính linh hồn Thượng Đế, và con người đứng trên đỉnh cao nhất của thế giới này. Con người cổ là ý nghĩa của Thượng Đế. Chúa tể của một thế giới tinh thần mở, tự do, sáng rực rỡ này là: ADAM KADMON - con người cổ, con người đầu tiên, là MỘT, là khả năng, là ý nghĩa cao nhất của linh hồn bất diệt.

Con người cũng từng là chúa tể của các QUYỀN LỰC. Các Quyền lực, tiếng Hi Lạp là arkhai hoặc dünameis, là những sức mạnh vô hình, mà chỉ ai gọi nổi tên nó ra, người đó sẽ thống trị được nó. Các Quyền lực câm, nhưng bản năng và đặc tính của nó sắc nét hơn tất cả; chúng không biết nói, không biết lên tiếng, bởi vậy chúng không thể thống trị, chỉ phục tùng. Bên trong chúng không có sức mạnh của lời, bởi vậy chúng không biết đến sự khởi đầu.

Nhưng sức mạnh quyền lực là của chúng. Quyền lực thiếu lời của sự cai trị sẽ câm lặng và bất lực. Bởi vậy, cho dù các Quyền lực mạnh hơn con người rất nhiều, nhưng vẫn phải phục tùng lời của con người và con người ngự trị trên đầu chúng.

Giữa các Quyền lực có cái XẤU. Tạo hóa là cái hoàn hảo toàn bộ, bởi vậy cái xấu cũng cần có ở đấy. Nó là sự tiêu cực; nhưng cần phải có sự tiêu cực. Đây là điểm đen trong ánh sáng; nhưng trong sự tỏa sáng cũng cần sự u ám, trong toàn diện cũng cần sự phủ nhận. Đây là nguyên tử bị khóa lại duy nhất. Nhưng tạo hóa là sự toàn diện nên ở đó cũng cần đến nó.

Đây là điểm đen câm, là sự phủ nhận, nguyên tử khóa kín này là vị trí duy nhất trong Tạo Hóa, trong sự Tạo Dựng và ở ngoài Thiên Nhiên. Toàn bộ thế giới nằm yên bình trong Tạo Hóa; cái XẤU là sự tiêu cực duy nhất đứng bên ngoài. Đấy là thứ mà sau này người ta gọi là: cái Độc Ác.

Độc Ác không hình hài, như mọi sức mạnh, như Quyền Lực. Nhưng tinh thần đã chấp nhận Độc Ác vào hình hài của nó: đã đồng hóa điểm đen này với bản thân tinh thần, cùng với sự phủ nhận, sự khóa kín, sự tiêu cực. Và tinh thần khi chấp nhận một thứ đứng ngoài tạo hóa, chỉ như một điều kiện, phi hình hài - nhưng vì được chấp nhận nó trở thành cái có hình hài, thành sức mạnh tạo dựng và có sức hoạt động. Thế là cái Độc Ác, sự tối tăm, sự phủ nhận, sự khóa kín trở thành Quyền Lực. Tinh thần đã cho cái Độc Ác sức mạnh độc lập, cho khuôn mặt và sự khởi đầu.

Trong phần giới thiệu của kinh Vedanta, Sankara đã nhấn mạnh tới một khả năng của linh hồn (atman) còn gọi là khả năng đồng hóa, hay còn gọi là khả năng truyền tải hoặc khả năng nhầm lẫn (adhjasa).

Đây là sự truyền tải: “sự nhầm lẫn cần thiết… là thứ khi cá nhân chuyển giao nó cho một vật… một bản thân có thật thành một phi hiện hữu… một bản thân chủ thể trở thành một khách thể”.

Khả năng chuyển giao này như thế nào? - Sankara hỏi. Câu trả lời: “Kí ức chuyển giao cho hiện tại một sự kiện đã xảy ra một khi nào đấy của một cái gì đấy trước kia”. - “Một cái (một kẻ) nào đấy không hiểu sự khác biệt giữa sự việc và thời gian, và như vậy đã truyền tải một sự việc từng xảy ra trước kia”.

Đấy là cái gì? Adhjasa. Avidja. Sự mê muội. Sự đờ đẫn. Sự sống suy thoái. Sự truyền tải để một người nào đó chuyển giao bản thân mình, chuyển giao một bản chất cá nhân có thật vào một vật-phi hiện hữu, cái đó không là gì khác ngoài sự vắng mặt của tỉnh táo.

Tinh thần đã từng trải qua, từng sống vượt qua những ảo thuật của linh hồn, của sự tạo dựng. Khi sự tạo dựng kết thúc bằng việc tạo ra con người hoàn tất, sự tạo dựng mang theo nó những sự kiện xảy ra trước đó vào sự mê muội của nó. Sự tạo dựng chính là việc linh hồn đồng nhất nó với thế gian.

Tinh thần nhớ lại điều này, và nó nhầm lẫn bản thân nó với cái Ác. Trong khoảnh khắc đó, sức mạnh của các Quyền lực sôi lên, và gán chúng vào những sức mạnh vô hình. Những Quyền lực đó là gì? Tên Hi Lạp của chúng: Phhora, Thanatos, Eris, Penial, Hühris, Hamartia - Sự Trôi Qua, Cái Chết, Xung Đột, Nhu Cầu, Sự Ngạo Mạn, Sự Nổi Loạn.

Sự truyền tải này phá vỡ sự cân bằng thế giới, một bộ phận của sự tạo dựng đứt đoạn, tách ra và tự khóa vào chính nó. Sự thống nhất chấm dứt. Thế giới chia làm đôi.

Đấy là một tai họa mà các truyền thống cổ nhận ra dưới tên gọi: sự nổi loạn của các linh hồn.

4.

Vị trí rơi xuống của các tinh thần bị thất bại: vật chất. Vật chất không phải là một sự tạo dựng. Chưa bao giờ có bất kì ai và bất cứ cái gì tạo dựng ra thiên nhiên vật chất. Vật chất là một vị trí bị khóa kín, nơi từ sự tạo dựng tinh thần thất bại cổ xưa đầu tiên rơi rụng xuống những Quyền lực bị xua đuổi. Nó xuất hiện trong khoảnh khắc, khi một bộ phận của thế giới tách ra khỏi sự tạo dựng vĩ đại.

Tri thức còn nằm lại trong thế giới tinh thần, nhưng không chống đỡ nổi sự thử thách của các Quyền lực, và thế là nó bị khóa vào thế giới vật chất. Đây là một tai họa, mà các truyền thống cổ gọi là sự phạm tội.

Con người hoàn toàn chìm ngập vào vật chất. Tri thức Thượng Đế bị đánh mất; con người quên mất ngôn từ của sự cai trị; con người bị câm bặt, đến kí ức mơ hồ về ngôi thứ của nó cũng biến mất.

Sự tỉnh táo của con người ngủ yên, con người chìm đắm vào trạng thái đờ đẫn nghiêm trọng của vật chất nặng nề. Nó trở nên giống hệt các Quyền lực thất bại: trọng tâm tầm nhìn của nó giờ đây không phải là ánh sáng vĩnh cửu của Đấng Tạo hóa nữa, mà là tâm điểm riêng của nó, điểm bị khóa kín tách rời khỏi thế gian: đấy là cái TÔI. Và con người là chúa tể của thiên nhiên, cũng lôi thiên nhiên xuống theo nó. Thiên nhiên trong hình thái cổ đầu tiên là tinh thần; còn thiên nhiên bị lôi theo, chìm xuống theo con người mang tính vật chất hóa: chỉ là bản sao của thiên nhiên đích thực.

Lịch sử sơ lược của truyền thống đáng ghi nhớ không chỉ quan trọng bởi tất cả các dân tộc cổ của trái đất đều hiểu và nhận thức như vậy, mà vì về cơ bản nó mở ra hình ảnh về nguồn gốc kép của con người trong một hình dạng đầy kịch tính. Con người có nguồn gốc Thượng Đế? Đúng. Có nguồn gốc vật chất? Đúng. Con người là Adam Kadmon, là Trí tuệ của Tạo hóa; nhưng cùng lúc con người cũng là thực thể của thiên nhiên vật chất.

Lời tuyên ngôn của Veda như sau: “Linh hồn nghĩ: ta muốn tạo dựng các thế giới. Thế là nó tạo dựng ra các thế giới. Những thế giới có sự sống riêng tách rời linh hồn chưa từng là hiện thực. Các thế giới là ảo ảnh (maja) của linh hồn. Và con người ban đầu là tri thức của tạo hóa; là sự hoàn thành hoàn toàn, là vương miện, và là tổng thể của sự tạo dựng”.

Nhưng trong hậu quả của sự thất bại nó chìm vào vật chất. Đúng hơn: nó chìm xuống và xuất hiện vật chất.

Nói theo ngôn ngữ của smriti: “Khi bị thất bại con người đã truyền tải nhầm lẫn thứ mà tinh thần đã đồng hóa bản thân nó với điểm đen khóa kín, thụ động nằm ngoài thế giới. Con người đã lẫn lộn mình với các Quyền lực, những thứ con người từng là chúa tể của chúng”.

Và con người đã lẫn lộn với cả một đội quân của các Quyền lực: không phải chỉ với một điểm đen duy nhất, mà với toàn bộ hàng trăm triệu những điểm đen khác. Và thế là con người đưa những thứ sau đây ngự trị lên đầu mình: Nhu cầu, Cái Chết, Cái Trôi Qua, Xung Đột, Sự Phân Vân, Cái Đói, Cái Đau… và những cái khác nữa.

Nhưng điều cơ bản hơn: CON NGƯỜI DUY NHẤT - Adam Kadmon - như người Do Thái gọi: Manu, người Trung Quốc gọi: Hoàng đế, người Mexico gọi: Kecalkoatl, con người Thượng Đế cổ duy nhất đầu tiên, bản sao của TẠO HÓA DUY NHẤT đã biến thành sự đông đảo.

Đây là tai họa mà thời Trung cổ người ta gọi là sự cá nhân hóa (individuacio). MỘT con người duy nhất đã trở thành dân chúng, thành các cá nhân, vỡ tan thành hàng tỉ cái TÔI. Và bởi con người cũng là thiên nhiên, là chúa tể của thiên nhiên, đã nhấn chìm thiên nhiên cùng nó nên trong thiên nhiên cũng nảy sinh sự đông đảo. Sự đông đảo này là hằng hà sa số các vì sao, các loại thực vật, các loại đá, các con số, các hình ảnh, các số phận. Là sự đông đảo của các cái TÔI.

Khi con người lao xuống vật chất và tỉnh dậy, không như một con người duy nhất nữa mà như một nhân loại. Kẻ đầu tiên của nhân loại này không phải con người cổ Adam Kadmon nữa mà là con người thiên nhiên: Adam.

Adam sinh ra từ đất. Tạo Hóa - là truyền thống đáng ghi nhớ ngay từ đầu cho biết - tạo hóa đã nặn ra con người từ đất sét và hà hơi thở cho nó. Đây là con người trái đất đầu tiên, và chỉ là bản sao, là một mảnh của con người bầu trời. Sau Adam nhiều con người khác lần lượt tỉnh giấc và số đông đa dạng của nhân loại dần tỉnh giấc.

Còn một phương diện nữa của smriti cần nhìn cho rõ: đấy là thời gian. Ngay trong thời cổ và từ đó đến nay người ta đều hiểu các sự kiện siêu hình học vũ trụ không diễn ra trong giây phút và khoảnh khắc, mà trong hàng trăm năm. Nội dung của sự đổ vỡ diễn ra trong hàng triệu năm; sự nhấn chìm của nhân loại vào vật chất cũng diễn ra trong hàng trăm năm, và sự thức tỉnh cũng sẽ mất nhiều trăm năm nữa.

Veda không bàn về những gì liên quan đến thời gian. Lời tuyên ngôn, như Sankara nói, bàn về các nguyên nhân của sự sống. Ngoài ra không còn gì khác. Sự tạo dựng thế nào, sự nổi loạn của các linh hồn, sự phạm tội, quá trình vật chất hóa dài hay ngắn, kết quả sau cùng, thế nào cũng được. Tại sao vậy? Tại sao lại xảy ra như thế? Thậm chí: tại sao sẽ đúng như vậy?

Câu trả lời đơn giản: kể từ khi phạm tội, con người đã lầm lẫn nó với những điểm đen phi hiện thực, nằm ngoài thế giới (có tên gọi) là những cái TÔI.

Đây là một sự truyền tải nhầm lẫn (adhjasay, con người lao vào sự nhầm lẫn này càng sâu bao nhiêu, nó càng mạnh và phức tạp bấy nhiêu. Cái TÔI phản chiếu trong cá nhân một lần nữa lại quy chiếu vào thế giới của con người, và như vậy bản thân các Quyền lực hữu hình hóa được bảo vệ và hiệu lực hóa.

Sự truyền tải nhầm lẫn này có thể diễn ra cả trong thời gian và cả ngoài thời gian; có thể trong hàng thiên niên kỉ, dài không thể tưởng tượng nổi, nhưng có thể chỉ ngay trong một giây duy nhất.

Cái gì là sự truyền tải nhầm lẫn, cái gì là sự nhầm lẫn, sự nhầm lẫn là cái gì vậy? - Là trạng thái thiếu vắng sự tỉnh táo. Ảo ảnh. Không có nhiều cái TÔI, không có hàng triệu năm. Bởi vì con người vượt qua mọi sự đồng hóa, bên trong bản chất thật của nó là LINH HỒN và là MỘT. Sự đông đảo của nhân loại là ảo ảnh, đúng như lịch sử thế giới hàng thiên niên kỉ. Là ảo ảnh, là maja: ảo thuật.

Kẻ tỉnh táo, là kẻ nhìn thấy hiện thực, biết rằng, nếu nói đến vở kịch được trình diễn trong thời gian dài hay ngắn, chỉ tăng thêm sự phức tạp của đời sống diễn ra trong ảo ảnh. Thời gian dài cũng mang tính chất ảo ảnh đúng như thời gian ngắn. Đối với linh hồn kẻ đã thức tỉnh, sự tạo dựng, sự nổi loạn của các linh hồn, sự phạm tội như thế nào, xảy ra trong bao lâu và sẽ tiếp bao lâu nữa, thế nào cũng có thể, nhưng hãy xảy ra.

5.

Theo giáo huấn của sách thánh Do Thái, Tạo Hóa đã nặn con người vật chất đầu tiên từ đất và thổi linh hồn vào nó. Ở Peru người ta nói, Pacsakamak đi đến tận cùng trái đất, đánh thức những tảng đá, và từ những tảng đá bị đánh thức thành những con người. Theo người Manicheus, Manu là kẻ đầu tiên đánh thức những con người bị chìm ngập vào vật chất thức dậy lần nữa. Nhưng con người đây không phải là con người đầu tiên. Con người đầu tiên là con người cổ, Adam Kadmon, con người trời. Con người thứ hai rơi vào vật chất, là thực thể đờ đẫn. Con người thứ ba là con người tỉnh giấc từ vật chất: Adam.

Trong con người này những mức độ được dạy dỗ và các lớp chăn phủ ở cùng một chỗ; linh hồn, lớp chăn phủ đầu tiên (anandamaja), tri giác Thượng Đế (buddhi) cái TÔI-BẢN NGÃ (ahamkam), sự phân chia giác quan bên trong và bên ngoài (manas), các cơ quan cảm giác (indrija) và thân xác vật chất nặng nề (annamaja).

Truyền thống của các dân tộc cổ đều nhận biết về hai loại con người này: con người đi từ trên xuống và con người đi từ dưới lên. Đây là nhận thức về Kain và Abel. Một con người vào thời kì đầu, rơi xuống khi phạm tội, và giờ đây đi từ dưới lên, từ tăm tối, nhận dinh dưỡng từ vật chất, và một con người, như Adam Kadmon, biểu hiện của tinh thần Thượng Đế.

Và lời giáo huấn truyền thống duy nhất của các dân tộc cổ cũng chính là điều này. Người Trời, con người - tinh thần (Toth, Zarathustra, Brahman). Henoch nói: egregoros - trật tự của thế giới - phụ thuộc vào sự thống trị của người Trời. Chừng nào con người này biết hiệu lực hóa những tia sáng chiếu từ trên cao xuống trái đất, chừng đó đời sống của nhân loại còn trật tự, sáng sủa và có quy luật.

Nếu con người đi từ dưới lên thực hành những bức xạ tầng thấp của vật chất, nhân loại sẽ là con mồi cho sự tăm tối. Truyền thống chỉ ra cho con người biết đến những chấn thương mà hậu quả của sự thống trị đi từ dưới lên của nhân loại đã gây ra không biết bao nhiêu tai họa. Một trong những tai họa đó là nạn hồng thủy. Những người Papua sống ở đảo Phục sinh, người Csimu ở Peru, người Toltek ở Mexico, Kinh thánh Do Thái, Manu hoặc Đức Phật đều nói như nhau về nạn hồng thủy này.

Lời giáo huấn về hai loại người là một trong những lời giáo huấn bí ẩn nhất và huyền bí nhất của truyền thống. Tư tưởng trọng tâm của những kẻ nhập định trong mọi truyền thống là: Adam, người TRỜI xuống từ trên cao với thiên tinh - đứng một bên; bên kia là con người đi từ dưới lên với sự mê muội trong sự sống bị thoái hóa bởi các Quyền lực.

Con người đi từ trên xuống là một giống người bí ẩn, như Evola viết: “là con người toàn diện mà tất cả các thế hệ thời cổ đều biết đến” - là kẻ mà con người vật chất luôn đầu hàng. Bí ẩn của người Trời lớn hơn cả, khiến toàn bộ tri thức thu thập được cho đến nay của người đời đều không thể chạm tới và hiểu được bí ẩn ấy.

Có thể nói ngắn gọn như sau: Mối quan hệ của con người bị lao xuống với người Trời thực ra không bị đứt đoạn. Người Trời và con người vật chất vẫn là MỘT, chỉ sự THỐNG NHẤT này bị chìm xuống sâu đến nỗi phần lớn trong con người vật chất không có sự thức tỉnh.

Con người đi từ trên xuống là con người bên trong nó toát lên tri thức thống nhất. Con người đi từ trên xuống là một bến đỗ của con đường của CON NGƯỜI VĨNH CỬU, từ bến đỗ này chiếu rọi những sức mạnh trên cao xuống các tầng dưới thấp, và nâng thế giới thấp lên cao.

Đấy là các khách thể thần thánh thời cổ, là bí ẩn của vua, nhà thơ, giáo chủ, nhà tiên tri, thầy tế, nhà khổ hạnh. Đấy là con người, trên ngưỡng cửa của thời kì lịch sử vẫn có thể chiêm ngưỡng, để sự hoàn hảo của họ không phải là không tiếp cận được đối với con người thời lịch sử: đấy là Orpheus, Pythagoras, Empedokles, Zarathustra, Toth, Buddha, Lão tử, Khổng tử, và sau cùng, trong một hình hài nhợt nhat hơn: Platon.

6.

Truyền thống nêu sự khác biệt giữa con người primer (nguyên sơ) và con người nguyên thủy ( primitiv).

Con người primer là con người cổ có thể nhận ra từ hình dạng của các khách thể thần thánh: đây là thực thể tinh thần, là vua, là linh mục, nhà thơ, nhà tiên tri. Là con người Thượng Đế.

Đối ngược với từ này là từ primitiv mà phần lớn các truyền thống dùng để đặt tên cho nhóm người lạc hậu, thậm chí trong một số truyền thống còn dùng từ này đánh dấu một số loại con vật. Trong thời gian lịch sử, nhất là thời hiện đại một lần nữa người ta lại nhầm lẫn: lộn ngược ý nghĩa gốc của sự vật, người ta tưởng rằng con người tinh thần cổ là người rừng nguyên thủy, và gốc gác của người nguyên thủy là con vật.

Sự thật, như Evola viết: “Người nguyên thủy không phải là tổ tiên của con người ngày nay, mà là một thứ thoái hóa của một trạng thái tinh thần rất xưa”. Đây là sự sống bị “chìm đắm lạc hậu trở lại” muộn mằn.

Theo Wallace: “Con người cổ và trước thời kì lịch sử không phải là loại con vật hoang dã, không phải là thực thể ở mức độ phát triển thấp, mà họ mang một bản chất cơ bản là tỉnh táo, con người nguyên thủy là kẻ mà bản chất tỉnh táo này đã tắt”.

Baader viết như sau; “Sự hoang dã súc vật chưa từng là trạng thái đầu tiên của con người, trạng thái hung tợn là biểu hiện của con người lạc hậu ngược trở lại, con người bị đắm chìm xuống”. “Không có con người sinh ra đã hung tợn, chỉ có con người trở nên hung tợn mà thôi”. Cuối cùng: “Trong vũ trụ đầy rẫy những thực thể lạc hậu và không có khả năng đi tiếp trên đường”.

“Nguyên thủy không phải là trạng thái cổ của con người; cái ngày nay người ta gọi là nguyên thủy là kết quả của sự chìm đắm, sự phát triển ngược trở lại”.

Các dẫn chứng thế là đủ. Truyền thống đã đưa ra đầy đủ các tri thức cổ liên quan đến sự lạc hậu và hình thành ngược lại của linh hồn.

Theo truyền thống Iran, từng có những tai họa tập thể, khi toàn bộ “nhân loại” đứt rời và quay ngược rơi vào vật chất. Con người không chịu nổi ánh sáng thức tỉnh về những gì đã quên, họ bị ngăn lại, chặn lại ở một điểm, lạc hậu trở lại và quá trình tăm tối dần này ngược lại với sự thức tỉnh khiến nhân loại cũng phát triển ngược lại.

Những cuốn sách cổ của Iran coi các nhà nước cấu tạo như một cộng đồng của các con kiến là thứ nhân loại bị phát triển ngược lại. “Nhà nước kiến” là linh hồn con người bị chặn lại và phát triển ngược trong một trật tự nhà nước hợp lí và thực dụng. Đây là trường hợp khi ý nghĩa tinh thần của công việc hoàn toàn bị đánh mất, và trở thành một trạng thái máy móc hóa hoàn toàn. Có trật tự, nhưng là thứ trật tự giết chết toàn bộ tinh thần trong con người.

Sách thiêng cổ cho rằng sự phát triển ngược của cá nhân là sự vật chất hóa cá nhân. Con rắn là cá nhân đã bị hung tợn hóa và phát triển ngược lại, hay nói cách khác: đây là thứ tri thức Thượng Đế bị phát triển ngược.

Truyền thống Ai Cập cho rằng dân Majm, nhất là dân Pavian là những nhóm người mà ở họ, ngày nay có thể nhìn rất rõ sự chìm đắm xuống của một dân tộc, một giống loài. Dân Pavian từng là một giống người mang tri thức Thượng Đế - nhưng đánh mất sự tỉnh táo và bị lạc hậu trở lại. Ngày nay một tia lửa duy nhất còn sót lại lay lắt trong con người họ, dấu hiệu của tia lửa này là mỗi khi mặt trời mọc, họ quay nhìn về phía mặt trời và xòe lòng bàn tay ra.

Con người, như một tổng thể nhân loại (đàn kiến), như một giống nòi và một dân tộc, một giai cấp (loài dân Pavian), như một thực thể đã cá nhân hóa (con rắn) đều có thể lạc hậu trở lại. Sự lạc hậu trở lại không có nghĩa là con người dừng lại ở một điểm và cứng đơ, mà có nghĩa là họ phát triển ngược hướng.

Thực thể lạc hậu trở lại, phát triển ngược, trở nên tăm tối là người rừng nguyên thủy, là người da đen hoặc người Papua sống trong rừng rú, là người da đỏ Amazon hoặc giống người ở Bắc-Mĩ. Người Pellah Ai Cập, người Maja vùng Yucatan, người Csimuja và Csibahaja ở Peru vẫn còn nhớ về kí ức tổ tiên từng là các dân tộc sáng suốt, nhưng một lần nữa họ bị chìm đắm xuống mức độ hoang dã và rừng rú.

Toàn bộ các dân tộc nguyên thủy như người Ai Cập và người Maja, đều gặp phải các tai họa thiên nhiên như nhau. Nhưng số phận của mỗi cá nhân con người cũng bị sự lạc hậu trở lại đe dọa sống một cách tách biệt và chủ nghĩa tư hữu chắc chắn dẫn đến sự thoái hóa.

Thậm chí trong đời sống người, cái mà tôn giáo gọi là sự phạm tội thực ra không là gì khác, ngoài: “Sự mong muốn quay trở lại thái độ vô trách nhiệm tăm tối của sự sống vật chất”. Kẻ phạm tội tách mình ra khỏi ánh sáng, và vì tách mình ra khỏi nhân loại vũ trụ phổ quát, nó rơi vào sự tối tăm. Đây là sự tối tăm bên ngoài, mà hậu quả của nó là sự thoái hóa của linh hồn, sự sụp đổ và lạc hậu trở lại.

Truyền thống cho rằng hình thức sự sống của phần lớn loài vật chính là sự suy thoái của các hình thức sự sống người đầu tiên. Kẻ nào dừng lại, kẻ đó biến đổi. Trong thế giới siêu nhiên có những quái vật biến đổi như Dákini ở Tây tạng hoặc Gandharva ở Ấn Độ.

« Lùi
Tiến »