Tư tưởng duy nhất sau đây đánh dấu sự khác biệt của nhân loại thời cổ và nhân loại thời kì lịch sử:
Có thể nhận ra nhân loại cổ trong mối quan hệ giữa vòng quay của thiên nhiên và số phận của các thần linh. Khi con người lịch sử nhìn thấy mối quan hệ như thế nào đấy trong thời cổ, họ nghĩ: chắc chắn chỉ mỗi sự quay vòng của thiên nhiên là vĩnh cửu: đấy là sự đổi chỗ của các mùa xuân, hạ, thu, đông. Và các thần linh chắc cũng chỉ tồn tại trong vòng quay này. Thật ra, tất cả mọi người đều phải sống trong vòng quay của thiên nhiên, kể cả các thần linh cũng thế, họ sống, chết đi rồi lại phục sinh. Hình ảnh cổ của các số phận Gilgames, Bel, Heracles, Oziris, Rama chính là thiên nhiên.
Lời giải thích của con người cổ như sau: đây là viparjaia, là sự lộn ngược ý nghĩa của hiện thực đích thực. Không phải thần linh bằng số phận mình sao chép lại thiên nhiên, mà chính vòng quay của thiên nhiên không là gì khác ngoài bản sao của số phận các thần linh.
Thiên nhiên lặp đi lặp lại không ngừng sự ra đời, đời sống, cái chết và sự phục sinh bởi nó không muốn và cũng không thể tách khỏi hình ảnh số phận các thần linh, thậm chí không có cách nào khác để thoát khỏi hình ảnh này, khỏi con dấu của toàn bộ vũ trụ ấn đóng lên nó.
Không phải Thượng Đế bắt chước mùa xuân phục sinh, mà trái lại thiên nhiên bắt chước sự phục sinh của Thượng Đế, và khi thiên nhiên bắt chước hình thái này, mùa xuân đến. Không phải Thượng Đế nhắc lại trật tự của thiên nhiên, mà thiên nhiên nhắc lại số phận của Thượng Đế từ thời tiền khởi đến nay và sẽ còn nhắc lại mãi đến tận giai đoạn cuối cùng của thời gian.
2.
Từ ví dụ trên, từ tư tưởng được nhắc đến cho thấy khả năng giải thích sự khác biệt giữa cách nhìn của con người cổ và con người thời kì lịch sử là khả hữu. Đặc biệt cần giải thích sự khác biệt không thể phủ lấp lên nhau của hai cách nhìn.
Cách đánh giá và suy nghĩ của con người thời kì lịch sử dựa trên nền tảng của những mâu thuẫn logic; còn cách đánh giá và suy nghĩ của con người cổ dựa trên nền tảng sự tương đồng, trên sự giống nhau (analogia).
Nguyên tắc cơ bản của sự tương đồng như Tabula Smaragdma đã tuyên bố; “Cái gì có ở dưới cũng phù hợp với cái có ở trên; cái gì có ở trên cũng phù hợp với cái có ở dưới”.
Analogia có nghĩa là: giữa tất cả mọi hiện tượng, dấu hiệu, hình dạng, bóng hình, chất liệu, tính chất của thế giới đều có sự giống nhau. Nhưng, giữa tất cả mọi hiện tượng, dấu hiệu, hình dạng, bóng hình, chất liệu, tính chất của thế giới cũng có cả sự khác nhau. Quả thật, trên thế gian tất cả đều khác biệt, nhưng vẫn đồng nhất, tất cả đều như vậy, nhưng sự “đều như vậy” xuất hiện trong những hình thức đa dạng của nó thì đúng hơn. Sự thật này, trong thời cổ người ta gọi là sự tương đồng (Analogia).
Giữa sự chuyển động của các vì sao và số phận con người có sự tương đồng (analogia), giữa đời sống của nhân loại và của từng con người cũng vậy; có sự tương đồng giữa màu sắc và âm thanh, giữa các con số và các hình dạng. Mỗi thứ một khác, nhưng tựu trung vẫn tương đồng với nhau. Đây là đặc tính cá thể, luôn mới nhưng không bao giờ lặp lại, vĩnh viễn. Cái luôn như vậy và là một, không bao giờ thay đổi, cái đó người ta gọi là sự tương đồng (analogia). Và con người cổ nhìn thế giới trên nền tảng tương đồng của những cái khác nhau, tách biệt lẫn nhau.
Để có thể dễ dàng hiểu được cách đánh giá và suy nghĩ của con người thời lịch sử, ta lấy một ví dụ dựa trên khoa tính cách học hiện đại. Giữa các lí thuyết tâm lí học hiện đại, tính cách học nổi bật lên như một lí thuyết xác định ba loại tính cách người: piknikus, leptoszom và atléta.
Loại người mang tính cách piknikus thường tròn trịa đầy đặn, niềm nở, vui tươi; loại người mang tính cách leptoszom thường gầy gò, yếu ớt, hay cáu giận sợ hãi; loại người mang tính cách atléta có thân hình cân đối và tính tình cân bằng, điềm đạm cả về tinh thần lẫn tình cảm.
Loại tính cách atléta cần loại bỏ đầu tiên, bởi vì đây không phải tính cách gốc và độc lập, mà chỉ là loại tính cách thống nhất từ hai dạng tính cách kia. Cần loại bỏ cả tính cách leptoszom nữa vì đây chỉ là sự đối nghịch của tính cách piknikus. Ở đâu piknikus đầy đặn, ở đó leptoszom gầy guộc, ở đâu piknikus tươi tỉnh, ở đó leptoszom rầu rĩ; leptoszom không phải là hiện thực, chỉ là kết cấu đối nghịch một cách logic của piknikus.
Khoa tính cách học đã có từ xa xưa. Cái ngày hôm nay người ta gọi là tính cách piknikus, từng có ở khoa chiêm tinh học Alexandri, xây dựng trên nền tảng của truyền thống Kaldeu, ví dụ khi phân tích về giống người Jovialis, từng cho rằng: đây là hai cung Cự Giải và Song Ngư, mang tính Thủy, chịu tác dụng đặc biệt của sao Mộc và Mặt trăng. Kiến thức chiêm tinh học sâu sắc giải thích tính cách này như một hiện tượng vũ trụ đã từng truyền bá ở Trung Quốc, Tây Tạng, Ấn Độ. Chưa kể đến sự tồn tại của nó trong thuật giả kim.
Nhưng quan trọng hơn, ngày nay trong khoa tính cách học hiện đại người ta nhận ra duy nhất một loại tính cách, nhưng từ đó họ tạo thành ba tính cách. Đấy là loại tính cách: piknikus-joviális-Jupiter-Cự giải. Loại tính cách này là đúng. Loại người này có thực. Nhưng tính cách leptoszom không là gì khác ngoài sự đối nghịch được cấu thành về mặt tinh thần của tinh cách piknikus. Leptoszom phi hiện thực. Không có loại người leptoszom. Đây chỉ là sự phản chiếu, là cấu tạo gương hợp lí của tính cách thứ nhất.
Lối tư duy của con người hiện đại đầy rẫy những kết cấu gương như vậy. Thậm chí lối tư duy đặc thù hiện đại, chủ nghĩa duy lí gần như chỉ xây dựng trên những cặp mâu thuẫn cấu tạo trên khía cạnh tinh thần mà thôi. Đấy là: những người hướng ngoại và hướng nội; những đối nghịch “tinh thần” với “đời sống”; những đối nghịch “thần học” với “tôn giáo”, hoặc “huyền thoại” với “ngộ đạo”, những “duy lí” với “phi duy lí”, những “hamitic” với “etopia”.
Jung, Klages, Sorokin, Keyserling, Bergon, Frobenius và toàn bộ lối tư duy hiện đại đã mắc sai lầm khi nhận thức hiện thực nằm trong một hình ảnh duy nhất, họ đã tạo ra một hình ảnh gương bằng phương pháp duy lí và tin rằng hình ảnh gương này là sự bổ sung đúng đắn với hiện thực gốc.
Thực chất, tính cách người duy nhất chỉ hướng vào trong, và điều này không đối nghịch với con người hướng ngoại, mà đối nghịch với quá trình hướng ngoại, là thứ không bao giờ xuất hiện trong tính cách điển hình của con người. Cũng như vậy với animus và anima của Jung. Cũng như vậy với Seele và Geist của Klages, và văn hóa sénate và idealistic của Sorokin.
3.
Con người cổ tư duy trong những sự tương đồng. Sự tương đồng (analogia) cho rằng giữa những thay đổi của thiên nhiên và số phận của Thượng Đế có sự giống nhau.
Analogia cho rằng bầu trời sáng rực rỡ là hình ảnh tượng trưng của sự thức tỉnh tâm lí; Mặt trời không là gì khác, ngoài vị thần của ánh sáng; mùa xuân có nghĩa là thiên nhiên sống trong phép mầu của thần thánh tái sinh, được sinh ra. Mùa hè có nghĩa là sự thánh thiện nở hoa, mùa thu là sự thần thánh héo mòn đi và mùa đông là sự thần thánh mất đi và lại phục sinh bằng xuân sang.
Analogia cho rằng có sự liên quan giữa những tính cách và chất lượng của linh hồn, giữa những nguyên tố cổ và các kim loại; có sự tương đồng giữa các nguyên tắc siêu hình học và các con số, như Kinh Dịch, thần học Ai Cập và Pitago đã đề cập; có sự tương đồng giữa ba chất lượng cơ bản của thế gian mà kinh Veda đã nói đến là szattva, radszasz, tamasz và các đẳng cấp của cộng đồng người; có sự tương đồng giữa vị trí vũ trụ và tính cách con người như chiêm tinh học đã nói tới.
Nhận thức tương đồng không do hoạt động logic của duy lí mà do ấn tượng sâu sắc và thuần túy của sự nhạy cảm quyết định. Những tương đồng này do manas, giác quan bên trong trải qua. Sự trải qua, sống qua này diễn ra như sau: manas ghi nhận một cách trực tiếp mối quan hệ lẫn nhau của thấu giác bên trong và những hình ảnh bên trong trải ra trước nó.
Sự trải qua này trực tiếp: có một mối quan hệ không thể giải thích nổi về mặt logic giữa các nguyên tắc siêu hình học và các con số; mối quan hệ không thể giải thích nổi như thế tồn tại giữa sự khởi đầu và sự vô tận (apeiron) của thế gian (theo Anaximandros) hoặc như giữa bà mẹ cổ của các sự vật và “nước” (theo tuyên bố của Thalés).
Để có thể rõ hơn về lối tư duy tương đồng, cần quay lại một lần nữa với con người thời kì lịch sử. Con người thời lịch sử không tư duy trong hình ảnh, mà trong các mâu thuẫn duy lí, vì thế nó hoàn toàn đui mù so với con người cổ.
Hoạt động tư duy của con người hiện đại trừu tượng và phi hiện thực. Kết cấu gương là thứ không có thật. Kết cấu gương, kết quả của lối tư duy trong các mâu thuẫn mang tính khái niệm, hay nói cách khác là lối suy nghĩ không hình ảnh, mù mịt, hư cấu, phi trọng tâm và trống rỗng.
Các mâu thuẫn trong hiện thực đơn giản là không hề có. Hiện thực có cái gì? Có đúng một thứ: sự khác biệt. Đặc điểm của thế gian không nằm trong các mâu thuẫn mà nằm trong sự khác biệt.
Công thức của mâu thuẫn; khái niệm và khái niệm ngược lại. Cả hai cộng lại là bản thân sự vật và hình ảnh phản chiếu gương của nó.
Công thức của sự khác biệt: là sự vô tận của những tương đồng và khác nhau của thế gian. Là sự khác biệt theo thang bậc của chất lượng và số lượng. Mọi cái giống nhau đều khác biệt và mọi cái khác biệt đều giống nhau, nhưng như sau: cái giống nhau không bao giờ trùng vào nhau thành MỘT và cái khác nhau không bao giờ biến thành trái nghịch lẫn nhau. Mâu thuẫn, sự trái ngược không phải là tính chất của hiện thực và thế giới, nó chỉ thuộc về trí tuệ trừu tượng.
Trong hiện thực, mức độ không thể đếm xuể của các vật, sự việc, các con người, các sự kiện, các tư tưởng, các sinh linh, các hình ảnh tồn tại đều hòa hợp với cái nằm xa nó nhất bằng một cái gì đó hoặc nằm trong cái gì đó, thậm chí tất cả đều tương đồng với cái khác, bởi: “Cái gì có ở trên, không khác cái có ở dưới”. Nhưng vẫn khác biệt với ngay cái nằm gần nó nhất. Thấu giác-tương đồng là sự nhạy cảm với cái tương đồng và cái khác biệt.
4.
Trong thời cổ, nhận thức của con người không phải là một kết cấu khái niệm của những tính chất trừu tượng, mà là sự cá biệt hóa và mang tính di truyền. Nhận thức này sau này người ta gọi nó là sự huyền bí, là huyền học.
Để hiểu ra điều này cần biết, trong thời cổ những sức mạnh của thế giới tập hợp lại ở những điểm thắp sáng. Những điểm thắp sáng này giống như các trung tâm sức mạnh thể hiện cường độ khác nhau của các khả năng tác động ít ỏi của đời sống con người. Các trung tâm sức mạnh nằm ở cả hai thế giới: trong thế giới hữu hình như các hành tinh, mặt trời, mặt trăng, các thiên thể, trong thế giới vô hình như ma quỷ, thần linh.
Sự sống của con người phụ thuộc vào những tác động của các trọng tâm sức mạnh hữu hình và vô hình này. Có thể nhận biết về các trung tâm này. Nhưng kinh nghiệm nhận biết không mang tính chất khái niệm, hay duy lí mà mang tính trực giác, huyền bí và trực tiếp. Kinh nghiệm trực tiếp là thấu giác của các ý tưởng và hình ảnh cổ. Thấu giác trực tiếp này người Hi Lạp diễn tả bằng từ teoria (nguyên lí). Bởi vì gốc của từ teoria không phải là lí thuyết duy lí mà có nghĩa là thấu giác trực tiếp của ý tưởng và Thượng Đế.
Kiến thức của con người cổ cũng là nguyên lí của thế giới vũ trụ; còn tâm lí học hiện đại không là gì khác ngoài một hệ thống duy lí cấu thành từ những đặc tính trừu tượng và không liên quan đến con người.
Con người hiện đại tư duy trong các mâu thuẫn. Còn con người cổ luôn: phân biệt. Phân biệt từ các quan hệ lẫn nhau, và cá biệt hóa trực tiếp các trung tâm sức mạnh nó nhận thức và đã trải qua. Nhưng sự phân biệt không tùy tiện như sau này người ta vẫn tưởng thế. Mà theo những sức mạnh siêu việt của thế gian, Các Thế lực, những thực thể thần thánh. Nền tảng của sự cá biệt hóa này dựa trên các thực thể siêu hình học-huyền bí-vũ trụ, nhưng các thực thể này cùng lúc cũng là các thực thể cá biệt. Những thực thể này là các hiện thực tồn tại ở mức độ cao hơn, các sức mạnh, các lực lượng, các Thế lực, các thần linh.
Tự bản thân con người không thể hiểu. Chỉ ý thức hiện đại biến thành sự độc lập phi luật mới có thể nghĩ như vậy. Nhưng định mệnh đã chứng minh: cái con người biết không phải là hiện thực, chỉ là hình ảnh gương của riêng nó. Đấy là ý nghĩa cuối cùng của cơ cấu gương.
Chỉ một loại ý thức cao hơn, dành cho các sức mạnh siêu nhiên mới có khả năng phán xử con người. Nếu con người mở ý thức của nó ra với thế giới siêu nhiên, nó sẽ từ biệt sự tự chủ của nó. Ý thức đó sẽ mang tính Thượng Đế, tính vũ trụ, tính biểu trưng. Trong cái ý thức này, tất nhiên không phản ánh một kết cấu duy lí cá nhân mà chứa đựng tất cả: vũ trụ, luật lệ, các biểu trưng, hiện thực và sự sống.
Con người không phải là một sinh vật độc lập mà là một nơi ẩn náu của các thế lực và sức mạnh vũ trụ; ý thức không mang tính chất đơn độc mà là một vị trí đã đóng dấu của những lực lượng siêu nhiên. Bởi vì “tüposz” là một từ quan trọng nhất của ý thức khi nói về con người: nó có nghĩa là con dấu. Tüposz là một linh hồn đã được đóng dấu vĩnh viễn.
Con người thể hiện và đại diện cho những sức mạnh và những thế lực đã đóng dấu lên nó, con người sống như thể những sức mạnh và những thế lực này tiêu thụ nó, dẫn dắt nó, lay chuyển nó, quyến rũ nó, ngáng đường nó, nâng nó lên, đè dúi nó xuống và thống trị nó. Con người sống giữa vô vàn phép mầu. Những phép mầu này là những hình thù phù phép. Và các cá biệt phù phép này thật hay giả tùy theo linh hồn có nhầm lẫn mình với chúng ( adhjasa) hay không.
Nhưng điều này chưa đủ. Bởi vì con người không chỉ mang cả thế gian trong nó một cách đặc trưng mà còn để lại di sản thế giới như một lịch sử trong bản thân nó. Ở điểm này không được phép lẫn lộn sự phát triển với sự di truyền. Sự phát triển là một khái niệm trừu tượng hiện đại; di truyền là một lịch sử thế giới mang tính vũ trụ phổ quát.
Một cách di truyền, con người thể hiện và đại diện cho một bến đỗ đã xác định một cách nhất định, đại diện cho một hình ảnh, một ranh giới đã xác định trong một hoàn cảnh nhất định. Trong cá nhân con người cái quan trọng nhất là hoàn cảnh cực đoan. Cái cơ bản trong chúng ta không phải chúng ta có những đặc tính gì, mà là những đặc tính của chúng ta trong sự thống nhất, trong tổng thể như thế nào đứng nổi bật trên đỉnh cao nào của sự sống như một giới hạn tuyệt đối, mà không được phép bước tiếp.
Cá biệt hóa là vị trí cuối cùng. Vị trí giới hạn. Khuôn mặt hoặc bàn tay thể hiện vị trí giới hạn này. Điều này không thể lặp lại lần nữa: chỉ một. Điều này không thể bắt chước. Đấy là sự xác định, là đặc tính.
Ý nghĩa của sự xác định đặc thù này mang tính eskatologia (tận thế). Tất cả mọi người đứng ở đó, nơi toàn thể nhân loại ra đi, nhưng là nơi cần phải đứng lại, bởi vì: không có sự tiếp tục. Đây là cái chấm dứt của từng cá nhân con người. Bởi vậy Saint-Martin nói, trong lịch sử thế giới một con người duy nhất cũng không thể thiếu vắng.
Con người là một thí nghiệm vĩnh cửu: vừa là vĩnh cửu, vừa là thí nghiệm, là bến đỗ sau cùng không thể quay ngược trở lại. Theo Ziegler con người là một giai đoạn trên con đường Người Vĩnh cửu. Bởi vì NHIỀU không là gì khác ngoài là một thí nghiệm, cái bị mất cùng MỘT trong chất lượng sự sống được bù đắp và điều chỉnh bằng số lượng. Và tất cả các cá nhân đều là một thí nghiệm, để cùng toàn thể tạo dựng ra cường độ sự sống, thứ từng tồn tại trong TỔNG THỂ cổ, và như vậy có thể quay trở về cái TỔNG THỂ.
Đây là điều người ta hiểu trong thời cổ về tính cách học (karater). Tính cách là khuôn mặt cá nhân, vĩnh cửu, hay dùng từ khác: là khuôn mặt của Thượng Đế, là bức vẽ của vị trí giới hạn sau cùng của sự sống. Bên cạnh tüposz (dấu ấn) đây là hình ảnh cơ bản khác của kiến thức về con người. Tüposz nghĩa là dấu ấn của các sức mạnh, còn tính cách là hình ảnh cá nhân bất tử.
Theo những điều trên đây bản chất cá nhân của con người không chỉ thiêng liêng theo linh hồn, mà còn thiêng liêng lần nữa với dấu ấn, bị đóng dấu, và thiêng liêng lần thứ ba với tính cách, hay bị buộc vào hoàn cảnh nhất định của giới hạn sự sống, bởi hoàn cảnh này là giới hạn siêu việt.
5.
Nếu con người hiện đại có ý muốn thu thập kinh nghiệm về hình ảnh cổ trực tiếp của thời cổ, xuất phát điểm chỉ có thể là Hi Lạp.
Điều này không chỉ vì hình ảnh cổ trong các ý tưởng của Platon gần gũi nhất với con người hiện đại, mà trong một số trường hợp nhất định, dù quá sức để hiểu đi chăng nữa, vẫn có thể hiểu được. Nói như vậy chủ yếu vì trong di sản Hi Lạp các hình ảnh cổ bản thân chúng đã tự nói lên tất cả.
Thần thoại Hi Lạp, truyền thuyết, bi kịch, siêu hình học, điêu khắc, kiến trúc không là gì khác ngoài sự miêu tả các hình ảnh cổ. Các vị thần, những người anh hùng, các số phận bi thảm, những hình ảnh của các nhà tư tưởng trước thời của Socrat: là nước, là lửa, là sự vô tận, con số, nguyên tử, toàn bộ kí hiệu của sự sống, là ý nghĩa và bí ẩn đích thực của chúng: ý tưởng, hay chính là hình ảnh cổ bộc lộ ra từ đó.
Tất cả, những gì có trước di sản Hi Lạp, đối với con người hiện đại không thể, hoặc rất hãn hữu mới có thể hiểu được, ngoại trừ có lời giải thích; một phần di sản Do Thái, Iran, Trung Quốc, Ai Cập người ta không theo kịp nổi; di sản Mĩ cổ chỉ còn lại trong những mảnh vỡ nhỏ không đáng kể.
Trong thời kì, khi “các thiên thần vẫn còn đi lại trên trái đất”, có một quan niệm chung cho rằng dưới hình thái bệnh lí mang tên sự minh mẫn (clairvoyance) người ta có thể nhận ra các di sản này như một cá biệt.
Giữa những dấu hiệu mô tả nhận thức về thời cổ, quan trọng nhất là thế giới giác quan phi giới hạn đối với nhận thức. Các sinh linh, sự vật, sự việc không phản ánh ngược lại nhận thức của con người, mà người ta gán chúng thêm vào nhận thức mà thôi; cùng với điều này tất nhiên tầm nhìn của con người cũng không chỉ là tầm thị giác cảm giác.
Thế giới vật chất không phải là một loạt các sự vật tách khỏi nhau; và chủ yếu chúng không phải một loạt các sự vật có hình thù đã xác định, tách rời nhau. Không có giới hạn rõ ràng bởi vật chất không có giới hạn.
Có những nhà huyền học cho rằng trong thời gian cổ bản thân thiên nhiên cũng không ở trong hình dạng hoàn toàn vật chất. Nói một cách khác: Thiên nhiên lúc đó phóng những sức mạnh thiêng liêng chứa ẩn trong nó một cách tự do hơn. Sự vật lúc đó hữu hình hơn: đó là ý tưởng. Trong hiện thực, ma quỷ và thần linh vẫn còn hữu hình.
Dấu hiệu quan trọng nhất nói về con người cổ: đây là giả thiết trong mọi khoảnh khắc, con người cổ mang sự nhạy cảm về thế giới siêu hình ở mức độ cao hơn rất nhiều so với con người hiện đại. Đời sống của con người cổ chưa bị khóa kín như đời sống của con người hiện đại: con người cổ gần như tiếp cận thành công vào sự sống mở, và toàn bộ sự sống thống nhất không chỉ có thể tiếp cận mà còn có thể nhận thức.
Thấu kính của con người cổ không chỉ vỡ ra bên trên bề mặt lớp vỏ vật chất, mà còn xuyên thấu qua các thực thể và các lớp phủ. Bởi vậy nó đủ khả năng thấu thị xuyên qua quá trình cá nhân hóa, và thấy một cách truyền tiếp, di truyền: trong các sức mạnh nó nhận ra các Thế lực và các thần linh (arkhai, dünameisz), nhưng cũng nhận ra cả cội nguồn.
Và thế là con người dù có quay cuồng thế nào đi chăng nữa, bắt buộc phải nhận ra nhận thức này so với nhận thức muộn mằn của thời lịch sử không những sâu sắc hơn, trí tuệ hơn mà còn chân thực hơn.
Ví dụ nhận thức thi ca của thời lịch sử chân thực hơn nhiều so với nhận thức các khái niệm duy lí. Rất có thể, trong thời kì lịch sử nhận thức hình ảnh cổ, hay còn gọi là nhận thức siêu hình học của sự sống vượt cao hơn các giới hạn vật chất, và được giữ gìn trong nghệ thuật và thi ca. Lối nhận thức như thời gian trong truyền thống theo Guenon ngày nay chỉ có thể tìm thấy trong lĩnh vực nghệ thuật.
6.
Tất nhiên, sự lu mờ ngày càng tăng lên của nhận thức trong quá trình lịch sử đi song song với sự suy giảm nhận thức xuất hiện trong ngôn ngữ. Nhận thức và ngôn ngữ có quan hệ gắn bó với nhau, cần đề cập thật đầy đủ về mối quan hệ gắn bó này trong nhận thức của con người cổ.
Kinh nghiệm trực tiếp về nhận thức của con người cổ chúng ta không có. Những gì ta biết chỉ được phản ánh từ ngôn ngữ cổ. Ngôn ngữ cổ cũng giống như nhận thức cổ trí tuệ hơn, sâu sắc hơn và vì vậy chân thực hơn. Nó không nêu lên các khái niệm sự vật mà diễn tả các kí hiệu tượng trưng, các hình ảnh cổ. Nó trình bày hiện thực của sự sống mở; ngôn ngữ siêu nhiên của nó phù hợp với nhận thức siêu nhiên.
Ngôn ngữ cổ phong phú vô hạn như nhận thức cổ: các hình ảnh, các mối liên hệ, sự đồng dạng, sự khác biệt, cường độ, độ sâu sắc là những kết cấu dày đặc và sống động, mà ngày nay ngay một thứ ngôn ngữ thi ca sống động nhất cũng chỉ thể hiện nổi trong những phần rất nhỏ.
Một điều rất đơn giản ví dụ con người cổ khi diễn đạt đặc tính của linh hồn bằng từ con bướm, không phải họ nói về sự giống nhau của linh hồn và loài sâu bọ này, mà trước hết nói về sự thẩm thấu hóa các sức mạnh thần thánh trong tự nhiên: con bướm không phải một loại sâu bọ, mà là sự biểu lộ của Thượng Đế, giống như sự xuất hiện chung của sự sống Thượng Đế trong loài động vật.
Nhưng con bướm không phải là một từ mang tính chất biểu trưng mà là một chìa khóa mở cánh cổng dẫn đến và phơi bày bản chất Thượng Đế trong loài bướm, linh hồn Thượng Đế xuất hiện một cách hiện thực trong hình hài con bướm.
Sự hiện thực hóa này cũng liên hệ đến các sự vật khác rất chặt chẽ: thanh kiếm là lời phán xử, là tinh thần sống động của Thượng Đế; kính đeo mắt là ảo ảnh và sự mê hoặc; sự lấp lánh của các ngôi sao tượng trưng cho hành động chỉ đường từ bóng tối đi ra; cái thang là sự nỗ lực, hoa huệ là sự xuất hiện của ánh sáng mặt đất, con đại bàng hai đầu là quyền lực siêu nhiên.
Hình ảnh tượng trưng của sự vật - hình ảnh tượng trưng của sự sống mở Thượng Đế: từ ngữ là chìa khóa, để giải mã và thể hiện ý nghĩa của các tượng trưng này.
Con người hiểu đặc thù của ngôn ngữ cổ từ một khía cạnh đặc biệt của thế gian mà truyền thống gọi là sự phạm tội, gọi cách khác là sự bắt đầu quá trình vật chất hóa thế gian.
Lời cổ là lời của Thượng Đế. LỜI của tạo hóa. Là logo-biểu trưng. Bởi vì thế giới xuất hiện từ sự biểu lộ của LỜI. Sức mạnh tạo dựng của Thượng Đế nằm trong ngôn ngữ. Sách thiêng Do Thái cũng nói đúng như tri thức Ai Cập: Ptah, thần linh tạo hóa tạo dựng bởi cái miệng. Bởi vì LỜI là bản thể Thượng đế.
Trên cửa nhà thờ Edfu có tấm bảng ghi chú như sau: “Tất cả những gì có đều do lời của người mà ra”. Đặt tên chỉ có nghĩa bấy nhiêu: tạo dựng, ở Babilon khởi thủy của mọi khởi thủy khi “cả trời lẫn đất đều chưa có tên”.
Điều con người cổ muốn nói bằng những từ ngữ này, rất ít người hiểu. Con người ngày nay hiểu ngôn từ một cách bề ngoài, như cách thức họ hiểu về thế giới. Con mắt hướng về nhận thức cổ mơ hồ khiến con người không thể nhận thức đúng về hiện thực.
Con người chỉ nhìn thấy tấm chăn phủ bên ngoài của ngôn ngữ, còn cái bên trong nó không hiểu, và đấy là sự mê muội đáng nguyền rủa của nó. “Thật tiếc cho kẻ - kinh Kahbala nói - chỉ nhìn thấy những câu chuyện đơn giản trong những từ ngữ thiêng liêng, những lời một kẻ nào đó nói bằng ngôn ngữ thường ngày… ngôn từ của Viết cất giấu bí ẩn thiêng liêng và sâu sắc… viết cũng có cơ thể của nó… đó là pháp luật, là mệnh lệnh, là lịch sử, nhưng đấy cũng mới chỉ là cơ thể. Tất cả các từ còn có một ý nghĩa cao hơn”.
Và con người hiện đại, thay vì đi tìm ý nghĩa cao hơn trong viết, họ lại sở hữu ý nghĩa thấp hơn của ngôn từ.
Trong từ ngữ cổ, từ đầu tiên là LỜI tạo hóa - logo cổ, không là gì khác ngoài sự biểu lộ hình ảnh cổ của thế giới lóe lên trong tinh thần của TẠO HÓA. Trong lời tuyên ngôn, sự biểu lộ này cần phân biệt hai điều.
Thứ nhất: Cái người Hi Lạp gọi là pneuma, người Do Thái gọi là EL Ruah, người Ấn Độ gọi là prana là cái trong Kinh Thánh viết: NGÀI thổi linh hồn vào con người. Đấy là hơi thở: là linh hồn sống động, biểu lộ trong lời, và truyền tải hơi thở ngôn từ vĩnh cửu của Thượng Đế xuống thế gian. Bởi: thế gian xuất hiện do Lời. Pneuma, prana luôn mang ý nghĩa siêu nhiên. Mọi yoga cổ đều hiểu và thực hành điều này. Hơi thở trong vũ trụ là sự thể hiện của tinh thần Thượng Đế tỏa ra.
Người Mexico cũng biết điều này khi họ nói “dân chúng sống bằng lời của vua”, ở Babilon “lời của giáo chủ có quyền lực hơn gươm hai lưỡi”. Trên cổng nhà thờ một dòng chữ đón người ra vào: Kibi balati - nghĩa là: hãy nói đời sống của mi, hay: bằng lời mi hãy tạo dựng đời sống của mi.
Thứ hai: trong Lời cổ của Thượng Đế - Đấng Tạo Dựng còn quan trọng hơn điều thứ nhất, không mở ra phương cách biểu lộ mà nêu ý nghĩa tượng trưng của Lời đã cất lên lúc đầu tiên. Và tất nhiên Lời đã cất đầu tiên không là gì khác ngoài là nguồn cổ của tất cả các ngôn ngữ, đóng dấu lên nguồn gốc của tất cả các ngôn ngữ và các từ.
Điều thứ hai này là TẠO HÓA cất lời từ mức độ cao nhất của sự tỉnh táo. Tỉnh táo không phải là khả năng duy lí mà là sự nhạy cảm cao độ của sự sống; sự nhạy cảm cao độ của sự sống là cái người ta gọi là tình yêu thương.
Tình yêu thương chỉ được hiểu trên bình diện đời sống con người khi cái TÔI tắt hoàn toàn và linh hồn con người mở về phía sự sống vũ trụ. Từ phương diện giản dị nhất có thể nói như sau, trong một khoảnh khắc tạo dựng khi TẠO HÓA cất ngôn từ cổ, cái TÔI trong TẠO HÓA tắt đi trong khoảnh khắc, và hình ảnh cổ của sự sống vũ trụ như một THẾ GIAN bỗng vụt sáng ngời.
Cùng lúc đó Thế gian như một đối tượng của tình yêu thương vĩnh cửu tỏa sáng trong tìm Thượng Đế và cháy lên thành ngọn lửa. Đấy là sự tạo dựng. Đấy là sự tạo dựng từ tinh thần của tình yêu thương. Bởi như Zarathustra nói: “Chỉ có tình yêu thương lên tiếng”. Chỉ có tình yêu thương tạo dựng. Chỉ tình yêu thương nhìn thấu. Chỉ tình yêu thương tỉnh táo.
Trong mọi gốc rễ của từ ngữ mức độ cao nhất của sự tỉnh táo là tình yêu thương. Khi Lời vang lên bất kì ở đâu, bất kì lúc nào, bất kì từ miệng ai: kẻ nói chân thực chính là tinh thần của tình yêu thương. Sự biểu lộ này chỉ phát ra từ cái TÔI đã tắt. Bí ẩn của tình yêu thương là: “Người yêu chuyển đổi thành bản chất của kẻ nó yêu” (Ibn Arabi). Bí mật của sự tạo dựng là Tạo hóa trong sự bí ẩn của tình yêu thương biến đổi thành bản chất Thế gian. Cái giữ gìn sự bí ẩn này: Lời.
Lời tuyên ngôn (Đấng Biểu Lộ) bộc lộ Lời cổ của Thượng Đế. Về điều này đối với con người hiện đại, lại một lần nữa cần phải giải thích rõ ràng. Lời tuyên ngôn không phải là một tuyên bố thần thánh kì diệu hoặc tương tự mà người ta thường nhầm hiểu là một sự kiện duy nhất và kì lạ xảy ra giữa những điều kiện huyền bí bên ngoài. Lời tuyên ngôn con người chỉ có thể trải qua trong trạng thái tự thức tỉnh từng mức độ, như trải qua một ngộ giác thần thánh (teoria) và như một tiếng nói bên trong chợt sáng lóe lên.
Bởi vì lời tuyên ngôn không bí mật và không giấu giếm, mà là âm thanh vũ trụ đến với vũ trụ trong sự phản chiếu mở toang như ánh sáng mặt trời. Tại sao con người không đến được với lời tuyên ngôn (Đấng Biểu Lộ) của vũ trụ Thượng Đế? Bởi con người đã lao xuống dưới, xuống sự u tối đầy lầm lẫn. Những lời tuyên ngôn được giữ gìn trong các cuốn sách thiêng là trạng thái ở mức độ cao nhất của con người, khi con người quay lại trạng thái cổ và một lần nữa biến thành ý nghĩa Thượng Đế.
Kinh thánh, Veda, Zend Avesta, Bundajisn, Hermes Trismegistos, Manu, Kinh Dịch đều dạy về điều này. Khi con người trở nên nhạy cảm với ngôn từ của lời tuyên ngôn, nó không ở trạng thái tách biệt, trừu tượng mà chính lúc đó nó đạt được trạng thái bình thường và hợp lí nhất với trạng thái cổ: quay trở lại vị trí của nó, bên cạnh Tạo Hóa.
Hai đặc điểm của Lời cổ là: hơi thở (prana, pneuma) và sự biểu lộ tinh thần của tình yêu thương. Con người cổ biết về hai đặc điểm này, thậm chí biết nhiều hơn thế nữa về Lời cổ. Ngọn lửa là sự kết hợp của hai đặc điểm này, là lời tuyên ngôn của hơi thở và tình yêu thương, là hình ảnh cổ được biểu lộ cao nhất qua sự tỉnh táo.
Ngọn lửa - ấm và sáng, giống như mọi hiện tượng của thiên nhiên vật chất, chỉ là hình ảnh tượng trưng của thiên nhiên tinh thần cổ. Ngọn lửa trong thiên nhiên tinh thần cổ là hình ảnh kết hợp của sự tỉnh táo Thượng Đế và hơi thở Thượng Đế: là NGỌN LỬA SỨC SỐNG.
Đây là hình ảnh của logo. Là thanh gươm lửa. Về điều này Zarathustra, Heracles cũng truyền đạt lại như Jakob Böhme và Baader. Kinh Veda giải mã điều này trong chương nói về năm loại lửa (pancsagnividja). Ngọn lửa không là gì khác ngoài sự ấm áp chiếu sáng; là hơi thở và tình thương yêu. Bởi vậy bên trong mọi sự vật là logo, nguyên lí của thế gian.
Sau toàn bộ những điều nêu trên, cần xem xét mối quan hệ gắn bó giữa nhận thức và ngôn ngữ, từ các cấp độ sau:
1. Nhận thức cổ phù hợp với ngôn từ cổ: Lời tạo dựng, là thứ đầu tiên; đây là sự tỉnh táo ở cấp độ cao nhất: tình yêu thương.
2. Nhận thức về hiện thực trực tiếp phù hợp với ngôn từ trực tiếp; đây là sự tỉnh táo tổng quát của thế giới, không phải là mức độ cao nhất chỉ mang tính chất tinh thần; đây là mức độ của siêu hình học và của lời tuyên ngôn.
3. Nhận thức hình ảnh cổ có ngôn ngữ cổ phù hợp; đây là mức độ của truyền thuyết.
4. Nhận thức siêu nhiên có ngôn ngữ mang hình ảnh siêu nhiên phù hợp; những ngôn ngữ cổ thông thường nhất: Trung Quốc, Sancrit, Tây Tạng, Mĩ cổ, Ai Cập, Iran, Hi Lạp, Latin; trong ngôn ngữ hiện đại mức độ này được gìn giữ bởi ngôn ngữ của thi ca và huyền học.
5. Nhận thức ý tưởng có ngôn ngữ ý tưởng phù hợp: đây là các nhà siêu hình học, các nhà lập pháp, các nhà tư tưởng: ở đây có ngôn ngữ của Lão tử, Phật, Khổng tử, Heracleitos, Pythagoras, Platon, Sankara.
Những cấp độ nhận thức, hay các cấp độ khả năng của ngôn ngữ phù hợp với các cấp độ của sự tỉnh táo, và tất cả những điều này đều phù hợp với các lớp vỏ bọc của linh hồn người: mọi ngôn ngữ đều mở ra và cắt đứt một tầng vỏ, và trong mỗi tầng vỏ phủ linh hồn đều chứa đựng một lời tuyên ngôn bản thể. Bản thân những cái tên thần linh hút toàn bộ sức mạnh của ngôn ngữ: tên của con người không là gì khác ngoài những tên thần linh đã nhợt nhạt và mờ tối.
Ngôn ngữ khái niệm và ngôn ngữ thông thường phù hợp với lớp vỏ thứ sáu, lớp vỏ vật chất của thiên nhiên; thứ ngôn ngữ vỏ ngoài, hời hợt, phi hình ảnh, nhận thức chỉ là cảm xúc thị giác. Trong thứ ngôn ngữ này thi ca gìn giữ sự nhạy cảm cao độ nhất. “Thi phẩm là lời nói lấp lánh sáng”, Zarathustra từng tuyên bố.
Nguyên tố của thi ca là NGỌN LỬA SỨC SỐNG, là logo-biểu trưng. “Có thể chữa chạy bằng sự thật, có thể chữa chạy bằng pháp luật, nhưng trong mọi sự chữa chạy điều tốt nhất là lời thiêng, lời thiêng rạng tỏa từ trái tim một con người thật sự”.