Minh Triết Thiêng Liêng Tập 1

Lượt đọc: 739 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
II. Sự tỉnh táo
1.

Kẻ canh giữ tinh thần cổ đại là cuốn sách thiêng của Ấn Độ: Veda.

Từ Veda bắt nguồn từ vidja và có liên quan tới từ Latin videre, có nghĩa là nhìn và thấy. Điều đầu tiên Veda nói đến là cảnh và hình ảnh. Không chỉ là hình ảnh con người nhìn thấy ban ngày mà cả hình ảnh trong giấc mơ và trong trí tưởng tượng; có vẻ không chỉ là hình ảnh của các sự vật mà cả nội dung và ý nghĩa của sự vật nữa, cùng tất cả những gì xảy ra, kết nối và tách rời các sự vật.

Bởi vậy nếu giải thích vidja chỉ là nhìn và thấy, ý nghĩa của nó bị thu hẹp. Đúng hơn, vidja có nghĩa là: tri thức, kiến thức.

Guénon theo quan điểm này. Theo ông: Veda là kiến thức về mọi sự vật, sự việc trên thế gian, là kiến thức cổ vĩnh cửu và thiêng liêng. Là kiến thức gốc rễ của trí tuệ về các sự vật. Hiểu như vậy đơn giản và rộng hơn. Nhưng hiện thực còn đơn giản hơn nữa, và tầm quan trọng của nó vô hạn.

Veda (vidja) thực chất có nghĩa là: sự tỉnh táo. Veda bảo vệ sự tỉnh táo, bảo vệ và truyền tiếp; đây là tinh thần của thời cổ, là bản chất của thời gian trước thời lịch sử (trước Công nguyên). Nhiệm vụ của Veda có một không hai, đánh thức, mang lại và duy trì sự tỉnh táo. Không dạy nhìn và thấy, dạy để biết lại càng ít hơn.

Để có kiến thức, con người cần phải thấy; nhưng để con người thấy, cần sự tỉnh táo. Từ một giấc mộng là đời sống người trên thế gian vật chất, Veda đánh thức; nó phá vỡ đời sống khép kín và khai mở đời sống; Nó nêu ý nghĩa đích thực của sự vật, mở mắt cho con người và tuyên bố nội dung đích thực của thế gian. Bởi tác động của những điều Veda tuyên bố không phải là việc con người nhìn thấy và nhận biết hình ảnh của thế gian, mà là; từ cảnh vật, họ thức tỉnh.

2.

Khi Socrates uống cốc thuốc độc, chân tay bắt đầu lạnh dần, cái chết đông cứng đến gần tim, ông còn nói: Các ngươi đừng quên hiến tế con gà trống cho Asclepius.

Ta không bàn tới những lời giải thích xưa về nội dung câu nói trên, các thế hệ sau thường không hiểu. Người ta cố giải thích: những kẻ khỏi bệnh thường dâng vật hiến tế cho Asclepius, và câu nói của Socrates phút lâm chung mang ý nghĩa đó: đời sống được chữa khỏi từ căn bệnh lớn (từ cái chết). Đây là sự biện bạch của Socrates bằng tư tưởng của Schopenhauer.

Con gà trống cần tế hiến cho Asclepius chính là: sự tỉnh táo. Đây là con gà trống xoay trên nóc chuông nhà thờ. Đây là con gà trống gió trên các mái nhà và trong các phù hiệu quý tộc. Và trước khi gà trống cất tiếng gáy, Kinh Thánh bảo, mi sẽ bán đứng ta ba lần.

Ý nghĩa của câu này: trước khi mi thức tỉnh về sự sống toàn vẹn, và hiểu cái gì xảy ra với mi trong toàn bộ hiện thực của sự sống, mi không thể làm gì khác ngoài việc đi theo sự phản bội thường xuyên chống lại Thượng Đế và bản thân. Trên đỉnh núi Ôliu, Chúa bảo khi rút lui để cầu nguyện: “Các con hãy tỉnh dậy và hãy cầu nguyện”. Khi Chúa quay lại, các tông đồ đã ngủ say.

Ở Irán con gà trống có tên Paroderes, đưa con người đến với việc “thực hiện những nhiệm vụ hăng say”. Buổi sáng khi Paroderes cất tiếng gáy, theo Avesta có nghĩa là: “Các ngươi hãy thức dậy và cầu nguyện đi bởi vì Busjasta, con quỷ của sự mê ngủ đang đến để cổ vũ: “hãy ngủ đi, con người, ngủ đi, thời gian của mi chưa tới đâu””.

Tỉnh táo không chỉ có nghĩa như một sự tồn tại tỉnh. Không chỉ có nghĩa như duy trì các giác quan trong sự hoạt động, thấy, nhìn, làm, cử động, có ý thức, biết. Sự tồn tại tỉnh cũng không khác gì một đặc tính khác của giấc ngủ: giấc ngủ trong thế giới giác quan. Và con gà trống, mà Socrates ám chỉ, mà Kinh thánh nhắc đến và có tên gọi Paroderes chính là sự tỉnh táo, gọi sự thức tỉnh từ thế giới giác quan.

Đây là sự tỉnh táo, để thấy và biết rằng thế giới giác quan cũng là hình ảnh mộng. Socrates, khi thuốc độc ngấm dần đến ngực, ông tỉnh giấc từ giấc mộng này. Bởi vậy cần hiến gà trống cho Asclepius vì sự biết ơn, rằng-ông đã thức tỉnh.

Socrates yêu cầu hãy nhân danh mình tế con gà trống, bởi vì đấy là sự vật duy nhất ông muốn mang theo mình, là thứ nằm trong mọi trạng thái của sự tồn tại, trong mọi thế giới có thể, trong vật chất ở đây, trong tinh thần ở kia, giữa các vị thần ở chỗ nào đó và trong cái bất biến vĩnh cửu, thứ duy nhất quan trọng: đấy là sự tỉnh táo của con gà trống.

Bởi vậy trên ngọn tháp chuông nhà thờ có con gà trống. Và những kẻ như đám tông đồ trên đỉnh núi Ôliu, ngủ, và không chỉ buồn ngủ. Những kẻ đó không biết và cũng không thấy gì hết. Mù lòa và vô thức; bởi vì tri thức-sự nhận thức-sự tỉnh táo liên hệ với nhau như tỉnh táo là điều kiện của mọi nhận biết và tri thức. Kẻ nào mù lòa và vô thức, kẻ đó phân vân, dao động, hèn nhát và phản bội. Mi sẽ bán đứng ta ba lần.

Kẻ mù lòa, vô thức và mê muội, kẻ bị con quỷ của sự buồn ngủ đánh lừa, kẻ đó tưởng thời gian của nó chưa đến, cả cuộc đời của nó ngủ quên giữa những hình ảnh của các giác quan và sự tưởng tượng. Khả năng định mệnh của cuộc đời trần thế là con người ngủ ngon lành trong cuộc đời đó. Nếu như không có con gà trống, tất cả mọi người vẫn tiếp tục ngủ.

Tỉnh táo là sự nhạy cảm siêu hình của con người. Meta ta phüszika nghĩa của nó chỉ có ngần này: siêu nhiên. Sự nhạy cảm siêu nhiên, thứ nhìn và thấy và biết những gì giác quan không vươn tới được.

Kẻ tỉnh, là kẻ nhìn thấy, vượt cao hơn các hiện tượng của giác quan, của ý thức, của cảm xúc và của đam mê. Dấu hiệu liên tục của Buddha: sự tỉnh táo hoàn toàn. Nhưng bản thân từ Buddha cũng có nghĩa là sự tỉnh táo tinh thần. Kẻ mơ màng đã tỉnh. Kẻ từ bỏ tất cả các dạng của trạng thái buồn ngủ, không bao giờ ngủ tiếp trong các giác quan, các đam mê, các khát vọng và trong cả cái Tôi khóa kín.

3.

Ở Irán, Avesta nói với thần Mitra như sau: “Hỡi Đấng Mitra cao cả, vị thần nghìn tai nghìn mắt, Người nhìn thấy thế gian vô tận từ muôn hướng, Người không bao giờ ngủ, người thức tỉnh vĩnh viễn!”. Mitra là mặt trời và ánh sáng; bởi vì các vị thần mặt trời và ánh sáng đều là thần của sự tỉnh táo: Orizis, Apollon. Dấu hiệu quay lại của các vị thần tỉnh táo ở Irán; jogaurvah có nghĩa là sự thức tỉnh thường xuyên - ahvafna có nghĩa là sự mất ngủ.

Giấc mơ - hvafna, cùng một từ như tiếng Hi Lạp hupnosz, tiếng Latin somnus và tiếng Sanskrit szvapna, đều có nghĩa là giấc mơ, nhưng cùng lúc có nghĩa là hình ảnh giấc mơ và ảo ảnh (maja) tưởng tượng. Có sự gắn bó chặt chẽ với những hình ảnh mê hoặc của maja-ảo ảnh. Bởi vì Busjasta, con quỷ giống cái của sự mê ngủ không là ai khác ngoài hình ảnh của Kali Tăm tối (Ấn Độ) và Âm (Trung Quốc).

“Sự tỉnh táo là cái tốt nhất trong mọi cái hiện hữu”- Avesta viết. “Hãy thấy bằng linh hồn của các ngươi!”. Khi linh hồn rời khỏi trái đất, nó không mang theo gì ngoài sự tỉnh táo. Zarathustra gọi cái thấy siêu nhiên là csisti và nói đấy là quà của nữ thần cao quý nhất của bầu trời. Nếu csisti mạnh mẽ trong linh hồn, linh hồn dễ dàng bước qua ngưỡng của đời sống. Tại sao? Bởi vì nó tỉnh. Và bởi vì nó tỉnh, nên bên trong nó có tri thức để nhìn thấy mọi hoàn cảnh và nhận biết mọi hoàn cảnh.

Cuốn Tử thư Tây tạng viết, khoảnh khắc của cái chết mở ra khả năng cho tất cả mọi người bước vào thiên đường cao nhất, với thời gian không nhiều hơn thời gian một kẻ ăn trưa. Một ánh sáng chói lòa tiếp nhận linh hồn di chuyển khiến linh hồn choáng váng và rên rỉ. Nhưng thật thảm hại cho nó nếu nó run rẩy và bắt đầu sợ hãi! Thật thảm hại cho nó nếu nó không nhận ra, ánh sáng này không là gì khác, ngoài là hình ảnh cổ thần thánh tỉnh táo của con người: sự Thức Tỉnh vĩnh cửu.

Nếu linh hồn chưa đủ tỉnh táo, nếu bắt đầu run sợ, co rúm lại, quay đi, hoặc rơi vào mê muội, linh hồn sẽ nhầm lẫn, nó không thể bước vào ánh sáng vĩnh cửu, vào sự Thức Tỉnh thần thánh. Bởi vì; “Sự tỉnh táo là cái tốt nhất trong mọi cái hiện hữu”. Linh hồn đờ đẫn, vô thức và hèn nhát rơi xuống, một lần nữa rơi vào vòng quay vô tận của những hình ảnh mộng. Sự tỉnh táo của con gà trống không đủ mạnh trong nó. Nó không thể thức tỉnh.

Ở Ai Cập, trên con đường âm thế, linh hồn sẽ gặp gỡ các quái vật khủng khiếp và các vị thần mê li đổi chỗ cho nhau. Kẻ nào không tỉnh sẽ sợ hãi trốn tránh trước quái vật và vui mừng với các vị thần. Linh hồn mê muội và vô thức không biết rằng ở âm thế ban đầu nó đi giữa những bóng ma mang hình ảnh của thế giới cảm xúc, ở đó nó vật vờ trong một thời gian vô hạn giữa những hình ảnh của trí tưởng tượng riêng của nó và những hình ảnh của giấc mộng, trong tiền sảnh đích thực của âm thế, giữa những cái bóng, ở Hádes, như người Hi Lạp nói, hay ở Seol như người Do Thái nói.

Linh hồn đau đớn vì bị cá sấu cấu xé và bản án âm thế treo trên đầu nó, đợi ném nó vào lửa. Nhưng kẻ nào tỉnh, sẽ quỳ xuống trước những hình ảnh đó và cầu nguyện: “Hỡi cá sấu vĩ đại, ta chính là ngươi! Ngươi, Horus rạng ngời vĩ đại, ta là Horus!”. Và kẻ nào nhận ra nó đang đi giữa các hình ảnh, kẻ đó sẽ đến Orizis, sẽ bước vào đất nước của ánh sáng. “ Sự tỉnh táo là cái tốt nhất trong mọi cái hiện hữu”.

Từ csisti có nghĩa là “khả năng thấy”. Từ “thấy” này cần hiểu theo nghĩa bóng, giống như từ vidja trong nghĩa bóng là sự tỉnh táo, và sự tỉnh táo này trong nghĩa bóng là một khả năng, là sự nhạy cảm siêu hình. Spenta Mainju, tên gọi thường xuyên của đấng Đại Minh; ahvafna, sự tỉnh. Ở Irán là dấu hiệu của thần ánh sáng, ở Ấn Độ là của Buddha và ở Judea là Zebaoth. Tất cả đều có nghĩa là sự tỉnh táo.

Linh hồn rời trái đất là chuẩn bị từ bỏ thế giới vật chất, và muốn bước sang thế giới tinh thần. Bước vào những thế giới có thể tự do chọn lựa cao hơn trong thời cổ cần đi qua chín cây cầu; nhưng tám cây bị gãy, chỉ cây cầu Csinvat còn trụ lại. Khi linh hồn đến bên cầu Csinvat một cô gái cực kì đẹp đi từ xa đến. Cô gái đấy là daéna, không là ai khác ngoài một nửa của lứa đôi đích thực của cái Tôi trần thế con người, là cái Tôi Thượng Đế.

Đặc tính cao nhất của cái Tôi trần thế là csisti, sự tỉnh táo. Và khi linh hồn nhìn thấy daéna, nó nhận ra, nó còn là sự tỉnh táo của cái Tôi Thượng Đế. Cô gái đẹp rực rỡ đó là sự tỉnh táo bất diệt. Cũng chính là nguồn ánh sáng mà cuốn Tử thư Tây tạng nói đến. Trong một khoảnh khắc trên cây cầu Csinvat, sự tỉnh táo rực rỡ tỏa ra từ cái Tôi trần thế gặp gỡ sự tỉnh táo rạng rỡ tỏa ra từ cái Tôi Thượng Đế.

4.

Sau các tiên đề và các tương đồng, giờ đây ta có thể đi vào bản chất, có thể quay lại với kinh Veda và phân tích chương Isaupanisád của Veda.

Đây là các trích đoạn của chương này: “Thế giới và tất cả những gì sống đều chìm ngập trong sự tồn tại của Thượng Đế. Kẻ biết từ bỏ, kẻ đó có niềm vui. Cái của người khác, mi đừng mơ ước.

Hãy để đám đông rên rỉ, hãy để họ chúc tụng họ cuộc đời trăm tuổi. Bởi niềm vui đích thực là của ngươi. Đừng hám lấy niềm mong ước trần thế.

Những sức mạnh ma quỷ che đậy thế giới này và phủ bóng tối mù lòa bao trùm lên sau cái chết, những kẻ mất linh hồn sẽ sa xuống đây.

Kẻ biết duy trì những sinh linh sống trong bản thân, giống như duy trì các phần của cái Tôi, của bản thân trong tất cả những gì nó sống, kẻ đó không bao giờ biết sợ hãi, không sợ cái chết và cả những cái khác.

Bởi kẻ là cái Tôi của mọi sinh linh sống, đã thức tỉnh; và nỗi buồn phiền và lo lắng đọng ở đâu, nếu mi thấy tất cả là MỘT?

Những kẻ vô thức vật vờ trong bóng tối mù lòa, nhưng những kẻ tích lũy kiến thức cho kiến thức còn vật vờ hơn trong bóng tối dày đặc hơn.

Con đường dẫn tới một nơi khác, khác nơi kiến thức hoặc phi kiến thức dẫn dắt. Những bậc thầy lớn của thời cổ đã dạy như thế, những người mà bao lời dạy của họ còn để lại cho chúng ta. Kẻ nào biết rằng, có kiến thức hoặc phi kiến thức đều không đủ, cần phải bước qua cái chết bằng nhận thức đúp này, chỉ kẻ đó bất tử.

Bước vào màn đêm dày đặc là kẻ tin rằng nó biến thành hư vô; nhưng kẻ cho rằng sẽ trở thành một cái gì đó, kẻ đó còn bước vào một màn đêm dày đặc hơn.

Trở thành một cái gì là điều khác với việc trở thành hư vô. Các bậc thầy thời cổ đã dạy như thế, và truyền thống còn lại với chúng ta cũng như thế.

Kẻ nào biết, không có chuyện trở thành một cái gì đó, nhưng hư vô hóa cũng không, và với nhận thức đúp này bước qua cái chết, chỉ kẻ đó bất tử”.

Trước hết cần tách ra những phần phụ. Câu nói đầu tiên mang ý nghĩa thiền quán thông thường, hai đoạn tiếp theo của câu đầu tiên đòi hỏi sự trong sạch của đạo đức. Linh hồn vấy bẩn vô ích thử thức tỉnh.

Phần thứ ba là một hình ảnh dẫn luận quan trọng: sự tăm tối của thế gian. Đây là sự tăm tối ta đã bàn lúc trước, nữ thần Kali, khí Âm, Maja-ảo ảnh. Bóng tối là nơi không ánh sáng. Ánh sáng là mặt trời, Ahura Mazda, khí dương, Orizis, Apollon, Brahman, vị thần của sự thức tỉnh. Linh hồn con người trong bóng tối thiu thiu một cách mù lòa và vô thức, giữa những ảo ảnh ma quái và những hiện tượng mê hoặc. Nhưng ảo ảnh và mê hoặc đều là một; cả hai đều là biến hóa của ảo ảnh.

Đây là giai đoạn nguy hiểm, khi linh hồn con người có thể ngủ say hoàn toàn, và đánh mất sự tỉnh táo đến mức không bao giờ thức tỉnh được nữa. Câu này trong đoạn trích trên cần hiểu như vậy khi chúng ta đọc: “những kẻ mất linh hồn”.

Đây không phải cái chết vật lí, mà như các nhà huyền học gọi là cái chết thứ hai khi linh hồn trong cuốn Tử thư Ai Cập viết: vật vờ vĩnh viễn giữa những ảo ảnh mộng, hoặc trong cuốn Tử thư Tây tạng viết: linh hồn rơi trở lại vòng quay vô tận của những hình ảnh mộng. Đấy là những kẻ mê muội dưới bùa mê của con quỷ Busjasta, và sống trong một tiềm thức: Hãy ngủ đi, ngủ đi, thời gian của mi chưa tới đâu. Thời gian của những kẻ như vậy không bao giờ tới.

Đấy là các tông đồ lăn ra ngủ khi Chúa cầu nguyện. Những kẻ tưởng rằng dục vọng, nỗi đam mê, ý muốn, tư tưởng, khát vọng, thế giới giác quan của họ là hiện thực. Đây là trạng thái mà kinh Veda đã chỉ ra: avidja. Avidja không có nghĩa là mù lòa, vô thức mà có nghĩa là sự chìm đắm trong mê muội.

Một sự sống suy thoái. Một sự sống bị khóa, bị khép kín. Sự đờ đẫn. Avidja là mối tai họa nguy hiểm nhất tác động tới linh hồn: linh hồn vật vờ giữa những hình ảnh của nữ thần Busjasta tăm tối bỏ bùa mê và giữa những ảo ảnh nhầm lẫn, những thất bại riêng của nó, đến chừng sự tỉnh táo của nó cứ giảm dần, và sau cùng mất hẳn, nó ngủ yên hoàn toàn. Linh hồn nghẹt thở giữa những hình ảnh của chính nó.

Theo Veda avidja có ba mức độ: ngủ sâu, giấc ngủ không mơ, giấc mơ và trạng thái tỉnh.

Trong giấc ngủ sâu con người không thấy và không biết gì hết. Cuộc đời này đúng ra là một trạng thái suy thoái. Khi con người mơ, nó thấy nhưng không biết. Trạng thái này ở một mức độ cao hơn. Trong trạng thái tỉnh con người thấy, biết nhưng vẫn chưa tỉnh táo. Tỉnh táo chỉ ở dạng thứ tư (turijam).

Avidja là sự vô thức, đờ đẫn, buồn ngủ, là cuộc đời thoái hóa, là sự mù lòa: trong vật chất, trong cái Tôi trần thế và là trạng thái đờ đẫn ngất ngây trong các giác quan. Veda gọi trạng thái này là maja. Linh hồn bị mê hoặc là kẻ tưởng thời gian của nó chưa đến. Nó coi các hình ảnh là hiện thực. Các hình ảnh là các cảnh tượng của thế giới giác quan, các cảm giác, các xúc cảm, các tư tưởng, các đam mê, các dục vọng, là sự khác nhau giữa thế giới bên ngoài và bên trong, là sự khác nhau giữa đời sống và sự sống, là sự khác nhau giữa tồn tại trần thế và tồn tại tinh thần, là sự khác nhau giữa Tôi và Anh và Chúng ta.

Con người bị khóa trong sự mê hoặc này. Và trong sự cùm khóa lưu đày này nó tưởng nó là cái Tôi, là cái cá nhân đặc biệt. Sự tồn tại mê muội này là Hades, một loại địa ngục, ở giữa thế gian, như Orpheus nói, nữ thần Persephon, linh hồn ngự trị, phủ voan đen, trên trán quấn một vòng hoa anh túc tượng trưng cho sự mê hoặc.

Heracleitos nói, giữa những kẻ mê muội mỗi người có một thế giới riêng, còn những người tỉnh táo có một thế gian chung. Cái thế giới riêng đấy là cái Tôi. Cái Tôi có hình ảnh mộng riêng, có số phận cá nhân, có tư tưởng, hành động, quan niệm cá nhân. Kẻ nào ngủ càng say, càng chìm sâu vào sự đờ đẫn, kẻ đó càng tách biệt và đơn độc, càng cá nhân hóa và càng lập dị.

Trạng thái đặc thù của avidja coi thế giới cảm giác, những kinh nghiệm thu thập được là hiện thực; nó tưởng sự mê hoặc của thế giới vật chất là thực; nó không biết rằng cái nó tin là hiện thực chỉ là ảo ảnh - là giấc mơ bất thường của linh hồn bị mê hoặc.

Nó không bao giờ có thể thức tỉnh nữa, và luôn tin rằng thời gian của nó chưa đến. Không bao giờ nó linh cảm rằng có siêu nhiên, meta ta phüszika, có một cái gì đó đôi khi nó vấp phải trong giấc mộng, và đáng lẽ cần phải mở mắt ra, thì nó lại tiếp tục ngủ mơ về một cái gì: mục đích sống, lí tưởng, nỗi đam mê, danh vọng. Luôn có một cái gì đó kế tiếp từ cái Tôi, và là mục đích của cái Tôi.

Hiện thực thật sự chỉ thấy như kẻ bị trói trước cửa ra của một cái hang, kẻ chỉ nhìn thấy những cái bóng chạy vụt qua. Và mức độ chìm đắm trong mê muội phụ thuộc bởi ai coi những hình ảnh mộng nào là hiện thực, đến mức độ nào, coi những thất bại và sự hào nhoáng là sự thật đến đâu, coi mơ hồ là trạng thái tỉnh táo đến mức nào.

Cho đấy là sự thật đến mức nào những gì chỉ có trong cái Tôi: tư tưởng, cảm giác, quan điểm, lí thuyết, sự đánh giá. Càng kiêu ngạo, khinh người, tự phụ, tự tin, nghênh ngang, ích kỉ, càng mù lòa, vô thức, ảo tưởng, hão huyền, mơ hồ, càng đờ đẫn, thui chột và mê muội.

5.

Một khía cạnh khác của Isaupanisád cho thấy kiến thức không phải là sự tỉnh táo. Từ “kiến thức” của tiếng Sanskrit là vidnya. Vidnya không phải là vidja. Vidnya có nghĩa là kiến thức vật chất thu được. Trái ngược với avidnya - phi kiến thức.

Bài kinh nói thế này: “Những kẻ vô thức vật vờ trong bóng tối mù lòa, nhưng những kẻ thu thập kiến thức cho kiến thức còn lần mò trong bóng đen dày đặc hơn”.

Vidnya avidnya, kiến thức duy lí và sự vô thức, hay một dạng của sự mê muội, cả hai đều vô dụng để con người có thể hiểu và nhìn thấy hiện thực. “Kiến thức và vô thức, cả hai đều không đủ”.

Những kẻ vô thức đi vào bóng tối mù lòa. Đúng hơn, họ đã ở đấy sẵn. Họ là những tông đồ đang ngủ. Họ là những kẻ tưởng thời gian của mình chưa tới. Nhưng với những kẻ này vẫn còn hi vọng. Họ có thể nhận những cú giáng để vấp ngã và mở mắt.

Nhưng những kẻ ở trong sự tăm tối nô lệ hơn là những kẻ thu thập kiến thức cho kiến thức. Đây là thứ kiến thức duy lí. Kiến thức duy lí là giấc ngủ nguy hiểm nhất. Chỉ tăng thêm số lượng vật chất của kiến thức, nhưng không nâng lên đến tầm chất lượng và sự tinh thông của nhận thức, đây chính là khoa học (vidnya). Đấy không phải sự thức tỉnh, chính vì vậy vô nghĩa; vô ích và nguy hiểm. Đấy là loại kiến thức làm linh hồn còn đờ đẫn hơn so với khi đang ở trong vô thức.

Bước đầu tiên, vidja: đi về phía sự tỉnh táo. Sau ba mức độ của sự đờ đẫn, ngủ say, giấc mộng và trạng thái tỉnh dậy sẽ đến mức độ thứ tư: turijam.

Mức độ thứ tư này là sự tỉnh táo. Đây là trạng thái thấy một cách rõ ràng, toàn diện, khác hẳn với ba mức độ đầu tiên. Đây là “kẻ mơ thức giấc”, là buddha, là trạng thái bồ tát, ngộ. Đây là mahatma - linh hồn lớn - là trạng thái lớn nhất và cao nhất linh hồn có thể đạt được. Đây là cái nhìn đích thực, là kiến thức đích thực, không phải vidnya, thứ kiến thức vật chất và duy lí, mà là vidja, sự tỉnh táo.

Dấu hiệu tỉnh táo đầu tiên là trong con người nổi lên một nỗi nghi ngờ mơ hồ về maja, về sự mê hoặc của giác quan. Me on như Platón nói. Không hiện thực. Là sự mê hoặc của trạng thái đờ đẫn trong thế giới cảm giác chung mà tất cả con người đều có. Người nào bắt đầu nhận thức vượt qua cảm giác - meta ta phüszika - là bắt đầu nhận ra một cái gì đó siêu nhiên. Liên hệ siêu hình học là bến bờ đầu tiên của sự tỉnh táo.

Tiếp sau đó đến hai trạm quan trọng nữa, khi hình ảnh mộng cơ bản nhất, hình ảnh mộng về cái Tôi cá nhân bắt đầu tan rã.

Kinh Veda diễn tả hai trạm này như sau: etad vai tat tat tvam assi. Câu đầu tiên có nghĩa là: điều này không khác điều kia; và câu sau là: đó chính là mi.

“Kẻ biết duy trì những sinh linh sống trong bản thân, giống như duy trì các phần của cái Tôi, của bản thân trong tất cả những gì nó sống ...”.

Con người bắt đầu thấy và hiểu trên thế gian có những sự tương đồng không thay đổi. Cái này không là gì khác ngoài là cái kia, và cái này chính là mi. Giấc mộng đa dạng của cái TÔI cá nhân có thể kinh nghiệm được bằng cảm giác. Còn hiện thực không là gì khác ngoài chính bản thân mi. Kẻ nào từ bóng tối che phủ thế gian bước ra, kẻ đó nhận ra sự đa dạng mê hoặc.

Con người trong giây phút ấy không bao giờ còn là cái Tôi cá nhân nữa, mà là một cá nhân mang tính vũ trụ. Và cá nhân vũ trụ này không tồn tại trong cuộc sống nữa mà trong sự sống. Dấu hiệu nhận biết sự sống tồn tại: thế gian là MỘT. Hen pantn einai, như Heracleitos nói. Những kẻ đờ đẫn mê muội mỗi kẻ có một thế gian riêng, còn những người đã thức tỉnh chỉ có một thế gian chung.

Những kẻ mê muội luôn ngủ ngon trong những cái Tôi riêng biệt, trong các đam mê, các khát vọng, các thế giới quan; còn những kẻ tỉnh sống trong cùng một thế giới hiện thực. Con người không còn thấy mình tách ra khỏi các thực thể khác: nó nhìn thấy mọi bản chất của thế gian trong bản thân nó, và trong mọi thực thể có bản thân nó “etad vai tat” - “cái này không khác cái kia”. Tất cả thực thể, động vật, thực vật, đá, đất, côn trùng, chim muông, kẻ khác, mẹ, anh em, ma quỷ, Thượng Đế - đây là Tôi. Tat tvam asi. Đây là mi.

Tất nhiên đây không phải cái Tôi cá nhân mê muội (avidja), mà là cái Tôi thức tỉnh (vidja), biết tất cả chỉ là ảo ảnh phi hiện thực. Sự mê muội đờ đẫn tồn tại riêng biệt trong một đời sống khóa kín, còn sự tỉnh táo là sự sống mở, và mọi thực thể cùng nhau sống trong thế gian ấy.

Kẻ nào thức tỉnh, kẻ đó bước ra khỏi đời sống bị khóa kín: mọi cánh cửa đột nhiên mở ra cho nó, mọi tri thức nó đều có thể đạt tới, như ảo tưởng biến thành hữu hình. Đấy là ý nghĩa của Veda.

6.

Ở châu Âu người ta tưởng Veda dạy: chuyển hóa là kiến thức. Niềm tin này ngu xuẩn và đơn điệu như khoa học được truyền bá. Không có kiến thức nào ở đây. Vidja không có nghĩa là kiến thức mà là sự tỉnh táo.

“Con đường đưa tới một nơi khác, khác kiến thức và phi kiến thức - Kẻ nào biết, không có chuyện trở thành một cái gì đó, nhưng hư vô hóa cũng không, và với nhận thức đúp này bước qua cái chết, chỉ kẻ đó bất tử”.

Tri thức không chuyển hóa. Duy nhất chỉ có sự tỉnh táo. Bởi vì cái gì là sự chuyển hóa? Không là gì khác ngoài việc từ bỏ cái Tôi cá nhân để trở thành một cá nhân vũ trụ, phổ quát. Không là gì khác ngoài việc bước ra khỏi một đời sống khép kín và nâng mình lên sự sống mở. Không là gì khác ngoài sự tỉnh giấc bước ra khỏi sự đờ đẫn mê hoặc để ở trong hiện thực.

Bước quyết định cuối cùng dẫn đến sự am hiểu về tỉnh táo như sau: một từ nền tảng của Veda là atman. Atman là linh hồn siêu đẳng đối lập với linh hồn cá nhân. Là cái Tôi Thượng Đế đối lập với cái Tôi con người trần tục. Đây là linh hồn và là Tôi, kẻ có mặt trong tất cả các thực thể, kẻ “cái này không khác cái kia”, “đây là mi”.

Đây là linh hồn-sự sống, là cái tôi tinh thần siêu đẳng, bất tử, phi thời gian và không gian. Atman có quan hệ khăng khít với sự tỉnh táo, đến mức Veda không chỉ một lần gọi Atman là Sự Tỉnh Táo. Atman chính là sự tỉnh táo. Atman là một linh hồn Thượng Đế, không sinh ra và chết đi, mà có ở khắp mọi nơi, là linh hồn thấu suốt tất cả, bản thân nó là sự Thức tỉnh.

Con người bước ra khỏi cái Tôi cá nhân bé nhỏ khép kín, bắt đầu học tri kiến trong sự sống mở, trong dự phần này của atman không bao giờ là các nỗ lực, hay là kết quả của học tập và chuyên cần.

“Kẻ đạt tới, là kẻ tự mình chọn”- Katha-upanisád tuyên bố. Không do bất kì một thực hành đạo hạnh, yoga, tri thức, ý thức kỉ luật hoặc sự trong sạch nào đạt tới. Sự tỉnh táo đồng nhất với atman, với linh hồn Thượng Đế, đấy là ân sủng của atman.

Sự tỉnh táo mang tính chất siêu hình học-tôn giáo. Cùng với sự tỉnh táo con người đạt tới bất tử. Bởi vậy sự tỉnh táo là một trạng thái tôn giáo. Sự tỉnh táo là sự tương đồng cao cả nhất thánh thiện nhất với thần linh. Tỉnh Táo khiến sự thánh thiện hiện hữu ở mọi nơi, vĩnh hằng. Tỉnh táo không là tri thức mà là sự nhạy cảm. Tỉnh táo là cường độ của sự sống, và là cường độ cao nhất.

Sự tỉnh táo mà con người đạt tới trong mối quan hệ với sự thức tỉnh của atman, giống như ngọn lửa nến với tia chớp. Con người thức tỉnh cùng lắm bằng sức mạnh của ngọn lửa nến, còn atman thức tỉnh với sức mạnh của tia chớp. Sự tỉnh táo là sự sáng sủa tuyệt đối của linh hồn.

Sự tỉnh táo hoàn thiện là một linh hồn hoàn thiện, là ánh sáng hoàn thiện: Apollón, Oziris, Brahman, Ahura Mazda. Linh hồn trong bản thân nó là sự nhạy cảm cao độ vượt qua đời sống, biến thành sự sống, nhìn thấy tất cả, biết tất cả, cảm thấy tất cả, trải qua tất cả, hoàn toàn tự do, hoàn toàn sáng sủa, đấy là: Bồ tát (Buddha) là sự thức tỉnh, là ngộ.

Bởi vậy Zarathustra nói sự tỉnh táo là cái tốt nhất trong mọi cái hiện hữu. Bởi vậy các vị thần mặt trời ở các dân tộc đều mang nghĩa là sự tỉnh táo, và các vị thần này vì thế tỉnh táo vĩnh hằng, những kẻ không bao giờ ngủ như Zebaoth, Ahura Mazda, Brahman, Oziris, Apollón, không biết giấc ngủ là gì.

Sự tỉnh táo mang ý nghĩa tôn giáo, bởi không chỉ liên quan đến đời sống con người mà đến mọi khả năng của sự sống, hay đúng hơn đến toàn bộ sự sống. Sự tỉnh táo là bất tử, như là bản thân atman, linh hồn bất tử.

Linh hồn không mang gì khác sang thế giới bên kia ngoài sự tỉnh táo. Sự tỉnh táo mang linh hồn đi, dẫn dắt, nâng nó lên đến sự thánh thiện. Linh hồn, nếu thức tỉnh, hay đúng hơn nếu đạt tới nhạy cảm siêu nhiên, siêu hình, sẽ vượt qua cả nhận thức và tri thức. Nhận thức, tri thức hướng ra ngoài, còn sự tỉnh táo không có hướng: sự nhạy cảm hướng ra ngoài, hướng vào trong, lên trên, xuống dưới, hướng đến tất cả các hiện tượng của đời sống và sự sống siêu việt.

Bởi linh hồn thức tỉnh, khi ngày càng nhạy cảm với cường độ mạnh hơn, sẽ ngày càng trở thành bản thân nó nhanh hơn, ngày càng sáng sủa và tỉnh táo tự thân hơn. Ngày càng từ bỏ đời sống khép kín và tương đồng với trạng thái atman thánh thiện trong sự sống mở hơn.

Bởi vậy theo Isa-upanisád, con người đã hoàn toàn thức tỉnh, khác như trở thành một cái gì đó, khác như không trở thành một cái gì đó: “Kẻ nào biết, không có chuyện trở thành một cái gì đó, nhưng hư vô hóa cũng không, và với nhận thức đúp này bước qua cái chết, chỉ kẻ đó bất tử”.

Sự sống không là gì khác ngoài sự nhạy cảm cao độ của linh hồn. Và sự sống này là hiện thực duy nhất; đấy là cái có thực; là to on, như Platón tuyên bố. Tất cả những hình ảnh mộng, sự huyễn hoặc, maja, mé on không hiện thực. Chỉ linh hồn là: có. Nhưng linh hồn không là cái Tôi cá nhân mê ngủ, trong một nhà tù riêng hay thế giới riêng của nó, mà là linh hồn- atman, thức tỉnh và thấy, để biết: chỉ có một thế gian chung mà thôi: đấy là vũ trụ vĩ đại chung, là linh hồn Thượng Đế siêu việt.

Bởi vậy theo kinh Veda: sự chuyển hóa chính là sự Tỉnh táo.

« Lùi
Tiến »