Lịch sử nhân loại khoảng sáu trăm năm trước Công nguyên là một thời kì liên tục; lúc đó một, hai hoặc cùng lắm sau ba thế hệ mới có sự thay đổi. Trước sáu trăm năm và thời kì tiếp sau hầu như chỉ có một bức mành mỏng chia cắt; trước bức mành có gì, nhìn rất rõ; sau bức mành có gì, cần phải tìm kiếm.
Bản thân cá nhân con người rất nhanh chóng trở thành một cái gì đó tương đối. Những đường nét của các sự kiện bị lu mờ. Sự sống trở thành cái không thể hiểu nổi. Những năm tháng cuộc đời Khổng tử từng lan truyền như các câu chuyện minh bạch; nhưng hình ảnh Lão tử đã trở nên mơ hồ đối với những thế hệ muộn hơn. Người ta biết nhiều dữ liệu cơ bản về Heracleitos; nhưng đến Pitago chỉ còn lại truyền thuyết.
Đất dưới chân con người bị trôi trượt đi đến nỗi, người ta không tin mình đang đi trên mặt đất nữa, mà đang trên một hành tinh lạ thì đúng hơn. Những Sự vật cơ bản trở nên mơ hồ; không thể nắm giữ nổi các sự kiện và các cá nhân; sự sống trở nên huyền bí và thời gian trở nên âm u.
Khoảng sáu trăm năm trước Công nguyên, ở Trung Quốc có Lão tử và Khổng tử, ở Ấn Độ có Buddha, ở Iran có Zarathustra, ở Tiểu-Á có Heracleitos, ở Ai Cập có Toth, ở Ý có Pythagoras.
Ngày nay sự thay đổi nhìn như một bức mành đã buông xuống. Thời đó không chỉ người ta nhận thức bằng chứng của mọi sự việc đã diễn ra mà còn hiểu rất sâu về nó. Đặc biệt, dù từ những vùng đất rất cách xa nhau, những con người rất cách biệt nhau, nhưng các ngôn ngữ khác nhau dùng để diễn tả sự thay đổi đều vang lên giống hệt nhau.
“Trong một quá trình biến đổi dài và rộng lớn - Buddha nói - có một khoảng thời gian thế giới quay vào trong... lúc đó các sinh linh sống trông giống như các ngôi sao lấp lánh quay vào bên trong. Chúng được tạo ra từ các tinh thần trong suốt như pha lê, chúng sống trong niềm vui thanh bình, chuyển động trong không gian tưng bừng ánh sáng của chính bản thân, và sắc đẹp tỏa sáng này vĩnh cửu. -
Sau, đến một quá trình biến đổi rất dài và rộng lớn, đến thời kì thế giới quay ra ngoài, lúc đó các sinh linh bắt đầu chìm vào đời sống. Nhưng tận lúc đó vẫn là những tinh thần trong suốt pha lê, sống trong niềm vui vô tư, chúng lung linh rạng ngời trong ánh sáng của chính mình tỏa ra, sống vô tận trong sắc đẹp của chúng. Lúc đó vẫn chưa có Mặt Trời, Mặt Trăng và các ngôi sao, chưa có ngày và đêm, chưa có tuần và tháng, chưa có đàn ông và đàn bà.
Sau một thời gian dài như vậy, một ngày kia đất có vị thơm ngon lạ lùng bỗng trồi lên, mềm như kem, và sặc sỡ như cầu vồng, thơm và ngọt như mật. Sự tò mò tóm lấy một sinh linh, nó bèn nếm thử; và thấy ngon, nhưng đất này làm nó khát. Những sinh linh khác lần lượt nếm thử, đều thấy ngon, nhưng đều bị khát. Khi đã nếm thử đất, chúng bắt đầu đánh mất ánh sáng riêng của mình.
Khi ánh sáng bên trong của chúng bị mất, lúc đó xuất hiện ánh sáng bên ngoài, Mặt Trời, Mặt Trăng và các ngôi sao, bắt đầu xuất hiện đêm và ngày, xuất hiện các tuần và các tháng. - Còn các sinh linh ăn càng nhiều đất, càng đánh mất tinh thần trong suốt pha lê và vẻ đẹp của chúng. Rồi đất ngon lành biến mất, từ đất mọc lên những mầm cây như nấm, các thực thể ăn mầm cây, càng ăn nhiều cơ thể chúng càng thô thiển, và sắc đẹp của chúng càng lụi tàn.
Từ từ các mầm cây cũng biến mất, từ đất mọc lên các quả dại, các sinh linh ăn quả dại, cái tinh thần trong suốt pha lê của chúng trở nên thô tục, và vẻ đẹp của chúng càng phai nhạt dần. Rồi lúa mì mọc lên, lúc đầu vẫn còn hoang dại, màu trắng như bột, không cần phải xay, mang vị ngọt, không cần phải nướng. Lúa mì buổi tối bị ngắt, sáng hôm sau tự mọc lên, nếu buổi sáng bị ngắt, tối, lúa mì lại tự mọc lên.
Các sinh linh ăn lúa mì, lúc đó một trong số chúng nhìn thấy nhau như là đàn bà, và một số khác thành đàn ông. Khi nhìn nhau, một nỗi đam mê cháy bỏng tóm lấy chúng, thế là chúng ôm choàng lấy nhau. Những sinh linh khác thấy vậy rất tức giận, thế là các sinh linh bắt đầu dựng những căn nhà và giấu nỗi hổ thẹn của chúng vào đấy.
Một ngày một sinh linh nói như sau: tại sao tôi lại phải đi ngắt lúa mì cả buổi sáng lẫn buổi tối nhỉ? Sáng hôm sau nó ngắt luôn cả phần lúa mì buổi tối. Lúa mì vào ngày hôm sau không mọc lên cả đọn nữa, mà chỉ mọc nửa đọn. Những sinh linh khác cũng bắt chước làm theo, thế là lúa mì không thể mọc hoàn chỉnh nữa, mà chỉ mọc có một nửa. Một hôm một sinh linh khác nói: tại sao ngày nào tôi cũng phải đi ngắt lúa mì? Nó bèn ngắt luôn phần lúa của hai ngày.
Thế là lúa mì chỉ cao lên một phần tư, khi các sinh linh ngắt luôn cho cả tuần, lúc đó lúa mì chỉ mọc lên một phần tám. - Sẽ ra sao nếu chúng ta chia đất? Các sinh linh thốt lên và bắt đầu chia đất, lúc đó một vài sinh linh đi ngắt trộm lúa mì của một số khác. Nhận ra điều này, các sinh linh bèn nói: chúng ta hãy chọn ra một kẻ canh chừng, để mọi người chỉ được ngắt lúa mì trên phần đất của mình thôi. Thế là xuất hiện kẻ cai trị, sau đó đến linh mục, quân nhân, thị dân, nông dân và thợ thủ công”.
2.
Trước Công nguyên khoảng sáu trăm năm, từ Trung Quốc đến Ý trong sự thay đổi (còn gọi là) lịch sử con người bắt đầu bước vào giai đoạn cuối của một thời kì đen tối. Sự sống bị mất; cái còn lại chỉ là đời sống. Toàn bộ hiện thực bị đứt làm đôi; tính chất mở khép lại; những mối liên quan lớn bị đứt đoạn. Chỉ trong một vài năm ngắn ngủi sự mù lòa và ngu độn hóa không thể tưởng tượng tiếp diễn và lan truyền.
Heracleitos giận dữ, cay đắng và bực bội chống lại lũ “bẩn thỉu”, những kẻ vấy bẩn bằng chính máu của chúng và muốn tắm bằng máu; những kẻ như những con lợn thích thú với bùn; những kẻ như lũ lừa chọn đống rơm hơn là chọn vàng: Pythagoras từng thốt lên: “ Lũ bất hạnh! Chúng không thấy và không hiểu cái tốt ở ngay bên cạnh chúng! Ít kẻ biết rằng từ sự bất hạnh của chúng đã phóng ra cái gì! Chúng như những cục bột vô duyên lăn đây đó, và gặp đủ mọi bất hạnh. Từ lúc chúng ra đời trở đi, sự phiền nhiễu định mệnh đuổi theo chúng khắp nơi, khiến chúng lên bờ xuống ruộng và chẳng tài nào hiểu nổi tại sao”.
Sau buổi tế lễ các vị thần trở về nhà, người ta hỏi Khổng tử: “Tại sao thầy lại thở dài trong buổi lễ?”.
Ngài trả lời như sau: “Những bậc cai trị lớn từng đã sống nơi đây, dù lúc đó ta chưa sinh ra nhưng ta biết những gì truyền thống đã từng nói về họ. Khi Đạo còn trên trái đất, thế giới là của tất cả mọi người; con người lựa chọn những kẻ cai trị có năng lực; con người nói sự thật và giữ gìn sự thật. Không ai biết đến sự dối trá và lừa lọc; không có kẻ trộm và kẻ cướp. Cửa các nhà không có, nhưng không ai đột nhập. Đấy là thời kì Cộng Đồng Lớn (Thế giới đại đồng). Nhưng rồi Đạo phải giấu kĩ, thế giới không phải của chung nữa mà trở thành tư hữu. Người ta xây tường thành và những cái tháp để bảo vệ thành phố... Sự lừa đảo và dối trá xuất hiện, vũ khí xuất hiện. Đây là thời kì Tiểu Vượng”.
Còn Lão tử viết:
“Con người từ bỏ Đạo
đạo đức và nghĩa vụ tấn công như thế đó.
Sự ranh mãnh và nhận thức xuất hiện:
những dối trá lớn tấn công như thế đó.
Họ hàng máu thịt lìa xa nhau:
nghĩa và tình thương con trẻ tấn công như thế đó
Trong các nhà nước sự hỗn loạn và tùy tiện ngự trị:
những kẻ tôi tớ trung thành tấn công như thế đó .”
3.
Tri thức liên quan đến thời cổ biến mất nhanh chóng. Chỉ còn lại kỉ niệm mơ hồ về thời hoàng kim; niềm hoài hương như muốn nhấn mạnh đến sự thô bạo ngày mỗi tăng lên của đời sống. Và không phải chỉ từng phần biến mất trong thời lịch sử mà phần quan trọng nhất của tri thức rơi rụng, chỉ còn lại các thói quen; Cảm giác, thứ để biết phân biệt sự sống và đời sống biến mất; và bản năng, thứ dùng để hoàn thiện sự sống trong đời sống cũng biến mất.
Sự sống, như Buddha gọi, là các sinh linh, như những ngôi sao lấp lánh quay vào bên trong nó. Đấy là thời kì Khổng tử gọi là Cộng Đồng Lớn (hay thời Đại Đồng). Thời kì chưa có đạo đức, chưa có cả nghĩa vụ, sự thông thái, sự nhận thức, họ hàng ruột thịt chưa xa rời nhau, trong các nhà nước sự hỗn loạn chưa ngự trị.
Sự sống bị khóa lại. Thứ khác xuất hiện: giới hạn. Sự sống chìm vào đời sống. Những dấu hiệu của đời sống xuất hiện: thay thế cho sự tĩnh tại là sự hoạt động; thay thế cho sự êm ả và đầy đủ là các nỗ lực và sự khổ hạnh; thay thế cho văn hóa bình yên, lòng yêu thương, niềm quan tâm vô tư, sự bình thản là công việc, là ý chí, nghĩa vụ, kỉ luật.
Các sinh linh phải tìm kẻ canh gác, bởi chúng lấy trộm lẫn nhau trên cánh đồng lúa mì. Đấy là thời kì mà Khổng tử gọi là thời Tiểu Vượng (hay thời Tiểu Khang). Con người từ bỏ Đạo, bỏ con đường lớn của thời cổ, và sự dối trá lớn cũng bắt đầu xuất hiện.
Ý nghĩa của sáu trăm năm trước Công nguyên chính là sự khác biệt, không đủ chỉ ra cái đã từng có: Sự SỐNG, và cái xảy ra sau đó: ĐỜI SỐNG.
Rốt cuộc đây cũng chỉ là hai từ ngữ. Hai trích dẫn sau của thời kì này sẽ giải thích rõ hơn.
Trích dẫn thứ nhất từ cuốn Zend Avesta, như sau:
“Thế là Dzsamsid xây dựng một vương quốc rộng lớn, đặt tên là Ver, rồi làm cho thành phố, đồng ruộng, rừng cây đầy ngập gia súc, con người, gà lợn, chó, và mang đến đây lửa cháy đỏ bập bùng, mang hạt giống, cây trồng và thức ăn để nuôi dưỡng cho các sinh vật sống. Nước tràn đầy trên các suối nguồn và tường thành cao ngất vây xung quanh vương quốc Ver.
Tại đây có đầy đủ các loại chim muông, đất vàng màu mỡ, các sản phẩm thu hoạch đầy ắp, trong tâm hồn những người trai trẻ còn ngượng ngập là sự khiêm tốn và lòng kính trọng ngự trị, trẻ em khỏe mạnh, hay ăn chóng lớn. Vương quốc đầy sức quyến rũ, sạch sẽ như chốn trú ngụ của thiên thần, vô cùng đẹp đẽ và từ sự cao quý hương thơm tỏa ngọt ngào. Cây cối um tùm, đầy rẫy hoa thơm quả lạ mọc lên từ đất.
Chưa từng có những kẻ cai trị lập ra những đạo luật hà khắc giữa các cư dân của vương quốc Ver; chưa từng có người ăn mày, kẻ lừa đảo, không có kẻ thù rình rập trong bóng tối, không có những kẻ dùng bạo lực hành hạ người khác, không có những hàm răng nghiến chặt. Giữa con người với nhau không có sự khác biệt, đàn bà không đau đớn sau khi sinh nở.
Và ở giữa đất nước, chín cây cầu được dựng lên, sáu cây lớn hơn và ba cây nhỏ hơn. Trên đỉnh núi một lâu đài cao vút dựng lên, tường thành vây xung quanh, lâu đài chia ra nhiều phòng, có nhiều cửa sổ lớn”.
Trích dẫn thứ hai từ cuốn sách của Hénoch (còn gọi là Énok - một nhà thông thái cổ được cho đã sống khoảng năm 8000 trước Công nguyên, người viết về các nguyên nhân của nạn Hồng thủy đầu tiên của nhân loại). Trích dẫn như sau:
“Ta thề với các ngươi ở nơi đây, trước các nhà thông thái và lũ điên rồ, các ngươi sẽ còn nhìn thấy nhiều điều trên trái đất! Các ngươi chất lên người đồ tư trang như đàn bà và che đậy bằng áo quần như một gái trẻ.
Chúng đi đi lại lại với vẻ trịnh trọng vua chúa, trong quyền lực, trong bạc vàng, trong quyền quý, giàu có và thịnh vượng thừa mứa như biển dâng thủy triều. Nhưng trong đầu chúng không có gì đã tiếp thu, không có chút thông thái nào hết, bởi thế chúng sẽ bị tiêu diệt cùng của cải của chúng, cùng quyền lực, cùng phẩm giá của chúng, trong sự hổ thẹn tinh thần của chúng, trong nỗi sợ chết, trong nghèo đói và bị dẫn xuống lò lửa.
Ta thề với các ngươi, những kẻ tội phạm rằng, núi không biến thành kẻ hầu hạ, đồi không biến thành đầy tớ, tội lỗi không bị gửi xuống thế gian mà do chính con người, từ cái Tôi làm ra tội lỗi, và những kẻ đồng lõa với họ cũng phải chịu chung một tai họa...
Ta thề với các ngươi, những kẻ tội phạm, ta thề có thánh thần và sự cao cả, rằng tội lỗi của các ngươi bị ghi sổ trên trời, và không một vũ lực nào trên trái đất có thể che giấu nổi... Và vũ lực cũng sẽ bị ghi sổ, chỉ còn sót lại dấu hiệu đợi ngày phán xử.
Ôi các ngươi, lũ điên khùng, bởi sự điên khùng của các ngươi sẽ là sự mất mát của các ngươi... và các ngươi có biết chăng, các ngươi đã chín muồi cho ngày tận diệt, và các người đừng hi vọng sẽ sống sót...
Trong những ngày đó dân chúng của trái đất sẽ nổi loạn, và trong những ngày đổ vỡ đó các quốc gia sẽ sôi lên sùng sục, và trong những ngày đó sẽ cần phải để con người xé xác những đứa trẻ... và chúng sẽ chìm nghỉm trong sự vô thần, bởi chúng đã đánh mất ý nghĩa trái tim của chúng, mắt chúng đui mù từ sự run rẩy và từ những hình ảnh mộng khủng khiếp... và trong thời gian ấy cha và con cùng một lúc sẽ đánh vỡ đầu nhau, anh chị em ruột sẽ đánh mất lẫn nhau, trong khi máu chảy đầm đìa trái đất như sông lớn... và lũ ngựa sẽ phi ngập thân trong máu, và những vòng bánh xe cũng lún xuống đất bùn đẫm máu.
Và trong những ngày đó thiên thần sẽ bay xuống trái đất, thu gom lũ tội phạm lại một chỗ và tuyên bố bản án khủng khiếp nhất đối với chúng”.
4.
Những trích dẫn trên chưa đến lúc cần giải thích cặn kẽ. Ta hiểu thế này là đủ: trong phần trích dẫn cuốn Zend Avesta, Dzsamsid là vua thời cổ, ở Trung Hoa là Hoàng đế truyền thống, ở Hindu là Manu truyền thống, là Ménes Ai Cập, là Minos Hi Lạp. Dân chúng của Dxsamsid cùng những kẻ thống trị không là ai khác ngoài là Con người, chính là con người của Tinh Thần cổ. Theo truyền thống Do Thái con người này là Adam. Đây là con người Đầu tiên và Đích thực.
Dzsamsid đã tạo dựng vương quốc hòa bình, xinh đẹp, trật tự và trù phú. Vương quốc quyến rũ và sạch sẽ như nơi trú ngụ của thiên thần. Đấy là Ver, theo truyền thống Hi Lạp gọi là thời hoàng kim, theo truyền thống Do Thái đấy là vườn Ê-đen, vườn Địa Đàng.
Điều quan trọng nhất chỉ gói gọn vào vài từ. Đấy là: tồn tại hay không hiện thực của thời hoàng kim? Câu trả lời chỉ chừng này: từ thời lịch sử (sau Công nguyên) trở đi vô ích kiếm tìm những người có tầm vóc ngang hàng với Zarathustra và các đồng sự, với Lão tử, với Buddha, Heracleitos.
Đây là sự thật ngày hôm nay, sau hai nghìn năm trăm năm còn nhìn rõ hơn nữa so với thời đó. Những khái niệm như sức mạnh tinh thần, sự sâu sắc, tính chất siêu nhân không thể diễn đạt nổi những đặc thù đích thực của những cá nhân này. Những cá nhân này chỉ ra thời kì hoàng kim là có thực, cần phải chấp nhận cho dù từ đó tới nay mọi nghiên cứu duy lí đều chống lại nó.
Cái gì khiến vương quốc của Dzsamsid biến thành thời kì hoàng kim? Câu trả lời đơn giản: chín cây cầu. Zend Avesta viết, Con Người xây chín cây cầu ở giữa quốc gia, sáu cây lớn hơn và ba cây nhỏ hơn. Những cây cầu này dẫn đi đâu, về điều này Zarathustra không nói đến. Nhưng từ các phần khác của sách thánh cho thấy trong chín cây cầu thì tám cây đã gãy cuối thời kì hoàng kim, cây còn lại có tên gọi là Csinvat. Những linh hồn đi trên cây cầu này là những kẻ đến từ trái đất, quay trở lại cõi vô hình. Csinvat nối thế giới hiện hữu và thế giới vô hình lại với nhau; nối Trời với Đất; nối thế giới vật chất với thế giới tinh thần.
Cái biến vương quốc Ver thành thời hoàng kim là chín cây cầu nối Đất với Trời; để sự sống là cửa ra vào tự do liên tục cho đời sống, và để đời sống cũng có cửa đi lên sự sống liên tục tự do. Từ đời sống vào sự sống qua chín lần chuyển đổi. Số chín không là gì khác ngoài chín số đầu tiên của hệ thống mười số, là con số Chín Ai Cập. Thời hoàng kim là thời gian, khi đời sống mở về phía sự sống, khi các thiên thần bay xuống trần gian, và tinh thần chảy xuyên qua thế giới vật chất chín lần.
Với phác họa bình luận này chỉ cần nhớ thêm một điều: thời kì hoàng kim là thời gian của hòa bình, của cái đẹp và sự trù phú, là hiện thực thật sự được xây dựng trên trái đất. Khi những sức mạnh siêu nhiên và sức mạnh tinh thần chảy vào số phận con người, vào cuộc sống cộng đồng, vào thiên nhiên và vật chất một cách tự do và phong phú, tất cả những điều này, khi còn tồn tại trên trái đất, đều được soi sáng, được coi trọng và trở nên viên mãn.
Thế giới hiện hữu hòa hợp một cách tự nhiên với thế giới vô hình, biến đời sống thành sự sống; biến tất cả thành một, thành vẹn toàn, thành thể thống nhất. Đấy là tính chất của thời kì hoàng kim: sự sống.
5.
Tám trong chín cây cầu bị sụp đổ chỉ còn lại cây cầu Csinvat để các linh hồn có thể quay lại thế giới tinh thần vô hình. Giọng điệu này không phải của Zend Avesta nữa mà của Hénoch. Đây là âm thanh vẫn vang lên từ đó đến nay, như thể vừa viết ra ngày hôm nay: đây là tiếng thét thất thanh đau đớn và hoang mang của con người gục ngã và bị xé ra từng mảnh.
“Ta thề với các ngươi, những kẻ tội phạm, rằng núi không biến thành kẻ hầu hạ, đồi không biến thành đầy tớ, tội lỗi không được gửi xuống thế gian mà chính con người, từ cái Tôi làm ra tội lỗi, và những kẻ đồng lõa cũng phải chịu chung một tai họa...”.
Không phải âm thanh từ chương nói về Ver trong Zend Avesta, khác hẳn. Đấy là âm thanh của sự sống; còn đây là của đời sống. Đấy là của sự sống mở; còn đây là của đời sống khóa kín.
Toàn bộ thế gian bị chia làm đôi, con người quằn quại trong một nửa gãy gục của nó. Giữa dân chúng may mắn của vương quốc Dzsamsid không có những kẻ cai trị tạo ra những bộ luật hà khắc. Các sinh linh như những ngôi sao lấp lánh quay vào bên trong nó. Chín cây cầu nối liền Trái đất và Bầu trời. Đấy là thời kì của Cộng Đồng Lớn (thế giới đại đồng). Đấy là thời kì Hoàng kim.
Còn hiện nay là thời kì Khải huyền ( apokalipsis), khi những quyền lực bạo lực “đi đi-lại lại với vẻ trịnh trọng vua chúa, trong quyền lực, trong bạc vàng, trong quyền quý, giàu có và thịnh vượng thừa mứa như biển dâng thủy triều”.
Nhưng nhà tiên tri biết cái kết thúc của thời kì này là cái gì. Cái gì sẽ tới? Bản án.
“Và trong những ngày đó thiên thần sẽ bay xuống trái đất, thu gom lũ tội phạm lại một chỗ và tuyên bố bản án khủng khiếp nhất đối với chúng”.
... và trong thời gian ấy cha và con cùng một lúc sẽ đánh vỡ đầu nhau, anh chị em ruột sẽ đánh mất lẫn nhau, trong khi máu chảy đầm đìa trái đất như sông lớn. .. và lũ ngựa sẽ phi ngập thân trong máu, và những vòng bánh xe lún xuống đất bùn đẫm máu”. Hénoch, Heracleitos, Pythagoras.
Và Lão tử nói: “Sự hỗn loạn ngự trị trong các nhà nước... và sự giả dối lớn nổi lên”.
Thời kì hoàng kim không là gì khác ngoài là sự sống. Đấy là một tổng thể toàn vẹn, hiện hữu và vô hình cùng lúc hiện diện. Trái đất và Bầu trời, Thượng Đế và Con người. Đây là Cộng Đồng Lớn. Cần đồng thời với nhau bởi nó cần cùng tồn tại như thế, cái này thiếu cái kia chỉ là một nửa, chỉ là sự gãy gục.
Khải huyền là cái bị gãy, bị vỡ. Sự sống vỡ, gãy chỉ là vật chất, chỉ là trần thế, chỉ là: đời sống.
Sự sống vỡ, sự sống bị khóa kín: “tội lỗi không bị gửi xuống thế gian mà chính con người, từ cái Tôi làm ra tội lỗi, và những kẻ đồng lõa với họ cũng phải chịu chung một tai họa ...”.
Và vì sự sống bị vỡ, con người phải chịu trách nhiệm ở ngày tận thế, khi thiên thần: “sẽ bay xuống trái đất, thu gom lũ tội phạm lại một chỗ và tuyên bố bản án khủng khiếp nhất đối với chúng”.
6.
Sau tất cả những điều trên mà vẫn còn cho rằng thời hoàng kim không hiện hữu, quả thật không tỉnh táo chút nào. Thời kì hoàng kim là điều kiện của thời kì khải huyền. Khải huyền thiếu thời hoàng kim không thể hiểu nổi. Đau khổ, tội lỗi, hỗn nhương đều là đau khổ, tội lỗi và hỗn nhương, bởi trong con người, tri thức tỉnh táo về thời hoàng kim là cái đẹp, sự quyến rũ và trong sạch của vương quốc Ver.
Mọi đau khổ chỉ khi so sánh với niềm hạnh phúc mới là sự đau khổ. Mọi tiêu cực chỉ khi so sánh với tích cực mới là tiêu cực. Mọi hỗn loạn chỉ khi so sánh với trật tự mới là hỗn loạn. Khải huyền chỉ khi so sánh với thời hoàng kim mới là khải huyền. Hình ảnh cổ và ý tuởng của mọi loại đời sống: sự sống, là thứ, bằng sự giúp đỡ tái tạo của lịch sử, chúng ta đều biết đến.
Nhưng hai từ này cứng nhắc đối chọi nhau như hai thanh gươm, không được phép nhìn chúng như một, cả hai đều là hình ảnh ít nhiều may mắn cố gắng chiếu rọi lại sáu trăm năm từ hai mặt. Và hai từ này không là gì khác ngoài hai khái niệm: sự sống và đời sống, là hình thái thể hiện như là hình ảnh và được định hình một cách có ý thức, là hai trật tự sống, là sự khác biệt cơ bản giữa sự sống mở và đời sống khóa kín.
Bây giờ ta có thể nói rõ hơn một chút. Câu hỏi của sáu trăm năm không phải là đã từng có hay không thời hoàng kim, mà là: có thể quay lại hay không thời hoàng kim?
Đây là câu hỏi được nhắc lại thường xuyên, bí ẩn, nhưng duy nhất của đời sống từ trước đến nay: có thể lấy lại được hay không vương quốc Ver quý giá đã mất, nơi không có những hàm răng nghiến chặt. Hoặc nếu không, có thể xây dựng lại nó một lần nữa được chăng?
Bởi vì thời hoàng kim không là gì khác ngoài hình ảnh cổ của đời sống. Đây là một đời sống mở, là sự sống đã hoàn thành, định hình, vẹn toàn, toàn diện, đầy đủ. Và bởi thời hoàng kim là sự sống, nên nó không là gì khác ngoài đối tượng mơ ước liên tục và không ngừng nghỉ trong mọi con người và trong mọi thời gian. Còn khải huyền là một đời sống bị hư hoại và bị phá hủy, là dạng đời sống trong trạng thái nhão, không hình hài, không có cách giải quyết. Và từ khi thời hoàng kim biến mất, nhân loại sống trong khải huyền.
Từ khải huyền - apokalipsis có nghĩa là: revelatio, sự biểu hiện, lời tuyên ngôn - như một bản án. Thời hoàng kim có nghĩa là: niềm hạnh phúc được đón chào. Hai cách thể hiện này là vị trí cuối cùng của sự sống.
Từ khi nhân loại bước ra khỏi thời hoàng kim, sự sống từng định hình, hoàn hảo, bình yên, hạnh phúc và toàn vẹn đã bị bóp méo và biến thành một khả năng. Hiện thực đích thực của nó bị đánh mất. Đây là ý nghĩa của sáu trăm năm (trước Công nguyên). Từ phút ấy trở đi sự sống không bao giờ có giải pháp của nó nữa, mà chỉ còn là một khả năng; không có hình hài, chỉ là khả năng; không còn sự bình yên, mà một lần nữa chỉ còn là khả năng.
Trong thời khải huyền tất cả các hình thức tổng quát và hoàn chỉnh trở thành chất lỏng: hình thức bị lỏng hóa này chính là khả năng. Khả năng này cùng những khả năng khác đều nằm trong thời khải huyền, bởi bản án luôn ở thời hiện tại, là lời kết tội của Tinh thần-Thượng Đế. Bản án và lời kết tội đối với đời sống bị đứt đoạn khỏi sự sống.
Đây là ý nghĩa cuối cùng trong sách của Hénoch, từ trước đến nay vẫn mang ý nghĩa của khái niệm khải huyền.
Đời sống đứt đoạn từ sự sống, nhưng: nó đứng trước tòa án. Những lời nói của Lão tử, Buddha, Heracleitos và Pythagoras đều tiếp cận sự tận thế này. Tính chất khải huyền của nhân loại sau thời hoàng kim là: đứng trước một bản án.