Minh Triết Thiêng Liêng Tập 3

Lượt đọc: 153 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
II. Sách Phúc âm và các thư tín
1.

Thượng Đế không bí ẩn. Bí ẩn là có một cái gì đó ngoài Thượng Đế. Thượng Đế là một sự vô hình đang hiện hữu. Sự huyền bí không phải là Thượng Đế mà là thế gian, cũng như thiên nhiên huyền bí chứ không phải tinh thần, cơ thể huyền bí chứ không phải linh hồn.

Nhận biết ra Thượng Đế không khó. Deu et Jahve, nhà tiên tri nói, mi hãy nhận ra Thượng Đế. Gnóthi ton kürion, thánh Pál tuyên bố. Chỉ một nhân loại nhỏ hẹp và tội nghiệp mới giải thích dòng chữ ghi trên đền thờ Delphon là; mi hãy nhận biết bản thân mi.

Gnothi ton kürion - ý nghĩa gốc của nó: mi hãy nhận biết mi là Thượng Đế. Khi Chúa Jezus nói về bản chất Thượng Đế của sinh linh, những kẻ Do Thái bắt đầu kêu oai oái. Dù Chúa Jezus trích dẫn từ Thánh Thi (TT.82:6) và nói: “Há chẳng đã viết trong các luật các ngươi là Thượng Đế (elohim), tất cả đều là những con trai cao cả nhất của Người?”.

2.

Trong sách Phúc Âm có nhiều đoạn nói về sự đồng nhất của linh hồn và Thượng Đế. Khả năng tồn tại nhiều đoạn như vậy và viết khá rõ ràng. Nhưng muộn hơn người ta đã tước sạch bản chất của Phúc Âm trong những đoạn văn bị sửa chữa, nên chúng mang ý nghĩa riêng, khá mơ hồ về sự đồng nhất của Chúa Jezus với Thượng Đế.

Chúa Jezus thực ra tự nhận mình là ben ha-adam, nghĩa là con trai của con người. Cách gọi này hoàn toàn phù hợp với dzsiva của Ấn Độ, có nghĩa là một thực thể sống, hữu hạn và là con người mang tính thiên nhiên.

Trong truyền thống Do Thái thuật ngữ này đối lập với thuật ngữ enos ha-ruah, có nghĩa là con người tinh thần, và ben ha-elohim (con trai Thượng Đế) và is ha-ruah (anthropos pneumatophoros, con người mang tinh thần).

Trong truyền thống Do Thái tất cả đều là các phạm trù nhân chủng học (antropologia) quen thuộc.

3.

Chúa Jezus đồng nhất Thượng Đế với bản thân mình. “Kẻ nhìn thấy ta, sẽ thấy Cha”. “Ta ở trong Cha, Cha ở trong ta”. “Tất cả những gì của Cha đều của ta”.

“Tất cả hãy là một, như ta ở trong ngươi và ta trong các ngươi”. “Hành động không phải từ chính ta mà từ Cha, kẻ trong ta hành động”.

Khi Chúa Jezus đồng nhất mình với Thượng Đế, sự đồng nhất này không dành cho bản thân. Không bao giờ Chúa Jezus nâng mình lên cao giữa những người khác, không bao giờ ngài nói chuyện với ai một cách từ trên cao nói xuống. Bởi vậy ngài gọi mình là con trai của người. Mọi con trai của con người đều đồng nhất với Thượng Đế. Con người Thượng Đế đều là một như nhau.

Trong những sự việc cơ bản, đặt ra sự khác biệt giữa các con người là vô đạo đức. Chúa Jezus kêu gọi con người, hãy nhận lấy sự đồng nhất con người Thượng Đế. Cũng đúng như vậy chỉ bằng thuật ngữ khác Vedanta nói: aham Brahman asmi - ta là Thượng Đế. Cha ta và ta-là một - ani vha - av échad. Cũng đúng như vậy, điều truyền thống Arập nói: ana hoa -ta là cái đó.

4.

Nhìn từ góc độ tôn giáo, thật khủng khiếp nếu ai dám đồng nhất mình với Thượng Đế, bởi vì theo tôn giáo, như vậy con người cho mình là Một với sinh linh cao nhất. Nhưng truyền thống không phải là tôn giáo. Truyền thống kiếm tìm đặc tính hiện thực của linh hồn, và ghi nhận rằng: hiện thực về Thượng Đế và hiện thực về linh hồn đồng nhất. Đây là sự đồng nhất duy nhất trên thế gian.

Truyền thống Ấn Độ biểu hiện bằng từ tat. Tat nghĩa là: đó. Nghĩa là, aham Brahman aszmi, nghĩa là ta là Brahman. Tat tvam aszi, như Cshandogja upanisad viết, vai tat, như Kathaka-upanisad: “đây là mi” và “đây không là gì khác ngoài đó”.

Những đồng nhất khác đều là đối tượng của phép lặp thừa (tautológia) trống rỗng. Sự đồng nhất duy nhất có nội dung và chủ đề của nó, lời tuyên bố và tri thức là “tat” hay là sự giống nhau, là sự đồng nhất của linh hồn với bản chất Thượng Đế.

5.

Sự đồng nhất duy nhất là chủ đề cơ bản của truyền thống. Và tất cả những gì dạy ngoài truyền thống đều là hệ quả của chủ đề này. Con người theo tôn giáo tự cho mình là sản phẩm của tạo hóa, cao nhất là con của Thượng Đế, nếu không là kẻ hầu của Thượng Đế, trong mọi trường hợp là kẻ được lựa chọn từ Thượng Đế, là kẻ cần đến sự bảo vệ và cần nơi ẩn trú, cần người bảo hộ và cai trị mình, để cảm thấy yên ổn dưới bóng của quyền lực.

Con người là hạt bụi. Mọi cái nó có là phần thưởng cho sự chịu đựng, sự trừng phạt.

Con người cho rằng cần phải sợ một “Đấng” nào đấy, cần phải phục vụ Ngài để bù lại sự phản bội với Ngài, bởi vậy Thượng Đế của tôn giáo là một Thượng Đế bên ngoài.

Dù sự huyền bí khiến nó thành bên trong, nhưng sự khác biệt không bao nhiêu. Sự phân biệt bên trong và bên ngoài này đều không hợp lệ xét từ góc độ đồng nhất.

6.

Kẻ nào không nhận biết về sự đồng nhất duy nhất này, tri thức về sự bất tử của kẻ đó bị hư hoại. Ý thức bất tử bị thoái hóa là dấu hiệu đầu tiên của sự hư hỏng (korrupcio).

7.

Theo Vedanta thực thể sống cụ thể (dzsiva) và thực thể bất tử, vĩnh cửu (átman) đồng nhất (tat). Sankara cho rằng, khi dzsiva átman hợp nhất thực chất không có gì xảy ra. Con người biết cái gì luôn từng có, đang có và sẽ có, và nó luôn nhận thức về một cái gì đó. Không cần thực hành và nỗ lực gắng sức. Cần nhận thức ra thực tại.

Nhận thức thực tại chỉ có nghĩa ngần này: thức tỉnh (vidja). Con người không nâng lên cao đến tận đâu, không hợp nhất với ai và với cái gì, cũng không rơi vào mê sảng. Nó ở lại nơi đang có và trở thành chính nó. Vidja không phải là một kinh nghiệm huyền bí. Sự đồng nhất là sự xác định của nhận thức tỉnh táo.

8.

Châu Âu thừa hưởng hai con đường thần học của Alexandria. Đầu tiên là sự giải nghĩa về tổng thể thế gian và từng bộ phận mang tính chất Thượng Đế, đây là trường học của Origenes, apophatikus teológia. Con đường thần học thứ hai dạy rằng, không có một cái tên hoặc một từ ngữ nào không sử dụng tính chất của Thượng Đế, cho dù chỉ chịu ảnh hưởng mà thôi. Như vậy, Thượng Đế thực ra chưa được biết tới và còn lại đó. Đây là mức độ của Dionüsios Areopagita, kataphatikus teológia.

Theo thuật giả kim nhận thức thứ nhất là con đường khô ráo, nhận thức thứ hai là con đường ẩm ướt. Khô ráo vì tách biệt từng sự vật và đồng nhất từng cái với Thượng Đế. Ẩm ướt vì toàn bộ sự hiện hữu hòa tan trong sự thụ động và đồng nhất Thượng Đế với sự thụ động.

Ở Ấn Độ người ta biết cả hai con đường. Một là tat tvam aszi - đây là mi. Con người riêng với tất cả và đồng nhất với toàn bộ. Hai là néti, néti - đây cũng không, đó cũng không, bởi vì trong bản chất thực sự của tôi, tôi không phải là cái này, cũng không phải cái kia.

Con người tách mình ra khỏi mọi sự vật của thế gian, không đồng nhất với cái gì. Sau cùng cái còn lại và không thể đồng nhất với bất kì cái gì, không nắm bắt nổi và duy nhất, không thể lặp lại và phi danh tính, đấy là thực thể sống.

9.

Nếu ở châu Âu ý thức đồng nhất duy nhất đôi khi bộc lộ, từ đó chỉ để rắc rối và bê bối tấn công, và dành cho các giáo sĩ là sự phẫn nộ và nguyền rủa, như đã từng xảy ra với những người Do Thái. Gioacchino da Fiore là người dẫn đầu nhiều giáo phái trong thế kỉ XII và XIII.

Từng giáo phái bắt đầu phát ngôn như các văn bản thời đó ghi lại: “về bản chất con người là Thượng Đế không có gì khác biệt”, - “con người không cần đến Thượng Đế và các thần linh”, - “bản thân con người là đất nước của các thiên đường”. Một vài giáo phái còn bỏ luôn cả sách Phúc Âm, và không muốn đi theo cái gì khác ngoài tiếng nói bên trong của họ.

Cái tư tưởng này cố gắng đảm bảo trạng thái tuyệt đối bao nhiêu, thì trong tôn giáo tư tưởng này lại nực cười bấy nhiêu. Trong tôn giáo con người yếu đuối, hư hỏng, sống trong sự mê muội mờ mịt và không thể sống một phút thiếu sự chăn dắt của bề trên. Không lỗi lầm nào lớn hơn việc áp dụng những tư tưởng của các phạm trù sự sống cao vào những điều thấp hơn.

Từ khả năng muốn hiện thực hóa tính đồng nhất, các giáo phái bỏ quên một điều quan trọng nhất dành cho con người tha hóa, đấy là sự hư hỏng, người ta tưởng rằng chỉ cần một cú nhảy là đạt ngay tới sự đồng nhất. Hậu quả của việc này là con người không thức tỉnh mà sự hỗn loạn còn tăng thêm nhiều hơn như nó đang có.

Thế nhưng tư tưởng của Gioacchino da Fiore vẫn khiến con người cùng thời ông bị chấn động như thể ngoài tư tưởng của ông ra không còn gì khác. Điều này không thể hiện ở chỗ tác động của nó có thể nhận ra ở Aquinoi Tamás, Albertus Magnus và Eckhart, mà ở chỗ, trên điểm đỉnh của quyền lực giáo sĩ, người ta bắt đầu dạy lại Phúc Âm.

Ý thức bất tử tuyệt đối, dù đi sai đường đến đâu, theo thời gian vẫn cứ cần bùng nổ. Nền tảng sự sống của con người không phải quyền lực, không phải sự tiến hóa, không phải sự giáo điều, mà trong từng con người riêng biệt và trong toàn bộ là sự hiện diện một tinh thần chung sống cùng nhau, đấy là điều Kitô giáo nguyên thủy từng dạy.

10.

Giống như những người Do Thái cùng thời với Chúa Jezus, sự đồng nhất duy nhất ở châu Âu cũng được giải thích theo tôn giáo, thế là sự giải thoát trọn vẹn, hệ quả của tri thức này, không ai được dự phần.

Tôn giáo thực ra không biết làm gì với khái niệm đồng nhất. Trong tôn giáo sự đồng nhất là không thể thừa nhận. Không thể tồn tại, nên nó bị để trống, cùng lắm nó được coi là cội nguồn của sự lầm đường.

11.

Duy nhất một nhà tư tưởng châu Âu, Cusanus, là người rất có thể khi tiếp xúc với phương Đông đã gặp một truyền thống không bị bóp méo bởi tôn giáo, với truyền thống Arập, bởi vì đúng thời gian đó ông đang nghiên cứu kinh Koran. Cusanus đưa ra định nghĩa duy nhất ở châu Âu về sự đồng nhất; non aliud. Tác phẩm của ông không ra mắt công chúng, và văn bản duy nhất của nó năm trăm năm sau, trong thế kỉ vừa rồi, người ta mới tìm thấy.

Trong tác phẩm đầu tiên Cusantus xuất phát từ tư tưởng về một Thượng Đế ẩn (Deus absconditus). Giới giáo sĩ không ưa tư tưởng này của thứ thần học tiêu cực, nhưng đành phải chịu. Nhưng Deus absconditus dù nhiều hơn tôn giáo đi nữa, vẫn là sự huyền bí. Bởi vậy Cusantus chưa coi là mình đã xong.

Bước thứ hai của ông vang lên như sau: possest. Có nghĩa là một khả năng tự do thường xuyên cho tất cả mọi khả năng. Và điều này thuần túy là sự tương đồng.

Bước thứ ba là non aliud, nghĩa là “không khác”. Đây là một định nghĩa ốm yếu hơn của tat Ấn Độ. Cái không là khác, ngoài “cái đó”.

Thượng Đế: điều này không “khác”. Điều đó không khác, cái ở thời hiện tại có trong mọi vật, giống như không “khác”. Cái đồng nhất. Đây là một định nghĩa: “đụng chạm tới sự vĩnh cửu một cách hiển nhiên và tuyệt vời. Cái có trong tất cả, không là gì khác ngoài cái bản chất”.

Cái không là cái khác nằm trong mọi sự vật, là cái thế gian có từ đó, là thế gian, là con người, sự sống. “Cái không khác không khác, ngoài cái không khác”. Những nỗ lực gắng sức dẫn đến một loạt các lặp thừa logic trên, giữ một khoảng cách không thể đo nổi với tiêu đề đơn giản và quý phái của Ấn Độ tat tvam aszi (đây là mi).

Nhưng ở châu Âu ngoài Cusanus ra chỉ còn vài nhà tư tưởng không ra rả cái luận điệu dân chủ rẻ tiền: “hãy nhận biết bản thân mi”, vì họ hiểu, cần xuất phát từ đâu.

Deu et Jahve, hay, gnothi ton kürion, mi hãy nhận biết Thượng Đế. Cần bắt đầu bằng nhận thức về Thượng Đế. Con người đằng nào cũng có trong Thượng Đế rồi. Một lần và toàn bộ, và ở đó, nơi tất cả tụ lại và tất cả là một. Từ nhận biết về con người chẳng có gì tiếp theo, nhưng từ nhận thức về Thượng Đế tất cả sẽ đi tiếp.

12.

Tôn giáo nói; “Thượng Đế là một người, và người là Thượng Đế, là của tôi, và người là của tôi, tôi yêu người đó, và tôi yêu người đó, người đó yêu tôi, kéo tôi lại với ngài, và người kéo tôi lại với ngài, đó chính là tôi, như chính bản thân tôi” (C.Brunner).

13.

Truyền thống nói, mối quan hệ giữa Thượng Đế và con người trần trụi, không che giấu. Con người nhận ra Thượng Đế trong Thượng Đế và trong bản thân nó, như nhận ra một kẻ duy nhất chắc chắn, tuyệt đối và đúng và thực. Trong mối quan hệ này không cho phép bất kì sự mù mờ hoặc bóng bẩy nào.

Tri thức tuyệt đối này không cho phép quấy rầy bằng: sự khuất phục, nhún nhường, phục vụ, tận tâm, kính cẩn, sợ hãi, đến bằng tình yêu thương cũng không. Bởi vì tất cả những đặc tính trên không làm nảy sinh sự đồng nhất mà chỉ là hệ quả của sự đồng nhất.

Sự đồng nhất chỉ thực chất nếu trong sạch, ngay thẳng và mở. Giống như trên thế gian tất cả đều có thể “có”, chỉ: “đây là tôi” là một điều duy nhất chắc chắn, con người trong cái duy nhất “đây là tôi” là chắc chắn, và đây là sự đồng nhất Thượng Đế.

14.

Về câu hỏi, giữa hoàn cảnh được viết ra như trong Phúc Âm, Chúa Jezus như con trai Thượng Đế được sinh ra từ các linh hồn Thiêng và Đức mẹ Đồng trinh, hay: Jezus sinh ra bằng hình dạng một con người, và tất cả những gì Chúa Jezus đã dạy, dù bằng phương pháp nào, chỉ sau này mới thức tỉnh trong Chúa? - thực ra không có câu hỏi này.

Chúa Jezus sinh ra chính xác như mọi con người, chỉ khác mọi người là Ngài nhận thức nghiêm túc về sự đồng nhất duy nhất. Một cái, cái đó cần, Phúc Âm nói. Nhưng nếu không nói đến, tất cả mọi người cũng đều biết. Đây là thứ duy nhất quan trọng, đây là tri thức và là thứ tri thức làm nền tảng cho tất cả những điều khác.

Chúa Jezus sinh ra như một con người bình thường, giống như tất cả mọi người trong những hoàn cảnh tương tự. Tất cả những gì vì sự kính trọng và sự sùng kính Chúa Jezus mà sau này người ta nói đến về các hoàn cảnh và các sự kiện đặc biệt của Chúa Jezus đều chỉ cần thiết cho con người tôn giáo, kẻ không thể bước qua sự đứt đoạn giữa thực thể Thượng Đế và thực thể người, và là kẻ không thể đạt tới sự đồng nhất cuối cùng.

15.

Đồng nhất duy nhất không phải là kết quả của nhận thức về Thượng Đế. Sự đồng nhất có trước, và nhận thức xuất hiện khi sự đồng nhất này được phát tán. Sự đồng nhất có thể bị lu mờ, nhưng không thể xóa bỏ. Tất cả mọi người ngay lập tức nhận ra nó. Chỉ cần tiếp xúc, con người sẽ biết ngay cái mà con người luôn biết.

Trong linh hồn người, Spinoza nói, có khả năng nhận thức hoàn hảo về Thượng Đế. Hay theo Thánh Phao lô: trí tuệ con người tìm tòi ra tất cả, kể cả những chiều sâu của Thượng Đế.

16.

Ai đã vượt qua ý thức tôn giáo, kinh nghiệm đầu tiên của họ là: Thượng Đế không ở ngoài cũng không ở trên, không ở dưới và cũng không ở trong nốt. Thượng Đế ở vị trí phi-hiện hữu. Một thứ phi-hiện hữu hiển nhiên.

Thượng Đế trong thế gian phi giới hạn, vạn năng, là kẻ mong đợi sự khuất phục và sự vinh danh. Quyền lực chỉ là cái đến sau, là hệ quả, và là hệ quả của việc Ngài biến mất không dấu vết như một kẻ không ai tước được quyền duy trì thế gian.

Con người có thể kinh nghiệm trực tiếp điều này, bởi vì cái ở trong con người như quyền lực và sự thống trị biểu hiện như sức mạnh và sự cao cả, và vì thế (không ngoại lệ) trong mọi trường hợp thiếu vắng Thượng Đế chính là sự thiếu vắng sức mạnh và sự cao cả thật sự.

17.

Chúa Jezus hiểu Thượng Đế như là Cha, người mà bản chất trong việc tạo dựng thế gian và chăm lo thế gian đã biến thành phi-hiện hữu, và là người không làm gì hết ngoài phụng sự thế gian từ một vị trí, mà sự vinh danh của con người cũng không chạm tới.

Thượng Đế khác biệt với tất cả mọi thực thể: Ngài phụng sự và nhún nhường, trong sạch và hiền hòa, nhân hậu và quan tâm, cách thức hành động của Thượng Đế là cách thức không ai nhận ra.

Chăm lo thế gian, theo Sankara, Thượng Đế hoàn hảo vĩnh hằng duy trì thế gian cho chính bản thân mình. Kinh nghiệm của Chúa Jezus: nhận thức ra Thượng Đế, không một điều nào sâu sắc hơn.

Không điều nào sâu sắc hơn ở chỗ hãy sống trong sự nhún nhường. Bất lợi tất nhiên của việc đối diện với Thượng Đế là có thể nhận ra tất cả những điều này. Không biết biến mất hoàn toàn. Chính vì thế không thể hoàn toàn khiêm nhường. Trong cái thế gian kinh nghiệm cảm giác này tất cả mọi người bắt buộc sống và hành động theo cái mắt nhìn thấy.

Con người không bao giờ đạt tới sự xấu hổ mang tính chất Thượng Đế. Chúa Jezus biết rằng cả trong sự nhẫn nại, cả trong sự nhún nhường, cả trong sự quan tâm không ai có thể đạt tới gần Thượng Đế.

Nhưng Chúa Jezus cũng biết rằng thực hành đầu tiên của lòng trung thành đối với sự đồng nhất Thượng Đế là càng lặng im và hiền hậu bao nhiêu, sự hiến dâng càng nằm trong trạng thái không nhận biết về mức độ phi-hiện hữu của Thượng Đế bấy nhiêu.

18.

Nghịch lí đầu tiên của nhận thức Thượng Đế mà Phúc Âm rao giảng, và là điều kiện hiện sinh của nhận thức, là người nào cho đi sự sống của nó, kẻ đó thắng, kẻ nào không cho đi, kẻ đó đánh mất.

Thượng Đế vì thế là Thượng Đế, bởi là người đầu tiên cho đi sự sống của mình một cách hoàn toàn. Và vì là người cho đi hoàn toàn bản thân mình, nên cũng thắng hoàn toàn. Vì là người phụng sự hoàn toàn bằng toàn bộ bản thân mình, nên là kẻ toàn năng.

Mọi tích cực của sự sống đều nảy sinh từ sự cho đi bản thân. Đây là sự hiến dâng. Đây là bài học đáng sợ - khi có vẻ như cho rằng - từ con người cần lấy đi chính nó, trái ngược với thái độ chống đối kiên định cho rằng, từ sự trả thù hoặc ghen tị đời sống, một ai đó đáng lẽ giữ lại tất cả những gì từ đời sống của nó, hãy vứt tất cả vào đen tối hư vô.

Nhưng chúng ta biết, nghịch lí này đúng, bởi con người càng khăng khăng bảo vệ bản thân càng rời rã, càng ra sức giữ chặt mọi châu báu đời sống của nó bao nhiêu, càng bị rơi vãi vào khoảng không bấy nhiêu. Dấu hiệu trước nhất của sự đồng nhất Thượng Đế là sự cho đi bản thân sự sống của nó. Điều này dẫn đến việc nó nhận lấy sự sống.

Nghịch lí thứ hai của nhận thức Thượng Đế là kẻ nào từ bỏ, sống nhún nhường trong sự hiến dâng, kẻ hiền hậu và kiên nhẫn, và phụng sự, quyền lực và sự thống trị sẽ là của kẻ đó.

Kẻ nào ẩn náu trong sự nhún nhường đến mức không ai có thể nói lời biết ơn với nó, và còn lại trong sự phi-hiện hữu để khỏi bị vinh danh: kẻ đó sẽ là kẻ toàn trí toàn năng, chỉ kẻ đó có những đức tính trên.

19.

Nếu tôi nhận ra Thượng Đế trong sự nhún nhường, và nhận ra Thượng Đế là người vĩnh viễn dâng hiến sự sống của mình cho thế gian, tôi thấy Thượng Đế trong phụng sự, và nếu tôi nhận thức ra được bản chất của tôi đồng nhất với Thượng Đế, tôi cần điều chỉnh tôi để dâng hiến chính đời sống của mình.

Nhận thức về Thượng Đế không nhiều hơn những gì những người khác đã làm, khác biệt duy nhất đối với Chúa Jezus “đây là điều cần”. Duy nhất điều này. Và tiếp theo là việc hiện thực hóa điều đó trong cả cuộc đời mình.

Sự hiến dâng. “Chúa Jezus không dạy dỗ môn đạo đức học nào mới, mà sống theo một điều duy nhất quan trọng không màng tới mọi hậu quả tiếp theo”.

20.

Tự chối bỏ bản thân (đức hi sinh) mười sáu năm sau được Jakob Böhme coi như trọng tâm của tư tưởng mình. Theo Böhme bản chất trong nhận thức tinh thần và trong hiện thực vật lí không khác biệt. Tất cả là một. Vật chất và tinh thần trong cội rễ của nó là bản thể đồng nhất.

Cũng như vậy với Böhme sự sống Thượng Đế là hành động đầu tiên, sau một thế hệ Newton đặt tên cái đó là định luật hấp dẫn (gravitácio). Trong thế kỉ XX Simone Weil định nghĩa lại tư tưởng này để dành cho con người.

Định luật hấp dẫn không phải là sự bất động nặng nề trần trụi như khoa học đã nhầm tưởng, mà là một chuyển động vô cùng tổng hợp từ sự kháng cự và cố gắng muốn quay về trọng tâm của các sự vật, từ sự khước từ và từ sức hút mang tính chất Thượng Đế.

21.

Tự chối bỏ bản thân-đức hi sinh là một trong ba khái niệm cơ bản của truyền thống, mang tính chất siêu hình học, là vũ trụ, đạo đức và vật lí, bắt đầu từ Upanisadok cho đến tận Böhme đều nhắc lại thường xuyên.

Tự chối bỏ bản thân - khái niệm này ở châu Âu người ta từng sử dụng và vẫn sử dụng trong việc giải thích đạo đức khổ hạnh. Ở đây có nghĩa như một sự hành hạ đời sống thể hiện trong việc sỉ nhục bản thân và sỉ nhục người khác, hay có nghĩa như một sự tự hành hạ thời trung cổ cùng với những phương pháp tra tấn (inkvizicio).

Tự hành hạ và hành hạ người khác không tách rời nhau, ở châu Âu, trong sự tự hiến mình ẩn náu tính thú vật của sự hành hạ đời sống. Bởi thế ở đây thật khủng khiếp nghĩ đến khái niệm tự chối bỏ bản thân, việc suy nghĩ và thực hành nghiêm chỉnh điều này làm tất cả những ai có đầu óc bình thường đều khiếp sợ.

Tuy nhiên, suy nghĩ thời hiện đại này lại không liên quan gì đến khái niệm chối bỏ bản thân trong truyền thống. Moksa-dharma từng cho rằng: tapasz không phải là sự xúc phạm đến một cơ thể bình thường.

Ai trong truyền thống Hi Lạp thực hành khổ hạnh hay trong truyền thống Ấn Độ thực hành tapasz, người đó không hề hành hạ đời sống, trái lại người đó chỉ từ chối sự hưởng lạc đời sống.

Không một truyền thống nào nói về sự hành hạ đời sống như ở châu Âu khi nói về sự tự từ chối bản thân, vì người châu Âu không hề biết điều này. Và Phúc Âm biết ít nhất về điều này khi vượt qua cả các quy tắc về việc duy trì ăn uống và ngày thứ bảy (sabbat.)

22.

Böhme rất có thể từng biết đến kinh Kabbala. Nhưng về truyền thống Ấn Độ thì chắc chắn ông không biết, vậy mà không một tư tưởng Ấn Độ cơ bản nào không trùng với lí thuyết của ông.

Hình dạng đầu tiên của Thượng Đế là lửa thiêu đốt mà Cựu ước và Veda nói đến. Đây là một điều cần thiết trong đêm mù lòa và vô thức, sự lạnh lẽo không có lửa cháy sáng trong bản thân, đây là sự tức giận điên cuồng của quyền lực các sức mạnh đen tối. Không có thế gian.

Chỉ có Một, trong bản thân và cho bản thân nó, cơn thèm khát quằn quại kéo bản thân nó vào chính mình. Chỉ có phi-hiện hữu tồn tại, đây là cái không có, bởi vì càng bám chặt vào bản thân, nó chắc chắn càng rời rã và tan ra, và không nắm được gì hết. Nó không nắm được chính bản thân nó. Tại sao? Bởi nó chỉ muốn chính nó. Nó biến thành băng giá, cơn điên cay đắng. Đây là nền tảng sâu nhất của sự sống. Đây là thuốc độc của địa ngục băng giá, khiến nó vội vã nhặt nhạnh tất cả, kéo đến gần mình và nuốt chửng.

23.

Nhưng bản chất mang tính chất Thượng Đế một giây phút duy nhất cũng không chịu đựng nổi đêm đen của vô thức và mù lòa. Tất cả những điều này, cái là quyền lực của sự hoang dại quyến rũ, cái là việc thu thập độc dược và sự ghen tị, sự keo kiệt, sự thèm khát, tính chất Thượng Đế không thể để mặc sự nổi giận trong nỗi bùng nổ khao khát và không cho phép bản thân rơi vào sức mạnh kéo mình về chính mình, để trở thành hư vô trong cái phi-hiện hữu, biến mình thành sự trống rỗng đen tối.

Bằng hành động siêu việt buổi ban mai của mọi ban mai, tính chất Thượng Đế quay lưng lại với sự thèm khát. Giải tỏa cơn quằn quại của cái Tôi, thả bản thân mình ra. Trên tất cả, trên sự đóng băng và đêm lạnh, trên vô thức và cơn giận hoang dại, thèm khát, tính chất Thượng Đế cố gắng cho phép một trạng thái tan chảy, không giữ chặt mà mở ra, không hít vào mà thở mạnh ra.

24.

Thượng Đế không phải lửa thiêu cháy, không phải quyền lực phẫn nộ và trả thù, giữ chặt bản thân kéo về phía chính mình và không bao giờ thả lỏng mình ra trong cơn quằn quại của cái Tôi. Nhưng Thượng Đế cũng không phải là sự sáng sủa của nhận thức tươi tỉnh, không là trật tự tuyệt đối và sự tốt lành cũng như sự bình thản cao cả và sau cùng.

Thượng Đế là một quyền lực tự giải tỏa tính chất đầu tiên riêng của mình trong đêm tối của cái Tôi và hãm phanh nó lại. Cần gọi thứ quyền lực thế gian là Thượng Đế, kẻ đã châm lửa đốt cháy tính chất đầu tiên trong bản thân mình và bằng ánh sáng của tính chất thứ hai đã chiến thắng.

Là kẻ mạnh hơn chính bản thân mình. Kẻ không lôi sự tăm tối từ bản thân mình ra mà bằng nỗ lực không ngưng nghỉ trong mọi khoảnh khắc của sự sống biến nó thành ánh sáng, biến thèm khát thành sự dâng hiến bản thân.

Hai tính chất đối ngược hẳn nhau, nhưng Thượng Đế không ở trong tính chất nào cả, chỉ như tính chất thứ ba cùng lúc trong cả hai tính chất, tạo dựng ra tính chất thứ hai từ tính chất thứ nhất một cách liên tục.

Thượng Đế là tia chớp ràng buộc cả hai tính chất vào nhau (Keraunosz, như Herakleitos nói, hay Blitz, như Böhme nói), với cách thức như sau: trong ánh sáng chói lòa của tia chớp, tính chất đầu tiên không ngừng biến thành tính chất thứ hai.

25.

Truyền thống không sử dụng từ tạo hóa. Trong kinh Tora từ bara (tạo ra) không sở hữu ý nghĩa mà sau này tôn giáo gán cho nó. Trong truyền thống Do Thái berija, acilut, jecira aszija của sự tạo dựng thế gian thực chất chỉ có ý nghĩa là một quá trình.

Böhme nói về Geburt der Dinge Geburt der Wlt, là sự sinh ra của các sự vật và của thế gian. Một sức mạnh, lớn hơn của cơn mãnh liệt phẫn nộ của tính chất đầu tiên mà sự tự chối bỏ - đức hi sinh - đã sản sinh ra, và thế gian được sinh ra từ hạt giống của sự tự chối bỏ này.

26.

Sự xuất hiện của thế gian không phải là một phép lạ đáng ngạc nhiên và không thể hiểu nổi như tôn giáo thường dạy dỗ, mà chính là kết quả của một sự gắng sức, khi Thượng Đế rải rắc bản chất những sức mạnh của tính chất đầu tiên vào sự phẫn nộ cuồng nhiệt, và vì thế vào khoảng không và sự tối tăm, quay về mình và chống lại mình, từ sự gắng sức này xuất hiện đột ngột hình dạng và mầm sống đầu tiên: ánh sáng.

Đấy là: quay về mình và chống lại mình - sức mạnh của tính chất đầu tiên - lửa, sự từ chối bản thân.

27.

Anugita cho rằng thế gian xuất hiện từ sự cháy bùng của lửa tự từ chối bản thân. Mahábhámata nói như sau: “Kẻ đã lựa chọn xong bản chất, rằng sẽ thực hành sự tự chối bỏ bản thân ngay ở mình, kẻ đó là thân sinh của các thực thể”.

Thế gian ra đời từ: tapasz.

28.

Một trong nhiều nghĩa của tapasz là lửa. Trong truyền thống Do Thái, agni cũng có nghĩa là lửa, nhưng đây là lửa thiêng của mặt trời, lửa Thượng Đế. Từ tedzsasz cũng có nghĩa là lửa, nhưng đây là lửa của sự sáng sủa rạng rỡ.

Tapasz là lửa tinh thần đã hãm phanh thiên nhiên. “Mặt Trời và Mặt Trăng chiếu sáng bởi trong nó là bầu trời tapasz”. “Sự đam mê và bản năng chỉ duy nhất có một sức mạnh hãm phanh được nó, đấy là tapasz”.

29.

Trong thời hoàng kim toàn bộ nhân loại sống trong ánh sáng của sự tự phủ định bản thân. Muộn hơn sự thực hành tự chối bỏ bản thân trở thành đặc quyền của đẳng cấp tinh thần (brahman). Ý nghĩa của sự sống brahman là duy trì và chuyển tiếp sự sáng sủa của tapasz. Ai không sống trong sự tự chối bỏ bản thân, kẻ đó sống trong sự phủ định tinh thần.

30.

Tự chối bỏ bản thân như tương đồng của lửa nổi bật lên trong tất cả các truyền thống. Trong thuật giả kim từ kim loại (các đặc tính) bằng lửa (sự tự từ chối bản thân) đốt cháy thành xỉ để hoàn thành sự trong sạch sau cùng của linh hồn (vàng).

Ở Trung Quốc sai-keng có nghĩa là đi trên con đường lửa về phía tinh thần hoàn hảo. Ở Tây Tạng lửa tumo là lửa bằng sự giúp đỡ của nó người tu khổ hạnh bước tiếp trên con đường mòn tinh thần. Ở Judea cũng như vậy có hiszpastot ha-hasmajoth. Ở Herakleistos lửa là bản án thế gian, mà tất cả cái gì bẩn thỉu thành tro và lửa là ý nghĩa của thế gian (logo). Böhme viết, chỉ còn lại cái gì chịu được sự kết án của lửa.

31.

Có một thứ quyền lực lớn hơn đời sống, đấy là lửa của sự hãm phanh đời sống.

32.

Kathaka-upanisad dạy rằng người ta chỉ đạt được sự bất tử, nếu kẻ ấy thắp trong bản thân mình lửa của sự dâng hiến. Đây là lửa “dẫn đến phúc lạc”. Là lửa, “cháy để chúng ta đạt tới sự sáng sủa”. “Lửa dẫn đến thiên đường là lửa của sự tự chối bỏ bản thân”.

33.

“Ta muốn sáng tạo và ta muốn trở thành sự đông đảo, Thượng Đế nói và sáng tạo sự tự chối bỏ bản thân đầu tiên”.

“Thế gian sinh ra từ sự tự chối bỏ bản thân”.

34.

Kẻ chỉ muốn bản thân mình, và không hãm phanh sự điên rồ thèm khát của tính chất đầu tiên, và kẻ không sống trong sự tự chối bỏ bản thân, và không ngoi lên hoàn toàn từ sự phi-hiện hữu băng giá, đấy là sự trống rỗng băng giá nuốt chửng và cháy trong lửa tăm tối.

Lửa sáng của sự tự chối bỏ bản thân sẽ làm con người thành hiện hữu.

35.

“Bằng nhiệt của sự tự chối bỏ bản thân biến mình thành khả năng có thể” (Artharva Veda 2,1).

36.

Tên gọi chính của Thượng Đế trong truyền thống Ấn Độ là atmaparadzsita, có nghĩa là, như một kẻ mạnh hơn bản thân nó.

37.

Con người từ sự sống chỉ dự phần có ngần ấy, trong lượng lửa sáng của sự tự chối bỏ bản thân mà nó tự thắp lên trong nó.

38.

Truyền thống phân biệt giữa lửa cháy lạnh lẽo của tính chất đầu tiên và lửa của sự tự chối bỏ bản thân (tính chất thứ hai, tinh thần). Cái đầu tiên người ta gọi là bản năng và sự vô thức, cái thứ hai người ta gọi là ý thức và nhận thức.

39.

Sự xuất hiện của Thượng Đế không có trong bóng đêm cay đắng và hoang dã của tính chất đầu tiên. Nhưng cũng không có trong sự cân bằng, sự bình yên và trong ánh sáng. Thượng Đế nằm trong sự chuyển đổi, nơi sức mạnh lớn hơn sự phẫn nộ tắc nghẹn ở cổ.

Thượng Đế ở trong cử chỉ ấy và từ đó tỏa sáng, khi trong sự tự chối bỏ bản thân quay chống lại tính chất riêng của chính mình và đắc thắng bước ra khỏi sự chuyển đổi này, nhưng cũng ngay lúc đó lập tức đối diện với các sức mạnh đen tối, lại một lần nữa quay chống lại chính mình và lại một lần nữa chiến thắng chính mình.

Sự nỗ lực gắng sức để luôn là mình, cùng lúc cao hơn bản thân mình. Để sống và chiến thắng bản thân. Để thả lỏng mọi đam mê một cách tự do và phanh giữ nó. Chìm vào bóng tối để tỏa ra như ánh sáng.

40.

Giữa tia chớp vô thức và phi-hiện hữu hoang dại biến thành thế gian là Lời. Trong truyền thống Ấn Độ, trong Kabbala, ở Herakleitos, ở Böhme. Lời (logo) là cái buộc thiên nhiên với tinh thần. Là cái làm cho phi lí trở nên có lí. Vô nghĩa trở nên có nghĩa. Vô hình trở nên hữu hình. Là cái nâng các sự vật từ vô hình trở nên hữu hình.

Trở thành hữu hình chỉ có nghĩa ngần này: đặt tên. Ngôn ngữ là lửa sống, là cái tạo dựng. Chỉ có cái mà ngôn ngữ nói ra. Bởi vậy truyền thống bảo: Thượng Đế tạo ra thế gian bằng Lời. Theo Kabbala con người đầu tiên biết tên thực của các sự vật. Ở Alexandria người ta dạy rằng Chúa Jezus là thân thể hóa của logo.

41.

Trong truyền thống người ta cũng thử tiếp cận sự xuất hiện của thế gian bằng hình ảnh khác. Kinh Kabbala, thuật giả kim và Böhme cho rằng Thượng Đế đã hãm phanh lửa cháy thiêu của thiên nhiên đầu tiên bằng nước. Bởi vậy ở dân Do Thái biểu tượng của thế gian là tam giác ngược (lửa), ở Herakleitos là preszter - hơi nước của hơi thở nóng bỏng. Sự thống nhất của lửa-nước trong thuật giả kim là muối (sal), vật chất cơ bản của thế gian. Trong Kabbala lửa ( és ) và nước (samajim) cùng nhau là thế gian vĩnh cửu, hay là thiên đường (samajim).

Đây cùng lúc là biểu tượng của androgünosz, bởi thân thể hóa bản chất của lửa là người đàn ông và của nước là người đàn bà. Sự hiến dâng (tự từ chối bản thân) của đàn bà làm tan chảy đam mê của đàn ông.

Cái vĩnh cửu trên thế gian sẽ tiếp diễn là sự tương đồng và sự lặp lại của cái đã xảy ra trong Thượng Đế ở thời điểm tạo dựng thế gian.

42.

Cả thiên nhiên, cả tinh thần, có vẻ như độc lập với Thượng Đế, bởi Thượng Đế làm cho thế gian có vẻ như độc lập với chính bản thân nó. Bởi vậy Thượng Đế trên thế gian không thể xác định. Ai muốn tìm thấy Thượng Đế, cần phải tháo tung cả thiên nhiên lẫn tinh thần. Thượng Đế sống ở đó, như lửa của sự hiến dâng, như sự tự từ chối bản thân.

43.

Con người chiếm chỗ trong tự nhiên, nơi theo đấy, họ sinh ra giữa những điều kiện như thế nào, có thể sống trong sự mù mờ của một cuộc sống hạnh phúc hay bất hạnh. Con người có thể chiếm chỗ trong tinh thần, nơi theo đấy họ mơ những giấc mơ như thế nào, có thể tưởng tượng như thế nào. Cái này cũng phi-hiện hữu y như cái kia.

Con người còn lại trong khoảng không. Không có gì khác ngoài một cử động, từ thiên nhiên phụt ra tinh thần. Thế gian không có ở nơi khác ngoài trong tia chớp, nơi từ bóng tối sinh ra ánh sáng.

44.

“Biểu hiện ra, như màu trắng, như màu đỏ, như màu đen, như màu bạc, như màu mặt trời. Không sống ở trái đất, chẳng ở không khí, biển không nuôi dưỡng.

Không tỏa sáng trong các ngôi sao, không lóe lên trong tia chớp, không nhìn thấy cả ở các đám mây, cả trong gió không, cả trong các vị thần không, không có ở Mặt Trăng, không cả ở Mặt Trời.

Không có trong thơ ca, không có trong các bài hát hiến dâng, trong các quốc ca cũng không, trong các bài ca tôn danh cũng không, trong lời thề cũng không nốt.

Vượt qua sự tăm tối, bất khả chiến bại, nếu giây phút cuối cùng đến, ngay cả cái chết cũng tan ra trong nó. Nhỏ hơn cả cái nhỏ nhất, sắc hơn dao cạo, và lớn hơn cả những ngọn núi khổng lồ.

Tất cả chúng ta đứng nơi đây, đây là sự bất tử, đây là Brahman, là đấng tối cao, hởi mọi thực thể xuất thân từ đó và chìm đắm vào đó. Không biết bệnh tật là gì, đấng vĩ đại kẻ như bầu trời, bao phủ tất cả. Chỉ biến thành Lời, các vị thông thái nói thế.

Đấy là nền tảng của thế gian, và ai nhận biết được, kẻ đó bất tử” (Szanatszudzsata parvan).

45.

Nhận thức về Thượng Đế của Phúc Âm nằm trên nền tảng thấu hiểu được sự tự chối bỏ bản thân của Thượng Đế. Rằng, Thượng Đế rút lui khỏi thế gian, không can thiệp vào số phận của bất cứ ai, bằng bất cứ biện pháp nào và làm chứng cho sự kính trọng quyết định tự do của tất cả mọi người.

Truyền thống Do Thái luôn biết về điều này. Muộn hơn người ta đặt tên điều này là zimzum. Chúa Jezus chắc chắn kinh nghiệm được sự vinh danh và sự toàn trí toàn năng của Thượng Đế.

Sự cao cả của Thượng Đế nhìn thấy trong sự tế nhị không chặn đường của bất cứ ai và bất cứ cái gì. Trong sự âu yếm, khi cho phép, trong sự trìu mến, khi tránh ra. Như cái cách Thượng Đế luôn biết thốt lên: hãy theo như ý muốn của con. Trong sự nhún nhường, khi chịu đựng sự điên rồ và đểu cáng, khi chịu đựng sự bất công và sự ô nhục.

Điều làm lay động Chúa Jezus không phải là sức mạnh khủng khiếp và tri thức không gì so sánh nổi, cũng như ý nghĩa tốt đẹp, ý chí tạo dựng thế gian của Thượng Đế, khiến Chúa Jezus phải cúi rạp xuống. Điều khởi động trái tim Chúa: Thượng Đế là người cha, người Chúa Jezus không thờ mà yêu. Là người cha đưa bản thân mình ra không lựa chọn cho tất cả mọi người, người cha chăm lo, cao thượng và hiền hậu, người cho thế gian tất cả bản thân mình, đặt mình dưới sự phập phồng của vô vàn đời sống, và giữ lại cho mình đến một tia lửa cũng không.

46.

“Điều lớn nhất vầ nhiều nhất - Kierkegaard nói - có thể làm được với một thực thể sống, cho nó nhiều hơn bất cứ của cải nào, là để cho nó tự do. Nhưng để ai đấy làm được điều này, cần phải trở thành toàn năng...

Bởi vì duy nhất chỉ toàn năng biết rút lại sự thể hiện của nó vào chính nó để người nào đứng trong vòng ảnh hưởng đó vẫn ở lại một cách độc lập. Để một người khác hoàn toàn được tự do, con người duy nhất cũng không có khả năng làm nổi.

Bởi vì nếu ai đứng về phía quyền lực sẽ ở trong quyền lực, và không có khả năng không sử dụng quyền lực của nó. Chỉ sự toàn năng biết cho, và cùng lúc biết lấy lại chính bản thân mình. Tất cả mọi quyền lực hữu hạn đều mang đến vị trí phụ thuộc. Chỉ quyền lực Thượng Đế tạo ra sự độc lập”.

47.

Mọi cuốn sách thiêng đều là sự mở ra của các vương quốc siêu việt. Duy nhất Phúc Âm là cuốn sách thiêng mở ra các vương quốc siêu việt để gọi tên Thượng Đế, và gọi đúng tên thật như gọi một người cha.

Chúa Jezus biết từ này. Một từ không thể cất nên lời. Đây là sự thống nhất giữa tư tưởng và lời và hành động, hay nói cách khác là sự đồng nhất của linh hồn, lời và hành động.

48.

Con Người Thượng Đế là sự thực hiện đồng nhất với Thượng Đế. Không phải sự thực hiện để nhận lòng tôn kính, bởi vì điều này vô tận và thực hiện cái người ta cầu khẩn, bởi vì nó đáng sợ, mà đây là thực hiện một thứ duy nhất, thiếu nó con người không thể biến mình thành cái quan trọng nhất trong Thượng Đế: trở thành kẻ dâng hiến.

Chỉ thứ tôn giáo dựa trên quan niệm của một hiện thực hư hỏng mới có thể giả thiết rằng, trong Chúa Jezus các quyền lực hoang dã của tính chất đầu tiên không tồn tại, và Chúa Jezus không biết gì về bóng tối của các đam mê và sự thèm khát.

Nhưng dù chỉ một giây phút thôi cũng không bao giờ được nhầm lẫn, coi thứ đó là một cái gì khác ngoài lửa, một ngọn lửa cao gấp bội và có khả năng hãm phanh những điều này.

49.

Những điều đó là sự bất lực khủng khiếp, sự bất lực của sức mạnh, sự bất tỉnh, sự bất tỉnh của quyền lực, sự tăm tối, sự tăm tối của tri thức. Đây là sức mạnh khủng khiếp, sức mạnh của sự tự chối bỏ bản thân, đây là quyền lực, là quyền lực của sự dịu dàng, và đây là tri thức, tri thức của lòng yêu thương.

Chúa Jezus chắc chắn không đi tìm Thượng Đế mà ngay từ đầu đã nhận biết ra Thượng Đế, vì Chúa đã rút lui bốn mươi ngày vào sa mạc để từ bỏ những đòi hỏi. “Thật đáng giật mình khi Chúa Jezus đã sống như thế nào và làm gì trong sự tồn tại chắc chắn của Thượng Đế”. “Người không kháng cự, không giận ai, không coi thường ai, không tự bảo vệ quyền lợi của mình, không phủ nhận gì hết, cả nhà nước, cả chiến tranh, cả công việc, cả xã hội, cả cộng đồng”.

Đời sống không phải là nơi con người hiện sinh mà là nơi có hiện thực, có Thượng Đế. Người thật sự “có” - người ta gọi là Thượng Đế.

50.

Trong truyền thống Do Thái phần gần gũi nhất khi nói về Chúa Jezus chính là Thánh Vịnh. Trong thánh vịnh rất ít lời tuyên bố không đề cập đến mục đích, không sử dụng, trích dẫn các dòng, các từ ngữ từ đó. Một trong những từ quan trọng nhất của thánh vịnh là heszed. Từ này thiếu vắng những nghĩa bóng sâu sắc hơn nhưng ứng với từ kharisz của Hi Lạp và gratia của Latin và trong những nét chính hoàn toàn phù hợp.

Trong các ngôn ngữ dân tộc châu Âu không có từ tương tự. Người ta thường dịch là ân sủng, rất vô nghĩa và thô kệch, giả dối. Heszed là một thứ quyền lực không đo nổi, một thứ không thể biểu lộ bằng cách nào khác ngoài sự dịu dàng. Ân sủng thực ra là một sự nghiêm khắc đã mềm đi, là mức độ dịu xuống của sự nghiêm khắc giữa kẻ bị kết tội và kẻ xử án. Trong từ heszed không có nghĩa này, trái lại nó mang ý nghĩa niềm vui thì đúng hơn.

Lời đón mừng Do Thái, như Thánh Phao lô đã sử dụng: heszed va-salom - tình thương yêu và hòa bình. Lắm lúc đây là sự hân hoan, đôi khi là phước lành, sự đảm bảo, sự ngây ngất, sự gắn bó trên cả nó là thế gian ngập tràn heszed, hay là nỗi dịu dàng đầy ắp tình yêu thương.

Nhưng heszed như kharisz gratia, còn có nghĩa là sự ân cần và dễ thương. Trong đó có cả nụ cười và sự vuốt ve, và nếu pneuma tesz kharitosz (ruah neddibbah) gắn bó với con người, nó không đủ khả năng để chịu đựng sự bất hạnh, sự nhiễu nhương, sự phân vân và mờ mịt quanh nó. Heszed là mặt kia của sự kết án, khi quan tòa bước xuống bục ôm phạm nhân vào lòng và hôn.

Phúc Âm nói, Thượng Đế khoác chiếc áo cứu thế cho quyền phán xử, và bằng điều này đưa cho nó heszed, sự hiền hậu, sự khéo léo và sự dễ thương. Thượng Đế không bao giờ làm ai đau và tha thứ cho tất cả mọi người. Rằng Thượng Đế tri tài tri toàn, điều này phần lớn thuộc về thần học. Nếu Chúa Jezus nói chuyện với Thượng Đế, ngài thấy Thượng Đế hiền hậu và ân cần. Bởi vậy Chúa Jezus gọi mời tất cả mọi người như thể trong những con người đó Thượng Đế đang sống.

51.

“Chưa hề bao giờ có ai sống để nói như vậy”.

Khi Thượng Đế nói với ai, lập tức điều này được nâng lên khỏi mối quan hệ mang tính xã hội, quyền lực và đẳng cấp của bất kì ai, và đặt họ trong hiện thực riêng của họ. Thượng Đế nói với tất cả mọi người như nói với một Thượng Đế khác. Người này không ở trên người kia, không ở dưới người kia, không nhiều hơn, không ít hơn. Hai người đối diện nhau. Trong mối quan hệ này không có trên và dưới. Mà được gọi là Thượng Đế trong mỗi người.

52.

Nỗi sợ hãi biến thành sự không trong sạch. Làm bẩn bộ mặt Thượng Đế trong con người: “Vượt qua mọi thất bại và thử thách, mọi chiến thắng và ngõ cụt và sự đổ vỡ, những cánh cửa của ngôi nhà thật sự của con người mở ra”.

53.

Đời sống là sự tăng trưởng hướng tới trạng thái tuyệt đối mà tất cả mọi người đều mang trong bản thân mình. Hướng tới, khi sự tuyệt đối nằm trong tôi, không còn nghi ngờ gì nữa, sự tuyệt đối này nói trực tiếp với Thượng Đế. Không cần những luyện tập khổ hạnh để con người đạt tới. Không cần thiết chay tịnh và tập tục đặc biệt. Chúa Jezus đã bị trách vì ăn tất cả các loại thức ăn, các tông đồ cũng không ăn chay, và không giữ nghi lễ ngày thứ Bảy.

“Đấy là một, thứ cần”. Ngoài sự ngoan ngoãn với luật của Thượng Đế ra mọi cái khác đều không nghĩa lí gì, bởi mọi cái khác chỉ là hậu quả của cái Một này. Có vẻ như Con Người Thượng Đế đã bước ra khỏi trật tự của thế gian.

Không phải như vậy, bởi tất cả những gì đúng: “không xóa được mà chỉ củng cố thêm”. Và cái không đúng trong điều Chúa Jezus nói là: “hãy để hệ thống, sự khoan hồng, cảm xúc, điều kiện, trí óc và luật pháp vỡ vụn ra”.

54.

Con Người Thượng Đế là bản án, không phải của toàn bộ tư tưởng, việc làm, lời nói của chúng ta, mà trên bản chất của chúng ta. Con Người Thượng Đế là sự thực hiện hoàn toàn tính chất con người.

Tất cả, cái trong đời sống người đúng và đã hoàn thành, sự đánh giá về các thời đại, về thế giới quan, về dân tộc, các mô tip tâm lí, như sự đánh giá mang tính chất con người đã được định nghĩa một cách siêu việt và sau cùng, chỉ theo mức độ của Con Người Thượng Đế. Không phải theo lời nói, hoặc việc làm, hoặc đời sống hoặc tấm gương mà theo bản chất của nó.

Xã hội hoặc nhà nước, cá nhân hoặc gia đình, tác phẩm, hành động hay lí tưởng chỉ đúng nếu so sánh với Con Người Thượng Đế. Tất cả những gì không thành công, so sánh với nó mới là sự đổ vỡ, thất bại, bị sỉ nhục, ngu xuẩn, hay lầm lẫn. Tất cả những gì đi chệch, là đi chệch khỏi nó, cái là tội lỗi, so sánh với nó mới là sự tránh đi, sự phản bội, và làm xúc phạm nó.

Không nhận ra Con Người Thượng Đế không phải là một sự hạn chế mà là một thiếu sót. Phủ nhận nó là một thí nghiệm tuyệt vọng. Chúa Jezus là một hiện thực hóa sự đồng nhất của Con Người Thượng Đế.

55.

Nhiều Cha của giáo hội gán ý nghĩa cho việc Chúa Jezus sinh ra trong một dân tộc nô lệ, là người Do Thái, trong đẳng cấp thấp, ở tầng đáy, trong am ha arec “một đám người thấp kém tầm thường”, như một trong những người đó. Chúng ta đều biết, những kẻ thù của Chúa thường dùng cách gọi sỉ nhục để gọi ngài (mamszer u-ben ha-nidda - con của mụ đàn bà thấp kém có kinh nguyệt hằng tháng).

Brunner ở đâu đấy (ông không nói là ở đâu) đã tìm ra mục đích này, và chỉ ra ở các bức vẽ Krisztus. Theo nguồn của Brunner, Chúa Jezus rất thấp, gầy gò, da rất đen, tóc đen, nhiều râu tóc, một người yếu ớt, với những khiếm khuyết cơ thể. “Để đừng ai còn rêu rao Chúa có thể méo mó hơn và gầy guộc hơn” .

56.

Chúa Jezus khi biến Thượng Đế thành hữu hiện trong bản thân, đã không hiện thực hóa một hình ảnh và một tư tưởng, một lí tưởng và một tri thức, mà hiện thực hóa một hành vi hiện hữu mang tính chất Thượng Đế, đấy là sự thức tỉnh bùng phát trong đó đêm đen đầu tiên của thiên nhiên, biến thành ánh sáng có ý nghĩa.

57.

Thức tỉnh bùng phát của sự tự chối từ bản thân: mi là của ta, ta là của mi. Halladzs tuyên bố: “ta nhìn thấy ngài, ta hỏi ngài là ai, ngài trả lời: ta là mi” - “Ta là Ngài và Ngài là ta” (Aitareja aranjaka, 22,4,6).

58.

Minh triết (illuminacio) là nội dung của Phúc Âm, trước hết mang tính tri thức, sau đó mới mang tính chất sâu sắc, rúng động, vĩ đại và thánh hóa. Bởi vậy không thể hình dung rằng đời sống con người, dù như một cá nhân, hay trong xã hội, trong nhà nước hoặc trong gia đình lại có thể hoàn thành một cách khác so với cách Phúc Âm đã nói. Cái khác với nội dung của Phúc Âm, như người Do Thái thường nói, elilim , là ảo ảnh của những viễn tưởng hoang đường vô ích, chỉ đẩy con người ngày càng sâu vào sự mờ mịt và hậu quả của nó là nỗi đau khổ ngày càng lớn.

59.

Illuminacio mang ý nghĩa trong suốt, nghĩa là thế gian trở nên hoàn toàn trong suốt, minh bạch. Người nào sở hữu điều này, người đó có quyền lực chính. Quyền lực chính Phúc Âm gọi là exouszia (tiếng Do Thái: resuta ). Người ta viết về Chúa Jezus: Chúa nói như một kẻ có một quyền lực chính. Khi Chúa Jezus cất lời, một cái gì đó mở ra. Sự mờ mịt tan ra. Mọi từ của ngài đều là sự nhập định. Nhập định chỉ có nghĩa như sau: bước ra ban ngày.

Exouszia là thứ quyền lực xua đuổi ma lực của sự bẩn thỉu và tăm tối, giải phóng những sức mạnh của thế giới ánh sáng. Quyền lực chính, theo truyền thống Do Thái chỉ ai được Thượng Đế ủy nhiệm riêng mới có được.

60.

Người có quyền lực chính thực hành trước thiên nhiên, như làm lắng xuống những sức mạnh thèm khát, hãm phanh gió và xoa dịu đại dương điên cuồng, với ba con cá làm no năm nghìn con người, và làm người chết sống lại.

Chúa Jezus không tha thiết với thực hành này của exouszia . Sức mạnh tạo nên sự kì diệu là sự thực hành phép thuật, khả năng và sự thực hành cao cấp này không phải là không nguy hiểm. Cần phân biệt giữa dấu hiệu (szemeion) là sự hiện diện của quyền lực chính và ảo thuật (terata), cái làm thay đổi trật tự hợp pháp của thế gian. Cái thứ nhất luôn mang lại sự sáng sủa, tỉnh táo, cái thứ hai thường xuyên là sự rối loạn.

Ở Ấn Độ tên của exoiiszia sziddhi , và người ở cấp độ cao ít khi sử dụng nó. Sức mạnh của Chúa Jezus chỉ được thực hành ở nơi không thể làm khác và mang ý nghĩa mở ra ban ngày đối với một ai đó.

61.

Thực hành quyền lực chính đối với Chúa Jezus chỉ thuận lợi trong một trường hợp duy nhất, khi làm cho ai đó thoát khỏi tội lỗi. “Tội lỗi là mức độ thấp nhất của việc thực hành làm người” . Trong nhiều trường hợp không là gì khác ngoài sự lười biếng và bất hạnh.

Tội lỗi, đối với Chúa Jezus là hậu quả của lòng không chung thủy của con người với Thượng Đế trong buổi ban mai của thế gian khởi điểm. Tội lỗi biến con người hư hỏng về đạo đức, suy thoái về tinh thần và mắc bệnh về cơ thể.

Cứu con người khỏi tội lỗi - trong đạo đức, tinh thần và sức khỏe - là một lần nữa bước vào mối quan hệ hợp pháp với Thượng Đế. Chừng nào tinh thần của con người suy thoái, hư hỏng và bệnh tật, chừng đó sự đồng nhất duy nhất không thể thực hiện nổi.

Chúa Jezus bằng lời nói ( elohim atem - các ngươi là Thượng Đế) tiếp xúc với kẻ phạm tội và thanh tẩy nó. Mi hãy lên đường và dâng hiến. Mi đừng phạm tội tiếp. Mi hãy giữ lòng chung thủy của mi.

62.

Cái Phúc Âm gọi là pisztisz (tiếng Latin: fides ) dịch ra các ngôn ngữ khác là đức tin, thực chất làm méo mó nghĩa cội nguồn của từ này. Đức tin là tính chất trí tuệ của nó, và chỉ thấy rõ ở Alexandria ( gnoszisz ). Nhưng ở đó pisztisz có nghĩa là sự tin cậy và gnoszisz có nghĩa là kiến thức chuyên môn. Từ sự hiểu nhầm này khởi xướng một cuộc tranh cãi đức tin - tri thức vô nghĩa kéo dài hàng nghìn năm, cho đến tận ngày nay.

Trong Phúc Âm, pisztisz có nghĩa là sự chung thủy, hay còn gọi là emunah , một từ quan trọng nhất và sử dụng thường thuyên nhất của Thánh Vịnh, sức nặng của từ này ngang bằng với từ heszed . Phúc Âm không biết đến khả năng trí tuệ đứng riêng rẽ, tự do, không ràng buộc. Trong một cuộc sống có đời sống phù hợp không có tính chất tích hợp (integrál). Bởi vậy không thể nói đến đức tin như một tính chất đứng riêng tách khỏi các tính chất khác, hoặc đối kháng. Bản thân văn bản đã giải thích điều này khi Phúc Âm nói: “niềm tin di chuyển những ngọn núi”,-“niềm tin mạnh mẽ”, - “Niềm tin của mi duy trì mi”.

63.

Từ emunah trong Thánh Vịnh diễn tả mối liên hệ qua lại giữa Thượng Đế và con người, khi văn bản luôn gọi Thượng Đế là kẻ chung thủy và gọi con người là kẻ trung thành với Thượng Đế. Thượng Đế và con người gắn kết với nhau. Nếu lòng chung thủy này chỉ như một hạt mù tạt, thì quyền lực lại có thể lay chuyển được cả núi. Sự hướng về nhau của con người và Thượng Đế tự do và hợp luật. Lòng chung thủy là sức mạnh lớn nhất. Kẻ nào phản bội, kẻ đó bị đánh mất. “Ôi giống loài không chung thủy, ta còn ở lại với mi đến bao giờ!” .

64.

Kinh Zohár cho biết, Abraham kiếm tìm Thượng Đế trong thực vật, trong động vật, trong cát bụi và trong các ngôi sao, nhưng không tìm thấy. Sau cùng ngài tìm kiếm trong vô hình và bắt gặp ở đấy.

65.

Không thể bắt gặp Thượng Đế trong thế gian. Nếu con người nhìn ra ngoài, không thấy ở đâu cả. Nhưng nếu nhìn vào bên trong, cũng không thấy ở đâu cả. Thượng Đế không khách thể hóa. Thượng Đế ở, nơi: “Ta trong ngài và ngài ở trong ta”. “Kinh nghiệm về Thượng Đế là khoảnh khắc trong sạch tuyệt đối của sự sống” (G. Marcell).

Để con người bắt gặp Thượng Đế cần một con mắt đặc thù. Một cái nhìn không chớp hướng vào trọng tâm. Không thể thấy, theo Unipanisad, vì ngài là người thấy. Không thể nhận ra vì ngài là kẻ ngộ. Một cá nhẤn Độc lập với mọi hành động, mọi tư tưởng, mọi lời nói.

“Kẻ nhận biết ra Brahman, đó là Brahman” (Mundaka-upanisad 3,2,9). Nếu một người nâng mình lên đến với Thượng Đế, chỉ có ngần này: như thể bước vào chính bản thân mình, nhưng không chỉ trong bản thân mình, mà còn đạt tới cái sâu nhất trong chính bản thân nó (Victor Hugo).

Sự đồng nhất (szvarupa tvam) không phải là hệ quả của một cái nhìn không chớp. Ý thức về sự đồng nhất đi trước mọi cái. Không nhận ra sự đồng nhất chỉ có nghĩa chừng này: sống trong mờ mịt.

66.

Châu Âu đã và đang không biết làm gì với một thiên nhiên đang giận giữ và với sự căng thẳng của một người Cha hiền từ. Con người đã hai nghìn năm nay trong bản thân mình đứng bất lực, vô hướng giữa sự tỉnh táo của một sinh linh mang tính chất Thượng Đế và sự phản kháng chống lại sự tỉnh táo này.

Chúa Jezus không tách rời khỏi thiên nhiên đầu tiên vì sự tỉnh táo, cũng như không tách rời sự tỉnh táo vì thiên nhiên. Con Người Thượng Đế buộc cả Thiên lẫn Địa vào nhau. Hiện thực hóa chỉ có nghĩa ngần này: con người khoác lên mình cả vũ trụ và nâng đời sống trần thế lên cao. Không tách riêng cái nào bởi cả hai là Một. Chúa Jezus nói: Trao cho ta mọi quyền lực trên trái đất và trên trời, và cùng lúc đó rửa chân cho đứa học trò của Người.

67.

Thế gian từng xa lạ và luôn xa lạ, luôn là cái bên ngoài, là ở ngoài, đứng xa cách với con người, là cái con người không bao giờ ở trong, là cái đối với con người cùng lắm là sự bắt buộc, là định mệnh và là sự khó khăn, đối với con người cao nhất là một hiện thực cần thanh toán, cần nhận biết, cần chịu đựng, và cho dù nó tiếp cận thế gian gần gũi đến đâu, nó cũng không bao giờ đạt tới, bởi thế gian luôn là cái khác.

Mối quan hệ của con người với thế gian, đối với con người chỉ là sự thích nghi vô hạn. Không bao giờ hoàn toàn, kể cả chỉ bổ sung cũng không. Trong thế gian có một cái gì đấy con người không chấp nhận và cũng không thể chấp nhận. Cùng lắm nó ngây ngất trong đó, cùng lắm nó vui mừng vì có thể cảm thấy dễ chịu trong đó trong một khoảng thời gian nhất định. Thế gian xa lạ và không thể quen nổi.

Sách Phúc Âm không nói đến đối kháng thế gian, nhưng cũng không nói về cách thích nghi, cùng lắm đôi khi lảng tránh thế gian. Không đến gần thế gian nhưng cũng không phủ nhận. Trên thế gian có một quyền lực nào đấy luôn thống trị và vô luật. Nhưng Phúc Âm không chống lại nó.

Chúa Jezus không phân biệt giữa cái bị báng bổ và cái thiêng liêng. Tất cả là Một. Jezus định hình luật lệ cho con người và thế gian, giữ gìn luật lệ này và không buông bỏ. Chúa Jezus là kẻ có nơi cư trú. Đây là nhà của Chúa. Và Chúa không từ bỏ cái gì hết.

68.

Kitô giáo ngột ngạt trong cơn nổi loạn chống lại thế gian. Nó chia đôi hiện thực thành bên ngoài và bên trong, thành dưới và trên, thành vật chất và tinh thần, thành thiên nhiên tăm tối và sự tỉnh táo. Và bằng những điều này, nó phủ nhận thế gian. Với niềm tin rằng cần tránh xa thế gian, cần khinh bỉ và cần chống lại thế gian.

Tuyệt thực, sống độc thân, cô độc, giới giáo sĩ, khổ hạnh, ở châu Âu hiếm nhà tư tưởng nào không xuất phát từ sự chối bỏ thế gian. Trả thù đời sống. Phần lớn chỉ vì trong đời sống có quá nhiều niềm vui.

Người ta gọi kẻ lấy tay che mặt trước thế gian là kẻ theo Thiên Chúa. Còn kẻ nào tiếp nhận niềm vui, ngay lập tức thấy cần phải trả thù tinh thần. Sự thù hằn thế gian và sự thù ghét tinh thần. Muộn hơn người ta đặt tên cho chúng là chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa duy vật.

Phản bội tự nhiên trong tinh thần và phản bội tinh thần trong tự nhiên.

69.

Con người còn lại với bản thân nó. Kì lạ, như thể Thượng Đế trở thành kẻ không chung thủy. Trạng thái này là trạng thái bị bỏ rơi. Và đây là hoàn cảnh của nhân loại thời lịch sử.

Các thế lực, các giáo chủ, các vua chúa và Đại Pháp Quan, hoặc những kẻ phạm tội khác đã và đang tiến hành cả một đội quân những điều bất công rợn gáy, và Thượng Đế chẳng mảy may chớp mắt. Thượng Đế chịu đựng hàng triệu triệu con người của lịch sử thế gian đau khổ dưới những ách cai trị đẫm máu, chịu đựng các thuộc địa, sự tàn sát tập thể, sự tra tấn tù đày, chịu đựng sự dối trá.

Những kẻ độc ác đều tính toán chắc chắn rằng Thượng Đế không cản trở chúng gây tội ác. Đây là trạng thái bị bỏ rơi. Thượng Đế đã bỏ mặc thế gian. Sự phân vân ngự trị trên công lí. Tất cả những ai, bằng sự kiên trì và hiền hậu vô hạn của Thượng Đế tính toán và đi theo những việc xấu lớn, bé, đẫm máu hay không đổ máu, kẻ đó thắng.

Thượng Đế sẽ không thực hiện công lí. Và công lí trải qua hàng ngàn năm bị giẫm đạp, hành hạ, phỉ nhổ và phản bội, và những kẻ ác cùng những kẻ phản bội trở nên hân hoan và giàu có bằng quyền lực. Có cần phải hoang mang phân vân bởi những điều này? Con người có thể nói gì hơn? Tại sao cha lại bỏ rơi con?

70.

Nhưng có thể nói những điều khác nữa.

Rằng ta làm chứng bên cạnh công lí, mà hậu quả của nó là đời sống cay đắng và sự săn đuổi, sự nghèo khó, sự sỉ nhục, sự chế giễu và chửi bới. Kẻ nào coi trọng công lí, sự thật, kẻ ấy quấy rầy thế gian. Ai có thể? Con trai của mụ đàn bà thấp kém chảy máu kinh nguyệt hằng tháng.

Nhưng nếu có vẻ như Thượng Đế đã bỏ rơi, ta nói, và tin rằng dù Thượng Đế làm gì hoặc không làm gì đi chăng nữa, ta sẽ không bỏ rơi Thượng Đế. Thượng Đế không ở bên cạnh ta và bỏ ta một mình, ta sợ như vậy, bởi ta yếu đuối đến cùng cực.

Nhưng ta không xua đuổi Thượng Đế. Thượng Đế nghe thấy chăng, nỗi lòng thủy chung của ta là của Thượng Đế - semáj Jahve Elohim emunatha !

71.

Chúa Jezus đặt đất nước của Thượng Đế vào vị trí của thế gian. Đất nước của Thượng Đế trong truyền thống (ở Ấn Độ là Brahma-pura , ở Iran là khsatra vahista ) là sự thực hiện nền tảng cơ bản trên toàn bộ nhân loại.

Người Do Thái gọi là malkuth hoặc malkuth ha-samajim , còn Kabbala dạy rằng đây thoạt đầu là sự kết tinh sau cùng của những đặc tính Thượng Đế chiếu rọi (szefiroth) và là sự hoàn thành của vương quốc vĩnh cửu. Trong sách Phúc Âm tên đất nước Thượng Đế là baszileia toil theou .

Nghĩa gốc của từ Hi Lạp haszileia nghĩa là vương quốc linh mục. Trong cá nhân kẻ thống trị tính chất thượng đẳng tinh thần của đẳng cấp brahman và quyền lực thế gian của đẳng cấp hiệp sĩ (nói theo ngôn ngữ của Guénonautorité spirituelle pouvoir temporel ) hợp nhất.

Trong baszileia dân chúng sống trong thời hoàng kim. Trong thời đại tăm tối đẳng cấp vua chúa thế gian (nỗi đam mê của thiên nhiên đầu tiên) và thượng đẳng tinh thần (sự tỉnh táo nhận thức) đã làm mất nhau và không tìm thấy nhau.

Truyền thống Viễn Đông cho rằng nhân loại dù sống trong sự tăm tối đến đâu, trong mọi thời đại và trong mọi thế hệ đều cần phải có ít nhất - và đúng là có - duy nhất một người duy trì mối quan hệ với thế giới thượng đẳng. Vua của thế gian.

Trong quyền lực tinh thần và chính trị họ là người quan trọng nhất. Phần lớn họ sống ẩn dật, trong tu viện, hoặc sống đơn độc, chỉ vài người biết về họ, nhưng họ là người biến những sức mạnh của một hiện thực cao hơn thành sự hiện hữu trên trái đất.

72.

Con người không đủ khả năng chịu nổi ý thức sau: Thượng Đế như một cấp thượng đẳng không tham dự lịch sử, và là người xúc phạm công lí, không đụng độ.

Hậu quả đầu tiên của sự nổi loạn là thái độ hoang mang đối với chân lí. Khi con người thờ ơ nhận thức về chân lí, về sự thật và về bản thân nó. Đây là điều mà Nietzsche gọi là: Thượng Đế đã chết rồi.

Tất cả những điều này đều là tôn giáo. Chấp nhận đảng phái ưa thích (tốt) này và tiêu diệt đảng phái (xấu) kia. Thật dễ dàng biết bao. Thuần túy đạo đức. Phần lớn là sự quờ quạng mù lòa ma quỷ.

Phúc Âm không nổi loạn. Nổi loạn là sự nhầm lẫn của sự bùng nổ những đam mê cơ bản và tinh thần của công lí bị xúc phạm, luôn tiêu cực, là sự rối loạn đặc thù của nhận thức và sự giận dữ, nhưng trong sự nổi loạn các sức mạnh được giải phóng đều đen tối, và từ sự nổi loạn không bao giờ nảy sinh sự tỉnh táo.

73.

Đất nước của Thượng Đế không liên quan gì đến tôn giáo. Không được phép nhầm lẫn nó với thiên đường. Kẻ bước vào đất nước của Thượng Đế không phải là kẻ được hưởng phúc lạc, đặc biệt không phải là kẻ nhận phần thưởng cho đời sống vô tội của nó.

74.

Thiên đường là chốn của sự hưởng thụ đời sống vô hạn. Sự hăm hở khi trút mọi gánh nặng từ con người. Nỗi khát háo hức có thể uống bao nhiêu như mình muốn. Tại đây, thiên đường, sau cùng trong hạnh phúc có thể ẩn náu một cách an toàn và được bảo vệ.

Người nào muốn lấy lại bản thân mình, kẻ đó tránh thiên đường. Hiện thực hóa con người là độc lập với hiện thực hóa thế gian. Thế gian có như là nó, với chân lí bị giẫm đạp, dưới những quyền lực vô luật, xa lạ, và chừng nào thế gian còn tồn tại một cách hư hoại, chừng đó không thể chấp nhận được.

Con người cần đưa thế gian trở lại nền tảng cơ bản. Và chuyển hóa lớn hơn cả tạo hóa. Trong sự chuyển hóa, theo Baader, Thượng Đế cần nắm giữ lấy bản thân từ những điều sâu thẳm hơn. Đất nước của Thượng Đế là nơi sống của những kẻ biết hiện thực hóa thế gian.

75.

Mahájána nói về các sravaka , những kẻ làm việc vì phúc đức của mình, không quan tâm đến bất kì điều gì khác, những kẻ duy trì luật lệ, trong sạch và giản dị, quý phái và hiểu biết, nhưng họ cũng muốn được sống ở một nơi nào đấy. Họ tìm kiếm sự bảo vệ và muốn bình an. Các sravaka sống ở lokadhátu , nơi phúc đức ngự trị.

Nhưng Mahajana cũng bàn về các bồ tát (bodhiszattva) , những người: “dập tắt mọi ngọn lửa đam mê xấu, phá vỡ mọi ý kiến, khát vọng, sự hoang tưởng giả dối, và thoát khỏi nỗ lực tạo đức, khỏi sự thực hành phép thuật và ra khỏi khoa học”. Các bồ tát cùng đức Phật sống ở dharmadhatu .

Đấy là đất nước của Thượng Đế. Đối với họ không có cả niềm hạnh phúc, sự bảo vệ, sự bình an. Không cần. Là Một, là cái cần. Đất nước của Thượng Đế là quá trình hiện thực hóa trên thế gian.

76.

Hình ảnh cổ của đất nước Thượng Đế ai cũng mang trong mình. Bởi vậy Chúa Jezus khi nói về đất nước Thượng Đế chỉ bảo: “trong các ngươi đều có”. Tất cả mọi người đều biết đấy là cái gì. Sự thật, cái đẹp, sự thiêng liêng, niềm vui, tỉ lệ, ánh sáng, sự bình yên, hòa bình không đứng tách riêng.

Trong linh hồn con người tất cả những điều này là một hỗn hợp, và dấu ấn của hỗn hợp này tất cả mọi linh hồn đều giữ trong bản thân nó. Đấy là thế gian của mọi buổi ban đầu mà con người đã làm hỏng, nhưng cũng là cái cần phải trả lại vị trí và sẽ trả lại vị trí cho nó.

77.

Đất nước của Thượng Đế: “ là nơi ở của tất cả những ai đạt tới sự giải thoát, nhưng vẫn quay lại thế gian để chạm tới mọi sinh linh... những kẻ tiếp bước theo dấu chân Phật, nhưng vẫn không muốn trở thành Phật...

... những kẻ dù sống giữa mọi hư hỏng, vẫn tự do thoát khỏi mọi dục vọng và mọi đói khát thèm muốn... những kẻ tiếp nhận vào bản thân mọi tư tưởng nhưng vẫn không trở thành kẻ thống trị... những kẻ dù sống trong thân xác, vẫn không có tư tưởng ích kỉ... những kẻ có thể sống một đời sống dài như họ muốn, nhưng vẫn không ham sống...

... những kẻ đến với con người đầy thiện chí và tình yêu thương... những kẻ vui sướng khi nhận ra những trái tim trong trắng giữa những hư hỏng... những kẻ thực hành đức hi sinh, nhưng không mong chờ tạo đức ...

... những kẻ xuất hiện giữa mọi con đường của hiện hữu, nhưng vì lợi ích dạy dỗ cho các sinh linh và chỉ ra các con đường giải thoát... những kẻ thực hành sự thản nhiên, nhưng không bao giờ từ bỏ sự đồng cảm... những kẻ trong tim họ chứa sự vui vẻ, nhưng họ luôn buồn bã vì nỗi thống khổ của các sinh linh...

... những kẻ thực hành việc tự nâng mình lên, nhưng không bao giờ từ bỏ việc giúp đỡ người khác... những kẻ nguyện thánh hóa bản thân để cứu nhân loại... những kẻ nếu hoàn thành công việc ở một xứ sở, họ đi tiếp và sự nỗ lực của họ sẽ giữ trọn đến ngày cuối cùng của mọi thời gian, bởi họ muốn cứu vớt tất cả các sinh linh ...” (Gandavjuha).

78.

Điều Mahajana nói đến thể hiện trong câu nói sau của Phúc Âm: Nếu ta đi lên trời, ta nâng toàn bộ thế gian theo ta.

79.

Chúa Jezus không hứa hẹn về hạnh phúc và sự bình an, sự vô tư, sự thỏa mãn, không hứa hẹn sự tận hưởng vô mức độ đời sống không ở đây cũng chẳng ở thế giới bên kia. Ngược lại.

Có thể Chúa Jezus nói đến điều này khi bảo: “Ta không mang đến hòa bình” . Cái có liên quan đến sự sống trần thế, chỉ ngần này: con người hãy giữ mình, và không cần quan tâm cả đến điều ấy.

Là Một, là cái cần. Các ngươi hãy làm việc trên đất nước của Thượng Đế, và các ngươi sẽ nhận được tất cả.

80.

“Vương quốc, được chuẩn bị cho các ngươi phụ thuộc vào tạo hóa của thế gian” (Mate 25,34).

“Ta muốn thể hiện những gì bị cất giấu từ thời tạo dựng” (Mate 15,35).

81.

Kẻ làm việc trên đất nước của Thượng Đế, không vì phục vụ sự thật mà vì lòng từ bi (heszed) . Không kết án mà yêu thương. Không có tội lỗi mà chỉ có sai lầm. Người nào nhận thức được sự đồng nhất duy nhất, kẻ đó nhận thức được sự thật “và sự thật giải phóng nó”.

Nhưng không có gì khó khăn hơn việc đánh thức ý thức vô tội trong con người. Sự hư hỏng đã làm bại hoại con người, và điều khó khăn không phải vì con người trở nên tội lỗi, mà vì con người bắt đầu cảm thấy dễ chịu trong sự nhơ bẩn, thậm chí bắt đầu trở thành nhân chứng cho sự phản kháng, sự khó chịu trong nó, và học cách chứng thực và bảo vệ mình trong sự nhơ bẩn.

Từ run sợ và hèn nhát, nó thích thú khi ngày càng trở nên nhơ bẩn, vì sự nhơ bẩn này trở thành sự dễ chịu và thích thú, rồi nó bắt đầu nhào nặn các lí thuyết, rằng điều này lúc nào chả thế và sẽ thế, thậm chí điều này cần phải trở thành như thế, và trí tưởng tượng của nó bắt đầu nói về trí óc lành mạnh, về đạo đức và về sức khỏe.

Thế gian được xây dựng lên từ sự hư hoại. Các nhà tiên tri cố gắng xua đuổi con người ra khỏi chốn ẩn nấp ngột ngạt của họ. Dân chúng sợ cơn giận dữ của các nhà tiên tri, thậm chí kính trọng họ, nhưng chỉ để khỏi phải di chuyển khỏi vị trí tồi tệ của họ.

“Đối với con người Chúa Jezus không hỗ trợ các nhu cầu, các đòi hỏi, không gợi bản năng cũng không cổ vũ... bởi vì Chúa Jezus kêu gọi ý chí và muốn mở mắt cho dân chúng thấy cái từ trước tới nay họ không thấy” (Brunner).

82.

Đất nước của Thượng Đế trong thuật giả kim là Magnum Opus (Tác Phẩm Lớn). Thuật giả kim không phân biệt vật chất, linh hồn, tinh thần. Thất bại buổi ban đầu đã phá hỏng toàn bộ sự tạo dựng trong từng phần nhỏ nhất của nó. Nếu tôi muốn trả lại vị trí cho sự tạo dựng ban đầu, cùng lúc tôi cần phá vỡ sự mờ mịt nhận thức, tội lỗi và bệnh tật, nơi tất cả là Một.

Thuật giả kim tìm kiếm một phương thức trọng tâm để có thể quay ngược lại quá trình hư hoại. Magnum Opus không phải là tác phẩm của một con người, mà là của những người - như trong Muhujana - đã chiến thắng quyền lực hư hoại trong bản thân họ, nhưng không yên vị trong phúc lạc mà thánh hóa bản thân họ vào sự chuyển hóa thế gian.

83.

Avokalipszis (Khải Huyền) chỉ có nghĩa là quá trình hư hoại hóa (thời lịch sử) đã đạt đến điểm đỉnh bằng sự mờ mịt nhận thức, bằng tội lỗi và bệnh tật, sau cùng sẽ đến với một tai họa trong đó thế gian sụp đổ.

Trong thời Khải Huyền đất vẫn là đất, thế gian vẫn là thế gian, con người vẫn là con người. Thời Khải Huyền là thời gian. Eszkaton (Tận Thế) có nghĩa là hoàn cảnh tận cùng. Đầu tiên và tận cùng: Alpha và Omega. Đứng ngoài thời gian. Nền tảng cơ bản là eszkaion .

Đất nước của Thượng Đế là trạng thái cuối cùng đứng bên ngoài và bên trên thời gian. Trong eszkaton đất, thế gian, con người, thiên nhiên, sự sống, Thượng Đế là một.

Kitô giáo trong toàn bộ là thuyết về tận thế.

84.

Nhìn nhận nền tảng cơ bản, và vì thế nhìn nhận đất nước của Thượng Đế như một vấn đề hiện sinh: “ là một hỗn loạn triết học báng bổ không tránh khỏi... ở đây không phải các quyền lợi hiện sinh (hạnh phúc vĩnh cửu, phúc lạc) dẫn dắt con người, mà là nỗi khao khát được thực hiện tính chất thần thánh của con người Thượng Đế mà thiếu nó con người sẽ héo hắt dần một cách thảm hại ”.

85.

Böhme nói Tinh Thần Thiêng Liêng là heilige Bergierde , nỗi khát thiêng - sự khát khao được giác ngộ - một thiên nhiên đã được tinh thần hóa - một sự giận dữ đã thuần hóa.

86.

Phúc Âm đặt tên cho Tinh Thần Thiêng Liêng là pneuma hagion , dịch ra tiếng Do Thái là ruah ha-kodes . Ruah không chỉ có nghĩa là tinh thần mà còn có nghĩa là hơi thở, gió, ma quỷ, ma, quyền lực (dünamisz) , nói chung là sức mạnh, sự sáng sủa và sự tối tăm, thuần và hoang dại, có nghĩa và vô nghĩa, thiên nhiên và siêu nhiên.

Nơi nào đời sống bị khai thác quá đà và tự thiêu đốt bản thân nó, ở đấy có Ruah . Thế gian đầy rẫy ruah. Ruah là sự hiện diện căng thẳng của hiện thực. Con người có thể dẫn dắt được nó bởi ruah chịu sự chi phối của Lời. Chỉ Lời có quyền lực đối với nó. Hội họa, âm nhạc, thi ca và kinh chú, trang phục sặc sỡ, vũ điệu và nghi thức đều trích dẫn ruah , nhưng không ở đâu ruah bộc lộ trực tiếp bằng ở các ảo giác và sự nồng nhiệt của các nhà tiên tri.

Mối quan hệ giữa ruah và Thượng Đế không độc nhất và vô điều kiện. Thượng Đế có ruah (ruah elohim) nhưng sự thông thái cũng có ruah (ruah hohma), nhà tư tưởng cũng có, đấy là (is ha-ruah) và nếu đời sống vượt quá các giới hạn và một cái gì đó lớn hơn cả đời sống (ruah ha-hajjah) tuyên ngôn, đấy là ruah . “Như thể nó là nguồn của đời sống và là sự bắt đầu của tất cả các sức mạnh thế gian”.

87.

Trong Phúc Âm của thánh Giăng ở một vài chỗ tên của Tinh Thần Thiêng Liêng là pneuma tész alétheiasx , có nghĩa là tinh thần của sự thật. Bởi vậy Tinh Thần Thiêng Liêng cũng là kẻ đi giải phóng. Kẻ nhập định vào sự thật. Nhập định luôn có nghĩa là bước ra ban ngày. Kẻ được nhập định, phục sinh, theo như truyền thống, không phải phục sinh từ cha mẹ mà là từ Thượng Đế. Những kẻ đã nhập định sinh ra hai lần (dvidzsa).

Người Do Thái luôn nói đến sự tái sinh. Sự nhập định Thiên Chúa (baptidzein). Hãy xem thánh Giăng Baptit làm rạng rỡ các tông đồ của Chúa Jezus như thế nào, ông nói: Các ngươi hãy nhận lấy Tinh Thần Thiêng Liêng. Khởi đầu con người sống từ hơi thở của Thượng Đế. Nhưng ở đây không phải thời khởi đầu, mà là hơi thở của sự chuyển hóa, là sự ra đời thứ hai.

Chúa Jezus bằng hơi thở đã truyền và biến mình thành kẻ hiện diện trong con người vĩnh cửu “Ta bên cạnh các ngươi đến tận ngày tận thế của thế gian này.”

88.

Tinh Thần Thiêng là một sức mạnh để con người thực hiện đất nước của Thượng Đế. Một bước duy nhất của sự thực hiện này trong triệu ức năm ánh sáng cũng không thể hiện ra nổi.

89.

Pneuma tész alétheia là sự hợp nhất của định hướng phổ quát và hiện sinh siêu nghiệm. Mức độ thứ nhất là nhận ra sự thật, mức độ thứ hai là trở thành sự thật, mức độ thứ ba là tồn tại vì sự thật.

Sống trong bầu khí quyển của sự thật là: con người không cần đến những chứng cớ đặc biệt, ở đây có tất cả, và nhiều hơn một cách vô tận so với những gì các giác quan của ta có thể cảm nhận.

Kẻ nào biết “mở” toàn vẹn, bản thân kẻ đó trở thành trong suốt. Bước ra khỏi vị trí ẩn náu, vứt bỏ sự an toàn. Không chờ đợi phúc lạc, mà nhận lấy tác phẩm vô tận của chuyển hóa. Kẻ đó không bao giờ còn cần đến sự bảo vệ, tôn giáo, các lí thuyết, bởi họ không muốn nhẹ gánh nặng đời sống, và không muốn loại trừ bản thân, mà họ muốn gia nhập, muốn trả lại vị trí cho hiện thực của bản thân và của thế gian.

Họ xua tan mọi u mê mờ mịt. Đứng trần trụi, không che giấu bản thân cũng như bất cứ cái gì từ bản thân. Họ mở và sẵn sàng với tất cả mọi người. Alétheia, đây là sự mở ra hoàn toàn. Trở thành một phần của sự thật, thứ luôn toàn vẹn ở nơi đây. Chỉ người nào mở mới biết nói lời tuyên bố.

90.

Tinh thần của sự thật là khả năng gắn chặt với bản chất cá nhân của Chúa Jezus. Nhưng Chúa Jezus trao khả năng này cho mọi người thực hành. Tinh Thần Thiêng mở ra cho con người. Kitô giáo là sự nhập định của sức mạnh trên và dưới trong sự liên kết. Để hiểu ra, thèm khát tối tăm cũng như tỉnh táo sáng sủa không tách rời nhau, mà đó là thứ ánh sáng thắp lên từ đêm của thiên nhiên đầu tiên.

Sự biến đổi của thiên nhiên đầu tiên biến thành tinh thần. Dùng một từ đơn giản hơn: được hiện thực hóa. Bởi hiện thực chỉ là cái gì còn lại. Cái còn lại chính là tinh thần. Cái ở trên trong cái ở dưới và cái ở dưới trong cái ở trên, biến thành hiện tại. Mang Thượng Đế vào con người và mang con người vào Thượng Đế.

91.

Người ta nói, Kitô giáo đã nhập định trong hai thế kỉ đầu tiên (muộn hơn khả năng này đã bị đánh mất) và xuất hiện trên mọi “sự phân biệt tinh thần”. Đây là diakriszisz pneumatón - tiếng Do Thái gọi là: livhon et ha-ruhoth.

Diakriszisz cần hiểu là, người ta biết lựa chọn cái gì là đặc tính phụ cũng như cái gì là đặc tính chính của con người, những thứ mà tính chất sinh học hoặc tâm lí học hoặc khí bao phủ trong bản chất của nó, thứ là thiên nhiên, là màu sắc, tên gọi và hình dạng (Ấn Độ gọi là: namarupa ), là thứ ít liên quan đến con người như chức vụ, của cải, vai trò hoặc danh tiếng xã hội.

Cái xảy ra sau hai thế kỉ đầu tiên và từ đó đến nay vẫn tiếp diễn là: người ta nhầm lẫn con người bằng những đặc thù và những tính chất phụ của nó. Như thể con người chính là sức mạnh vật lí, là tài năng vật lí. Là sự phi thường của nó. Đây là tội lỗi của nó. Đây là cá tính của nó.

Diakriszisz biết tách cái gì không phải là nó. Từ một cấu trúc mang tính chất sinh học, tâm lí học, khí, nó biết phân biệt với một sinh linh sống cụ thể, kẻ đang ở đây, trong hiện tại, kẻ ta có thể tiếp xúc và nếu gọi tên, kẻ đó sẽ trả lời, kẻ như Phúc Âm tuyên bố :“ta nói với mi”.

Ở những ai diakriszisz biến thành ý thức, kẻ đó, thông qua những lớp màn dày đặc của những hậu quả của thân thể vật lí thấy và biết rằng tất cả những thứ này, cái là cấu trúc, là chất liệu liên quan đến các tầng khác nhau của sự sống, và cấu tạo của sinh linh được xây dựng từ các chất liệu này, trong khi đó bản thân nó không thay đổi. Kabbala cho rằng cái người ta gọi là các đặc tính, trong thế giới khí là sự pha tạp tinh thần quay cuồng, từ nỗi thèm khát sống bám vào con người, biến con người thành vật kí sinh của nó.

Những người thầy của truyền thống Do Thái biết tên của những hiện tượng pha tạp tinh thần này, và biết cách xua đuổi chúng. Không cần chống lại cá nhân mà cần chống lại các sức mạnh nhập vào cá nhân. Trong mọi trường hợp kẻ sống trong các tài năng là kẻ không làm gì khác ngoài thực hành các đặc tính của nó, mà không tìm kiếm bản chất thật sự của mình. Kẻ đó không nhìn thấy gì khác, ngoài cái ở bề mặt, hình dạng và tên gọi, màu sắc và các lớp mành phủ, mà nó sống trong đó, đấy là sự rắc rối phức tạp, gánh nặng, sự phiền nhiễu và ảo ảnh của kẻ đó.

92.

Khó có thể xác định nổi một sự nhập định duy nhất. Ai đã biết đến sufi, đạo Lão, yoga, thiền của Trung Quốc và zen của Nhật bản, biết đến hasidic (Do Thái giáo), dù chỉ một cách hời hợt, nhưng cũng hiểu rằng ánh sáng tuyên ngôn của những tri thức này ở khắp nơi đều giống nhau.

Sự bắt đầu và sự hợp nhất vô hạn của tận cùng đều xảy ra trong thời gian. Và điều mà con người thực hiện là điều quan trọng nhất. Sự nhập định không có lời tuyên bố mở rộng. Kitô giáo không có vũ trụ học của nó, không có môn xã hội học khoa học, cũng như sách luật hoặc triết học tự nhiên của nó. Kitô giáo là một sự nhập định. Là bước đi duy nhất. Bước ra ban ngày.

93.

Buddha sống trước Chúa Jezus hơn năm trăm năm, và tất cả những gì được gìn giữ về đời sống và sự dạy dỗ của ngài đều đáng tin cậy. Không phải từ cách thức kiểm chứng từng bước, từng lời nói của ngài mà người ta đã ghi chép lại, hay những điều đúng là ngài đã thực sự nói ra. Những cái đó không cần thiết. Quan trọng nhất là từ ngài người ta không đánh mất mọi điều, và cái được bổ sung chỉ để hiểu rõ ngài hơn.

Tất cả những gì chúng ta biết về buổi ban đầu của Kitô giáo, không phải một phân vân chấn động rằng nó không thông qua truyền thuyết và thần tượng, không phải một sự cổ vũ tôn giáo quá đà, mà là một cái gì đó khác nghiêm trọng và đáng xấu hổ hơn.

Kẻ vô tư nhất cũng không hề ngờ rằng Phúc Âm trong dạng hình ngày hôm nay ẩn náu những cạm bẫy gì, và cần một tri thức cũng như một linh cảm như thế nào để có thể hiểu đúng những vị trí nước đôi về nó. Một thử thách duy nhất còn lại: không bao giờ được tiếp cận văn bản từ phía sau, từ thời đại của chúng ta mà phải tiếp cận Phúc Âm từ truyền thống.

94.

Sụ dạy dỗ của Phúc Âm không mang tính tôn giáo, nhưng ngay lập tức Kitô giáo đã chẳng mấy chốc biến thành tôn giáo. Nếu Kitô giáo là một tôn giáo, chắc chắn không phải là một lí thuyết về quyền lực thế gian, vậy mà nó vẫn biến thành như vậy. Phải chăng tôn giáo cần thiết cho việc chứng thực sự sống của bản thân nó bằng những phần đưa vào sau này và bằng sự biến dạng bản gốc? Đúng. Nhưng lí thuyết về quyền lực thế gian vẫn cần, để nó tự chứng thực bản thân nó bằng tôn giáo.

Từ hai nghìn năm nay có rất ít thế hệ nào, trong một hình thức thể hiện nào đấy - giáo phái hay triết học hay một tổ chức - không chống lại điều này. Nhưng cho dù Kitô giáo xuất hiện ở bất cứ hình thức nào đi chăng nữa, nó vẫn lập tức bị quên ngay từ cội gốc và lập tức thích nghi ngay với thế gian. Kitô giáo trong thời gian đầu, một cách có ý thức và vì quyền lợi thế gian, và vì quyền lực, đã khiến con người đi theo sau cả một đội quân dối trá.

Rất nhiều nơi khi sao chép lại văn bản của Phúc Âm đã lược bỏ rất nhiều và thêm vào rất nhiều. Chính vì vậy những văn bản phê bình hiện đại, cướp bóc Phúc Âm trắng trợn trong suốt khoảng hai trăm năm nay vẫn mới chỉ là những lầm lỗi nhỏ.

Những kẻ phạm lỗi lớn hơn là những kẻ ngay trong những thế kỉ đầu tiên đã tước bỏ những phần (họ cho là) nguy hiểm trong Phúc Âm đối với một số nhóm người, và cũng vì lợi ích này họ thêm thắt vào những câu dễ chịu hơn để có cái mà tuyên bố. Điều đặc biệt nhất là lúc đó không ai phản đối chống lại điều này.

95.

Cả một đội quân chống lại Kitô giáo trong thế kỉ XX đã đạt đến điểm đỉnh khi người ta bắt đầu nghi ngờ sự hiện diện của Chúa Jezus. Sau khi nhiều người đã liều lĩnh nêu lên câu hỏi này, Arthur Drews trong nhiều cuốn sách đã đặt thành vấn đề chi tiết (ví dụ các tác phẩm: Huyền thoại Kristus, Márk Evangéliuma, Nguồn gốc Thiên Chúa giáo từ chủ nghĩa Thanh giáo-Gnosticizmus , và nhiều cuốn khác).

Theo Drews không tồn tại Jezus, mà tại Alexandria, từ các chất liệu Ai Cập, Iran, Hi Lạp và Do Thái, Phúc Âm đã được viết ra. Những cuốn sách của Drews thực chất tiêu biểu cho thời đại ngày nay, và không hề gây tiếng vang. Những cuốn sách này nói về một chủ nghĩa duy lí, và chứng thực một điều: phương pháp thực hành đã trở thành công cụ chính trị của quyền lực, và chủ nghĩa duy lí khoa học đã thực hiện những giả mạo lịch sử một cách công khai.

96.

Theo lí thuyết (được cho là) tích cực về Kitô giáo, Phúc Âm là một sự thể hiện và là một chủ nghĩa độc thần của tôn giáo. Trước hết cần hiểu rõ điều này: Kitô giáo không phải là một tôn giáo.

Nhưng nếu nó là một sự thể hiện và là chủ nghĩa độc thần đi chăng nữa, điều này có vẻ như Kitô giáo vẫn đáng kể hơn so với các thể hiện tinh thần khác. Nguồn của mọi truyền thống đều là sự thể hiện, bởi mọi truyền thống đều là sự hiện diện của một hiện thực siêu việt của con người.

Và không một truyền thống nào mà nền tảng của nó không phải là MỘT. Con người càng đi vào thời gian trước thời lịch sử sâu bao nhiêu, càng thấy rõ, hiểu rõ điều này bấy nhiêu.

97.

Trong Kitô giáo cần phải làm xuất hiện tất cả những gì con người đã phủ nhận, và trong Kitô giáo cần phải vứt đi tất cả những gì con người đã dối trá thêm vào.

98.

Giáo đoàn Kitô giáo đầu tiên là một giáo phái nhỏ, lúc đó chưa biết làm gì với các di sản của Kitô giáo, về giáo đoàn này người ta viết đến nhiều, nhưng ngoại trừ những người theo thuyết Pietism, không ai có thể đưa ra một ý kiến đáng kể nào về giáo đoàn này.

Rất có thể ý kiến đánh giá có trọng lượng nhất lại là của Nietzsche. Giáo đoàn Kitô giáo đầu tiên là một sự ưu tiên gò bó và bị hạn chế của một gia đình Do Thái nhỏ, một bầu khí quyển nặng nề và ngạt thở với những bất hòa nhỏ nhoi và vô nghĩa.

Cái đáng kể nhất, đây đúng là những người nghèo nàn trong tinh thần - anije ha ruah , như Chúa Jezus nói, hay diễn tả một cách khác đây là nhóm người khát tinh thần nhưng bơ vơ, run rẩy, sợ hãi duy trì một trọng lượng nhỏ nhoi mà sau này cả một thế gian giàu có và quyền lực đã đè bẹp nó.

99.

Thánh Phao lô là người Phariseu, có nghĩa là trong chân dung sống của ngài có một vẻ rất đồng nhất. Giới giáo sĩ giữ gìn chân dung hợp pháp của mình với một sự nghiêm khắc kiên định, và sự hợp luật này có vẻ cực kì đồng nhất với chân dung hợp lí của quyền lực thế gian và với chân dung của đạo đức.

Khi Ngài đến Damaszkusz để xua đuổi những người theo Kitô giáo, như thể bị chớp giật, Ngài ngã xuống từ yên ngựa, nghe thấy giọng nói của Chúa Jezus, và mọi ảo ảnh cùng lúc tan biến trước ngài. Ngài tiếp tục con đường của mình, nhưng giờ đây không chống lại mà đứng bên cạnh những người Kitô giáo. Ngài đi suốt dọc lưu vực phía đông biển Địa Trung Hải, lập ra các giáo đoàn, ngài diễn thuyết rất nhiều và cũng viết rất nhiều.

100.

Từ khuôn mặt của Chúa Jezus, plérophoria - sự an bình trực tiếp của trái tim tỏa sáng. Không một cảnh tượng nào không tự thể hiện trên khuôn mặt ấy, nhưng cũng không có cái gì quấy rầy sự tỉnh táo của tâm trí đã được thanh tẩy trong vĩnh cửu.

Chúa Jezus trong bản thân mình đã thực hiện được heszed của Thượng Đế, đấy là sự âu yếm dịu dàng từ tri thức siêu việt, đấy là sự nhân hậu trào dâng từ quyền lực của sức mạnh vô biên. Giọng nói của Chúa Jezus thẳng thắn và ngắn gọn, không dao động, tất cả chỉ nói một lần và thế là đủ.

101.

Nhưng ở Thánh Phao lô không có những điều này. Giọng của ngài ngây ngất khi nói những từ ngữ khó nghe với một sự vội vã quằn quại và sự hồi hộp vội vàng. Ngài hay nhắc lại liên tục, như một người hiểu nhưng không biết nên làm gì nên chỉ biết thúc giục bản thân mình.

Luôn có một cái gì đấy bị sót lại, ngài không có mặt trong mối quan hệ với sự thực hành cuộc đời riêng của mình, ngài không biết mang những gì mình suy tư vào sự điên đảo của đời sống thường nhật.

Trên khuôn mặt ngài là sự bị hành hạ, như ở Augustinus, Tereza, Keresztes János (Giăng Thánh giá), Pascal, Kierkegaard, một nỗi hoan hỉ méo mó, cái mà Nietzsche rất không ưa.

Thánh Paolô không hiểu về sự đồng nhất. Cái ngài sống trong đó không phải sự đồng nhất mà chỉ là chủ nghĩa hoan hỉ, nhưng chính ngài cũng không biết tại sao. Ngài cho những gì giống mình là điên rồ (moroi dia Khriszton). Tôi hiểu nhưng tôi không biết. Một sự điên rồ trong sạch. Đúng, đây là một sự điên rồ, bởi vì nó hộc tốc và thở hổn hển, sợ đắm tàu, vì thế nó khóa mình lại, vì thế nó bị đánh, bị xua đuổi và sau cùng bị giết...

102.

Thánh Phao lô, theo Harnach, khăng khăng trực diện với (cái gọi là) đạo đức tự nhiên, với toàn bộ một hệ thống đạo đức - hành động tử tế, với các nghi thức tôn giáo và với một Kitô giáo thiếu Kristus, và trong hai nghìn năm, kẻ nào đảm nhận trận chiến này đều phải viện dẫn đến Thánh Phao lô.

Một giây phút duy nhất cũng không được phép quên sự hồi hộp ngất ngây trong cách tiếp cận của Thánh Phao lô, và ai đọc các thư tín của ngài sẽ hiểu ngay sự ngất ngây đê mê này. Đây là sự đảm bảo và là sự bảo vệ trong ngài.

Cần phải ngã ngựa. Thượng Đế không làm nhẹ gánh nặng đời sống mà là quỷ. Nỗi nguy hiểm thật sự của một đời sống nhàn hạ không phải là quỷ mà là Thượng Đế.

Từ điều này trở đi tất cả những gì có ngoài Kitô giáo đều vô vị. Hòa bình? - Messiás (Cứu Độ) lấy mất hòa bình, sự yên ổn và sự đảm bảo. Cần yên ổn trong chiến tranh vĩnh cửu. Cần nhận lấy sự đau khổ của hàng trăm nghìn sự phục sinh.

103.

Thánh Phao lô không hề biết đến nền tảng cơ bản. Ngài đối diện với tạo dựng đầu tiên và con người đầu tiên, ngài không ngừng nói về sự tạo dựng mới (kainé ktiszisz) và về con người mới (kainosz anthroposz). Ngài không biết rằng cái ngài cho là mới là cái đã cũ. Thế gian của sự chuyển hóa sâu sắc hơn thế gian của sự tạo dựng.

Theo Eckhart: bước đột phá của thế gian cao hơn sự xuất hiện đầu tiên. Theo Damaszkusz, sự ăn năn (metanoia, tesuvah) hay là sự trải nghiệm đích thực là lần sinh ra thứ hai, và chính Chúa Jezus mở ra cho ông sự vô tận, chính Chúa Jezus nhập định cho ông vào sự hiện hữu siêu việt này.

Bởi vậy ông không hề hiểu sai một điều, điều không nói về chân phúc của cá nhân hay xã hội, không nói về một chương trình đời sống. Đời sống người ở đây, trên trái đất này, từ góc độ nào đó sâu sắc trong kết án tinh thần và ngày càng dưới mức độ tỉnh táo hơn, chỉ có thể đạt tới các linh hồn nếu được thanh tẩy trong sự nhập định (metanoia, tesuvah).

Phúc Âm không phải là một dạy dỗ công truyền, mà là việc nâng cao lên đến những mức độ thượng tầng của sự sống.

104.

Nền tảng cơ bản là status absolutus của con người. Nội dung của nó: hướng mở về phía tri thức tổng quát, như chính bản thân đời sống: một sự trong sạch nhìn thấu qua. Thánh Phao lô đã không thử thí nghiệm để đạt đến điều này, hoặc ít nhất cũng để hiểu nó.

Truyền thống nhất thiết có liên quan đếnstatus absolutus -nền tảng cơ bản, và là thứ chỉ có một. Còn tôn giáo là thứ có nhiều. Kẻ nào sống thiếu nền tảng cơ bản, kẻ đó cần phải sống trong tôn giáo. Và những sức mạnh thời lịch sử giải quyết cho nó loại đời sống này. Và kẻ đó cần quay cuồng trong thời gian, trong mâu thuẫn và trở thành những kẻ biện chứng, như các nhân vật tôn giáo lớn của châu Âu: Augustinus, Teréz, Keresztes János (Giăng Thánh giá), Pascal, Kierkegaard, Nietzsche.

105.

Thánh Phao lô không hiểu Tinh Thần Thiêng. Cách sống và làm việc trong ngài chủ yếu thông qua lời nói và văn bản viết nhằm tạo dựng kế hoạch, để dạy dỗ giáo dục, để răn đe và khen ngợi, chủ yếu nhằm thúc giục sự dâng hiến bản thân, tựa như hành động của một thiên thần giận dữ.

106.

Dikaiosz là một trong những từ cơ bản trong các lá thư của Thánh Phao lô. Dikaiosz nghĩa là con người đích thực. Cần phân biệt dikaiosz với aléthész . Dikaiosz là chân lí, là kẻ bản thân nó đã đúng, kẻ có cái đúng và sở hữu cái đúng.

Bản thân nghĩa của từ này Platon đã sử dụng trong tác phẩm Politeia, khi nói nền tảng của cộng đồng là dikaiosziin , là công lí. Dikaiosz là cái hợp luật và đúng. Hợp nhất với trật tự thế gian. Diké, nữ thần công lí phụ trách những hành động của con người như quan tâm để các ngôi sao quay quanh quỹ đạo của chúng (Herakleitos).

Còn alethesz là người mà lời nói đi đôi với việc làm, bởi vậy đấy là người thấu suốt và trong sạch. Trong dikaiosz nhấn mạnh một cái gì đó đạo đức, còn alethesz gần như hoàn toàn hiện sinh.

Nhưng Thánh Phao lô tư duy bằng tiếng Do Thái và đối với ngài nghĩa của từ dikaiosz caddik . Trong từ caddik , cả hai từ Hi Lạp này tan vào nhau như thế nào đấy, đây là một người công minh, nhưng cũng là một người chân thực, một người không có chút giả tạo nào. Caddik , theo các haszid , là đá nền mà thế gian ngự trên đó. ở Iran con người đích thực mang ý nghĩa một chủ thể thần thánh, và thường xuyên được sử dụng như một trách nhiệm của các Cha.

Theo Thánh Phao lô con người tự nhiên không thể công minh, vì là hậu duệ của Adam. Tội lỗi là sự hư hoại nguyên sơ phá vỡ sự sống. Trở nên tội lỗi chỉ có nghĩa ngần này: sống trong sự tan vỡ vụn ra của ý nghĩ-lời nói-việc làm. Con người nghĩ khác lời nói ra và nói khác việc con người làm.

“Các ngươi hãy trở thành con người đích thực” (dikaiotheszetai). Trở thành con người đích thực cho đến tận hôm nay vẫn chưa hội tập đủ khả năng. Phúc Âm mang đến sự giải thoát khỏi sự hư hoại, và con người trong sự gắn bó chung thủy với Chúa Jezus có thể trở nên đích thực.

107.

Con người đích thực sống từ sự chung thủy (hédikatosz ek piszteosz dzeszetai - caddik beemunatho jihjeh). Pisztisz không phải là đức tin mà là sự chung thủy. Sự chung thủy ở Thánh Phao lô là một cấp độ cao hơn chân lí.

Con người đích thực sống trong ánh sáng chói ngời của trăm nghìn sự trong sạch, trong một trật tự không thay đổi và giữa các quy tắc vĩnh cửu. Với Thánh Phao lô đại dương của sự chung thủy nhiều hơn, lớn hơn sự giải thoát tự do và sự mở ra vô tận. Thánh Phao lô muốn nuốt cả thế gian vào cái đại dương chung thủy của mình. Công lí, sự thật là kỉ luật. Sự chung thủy là sự gắn bó.

108.

Thánh Phao lô không phải là người Công giáo nói chung. Bản thân Kristus nhập định vào cái tên gọi Kristus. Một người nhập định vào một tên gọi chỉ có nghĩa ngần này: nhận lấy tên gọi và bằng bản chất cái tên đó đồng nhất với mình và hiện thực hóa bản chất này trong chính mình. Khi ngài nói khoác lên mình Kristus điều này nghĩa là ngài đã trình bày chính bản thân mình. Sự đồng nhất của sinh linh và tên gọi (sém) trong truyền thống Do Thái mang một ý nghĩa đặc biệt.

Ai đồng nhất với đấng chuyển hóa, người đó: “không bao giờ còn là dị giáo, Do Thái, Hi Lạp, cũng không phải là người hầu, kẻ tự do, cũng không phải là đàn ông, đàn bà, chúng ta đều là một” - là một thân thể, là một tinh thần, là Một Chúa, là một sự chung thủy, là một sự nhập định... là một Thượng Đế”.

Đây là một sự tạo dựng mới (berijd khadasah). Nhân danh cây thánh giá mọi sự khác biệt bị loại bỏ (Efez.2,14). Thánh Phao lô như mọi kẻ nhập định, sống trong niềm cảm hứng của sự nhập định, và cái mà ngài hiểu là hiểu từ cảm hứng này. Trong một sự gắn bó không phân vân. Và niềm cảm hứng lớn nhất là bơi trong đại dương của sự thủy chung. “Kẻ chung thủy là kẻ mời gọi” (l.Tessz.5,24), “Kẻ chung thủy là Thượng Đế” (2.Tessz.3,3).

109.

Thánh Phao lô khước từ ý nghĩ sự giải thoát là kết quả của những hành động tốt (“Không ai không tự hào”). Sự giải thoát con người nhận được từ heszed của Thượng Đế (tình yêu thương, sự âu yếm, ý tứ, đồng cảm, sự thân thiện) (thư Efezus 2,8).

Thánh Phao lô thực ra cũng không tôn trọng cái chúng ta gọi là sự tích cực. Hành động trong bản thân nó không có nghĩa gì. Điều duy nhất quan trọng nhất là tác phẩm cuộc đời hoàn chỉnh, cái toàn bộ. Nhưng điều này con người xây dựng lên không phải bằng các hành động mà bằng sự chung thủy của mình.

110.

Chúa Jezus đứng trên lịch sử. Một giây phút duy nhất cũng không để bị trôi dạt theo lịch sử, ngài luôn bước vào thời gian một cách có ý thức, và cái mà thời gian đưa lại, Chúa Jezus nhìn thấy chắc chắn cả về phía sau và về phía trước.

Từ tri thức của mình ngài không từ bỏ gì hết, thậm chí toàn bộ nhiệt huyết của mình ngài biết đặt vào từng khoảnh khắc. Chúa Jezus là mức độ tuyệt đối của hiện sinh lịch sử trong nỗi căng thẳng của sự thông thái. Đây là vị trí mang tính chất tận thế của Kitô giáo.

111.

Thánh Phao lô khiến Kitô giáo mang tính chất thời lịch sử.

Ngài xuất phát từ những vị trí như sau của Phúc Âm: “Mi hãy giấu các sự vật trước các nhà thông thái và những kẻ hiểu biết” (và hãy làm chúng thể hiện ra ở các con trẻ). Đây là một trong những khẩu hiệu của truyền thống các nhà tiên tri Do Thái.

Izajas: “Ta xóa sự thông thái của các nhà thông thái, ta lấy đi trí tuệ của những kẻ hiểu biết” (29,14). Truyền thống Do Thái thực ra cũng chứng tỏ một nỗi nghi ngờ đặc biệt đối với sự thông thái. Nhưng Thánh Phao lô đã tước điều này ra khỏi nền tảng của nó ngoài thời gian và đặt nó vào điểm giữa cần thiết của thời lịch sử.

112.

Không được phép bước ra khỏi turba (sự rối loạn) để con người chỉ cứu chính mình, nhưng không được phép ở lại trong turba từ sự chung thủy dối trá, chỉ để trở thành một kẻ anh hùng của sự đổ vỡ mất trí.

Không được phép kiếm tìm nơi ẩn nấp và xây dựng cách tự vệ chống lại nỗi nguy hiểm của thời gian, chạy trốn ngoài lịch sử và coi như một giải pháp, và dạy dỗ điều này như một sự chạy trốn.

Nhưng không được phép coi lịch sử là một quá trình có ý nghĩa, bởi vì cần trả lại vị trí cho nó, bởi vì thời gian của thời lịch sử là một sự nhiễu nhương vô hướng (luân hồi sinh tử) điên rồ, tội lỗi, ngu xuẩn và đen tối, và nếu như con người có thể bước ra khỏi lịch sử, mà vẫn bị ở lại trong nó, sẽ trở thành thiểu năng.

Đây là một trong những vấn đề lớn nhất của sự nước đôi của châu Âu, được phép hay không được phép phản bội lại danh giá nhân loại cao cả dưới những lí do của niềm trung thành lịch sử, như một sự thông thái, hoặc được phép hay không để mặc kệ thế gian trong nước và một mình biến thành biệt đảo trong các khu vực quốc gia cao cấp.

Kẻ nào không nếm vị của turba , kẻ đó không đáng để ý tới, nhưng kẻ ở lại trong turba , kẻ đó chỉ có thể có chủ đề chủ thể, ngoài ra không có gì khác.

113.

Sự thông thái bắt đầu bằng việc thanh toán turba . Không có chút tính chất anh hùng nào trong đó. Sự thông thái không khoe khoang, bởi không phải là sự say sưa, không đóng vai và không chuẩn bị dành cho người khác.

Nếu sự thông thái không có mặt ở phái phi-hành động, thì sự hoạt động cũng cần hạn chế ở mức cần thiết nhất, và điều này cũng cần làm chậm rãi, hết sức chậm rãi.

Thông thái không phải nhà tiên tri cũng không phải là thánh, không phải là nhà thơ càng không phải là triết gia, không phải là nghệ sĩ cũng không phải chính trị gia. Thông thái là sự hiện hữu hiện tại của sự sống. Bởi vậy phi lịch sử. Thông thái không có lịch sử mà có sự sống của nó.

114.

Nếu thông thái thuần túy là sự được bảo đảm và tách rời các sức mạnh của lịch sử, điều này giả dối. Trong trường hợp này đây là sự phản bội đời sống, đây không phải sự thông thái, mà là chủ nghĩa cơ hội đã cách điệu hóa một cách thông minh.

Ví dụ: giới thị dân thời đại (Goethe). Thông thái chỉ thực chất nếu đời sống gặp gỡ sự sống. Nhập định buộc đời sống và sự sống vào với nhau. Thiếu nhập định, sự thông thái cùng lắm chỉ là nỗi bất lực lập dị cao cấp, một hiện sinh mang tính lịch sử có mục đích và chân thành nhưng vô phương hướng.

115.

Hiện sinh thời lịch sử thiếu thông thái nên là một hiện sinh bấp bênh. Nó tản mạn tứ phương trong tình trạng phi nền tảng. Sự thông thái thiếu hiện sinh mang tính lịch sử lại không thực tế. Bị khóa kín trong chân không. Sự thông thái trong bản thân nó phi bản chất. Hiện sinh mang tính lịch sử trong bản thân nó vô nghĩa.

116.

Sự nhầm lẫn định mệnh của châu Âu thời hiện đại là nhầm lẫn đời sống với sự sống. Nếu con người cho đời sống là một hiện thực duy nhất nó sẽ khóa bản thân mình vào trong đời sống đó. Đời sống ở châu Âu bởi vậy không thể nâng lên thành sự sống.

Một sự bất lực của nhập định.

117.

Bên cạnh hiện sinh lịch sử - từ rất sớm - Augustinus đã cho rằng cần giải nghĩa Kitô giáo như một đóng góp vào số phận bản thân (vác thánh giá). Đây là amor fati . Số phận đúng là con người cần gánh vác, nhưng vì không có thứ ánh sáng mạnh hơn đời sống chiếu sáng nên con người không biết làm gì với số phận của mình.

Con người không hiểu loại ánh sáng mạnh hơn này, cùng lắm nó chỉ bị say từ đó. Sự thông thái ẩn náu trong ánh sáng này đã bị giấu đi trước hiện thực. Theo đó ai dám bước ra khỏi lịch sử, để tiếp thu được một viễn cảnh lớn hơn và nhìn thấy sự thống nhất sâu sắc hơn, ai muốn thanh toán sự nhiễu nhương, hư hoại ( turba ), hoặc ít nhất nghiêm túc nhìn nhận sự thanh toán này, kẻ đó từ chối tiếp nhận cây thánh giá đặt lên bản thân mình.

Hành vi này ở châu Âu đã trở nên độc quyền. Chống lại tất cả, những gì không phải là đời sống là một sự nghiêm cấm. Ở Nietzsche đã trở thành nỗi ám ảnh. Trong thế kỉ XX tất cả những gì không phải là một hiện sinh lịch sử, đều chỉ là sự dối trá của hiện thực (Verlogenheit).

Chỉ có một trật tự đời sống đích thực, đấy là sự đánh mất của “sẽ có cái sẽ có” (Geworfenheit) và sự ngẫu nhiên (Bataille: Vouloir de chance).

Đây là sự biến mất từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc kia. Trò chơi mạo hiểm như chương trình đời sống. Kẻ nào không đứng trong không gian của các thế lực tranh đấu, kẻ đó đánh mất hiện thực hiện sinh của nó (Jaspers).

118.

Amor fati là một kích thước mang tính chất anh hùng và là quyền lực của tinh thần. Nhưng kẻ nào quyết định, gánh lên mình trọng lượng toàn vẹn của khoảnh khắc và chỉ chấp nhận điều ấy, kẻ đó khóa chân trời lại. Nếu không từ bỏ bất cứ cảm hứng nào của thực tại lịch sử, kẻ đó gánh chịu trạng thái mất phương hướng.

Và nếu bản án này đúng, rằng đúng là điều kiện, sự giáo điều, lí thuyết, sự khẳng định có thể là nơi ẩn nấp và nếu công khai, lúc đó rất có thể hiện tại lịch sử biến thành nơi ẩn nấp.

Trước hiện thực không nơi nào có thể lẩn trốn tốt hơn như lẩn trốn trong trạng thái công khai hóa, một cách không bao giờ ai có thể tìm ra con người đó nữa. Không có sự giam cầm nào nguy hiểm hơn khi trở thành tù nhân trong tự do. Con người trở thành thực tại, nhưng đã đánh mất sự thật bản chất của mình.

119.

Lịch sử là một đời sống trần trụi. Một trạng thái bị bỏ rơi của sự thật (Thượng Đế). Kẻ nào lật trang sách đời mình trong thời lịch sử, kẻ đó đã lựa chọn sự bị bỏ rơi này.

120.

Hiện sinh lịch sử buông mình vào sự khủng hoảng và nhắm mắt lại trước tất cả. Sự tiến bộ-sự phát triển - tất cả dòng chảy - đấu tranh sinh tồn-biện chứng. Khi nó đã đánh mất sự tuyệt đối, hậu quả là lương tâm cắn rứt. Nhưng lương tâm cắn rứt cũng buông mình vào khủng hoảng và dằn vặt trong nỗi hành hạ đau đớn ( amor fati ).

Đời sống của chúng ta gần như toàn bộ tiếp diễn trong đêm - trong bệnh tật, trong tội lỗi, trong sự mê muội - và đời sống của chúng ta gần như trong toàn bộ là cuộc chiến với bóng đêm.

Nhưng dấu hiệu của sự điên rồ là kẻ nào đó gắn bó với đêm đen bằng sự trung thành đến tận mây xanh, và từ đời sống của nó nâng cao lời ca ngợi bóng đêm, chỉ để: ngoài ý thức bị đánh mất còn thu được một tất yếu duy nhất.

Để trong nỗi sợ hãi từ sự trấn an giả dối tìm được một nền tảng khác, hơn là tìm thấy một điều từ đó tất cả sự tận cùng nổi lên.

Cảm giác say sưa về thời gian của hiện sinh lịch sử cần phải nhìn như một sự tan rã của những sức mạnh đời sống.

(Viết xong tại Tiszapalkony

ngày 16 tháng Chạp năm 1960)

« Lùi
Tiến »