Chống Kitô, Ferdinand Ebner nói, là tuyên ngôn hiện sinh mạnh mẽ nhất của nỗi bất ổn tinh thần khởi lên do Phúc Âm. Sự bất ổn này bắt đầu từ giây phút Chúa Jezus nói lời đầu tiên:
- dân chúng Do Thái, trong sự tận tâm cống hiến, trong trạng thái bị giam cầm gấp đôi, dưới quyền lực của người La Mã của chính họ, tranh đấu vì sự bảo toàn danh dự, đang đợi người giải phóng,
- nhưng cả giữa các tông đồ cũng vậy, những kẻ đã ngủ quên nhiều lần thì đúng hơn hơn là không ngủ.
Cái đối ngược với Phúc Âm mà người ta gọi là Kitô giáo thời lịch sử không là gì khác, ngoài kết quả của phản ứng không chấp nhận tạo ra bởi Chúa Jezus. Cuộc tranh đấu duy trì đã hai nghìn năm, để từ Phúc Âm không điều gì có thể thực hiện nổi.
Chúa Jezus đã xác định con người trong một thế gian từ bây giờ trở đi không bao giờ còn có thể coi là hư vô nữa; xác định con người là một thực thể Thượng Đế không bao giờ có thể né tránh trước bản thân họ nữa; xác định một mức độ của bản chất người từ trước tới nay chưa bao giờ có thể hình dung nổi, và giờ đây không thể không nhận biết.
Có vẻ như, sự né tránh chỉ có một phương thức duy nhất là làm như chưa bao giờ đã có gì xảy ra.
2.
Động tác đầu tiên là bứt mình ra khỏi Chúa Jezus, cho dù con người biết, điều này không chỉ là sự nghiêm chỉnh duy nhất trong đời nó mà còn trong đời sống vĩnh cửu của nhân loại, không chỉ là trật tự cuối cùng trong số phận riêng mà còn trong số phận của tất cả mọi con người.
Con người bị rối loạn trong sự hư hoại của nó và bởi vậy bị rối loạn trong tiện nghi trần thế. Nó cần phải làm một điều đơn giản nhất, nhưng nó không làm. Nó không nhìn thấy một thứ duy nhất có ý nghĩa, và không chấp nhận cho dù nó biết mọi thứ khác đều vô lí.
Đây là sự tăm tối không chấp nhận mà Thánh Giăng từng nói đến, thứ tăm tối không có khả năng chấp nhận ánh sáng. Bởi vì sự tăm tối, theo Baader, không phải là việc xa lìa ánh sáng mà là terror lucis , sự run sợ trước ánh sáng. Con người lầm lẫn quanh quẩn trong giới hạn của nhận thức, và thử chơi đùa với mọi khả năng, để đừng phải làm điều duy nhất nó cần làm.
3.
Bản thân những dạy dỗ của Phúc Âm trong một thời gian ngắn đã bị rơi vào sự chống đối chống lại Phúc Âm. Toàn bộ sự chống đối này tuyệt vọng và phân vân. Lúc đó Kitô giáo ra sao, đã không thể nhận biết, chỉ nổi lên một vài cá nhân trong sạch và tỉnh táo đứng một mình.
Chẳng bao lâu, chỉ từ sự phản ứng, người ta nhận biết rằng tồn tại một Kitô giáo. Nghĩa là có một cái gì đó đừng nhắc đến theo một thỏa thuận chung. Cả trong tôn giáo, trong giới giáo sĩ lẫn trong xã hội, không một tín hiệu gì cho thấy. Giờ đây chỉ còn sự khước từ và sự phản bội.
Như giờ đây chỉ còn lại sự kiện Chống Kitô. Điều này làm nên lịch sử, và điều này tạo cảm hứng cho các sự kiện. Đám đông càng ồn ào và nhiệt huyết bao nhiêu, người ta càng rời xa và quên mất cội rễ bấy nhiêu.
Và khi Constantinus, hoàng đế La Mã biến Kito giáo thành Công giáo quyền lực lúc đó kể cả những gì cần phải phá tiếp cũng chẳng còn lại bao nhiêu.
4.
Truyền thống là một hình thức lớn của sự sống con người. Một hình thức lớn có hai đặc điểm, một là tính định hướng tuyệt đối ( absolut orientacio ) và hai là hiện sinh minh bạch, thấu suốt ( transzparens egzisztencia ).
Cái này không có nếu thiếu cái kia. Nhận thức mở ra toàn bộ chân trời và là thứ mang tính nhạy cảm. Bản thân thực thể người hoàn toàn thấu suốt, minh bạch. Bởi vì toàn bộ bản thân thế gian chỉ có thể mở ra như sau: sự thống nhất giữa tư tưởng-lời nói-việc làm đã định hình ở ai và ở mức độ nào. Mọi truyền thống đều là một dạng hình thức hóa lớn.
5.
Truyền thống luôn gãy làm đôi ở điểm nhạy cảm nhất, nơi nhận thức định hướng và hiện sinh thấu suốt gặp nhau.
Hai mảnh của sự thống nhất bị gãy là tôn giáo và thế gian. Trong thuật ngữ mang tính chất xã hội đấy là hai đẳng cấp tinh thần ( brahman ) và hiệp sĩ ( ksatrija ). Lời nói và việc làm không đi liền với nhau. Mối quan hệ của hai cái này không tồn tại nếu thiếu cái kia, và cái kia cũng không tồn tại nếu thiếu cái này.
Tôn giáo và thế gian là một hình thức mang tính chất điểm giữa của sự sống người. Tại đây nó bị tách đôi thành cá nhân và tập thể. Trong xã hội, đẳng cấp tinh thần và đẳng cấp cầm quyền bị đứt rời khỏi nhau. Trong đời sống người, lời nói và việc làm đứt đoạn lẫn nhau.
6.
Hình thức điểm giữa một lần nữa bị tách đôi thành triết học và khoa học. Triết học thừa hưởng gia sản của đẳng cấp tinh thần, còn khoa học thừa hưởng gia sản của đẳng cấp cầm quyền.
Triết học luôn là lí thuyết và khoa học luôn là thực hành. Ý tưởng ( idea ) và thực hành ( praxis ). Triết học không thể cùng với khoa học và khoa học cũng không thể cùng với triết học, không thể thiếu triết học, bởi hình thức sự sống bị gãy ở nơi sự thống nhất nhạy cảm nhất.
Triết học thiếu sự định hướng phổ quát muốn hiện thực hóa hiện sinh thấu suốt minh bạch, khoa học muốn hiện thực hóa sự định hướng phổ quát nhưng lại thiếu một hiện sinh thấu suốt.
Thế là triết học trở thành tùy tiện còn khoa học rơi vào sự vô nghĩa và chủ nghĩa ma quỷ. Ví dụ điển hình nhất của nó là chiến lược nghiên cứu sự sống và nguồn gốc con người, được xây dựng trên hai cơ sở: sinh vật học và chủ nghĩa cơ giới ( masinizmus ).
7.
Mức độ đáng tin cậy của truyền thống là lời tuyên bố. Mức độ này tuyệt đối. Lời tuyên bố trực tiếp. Trong lời tuyên bố sự thật mở ra không cần chứng minh, bởi nó vượt quá cả cái cần dẫn chứng.
Lời tuyên bố là sự nhận thức đời sống lớn hơn cả đời sống. Sự chân thực của nó ngoài truyền thống ra chỉ khoa học có thể tạo dựng. Mức độ đáng tin cậy của khoa học là tính chính xác. Tính chính xác được hình thành từ cơ sở của lời tuyên bố và hình mẫu của nó, nhưng tính chính xác của lời tuyên bố chưa bao giờ mang tính chất sự vật mà là cảm xúc được biểu lộ.
Mức độ đáng tin cậy của truyền thống và khoa học về cơ bản không thể phân biệt bởi biểu cảm của chúng khác hẳn nhau. Khoa học không có sự thật, chỉ thuần túy có hiện thực của nó (cái gọi là các nhân tố), và bởi vậy khoa học chính xác thiếu sự thật của hiện thực. Có nghĩa là, từ cái mà khoa học nói đến, cho dù có phù hợp với toàn bộ hiện thực đi chăng nữa vẫn không dẫn đến một cái gì tiếp. Khoa học không phải là nhận thức, thuần túy chỉ là thông tin, và hiệu lực hiện sinh bắt buộc của nó không có.
8.
Khoa học lại tách đôi thành khoa học tự nhiên và khoa học tinh thần. Khoa học tự nhiên bắt nguồn từ phép thuật, là nhận thức đặc thù và không phải là tri thức, bởi vậy nó là chủ nghĩa cơ giới và sinh vật học, và không dựa trên nền tảng nhân loại. Hậu quả của nó là làm nghèo nàn bớt đi một phạm trù sự sống. Vì nó chỉ có hiện thực mà không có sự thật, nó không có sự nhạy cảm hướng đến các giá trị, có nghĩa là nó lãnh đạm và trung lập. Lãnh đạm, không bị bắt buộc thể hiện quan điểm, đây là điều tốt nhất của nó. Nhưng khoa học tự nhiên sau cùng vẫn bắt buộc phải đi phục vụ, và phục vụ cho bản năng quyền lực ở châu Âu, xác định sự dối trá, sự cưỡng bức và sự bóc lột.
Khoa học tinh thần thực ra từng là một sự nhập định, nhưng nó đã quên lãng cội nguồn này của mình. Nó cố gắng một mặt biến thành khoa học tự nhiên, hay nói cách khác là phục vụ cho quyền lực (cho thế giới quan) và tìm kiếm lí tưởng trong cảm hứng mang tính chính xác của mình. Mặt khác nó đánh mất các mức độ của nó và biến thành sự tùy tiện mang tính chất cá nhân con người thuần túy.
9.
Cả tôn giáo, cả triết học, cả khoa học đều không làm con người đạt tới tri thức tuyệt đối và xác định nổi đời sống của nó. Cả ba đều chỉ là sự mong muốn làm giảm gánh nặng đời sống, hay nói cách khác đều trốn tránh trước sự thật. Đây là một sự sống bị thu hẹp thành đời sống, với niềm tin đời sống tự nó có thể hiểu nổi. Là trạng thái từ bỏ sự thật. Trong tôn giáo và trong triết học nỗi nhớ quá khứ vẫn còn lưu, nhưng trong khoa học thì không. Điều khoa học tuyên bố, cho dù là bất kì cái gì, đều không mang yếu tố lãnh chịu trách nhiệm về bất cứ điều gì.
Sống thiếu sự thật (thiếu aletheia , trong ý nghĩa sự sống mở) chỉ có nghĩa là sống trong dòng sông lethe (sông Lú âm gian), hay sống một cách bị mất và quên lãng, một cách lẩn trốn, trong mờ mịt, trong các lớp vỏ, chui lủi vào turba (sự rối loạn) không hề nhận ra con người mình ở đâu, đang làm gì, ý nghĩa và hậu quả mọi việc nó đang làm là gì.
10.
Truyền thống là thần học - sự sống, mang ba khuynh hướng của bản thể luận ( ontologia ):
1. Nền tảng cơ bản - là cái nếu không tồn tại con người không thể biết về hành vi ban đầu và phổ quát của nó, nền tảng cơ bản có ở tất cả mọi người, độc lập với thời đại, với các mối quan hệ sự vật ( konstellacio ).
2. Turba - sự rối loạn là cái nếu không có, con người không thể nhận biết dạng hình hư hoại của đời sống cội nguồn trên thế gian.
3. Sự giải thoát - là cái nếu không tồn tại, con người không thể biết rằng có thể bước ra khỏi turba (sự hư hoại) và trả lại vị trí ban đầu cho nền tảng cơ bản.
Kitô giáo trong truyền thống không kiếm tìm sự hư hoại riêng biệt trong nhận thức (như người Ấn Độ) hay trong đạo đức (như người Do Thái) hoặc trong thân xác (như người Hi Lạp hiện đại), mà tìm ra một con đường, có thể từ một điểm duy nhất thanh toán được toàn bộ sự hư hoại.
Sự dạy dỗ này, lời tuyên bố nâng trở lại vị trí cội nguồn của con người và thế gian, người ta gọi là Phúc Âm - Evangehum. Trật tự đời sống nằm trên nền tảng của Phúc Âm người ta gọi là Kitô giáo.
11.
Kitô giáo thời lịch sử là một dạng hình tha hóa của Kitô giáo của Phúc Âm. Đây là những dạng hình thức trong quá trình của lịch sử: chủ nghĩa giáo sĩ ( klenkalizmus ) chế độ phong kiến, chủ nghĩa nhân đạo, thời kì Cải cách, thời kì Ánh sáng, nền dân chủ, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa duy lí, những công cuộc hiện thực hóa giả bộ và những ảo tưởng mang tính chất lịch sử.
12.
Người ta phản đối chống lại Phúc Âm không phải vì cho rằng sự dạy dỗ của Phúc Âm là không đúng, mà vì: muốn từ chối khát vọng giảm gánh nặng đời sống chỉ có thể tiến hành trong cái toàn bộ, và chỉ có thể nhận thức về một đời sống mang giá trị thật sự khi con người phải lấy lại trạng thái đời sống cội nguồn, và chấm dứt sự hư hoại, tha hóa ngay trong chính bản thân mình.
13.
Những dạy dỗ của Phúc Âm không coi chuyển hóa là một nơi ẩn náu để con người lẩn trốn vào đó. Phúc Âm dạy con người hãy bước lên con đường chuyển hóa và thực hiện sự giải thoát.
14.
Coi sự chuyển hóa thành một nơi ẩn nấp (giảm gánh nặng đời sống) - từ những lời dạy dỗ của Chúa Jezus, người ta đã biến nó thành tôn giáo như thế đó.
Tôn giáo là một nỗi đam mê ngất ngây thì đúng hơn là một ý thức. Nhân danh việc giảm gánh nặng đời sống để hành động (như tôn giáo, triết học, khoa học đang làm) thực ra là một dạng của trạng thái phi ý thức.
15.
Xét về mặt lịch sử và văn học từ truyền thống Do Thái, hình ảnh cá nhân của Chúa Jezus tương đối dễ hiểu. Hai hành vi lớn của truyền thống Do Thái; mang tính chất tiên tri và mang tính chất thánh vịnh ca (ở Ấn Độ đó là mahamudra ).
Hai biến thể của lòng trung thành ( emunah ), cơn giận dữ của nỗi đam mê dằn vặt và cơn giận dữ của sự thanh tẩy chua chát, là thứ luôn xua đuổi, nguyền rủa và đe dọa sự vô đạo đức trong đời sống chung và đời sống cá nhân - bởi vì trước cơn giận dữ tâm linh của nhà tiên tri, không kẻ nào, ngay đến cả nhà vua, cũng không né tránh nổi; và hành vi thứ hai, kẻ khổ hạnh hiền lành và ngoan đạo, kẻ trung thành với sự trong sạch thường bắt đầu thực hành hành vi này ngay trong chính bản thân mình.
Chúa Jezus đã hợp nhất trong bản thân ngài cả hai, sự trung thành mang tính chất tiên tri và tính chất thánh vịnh, ngài thực hành sự kiên nhẫn ân sủng với những kẻ phản bội, và âm nhạc của thánh vịnh ca vang lên trong từng lời dạy dỗ của ngài. Thi ca thánh vịnh ca là của người Do Thái, còn ở người Ấn Độ đấy là kinh Veda, ở người Hi Lạp thời Orfika là thánh ca: nền tảng của lời cầu nguyện là ca ngợi sự trong sạch và hiện thực của đời sống, như thể lòng trung thành với sự thật chỉ có thể đọc lên từ thi ca ( bath kol ).
Trong thời đại của Chúa Jezus, hành vi tiên tri tồn lại trong hình dạng của một kẻ điên rồ, bởi vì không giống như những thủ lĩnh nổi loạn La Mã, luôn chống lại các quyền lực riêng của mình, những kẻ luôn duy trì Palestme trong sôi sục, và chỉ có thể hiểu được họ từ xúc cảm sự thật đạo đức mang tính chất tiên tri.
Còn các giáo phái tuyên bố nhân danh sự thật mang tính chất thánh vịnh không chịu đựng nổi một cộng đồng hư hỏng, họ từ bỏ cộng đồng và sống trong các nhóm nhỏ ngoài vòng xã hội (như những người esszenus, Thánh Giăng, Thánh Phao lô.)
16.
Kẻ thù duy nhất của Chúa Jezus ở Palestine, một đối ngược chính xác với bản chất của ngài: kẻ theo phái Pharisees, kẻ sống trong một hợp lệ thế gian manh động thay vì chủ nghĩa tiên tri, kẻ thực hành một lối sống đạo đức giả phô trương thay vì lời cầu nguyện thánh vịnh.
17.
Chúng ta biết, theo truyền thống Ấn Độ một sự sống bị hư hoại, tha hóa bắt đầu bằng nhận thức mù mịt. Sự vi phạm ở đây không mang tính chất đạo đức mà là một hành vi tinh thần. Sự thật là sự thật của tư tưởng. Tội tổ tông là một nhận thức đã bị suy thoái.
Muộn hơn, Hi Lạp, rồi đến châu Âu giải thích sự hư hỏng của thân xác là tình trạng bắt đầu của sự hư hoại, tha hóa. Sự vi phạm ở đây không còn là một hành vi đạo đức hay tinh thần nữa mà là tình trạng nhiễm bệnh.
Trong truyền thống Do Thái (trừ Kabbala) sự hư hoại chính là sự hư hỏng của đạo đức. Những vi phạm là tội lỗi. Tội lỗi về nguồn gốc là hành động duy nhất phá hỏng trật tự khởi nguyên trong một thế gian đã được tạo dựng hoàn chỉnh (theo Mozes: con số, trọng lượng, mức độ). Tội tổ tông, không chỉ lan truyền ra toàn bộ sự sống người mà còn phá hỏng cả thiên nhiên. Như theo Baader: tội lỗi của con người cuốn toàn bộ thế gian theo nó.
Trong truyền thống Do Thái, tích cực đạo đức cũng mang trọng lượng bản thể hệt như ở phương Đông là trọng lượng của tư tưởng và ở châu Âu là của đời sống thân xác. Ở phương Đông bắt đầu của mọi hư hỏng là tình trạng mờ mịt trong nhận thức, ở châu Âu là bệnh tật thân xác và ở người Do Thái là sự sống - thực thể cổ bị hư hoại, một hành động xúc phạm trật tự thế gian khởi thủy.
18.
Tội lỗi, như một tư tưởng hoạt động vô luật phá vỡ trật tự khởi nguyên của tạo hóa, sau này cũng được Kitô giáo và đạo Hồi tiếp nhận. Và bằng sự tiếp nhận này xuất hiện một hành vi đặc thù, đối kháng với toàn bộ các truyền thống, đặt các giá trị của tồn tại phụ thuộc vào các mức độ có thể đo lường.
Đạo đức tốt và xấu mang ý nghĩa cái tốt và cái xấu. Người ta kết án con người từ cơ sở của các hành động trong cộng đồng. Chính vì vậy chưa ở đâu, mâu thuẫn giữa hành động có thể nhìn thấy và hành vi thật sự lại nhìn rõ đến như thế ở người Do Thái, chưa ở đâu vai trò của sự giả dối lại quyết định như ở đó.
Hiện sinh giữa hành động có thể nhìn thấy và hành vi thật sự trên lĩnh vực đặc thù của sự sống giả dối, giữa lời nói và hành động là vị trí của đẳng cấp tinh thần Do Thái: nhóm người Pharisees.
19.
Chủ nghĩa Pharisees không chỉ là một tình trạng đạo đức giả đơn thuần, mà còn là một trật tự sống đã lên kế hoạch hóa, và vấn đề không phải ở chỗ tôi bán một con lừa đang chửa cho ai đấy, cho dù con lừa không hề chửa, còn tôi vẫn nguyên vẹn một cách đạo đức, tôi không nói dối thậm chí tôi còn tự đề cao tôi là một kẻ cao cấp, kẻ cho rằng quan trọng là thực hiện những giá trị nhân đạo, dù nỗ lực của tôi là làm giàu trên thế gian và tôi sử dụng hành vi đạo đức như một hầm trú ẩn cho bản thân.
20.
Cách thức giải quyết đời sống của một hiện sinh Pharisees mang ý nghĩa như sau:
- Đấy là kẻ mong ước được biết đến trong xã hội nên cần phải thực hiện các giá trị đạo đức (lòng kính trọng, danh dự, nói sự thật, sẵn sàng giúp đỡ);
- Đấy là kẻ mơ ước sự giàu có nên cần nhận ra bằng hành vi đạo đức nó không thể đạt đến đích, bởi vậy cần tránh xa lòng kính trọng, danh dự, nói sự thật v.v. và v.v.
Hai điều này không thể đi cùng với nhau. Chủ nghĩa Pharisees đang điều hành một cái không thể, xây dựng một cách có hệ thống một trật tự đời sống tăng trưởng (làm giàu) bằng một hành vi đạo đức giả dối nhằm đánh lừa của nó.
21.
Chiến lược tăng cường sức đề kháng của đạo đức Pharisees trong danh vọng, trong uy tín, trong của cải, trong quyền lực nhằm bảo vệ sức mạnh xã hội của nó. Nó muốn cái không thể: cùng lúc là kẻ thắng cuộc trong đời sống và mang danh sự thật đối với nhân loại. Không phải là con lừa chửa không thể bán như một con lừa đang chửa, bởi vì đây là một ảo thuật hội chợ, mà đây là một vi phạm kinh tế đang xảy ra trên mặt bằng xã hội, đơn giản là một sự lừa dối và phạm luật.
Chủ nghĩa Pharisees bằng việc lấy đạo đức giả che lấp trật tự đời sống chỉ để làm giàu, và không chỉ vì chỉ muốn làm giàu mà nó còn mơ ước được thừa nhận như một tầng lớp thượng đẳng. Đây không phải trò ảo thuật, sự lừa dối và phạm luật, cũng không phải sự vô đạo đức nữa, mà là một sự sống dối trá, bởi vì nó muốn đánh lạc hướng không chỉ bằng bộ mặt của các nhân tố sự vật mà còn bằng bộ mặt thật về bản chất của nó.
Chủ nghĩa Pharisees không phải là sự hư hỏng mang tính chất xã hội và đạo đức, mà là biểu hiện của một sự sống bị phá hỏng, bị hư hoại một cách có tổ chức.
Chủ nghĩa Pharisees là tuyên ngôn đầu tiên và phổ quát nhất của hiện sinh Chống Kitô.
22.
Trong mọi trường hợp chúng ta đều biết đến hai dạng hình thức của truyền thống Do Thái, một là Talmudi, hai là Kabbala. Nền tảng của truyền thống Talmudi (chủ nghĩa Rabbinizmus) là đạo đức nghiêm ngặt mà chủ nghĩa này, hay nói cách khác đẳng cấp này duy trì, mục đích của nó thực chất chỉ đề cao sự tăng trưởng, nhưng nó không cho phép nhìn nó qua mục đích này, và bởi vậy nó được che đậy bằng một đạo đức giáo điều, bằng hành vi nhấn mạnh một cách cường điệu thái quá các quy tắc tôn giáo trước dân chúng.
Sự thật là: đạo đức nghiêm ngặt nhấn mạnh một cách cường điệu hóa trong mọi xã hội và trong mọi thời gian đều chứng tỏ một sự dối trá bị giấu kín. Có thể nhận thấy trong xã hội Do Thái, bằng sự lớn mạnh của chủ nghĩa Pharisees các quy tắc phức tạp mang tính chất cấm đoán của Talmudi tăng lên trong những tỉ lệ nào, và dưới chiêu bài nghi thức, các trang phục, cách thức chuẩn bị ẩm thực, cách thức vệ sinh thân thể, cách thức vận động, nói năng, các công thức được tiến hành ra sao.
Hiện sinh của con người không ngừng xoay quanh trạng thái phạm tội-vô tội, và những người Pharisees càng dấn thân vào vòng quay làm tăng trưởng thế gian bao nhiêu, họ càng đòi hỏi sự nghiêm khắc duy trì đến từng sợi tóc những quy tắc cấm đoán nghiêm ngặt bấy nhiêu, và với những kẻ bị cho là có tội càng bị bắt phải gánh chịu mọi hậu quả ngày càng khủng khiếp hơn bấy nhiêu.
23.
Một dạng hình thức khác của truyền thống Do Thái là Kabbala. Nguyên nhân đầu tiên của sự sống bị phá vỡ theo người Ấn Độ là sự mờ mịt nhận thức, theo người châu Âu là sự mong manh về sức khỏe thân xác, còn theo truyền thống Taknudi là cái xấu của đạo đức, hay là tội lỗi.
Quan điểm và sự dạy dỗ của Kabbala về vấn đề này theo các cội nguồn cổ nhất không rõ ràng lắm. Có thể những người Essen và các giáo phái tương tự sống cùng trong một cộng đồng từng được tổ chức theo kiểu Pythagoras-Orfika. Chúng ta đều biết orfika và Kabbala có họ hàng với nhau, cũng có thể vì thần số học ( aritmologia ) của họ gần như tương tự. Nhưng một điều chắc chắn, chủ nghĩa rahbinizmus hoàn hoàn bị mất ở họ.
Muộn hơn (ở Alexandria, trong thời trung cổ, tại Tây Ban Nha) những thể hiện khác của Kabbala rất gần với mối quan hệ được duy trì giữa truyền thống Ấn Độ và Mohamedan tâm linh, hay nói khác đi điểm tối của sự hư hoại có thể nhận ra trong mù mịt nhận thức ở họ.
Trong các văn bản (được cho là) cổ nhất (như Sefer Jecira) có thể nhận ra rõ hơn nữa những nỗ lực trả lại vị trí cho trật tự thần số học khởi nguyên và trật tự khởi nguyên của ngôn ngữ.
Có thể, Kabbala không tìm kiếm những biểu hiện đầu tiên của sự sống bị hư hoại cả trong nhận thức, cả trong bệnh tật thân xác, cả trong đạo đức, mà ở điểm giữa của sự tồn tại, nơi nhận thức, thân xác và đạo đức gặp nhau, hay nói cách khác ở một điểm nào đấy mà bất cứ truyền thống nào cũng không thể đặt tên.
24.
Kabbala luôn đối ngược với truyền thống của chủ nghĩa rabbinizmus , và chủ nghĩa rahhinizmus luôn đè nén và xua đuổi Kabbala. Nhưng Kabbala như một sự dạy dỗ bí ẩn (thần bí, giáo phái) luôn có sức nặng ở mức độ khiến chủ nghĩa rahhinizmus luôn cảm thấy mình bị đe dọa. Sức nặng này không nằm trong số lượng, trái lại thì đúng hơn.
Những kẻ theo Kabbala luôn là số ít. Nhưng Kabbala nhìn thấu suốt sự sống dối trá của những người Pharisees. Kabbala không dạy rằng con người cần trở lại vị trí bình thường của nó, hay nói cách khác cần thanh toán sự hư hoại ban đầu trên nền tảng đạo đức, nghĩa là bắt đầu từ những hành động có thể nhìn thấy, mà Kabbala dạy rằng con người cần quay trở về cội nguồn trong toàn bộ bản chất của nó ( tesuvah ).
25.
Tesuvah là ý nghĩa tận cùng của Phúc Âm được gìn giữ hai nghìn năm nay. Sự lớn lao trong ý nghĩa của từ mang tính chất Phúc Âm này không chỉ vì nó không mới, thậm chí sau ý thức về sự sống nguyên khởi đây là ý nghĩa cổ nhất, nhưng cũng vì thế mang tính chất bí ẩn và mơ hồ hơn cả. Sự lớn lao của nó là Chúa Jezus, người mà ngoài ngài ra chưa bao giờ có ai như thế, rất hiểu về con người bị hư hỏng là như thế nào, chính vì vậy Chúa Jezus có khả năng soi sáng sự bí ẩn và mơ hồ này.
Chỉ có thể hiểu nổi điều này như một sự tự thân khi sự hư hỏng không thể chạm tới sự sống mà Chúa Jezus tự hiện thực hóa trong bản thân mình. Một điều như vậy không thể là kết quả của một cuộc vật lộn tư tưởng, hay một cuộc tranh đấu hiện sinh hóa cũng không. Một sinh linh đặc biệt, mang tính chất mở và giản dị như vậy chỉ có thể là một hóa thân của sự sống trong sạch tuyệt đối.
Bởi vậy truyền thống coi Chúa Jezus như một người vô tội (nhìn từ góc độ sự hư hỏng) và coi ngài như Thượng Đế (khi Chúa Jezus thực hiện sự sống nguyên sơ và tuyệt đối). Và bởi vậy không thể coi Chúa Jezus là điều gì khác, ngoài sự trong sạch không thể hư hoại, hay nói cách khác chính là Thượng Đế.
Sự dạy dỗ của Phúc Âm duy nhất cho thấy và tuyên bố về mức độ này, rằng sự hư hỏng ban đầu (tội tổ tông) trong con người là sự trái ngược so với cội nguồn trong sạch đích thực của sự sống, sự hư hỏng đã tạo ra một trọng tâm lạc lối so với trọng tâm nguyên khởi của sự sống, và từ đó sự sống hư hoại (cái chết) nảy sinh.
Những quyền lực đen tối và tàn phá được phóng ra bởi sự hư hỏng, là thứ người ta đặt tên một cách thần bí là quỷ sứ, nhưng trước hết đó là một khả năng mở ra, tuy không mở ra sự sống mà mở ra sự hư hoại và triệt tiêu. Từ cội nguồn phá vỡ đời sống một cách vô luật này, quyền lực không bộc lộ riêng trong hành động vô đạo đức, không bộc lộ riêng trong mù mờ nhận thức, không bộc lộ riêng trong sự mong manh hư hoại của thân xác.
Xấu về đạo đức, nhận thức mờ mịt và thân xác nhuốm bệnh là hậu quả của sự phá vỡ đời sống trọng tâm. Trong quá trình chuyển hóa ( tesuvah ) con người vô ích mong muốn thực hiện từng phần cái tốt trong các hành động, vô ích giải tỏa nhận thức mù mờ, vô ích cố giữ gìn sức khỏe, nếu không giải quyết một trọng tâm lạc lối, trái ngược với trọng tấm thực chất của sự sống, cần phải triệt tiêu đến tận cội nguồn của sự phá vỡ đời sống.
26.
Trong mọi trường hợp, Chúa Jezus luôn đứng ngoài vòng khủng bố đạo đức của những người Pharisees. Chúa Jezus có quan hệ thế nào với truyền thống Kabbala, chúng ta không biết. Nhưng Chúa Jezus giữ quan điểm chống lại sự dạy dỗ tội lỗi phổ quát, Chúa Jezus không duy trì những quy định về ăn uống, trang phục và các tập tục, và cái đáng kinh sợ nhất là ngài không coi trọng cả ngày nghỉ cuối tuần (Chủ nhật).
Chúng ta không biết Chúa Jezus coi trọng sự tỉnh táo nhận thức một cách đặc biệt hay cho rằng tình trạng sức khỏe của thân xác quan trọng hơn, nhưng tất cả mọi từ ngữ của Phúc Âm đều chỉ ra vị trí trọng tâm của sự phá vỡ đời sống là sự hư hỏng về mặt tri thức, đạo đức và tình trạng sức khỏe, hay trong toàn bộ cội rễ của sự sống.
27.
Guénon cho rằng Kitô giáo không phải là một tôn giáo mà là một sự nhập định. Sự nhập định không mở ra một tỉnh táo nhận thức, không dạy dỗ về sự hoàn hảo của đạo đức và sự tránh né bệnh tật, mà phát hiện và chỉ rõ sự tăm tối nằm trong trọng tâm của mọi hành động phá vỡ đời sống, là một thứ có thể mang tính chất cả về nhận thức, cả về đạo đức và cả về sức khỏe.
Nhập định chỉ dẫn đến sự trong sạch, lành mạnh và trật tự tuyệt đối của sự sống. Sự lành mạnh và trong sạch và trật tự cội nguồn của sự sống không chỉ mang tính chất khởi nguyên và không chỉ là cái tận cùng ẩn chứa trong tương lai, mà còn là thứ tồn tại trong mỗi con người một cách thường xuyên và vĩnh cửu, kể cả khi nó không được thực hiện, nhưng nó tồn tại ngay cả trong thời điểm hiện tại, bởi nó là trung tâm sự sống đích thực và cội nguồn, thiếu nó không ai có thể hiện hữu, dù chỉ trong một khoảnh khắc cũng không.
Kitô giáo không mang lại phúc lạc và cũng không chữa chạy mà giải thoát con người khỏi sự phá vỡ sự sống, và từ đó mở lối cho con người quay về sự sống đích thực ( tesuvah, metanoia, sự chuyển hóa ).
Tri thức này từ lúc sự sống bị phá vỡ cho tới nay đã hoàn toàn bị lu mờ, và tri thức này đã bị con người quên lãng quá lâu. Ý nghĩa của sự chuyển hóa chỉ đấng Cứu Thế (con người-Thượng Đế) tìm thấy lại, và sự chuyển hóa cũng chỉ người đó thực hiện nổi.
Bởi vậy Chúa Jezus nói: “Ta đưa ra công khai cái bị cất giấu từ buổi tạo dựng” (Mt.13,35).
Đấy là cái không phải để quay trở lại thiên đường và làm sống lại sự sống của vườn Ê-đen, mà là một vương quốc được hình thành từ sự chiến thắng mọi khả năng phá vỡ sự sống, cái người Do Thái đặt tên là malkuth ha samajim (Đức Chúa Trời xưa).
Đây là dzsjotismat khsathra của Iran, vương quốc của sự rạng ngời. Là đất nước quang minh chính đại. Đất nước này có trong con người: baszileia tou theou entosz humon . Đây là trái đất được chiếu sáng bằng sự ngợi ca rực rỡ, sự vinh danh - khsathra, kavod, gloria, doxa - một trong những từ cơ bản của truyền thống.
Kitô giáo là một loại nhập định để sau sự hư hoại sẽ dựng lên một nền tảng bản thể mới, còn sâu sắc, cơ bản hơn sự sống vườn Eden cội nguồn. Nền tảng của tạo hóa vẫn còn non dại và mong manh. Nguyên tắc cơ bản của sự chuyển hóa sâu sắc hơn cả nền tảng của tạo hóa đã được tạo dựng (theo Baader).
Bởi vậy coi tất cả những điều này là tôn giáo hay phúc lạc cá nhân - theo W.F.Otto - đều là một sự hiểu lầm mang tính triết học tầm thường, thấp kém và nguy hiểm. Kitô giáo là một thể hiện của sự thật, mà bằng toàn bộ quyền lực của sự sống tái sinh, phá vỡ, vượt qua tất cả, kể cả khi “thân thể và linh hồn đều bị tiêu diệt” trong nó.
28.
Từ: asma trong các ý nghĩa biến đổi giàu có của tiếng Do Thái rất ít khi mang nghĩa tội lỗi. Trong bản thân từ asma có nghĩa là bóng tối, nấm mồ, nhưng một biến đổi khác của từ này, từ asmaj có nghĩa là thô bạo, vô thức, độc ác. Asmodaj là tên của vương quốc của ma quỷ. Như một động từ, nó có nghĩa: sám hối, ăn năn hối cải vì tội lỗi, trở nên thảm hại, khổ sở, bị tiêu diệt.
Âm thanh cơ bản nhất của từ này vang lên từ các nghĩa phụ của nó là sự không trong sạch, đến mức nhiều lần trong Phúc Âm từ asma chỉ có thể dịch bằng từ không trong sạch, bẩn thỉu. Kẻ phạm asma , nhúng chàm, và sự vấy bẩn này không chỉ trong ý nghĩa về mặt tôn giáo hoặc xã hội mà còn cả về mặt bản thể của chủ thể.
Kẻ này không phạm những việc bẩn thỉu mà bản thân nó trở thành sự bẩn thỉu. Và con người ghê sợ loại bẩn thỉu này như một ma thuật ở mặt trái của nó, nó là sự run rẩy ghê tởm đáng sợ. Là sự mù lòa đặc biệt thô thiển và ngớ ngẩn, là hậu quả của sự bất lực tê dại và sự tàn phế của thân thể, ngoài ra nó còn là sự cả tin vô lí và ngu đần muốn chờ đợi một tính chất tích cực nào đó từ asma . Sự bẩn thỉu bám chặt và bốc mùi và đầu độc và như thể không thể chịu đựng nổi.
Eckhart viết, sự bẩn thỉu ( asma ) này giống như một loại cỏ dại độc hại nhất trong các loại cỏ dại ( circium ) háu ăn bướng bỉnh cứng đầu, con người vô ích ngắt bỏ, nếu không nhổ tận rễ nó sẽ lập tức lan tràn còn nhanh hơn, mạnh hơn, độc hơn.
Kabbala cho rằng cỏ dại cũng như các loài côn trùng sâu bọ độc hại là các sinh linh bẩn thỉu lan truyền như một hệ quả của sự phá vỡ sự sống của con người khi sự hư hoại bắt đầu.
29.
Theo nghĩa của từ asma , quan trọng nhất là con người khi bắt đầu bị vấy bẩn không chỉ làm bản thân mình vấy bẩn mà còn bôi bẩn toàn bộ sự tồn tại trong vũ trụ. Bởi vậy theo định nghĩa của Schelling: Beraubung des Seins -tình trạng ăn cướp sự sống - vẫn còn nguyên giá trị. Bôi bẩn sự sống, ăn cướp sự sống càng rành rành bao nhiêu, sức mạnh của nó càng ít bấy nhiêu, asma càng được tiến hành với phương cách giấu kĩ bao nhiêu mức độ vấy bẩn của nó càng trầm trọng bấy nhiêu.
Bởi vậy các tội lỗi lớn nhất không phải là thứ tội lỗi bày ra trước mắt mọi người mà là thứ tội lỗi người ta phạm phải nó một cách bí mật, và giấu giếm tội lỗi này bằng cách lập ra một hệ thống che đậy thường xuyên và kiên cố. Asma lớn nhất là một hệ thống phá vỡ đời sống được che đậy một cách hoàn hảo.
30.
Asma được nhân cách hóa (quỷ, satan) trong mọi trường hợp cũng đều là sự nhầm lẫn. Toàn bộ điều này có thể có nghĩa như sau: thứ phá vỡ sự sống trong con người và trên thế gian là một quyền lực mạnh như thể đó là một cá nhân, đúng hơn không phải là một cái gì, mà là một ai đó, kẻ mà ta không thể tránh khỏi.
Nhưng quỷ không phải là một sinh linh cụ thể, bởi nếu đúng như vậy có thể đánh thức sự chuyển hóa ( tesuvah, metanoia ) trong nó, điều này vô lí. Không thể trừ tà cho quỷ. Không thể xua đuổi chất ma quỷ trong quỷ. Chuyển hóa quỷ là một nhiệm vụ vô lí.
Quỷ là một sự thức tỉnh phi pháp của quyền lực ẩn nấp trong tạo hóa, là một khả năng của sự tồn tại, để sự sống trên một điểm nhất định, bên cạnh nguồn sống trực tiếp của mình, có thể bị biến thành bản thân sự phá hủy sự sống.
31.
Phá vỡ sự sống là một hành động nỗ lực đặc thù, liên tục, đặc biệt, khi nó tự giấu giếm bản thân và làm ra vẻ tuyệt đối không phải là tội lỗi, cùng lắm chỉ là sự bắt buộc đặc biệt của một kẻ đầu óc không bình thường. Nỗ lực này giữa mọi cố gắng thuộc về khoa học, là thứ coi tội lỗi là một hiện tượng tâm lí và cho rằng nhân tố tội lỗi có thể hiểu được từ tự nhiên và trong đa số trường hợp có thể thủ tiêu nó không để lại dấu vết.
Nhưng ý thức về tội lỗi lại có ở tất cả mọi người, bởi vì ý thức trách nhiệm biến đổi tội lỗi cũng đều có ở tất cả mọi người. Ai cũng biết cái gì đang xảy ra, một cái gì đó không thể như thế và cần phải trả lại vị trí cho nó.
Không phải cách dựng lại cội nguồn (quay về) cho dù đấy là mong muốn lớn nhất. Đây là sự khao khát muốn quay trở lại trạng thái thiên đường ban đầu. Nhưng không thể lấy lại được trạng thái này.
Sự biến đổi cần dựng xây trên những nguyên tắc cơ bản được phục sinh mới, cao hơn so với cái cội nguồn và là sự thực hiện một tồn tại hoàn hảo hơn, làm chuyển hóa sức mạnh của sự phá vỡ sự sống trong chính nó, và sự chuyển hóa sẽ chấm dứt sự phá vỡ này trong bản thân nó và tạo điều kiện sống cho các sức mạnh tích cực.
32.
Rõ ràng sự chuyển đổi mang tính chất Phúc Âm chỉ có thể hiểu là sự chuyển hóa. Là một trách nhiệm mà nếu con người buông lơi, sẽ chất lên bản thân mình một món nợ. Và nợ cần phải trả. Nếu không trả, nó sẽ tăng lên chồng chất. Đấng Chuyển Hóa: là kẻ thay tôi trả nợ hay nói cách khác giúp tôi thoát khỏi món nợ.
33.
Về việc cần chuyển hóa sự phá vỡ sự sống, ai cũng biết. Sự sống như thế này, như đang có, không thể chịu đựng nổi. Nỗi bất lực phải chịu đựng sự sống bị bôi bẩn ai cũng biết rất trực tiếp, và sống một đời sống nhân đạo như thế nào ai cũng biết. Vì lợi ích của toàn bộ sự tồn tại, việc trả lại vị trí cho sự sống trong sạch đòi hỏi phải tham gia một cách cá nhân và có trách nhiệm.
Nếu con người không tham dự quá trình chuyển hóa, cùng với sự rút lui của họ, sự nhơ bẩn trong họ cũng tăng lên. Ý thức dự phần trong sự phá vỡ sự sống, nếu không làm nó biến mất cũng có thể làm nó lu mờ, và nhân loại ngày càng dựa vào nhiều hơn những loại thuốc mê để có thể ngủ quên trước ý thức. Nhưng không thể xoa dịu sự chuyển đổi bắt buộc, và bởi vậy trong bản thân tất cả mọi người cần đánh thức câu hỏi: chuyển hóa-nhưng tại sao?
Bản năng chuyển hóa trở nên tốt trong con người không thể bắt nó im lặng, con người biết, nó luôn đi theo và làm theo một cái gì đấy mà thiếu sự chuyển hóa trở nên tốt đẹp, con người không thể tồn tại.
Phá vỡ sự sống không do một con người gây ra, và toàn bộ sự sống bị phá vỡ tiếp tục không do một người hoặc một nhóm, mà có sự tham dự của tất cả chúng ta. Bởi vậy chuyển hóa là nghĩa vụ bắt buộc của mỗi người. Ai không muốn tiến hành, kẻ đó gây thêm sự phá vỡ sự sống.
Trách nhiệm bắt buộc này tất nhiên quá lớn, nhưng sẽ còn lớn hơn nếu con người hiểu đây không phải một biểu hiện bên ngoài hay xảy ra do các điều kiện, mà con người sinh ra có cùng trách nhiệm này. Nhưng con người không biết về con đường dẫn tới sự thực hiện trách nhiệm, và dù biết đi chăng nữa, chính vì sự sống đã bị hư hoại của nó, nó không thể thực hiện nổi trách nhiệm hoặc chỉ hoàn thành những điều không đáng kể.
Chuyển hóa là một hành động đặt bước đi đầu tiên và khẳng định thay con người. Kẻ thay con người đặt bước đi đầu tiên này là Messias-Đấng Chuyển Hóa. Đấng Chuyển Hóa-Messias nhận sự phá vỡ sự sống vào bản thân mình, coi nó như một phần thật sự của mình, và nhận lấy trách nhiệm đã gây ra sự phá vỡ sự sống.
Nhưng điều này chưa đủ, Đấng Chuyển Hóa còn trao lại cho con người kết quả tích cực của sự chuyển đổi, trao sự tồn tại đã làm cho trong sạch ở mức độ cao hơn, trao như thể chính con người đã tự tìm kiếm lấy cho mình.
Sự chuyển hóa có nghĩa là: Đấng Chuyển Hóa thay con người thực hiện sự biến đổi. Chính vì vậy hình ảnh tượng trưng của sự chuyển hóa là đồi Golgota và cây thánh giá.
Hay nói một cách khác: đấy là sự hiến dâng.
34.
Hành động bôi bẩn sự sống (phạm tội phá vỡ sự sống) động chạm đến tất cả mọi người, bởi vậy tất cả mọi người đều có trách nhiệm chuyển hóa vì tất cả mọi người khác.
35.
Sự chuyển hóa là sự chuyển đổi thành cái tốt - trả món nợ thay cho con người - và lúc đó điều này trở nên có hiệu lực, nếu con người hiểu ra và chấp nhận, nhưng sự chấp nhận này phụ thuộc vào việc con người có tham gia cùng với Đấng Chuyển Hóa bằng sự chung thủy hay không.
Sự chung thủy, lòng trung thành ( emunah, pisztisz, fidesz ) là ngôn từ cơ bản của Phúc Âm, chứ không phải đức tin ( faith, foi, Glaube ).
36.
Quá trình của hiện tượng Chống Kitô: chúng ta là các thực thể tự nhiên-không có tội-không có sự phá vỡ sự sống-không có trách nhiệm vì lẫn nhau-không có lương tâm-không có sự chuyển đổi-không có món nợ-không có trách nhiệm-không có sự chuyển hóa-đời sống có để mà hưởng thụ.
37.
Tất cả các truyền thống đều có ý thức về sự chuyển hóa. Ý nghĩa của sự chuyển hóa phụ thuộc vào lời giải thích về sự hư hỏng ban đầu.
Ở Ấn Độ sự hư hỏng là sự mờ mịt về nhận thức, và chuyển hóa chính là trả lại vị trí của nhận thức ban đầu. ở người Do Thái sự hư hỏng là cái xấu trong đạo đức, bởi vậy chuyển hóa là hành động tốt. Trong truyền thống Hi Lạp cổ sự phá vỡ đạo đức và mĩ học gắn liền với nhau, chuyển hóa là việc trả lại vị trí đồng thời cho sự nguyên vẹn của đạo đức và cái đẹp của sự sống (kalokagathia).
Tri thức về chuyển hóa trong thời kì lịch sử kể cả trong trường hợp ưu việt nhất vẫn đơn thuần chỉ là tantra , hay nói cách khác là những hồi tưởng về tri thức sách vở, muộn hơn, tiếp đến khoa học.
“Cho dù sự dạy dỗ đã cá nhân hóa, nhưng người ta vẫn phải đi tìm ý nghĩa của dạy dỗ cùng thông thái, và chính vì vậy không dự phần vào sự dạy dỗ. Người ta học để có thể phát biểu, bộc lộ ý kiến của họ về nó, bởi vậy giáo dục sai lạc chỉ dẫn đến sự hư hỏng tiếp và dẫn đến sự đau khổ” (Buddha).
38.
Không thể né tránh trước các nhân tố cho thấy: tình trạng phá vỡ sự sống cũng chỉ vì con người quan tâm đến quyền lợi của mình trong đó. Chỉ phải chịu đựng, như chịu đựng một nhận thức lộn xộn, chịu đựng các bệnh tật và sự bị nhúng chàm.
Cần trả lại vị trí nguyên vẹn của sự sống, và nghĩa vụ này là nghĩa vụ của tất cả mọi người. Lẩn trốn, phủ nhận, che đậy là làm cho con người ngoài việc sống trong một sự sống hư hoại còn phải sống trong cả sự dối trá nữa. Ai gánh nhận sự chuyển hóa, kẻ đó vẫn phải chịu đựng nhưng ít nhất tránh được sự dối trá.
Chúa Jezus tiết lộ cội rễ hư hỏng trọng tâm nằm sau sự phạm tội từ những lời giảng dạy từ các truyền thống khác nhau. Các dấu hiệu của sự hư hỏng là nhận thức suy thoái, là các loại bệnh tật và đạo đức suy đồi, nhưng trọng tâm trước nhất của sự hư hỏng trong chính bản thân nó là sự lan truyền của sức mạnh phá vỡ.
Quyền lực mà Chúa Jezus không dùng đối kháng với sức mạnh phá vỡ thực chất lớn hơn sức mạnh ấy, tạo dựng ra sự trong sạch sau cùng so với sự trong sạch ban đầu của sự sống đặc biệt, không phải là một quyền lực chưa từng có và đắc thắng, trái lại đấy là một thứ quyền lực hiền hậu và yếu ớt, một siêu quyền lực mà bên cạnh mọi sức mạnh nó yếu ớt hơn, mềm mỏng và dịu dàng, nhún nhường hơn. Phúc Âm gọi đó là tình yêu thương.
Tình yêụ thương là thứ quyền lực hãm phanh sự phá vỡ sự sống, và trả lại vị trí cho sự sống bằng cách tạo dựng một mức độ sự sống cao hơn sự sống cội nguồn. Mức độ này là tính chất quốc vương của Trời, là những nguyên tắc cơ bản của công lí chiến thắng.
39.
Tình yêu thương không phải là đức hạnh đạo đức, không phải là giá trị và tình cảm tôn giáo, mà là một thứ sức mạnh (yếu ớt) cao hơn sức mạnh của sự phá vỡ sự sống, là một thứ không trả lại vị trí cho nền tảng cơ bản mà là thứ tạo dựng nên nền tảng cuối cùng của sự tồn tại.
40.
Tình yêu thương hoàn toàn yếu ớt bởi đã từ bỏ mọi đối kháng. Tình yêu thương bất khả xâm phạm, bởi nó là quyền lực lớn nhất của sự tồn tại.
41.
Phúc Âm tiết lộ hành động phá vỡ sự sống trọng tâm, và Phúc Âm là sự xác định mở ra tình yêu thương ( remedium ) duy nhất.
42.
Nếu linh hồn không yêu, nó rơi xuống đất, nơi đồng nghĩa với địa ngục (theo Simone Weil). Hoặc nói như Empedokles: linh hồn yếu mềm đi trong tình yêu thương đứt rời từ Thượng Đế của nó, và nó cần thanh tẩy hóa trong trạng thái hóa thân vạn lần để có thể quay về.
43.
Những quyền lực phá vỡ sự sống và những hệ thống dối trá từ hai nghìn năm nay cố gắng bôi nhọ tình yêu thương. Một cách thành công trong tư tưởng, trong thế giới quan, trong triết học, trong khoa học. Sự bôi nhọ ấy là: tình yêu thương là một sự lừa dối đa cảm của tôn giáo, và trọng tâm của sự sống người không phải là tình yêu thương mà là một cuộc đấu tranh sinh tồn.
Nhưng tình yêu thương là thứ hiện hữu duy nhất không chối bỏ được và không bôi nhọ được. Cái có thể bôi nhọ là thứ lợi dụng danh nghĩa tình yêu thương, là sự dối trá và giả vờ yêu thương, là sự lừa gạt bằng tình yêu thương, là thứ yêu thương giả dối và ích kỉ.
Tác dụng của sự bôi nhọ chỉ được duy trì chừng nào con người chưa tiếp xúc với tình yêu thương thật sự. Trong khoảnh khắc từ sự dịu dàng nhún nhường và êm ái, hoàn toàn yếu ớt và phi uy thế, mọi đối kháng rơi rụng, và sự mềm mại không được bảo vệ này trở nên cứng hơn cả kim cương.
44.
Phá vỡ sự sống-Chống Kitô giáo không phải là những nhân tố lịch sử, không phải là nhận thức, tri thức, đạo đức, quyền lực, các guồng máy của con người để chống lại tôn giáo mà chính là để chống lại tình yêu thương.
45.
Không có tình yêu thương, điều này thể hiện ra trong nhận thức như sự điên rồ, trong đạo đức như hành vi phạm tội, trong thân thể như bệnh tật. Phi yêu thương như sự phá vỡ sự sống. Tình yêu thương là mức đo của sự tồn tại.
46.
Nghịch lí của tình yêu thương: tình yêu thương là sự thể hiện bản chất sâu sắc nhất của con người trong việc thực thể sâu sắc nhất ấy đối diện với chính bản thân và quyết định chống lại bản thân (Oetinger). Con người giải phóng tình yêu thương bằng cách buộc mình lại.
47.
Hoạt động cơ bản của sự sống (tình yêu thương):
- trong trạng thái độc lập, như một cái Tôi làm cân bằng trong cái chung;
- trong sự thống nhất với cái chung trở thành một cái Tôi tuyệt đối (đây là nền tảng của logic của Böhme-inqualieren - định luật tác động lẫn nhau).
Là sự khác biệt trong dãy số vô tận của MỘT, là sự hội nhập trong MỘT của dãy số vô tận.
48.
Tình yêu thương là một đặc tính mang tính chất toán học: toán học thể hiện các hành động của tình yêu thương.
Sau thần số học huyền bí (Kinh Dịch, Sankhja, Kabbala, Pythagoras, Orfika) đặc điểm mang tính chất toán học của tình yêu thương ở châu Âu chỉ có một vài người hiểu: Plotinos, Cusanus, Eckhart, Böhme. Nền tảng của mọi hoạt động mang tính chất toán học - tri thức về sự sống nguyên sơ - không là gì khác ngoài một hoạt động thống nhất hóa của tình yêu thương (hoạt động cơ bản của sự sống).
Các hoạt động của tình yêu thương nằm trong vật lí, hóa, sinh vật, chiêm tinh học, tâm lí học và xã hội học.
49.
Logic của tình yêu thương là logic hợp nhất (Upanisadok, Plotinos, Heraklaitos, Cusanus, Zen, Sufi, Böhme, Hasidok).
Tình yêu thương là Lời mở ra và chiếu sáng sự sống-logo.
50.
Cái không thể hiểu từ tình yêu thương là cần phải từ bỏ lòng tin cậy vào ngôn từ.
51.
Tình yêu thương tạo dựng nên một kĩ thuật sống đơn giản hơn và cao hơn tạo hóa cội nguồn, tạo dựng sự hiện diện linh hồn vững chắc hơn, tri thức cao hơn, tạo dựng nhận thức con người, nhận thức hiện thực. Đây là trật tự đời sống, bởi vì nó nhiều, ngây thơ hơn, nhạy cảm hơn, hiền hậu hơn, mềm mại hơn, sáng sủa hơn, học thức hơn, trí tuệ hơn, rộng hơn, trong trẻo hơn, vô tư hơn, tinh tế hơn - và nhất là có giá trị hơn và dễ bị tổn thương hơn.
52.
Hình ảnh cổ của mọi tình thương yêu là sự hiến dâng Golgota: hiến dâng bản thân ta một cách trọn vẹn.
53.
Sự thể hiện mang cảm hứng mà Phúc Âm gọi là Linh hồn Thánh Thần (Tinh thần Thiêng, ruah hakados, pneuma hagion) là hoạt động cơ bản nhất nhằm chiếu sáng những gì bị cất giấu.
Trong các mức độ tồn tại đây là tinh hoa của hành động của Chúa Jezus. “Ta công khai cái bị cất giấu từ thời có tạo hóa”. Đây là cái mà Chúa Jezus để lại một cách vĩnh cửu ( ta ra đi để có thể chuyển đến). Đây là exouszia của Linh Hồn Thánh Thần, là sự hiện diện của quyền lực cao nhất.
Điều này trên thế gian sau fiat lux đầu tiên là “sự tỉnh táo” thứ hai. Để không bao giờ còn có gì bị cất giấu trước bất kì ai. Bởi vậy tính chất của Tinh Thần Thiêng là khải huyền ( apokaliptik ) bởi từ “khải huyền” có nghĩa là sự bộc lộ những gì từ trước tới nay đã bị giấu giếm một cách bí mật.
Chiếu sáng là hoạt động của Tinh Thần Thiêng nên thánh Giăng gọi tinh thần là tinh thần của sự thật ( pneuma tesz aletheiasz ) bởi vì tác phẩm của tinh thần sự thật là hiện sinh thấu suốt, hay chính là thực thể người đã được thức tỉnh hoàn toàn, cần trở thành mở trong bí mật.
54.
Chống Kitô cũng có thể coi là sức mạnh trái ngược của Tinh thần Thiêng, bởi tinh thần muốn che đậy cái bị cất giấu, còn Chống Kitô muốn che đậy cái đã bị phanh phui. Chống Kitô không bước ra từ thế gian tạo hóa mà bước ra từ thế gian của sự chuyển hóa, bởi vậy nó không phải là sự phá vỡ sự sống nguyên sơ mà nó là vương quốc của sự phá vỡ sự sống tái sinh siêu nhiên.
Chống Kitô là sự đối lập của tình yêu thương, không phải là sự dâng hiến Golgota, mà là chủ nghĩa cá nhân, không phải là sự tin cậy trẻ thơ nhạy cảm và dễ bị tổn thương, tươi tỉnh và mở, mà là sự ngờ vực vô cảm, thu mình, che chắn và phi cảm xúc, không phải một sự mở ra mà là một sự đóng kín, không phải một sự thống nhất mà là một sự tản mát rời rạc, ngoài ra đây còn là sự che đậy các sự vật, là việc tạo ra một hệ thống nhằm đánh lạc hướng sự che đậy, và sau cùng, để người ta đừng nhận ra sự che đậy, đây còn là một cách che chắn cái bị che đậy.
Sự che đậy mang tính chất Chống Kitô là một quá trình vô tận mà chỉ quá trình chiếu sáng của Tinh Thần Thiêng mới có thể chống trả một cách vô tận mà thôi. Nhưng tác động của Chống Kitô lớn nhất chính ở nơi nó đối chọi với sự yếu ớt của tình yêu thương, nơi có thể làm thức tỉnh một giả tưởng, rằng cái yếu ớt, cái bị khinh thường, cái cần phải thu thập lại chính là một quyền lực.
55.
Sự dạy dỗ của Phúc Âm không phải là sự thành lập một tôn giáo mà là sự nhập định. Các học trò đã nhầm lẫn, và sự nhầm lẫn này bộc lộ ra từ rất sớm. Không thể xây dựng một cộng đồng cho Phúc Âm. Kitô giáo là một sự nhập định mà bằng sự cao siêu của những kẻ đã nhập định, hay bằng hoạt động mang tính chất brahman có thể thiết lập một sự thống nhất nhân loại, hay còn gọi là MỘT NHÀ-NHÀ CHUNG.
Không phải như một tổ chức mà là một tập hợp sau cùng và thực chất, của một hiện thực gồm những con người sống trong tinh thần Phúc Âm, hay còn gọi là tinh thần hiến dâng, không dưới bất kì một quyền lực thế gian ở dạng nào, trong nghèo khó, trong sự thật, trong sự trong sạch.
Một giây một phút chúng ta cũng không được phép quên con người “quay về sự tranh đấu hai mặt vì đời sống và vì sự bất tử”, cái chúng ta gọi là đời sống “chỉ là một mẩu vụn của số phận vĩnh cửu của con người” (Bergyajev).
Sau cùng: đời sống đích thực chỉ có một, mang tính chất Phúc Âm - và ngoài đời sống đích thực ra mọi cái khác chỉ là phụ.
56.
Ai tin rằng từ Phúc Âm có thể xây dựng lên tôn giáo và một xã hội người có thể xây dựng lên từ tôn giáo này, niềm tin của kẻ đó sẽ bị lung lay, bởi thí nghiệm này sẽ thất bại vô cùng nhanh chóng và không thể cứu vãn.
Sau sự kiện dâng hiến trên cây thánh giá chưa đến mười năm, chỉ năm năm hoặc ít hơn, khi ở Jerusalem những người gia nhập cộng đồng của tình yêu thương, hiến toàn bộ tài sản của họ để sống chung trong cùng một cộng đồng. Ananias và vợ Szafira cũng bán nhà, nhưng giấu đi phần lớn số tiền để dành cho mình. Đây là bức minh họa của Chống Kitô.
Bằng điều này có thể coi đó là sự tan rã của cộng đồng đầu tiên. Không phải vì Ananias và Szafira đã phản bội, mà bởi vì cộng đồng trên cơ sở hiệp ước của người Pharisees Do Thái coi sự phản bội thuần túy như một tội lỗi. Cộng đồng không hiểu nổi lấy một từ từ Phúc Âm. Cái họ hiểu chỉ là đạo đức của phái Talmudi. Con người thiếu sự nhập định là con vật xã hội hoang dại (bete sociale), là kẻ cần chăm chút đến nó, nếu không nó sẽ ăn thịt sống.
Kitô giáo mang tính chất Phúc Âm đích thực sẽ vừa cười vừa tiễn biệt Ananias tội nghiệp và vợ như sau: “ Mi hãy đi đi, mang tiền đi mà lấy lại nhà, hãy cố gắng sống cuộc đời trong sạch, và mi đừng nghĩ rằng chân phúc có thể mua như vậy, như mua thịt cừu trong chợ, bởi vì mi đến đây không phải vì điều gì khác mà chỉ vì mi nghe thấy ở đây người ta bán những hạnh phúc thiên đường với giá rẻ. Không sao. Nếu sau này mi cảm thấy cần phải thức tỉnh vì những lời nói của Đấng Chuyển Hóa, mi hãy đến đây ”.
57.
Với tất cả tổ chức của một cộng đồng xây dựng trên nền tảng đã bị vật chất hóa một cách thô bạo và tầm thường, lịch sử sau này của cộng đồng ấy đều trở nên hoàn toàn bất lực. Vì những giá trị thấp mà bỏ đi những giá trị cao là một nhiệm vụ không thể thực hiện, chỉ dành cho đám đông. Nhưng những kẻ đã thanh tẩy hóa cũng không thể lập nổi cộng đồng, bởi sức mạnh duy trì của họ cũng quá tách rời xã hội.
Nơi cần đến Brahman không phải là xã hội mà là nơi có thẩm quyền. Thẩm quyền là ánh hào quang của đời sống đích thực. Khả năng duy nhất là con người tinh thần ( brahman ) trong tổ chức người chiếm một vị trí - trong trường hợp tối ưu là một vị trí quan trọng - và giúp đỡ xây dựng cộng đồng từ bên trong.
Bởi vậy xã hội kiểu Pythagoras không có khả năng tồn tại, nhóm Essenus chỉ còn lại là một giáo phái, và nhà nước kiểu Platon tốt hơn cả là đừng nên nhắc đến.
58.
Không cần cấu trúc lại những xã hội đã có sẵn, không cần xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, mà cần tuyên bố và duy trì nhân tố tuyệt đối của sự thống nhất cộng đồng người (đấy là: NHÀ CHUNG, và việc thực hiện nó đòi hỏi từ toàn bộ nhân loại và từ tất cả mọi người một cách liên tục (Jaspers: nếu chúng ta không sống cùng nhau và vì lẫn nhau, tất cả chúng ta sẽ bị hủy diệt cùng nhau ).
59.
Cái không phải là NHÀ CHUNG đấy là ergastulum, hay còn gọi là cái chuồng của những kẻ nô lệ.
60.
Về thương gia Hi Lạp Markion, nếu tất cả những gì người ta ghi chép về ông, đúng, người ta nói, theo quan niệm của ông Kitô giáo trong mức độ mơ ước không thể lan truyền bởi các dân tộc khác, nhất là dân Hi Lạp, và các đẳng cấp khác, nhất là đẳng cấp có học hơn, cảm thấy xa lạ với chủ nghĩa đạo đức rabbinists.
Markion không chịu nổi sự thu hẹp bản thân của dân Do Thái, và tất cả các loại chủ nghĩa gia đình ngột ngạt và bần tiện mà Nietzsche đã lên án một cách giận dữ. Ông cho rằng trong quyền lực vũ trụ xảy ra sự thay đổi hệ thống. Cha của Chúa Jezus không phải của Cựu ước, mà là một sinh linh hoàn toàn khác, không trả thù và không giận dữ, mà công minh và nhân hậu, không phải chỉ của người Do Thái mà của toàn bộ nhân loại, như ông nói: một Thượng Đế Xa Lạ.
Trước Chúa Jezus chúng ta chưa biết đến Thượng Đế này. Đấng Chuyển Hóa là người mang sự thật của Thượng Đế Xa Lạ này xuống trần thế, và bằng điều này xóa bỏ những gì đã có trước đấy. Luật (Tora) và các nhà tiên tri bằng điều này đã hợp pháp hóa họ. Thế gian tạo hóa như vậy đã không thành công. Con người của tạo hóa (Adam) đã thất bại. Cái tạo hóa đã phạm sai lầm, cần trả lại vị trí cho nó.
Bởi vậy Markion đã cắt Phúc Âm từ Cựu ước, viết lại Tân ước gốc (arameus) để có thể coi Phúc Âm như của một loại tôn giáo, thậm chí còn ít hơn thế. Rất có thể Markion cũng chưa hề là người theo đạo, mà thuần túy chỉ là một nhà chính trị, kẻ tin vào tổ chức và sự tuyên truyền.
Hoạt động của Markion trong Kitô giáo lạ sự bùng nổ đầu tiên của chủ nghĩa đối kháng (antagonizmus) Do Thái-đã Hi Lạp hóa đầu tiên, là thứ trong lịch sử châu Âu còn duy trì cho đến tận ngày nay và xuất hiện dưới vô cùng nhiều hình thức, ví dụ như ảnh hưởng của chủ nghĩa Hi Lạp hóa trong thời Phục hưng, cùng lúc là sự đột phá của chủ nghĩa hebraizmus vào thời Cải cách. Bởi vì tác động của chủ nghĩa Hi Lạp hóa trong mọi trường hợp là sự vật chất hóa (nghệ thuật, khoa học, triết học), còn chủ nghĩa hebraizmus xuất hiện như một tôn giáo (chủ nghĩa đạo đức nghi thức, chủ nghĩa Thanh giáo).
61.
Thư viện lớn của Alexandria không chỉ là nơi lưu trữ các văn bản của người Hi Lạp, người Do Thái, Ai Cập và Iran, mà rất có thể của tác dân tộc thời xa xưa hơn nữa. Từ Clemens và Origenesz chúng ta biết, người ta đã biết đến Buddha, và có các giả thuyết cho rằng người Alexandria đã từng đi qua Tây Tạng, Trung Quốc và mang các văn bản chép tay về nước, sau đó cho dịch ra tiếng Hi Lạp.
Đấy là các tantra-juga ở Alexandria, hay là quá trình hiện thực hóa lớn đầu tiên của thời kì sách. Thời kì tantra là thời gian muộn hơn, khi truyền thống không còn tồn tại trong mối quan hệ cá nhân giữa thầy-học trò nữa, mà để tồn tại tiếp, người ta truyền lại tri thức vào văn bản, tất nhiên phần lớn trong một hình thức không đầy đủ, bởi những người ghi chép lại truyền thống cũng chỉ hiểu một cách hời hợt.
Còn một nỗi nguy hiểm lớn hơn. Kẻ gần người thầy thường là kẻ khao khát tri thức và người thầy có quyền nói gì cho ai. Trong khi đó sách lại mở ra trước mắt cả những kẻ tò mò và lừa đảo nữa.
Tantra là một nền tảng của thời kì đen tối. Trong nhiều góc độ đây là khoảng thời gian tụt hậu, bị lạc hậu đi, khi các tư tưởng truyền thống chuẩn bị cho những giấc ngủ đông dài, thu mình lại, sức hoạt động của chúng giảm sút, các tư tưởng một phần bị thu hẹp trở thành các công thức hoặc các khái niệm.
Hình thức đặc trưng của chúng là epigramma- châm ngôn (văn chương-tư tưởng Do Thái: Các dụ ngôn, Jezus con của Sira; các nhà triết học Hi Lạp: Parmenides, Herakleitos, Pythagoras v.v.).
Các châm ngôn này được gìn giữ trong các hình thức bảo vệ luật lệ, hoặc các lời kinh Ấn Độ chuyên sử dụng các từ ngữ chính và các câu mang cách thức gợi mở, làm nhớ lại. Đây thuần túy chỉ là chiếc mặt nạ của sự dạy dỗ gốc. Tinh tâm linh trong sách vở không mang tính chất tích cực. Con người không viết để thay cho lời nói sống động. Lời nói nảy sinh hoàn toàn từ hình thức khác hẳn so với viết. Lời nói là giao tiếp, thông tin, còn viết là tác phẩm (nghiệp).
Gott will nicht, dah ỉch schreibe, aber ich mub - Thượng Đế không muốn tôi viết, nhưng cần (Kafka).
Còn tantra là một thứ từ sách, kể cả từ trật tự cao nhất, nhưng thiếu vắng sự tin cậy cá nhân. Sự cách biệt hiện sinh giữa con người và văn bản quá lớn, không thể truyền bá nổi: bởi vậy những con người tài giỏi nhất không viết.
Sách làm cô đọng và giữ - ít, nhiều - tính chất tinh thần. Nhưng sách luôn vắn tắt hóa, và ngày nay lời tuyên bố cội nguồn, chúng ta cũng chỉ được biết qua sách. Điều đó có nghĩa là không còn lời tuyên bố, đấy chỉ là kỉ vật và là lời giải thích lời tuyên bố. Lời tuyên bố đã thu hẹp trở lại ở vòng quay sự sống, không thể bước ra khỏi đời sống và bởi vậy nó không có quyền lực lên đời sống.
Không thể chờ đợi được bất ki điều gì từ sách, bởi sách thuần túy chỉ là một nơi luu trữ. Nếu trong đời sống của chúng ta vẫn còn một điều gì đó lớn lao, ta lấy ra từ sách và đặt lại vào sách, nhưng sự sống của chúng ta hấp hối, chúng ta không tài nào lấy trực tiếp được sự sống từ đâu, đành chỉ một cách duy nhất: từ sách.
Quá trình cuối cùng của thời kì tantra là sự giáo phái hóa của sách, chỉ mang ngần này ý nghĩa: tính chất tinh thần của sách đã bị tan ra theo thời gian và rắc rải rác vào sự ngụy biện phi bản chất, cần từ bỏ văn bản, và tính chất đáng tin cậy cá nhân của vàn bản còn ít hơn nữa. Đây là hậu quả của việc in sách.
Clemens Alexandria bởi vậy từng đặt câu hỏi: có được phép viết sách hay không? Nhưng như phần lớn các sinh linh tinh thần, cuối cùng ngài cũng vẫn viết cuốn sách của mình.
62.
Thư viện Alexandria được tạo ra do một sự sự thống nhất nảy sinh mang quan điểm phổ quát nào đó. ở Alexandria tính hệ thống phổ quát nằm trong sự hình thành, trong suốt thời gian lịch sử tính chất này đáng kể nhất. Trong nhận thức về mọi truyền thống đều có một sự sắp xếp, và sau Phúc Âm trong thế kỉ tiếp theo có thể thấy Tân ước cũng là một nền tảng muốn tạo dựng một sự thống nhất phổ quát.
Cơ sở định hướng là nhận thức. Các nhân vật lớn của Alexandria mong muốn thanh toán tội lỗi của sự vô thức ( to tesz agnoiasz hamartema), và điều này khiến cho tư tưởng của Alexandria vô cùng giống tư tưởng.
“Cái tên đáng gọi nhất của tội lỗi là sự phân tâm rối loạn (szünkhüszis) - Philon nói - có thể chứng minh điều này bằng việc, trong sự vô nghĩa đầy rẫy những lời nói và ý định quẩn quanh, và nó hành động trong sự rối loạn”.
Sự rối loạn là sự hư hoại về ý thức, giống hệt từ avidja của người Ấn Độ, mang ý nghĩa sự mờ mịt nhận thức, sự suy giảm của tỉnh táo và sự mộng du.
63.
Gnozis, hay còn gọi là nhận thức (tiếng Latin: cognoscere, tiếng Sancrit: dnyana) là con đường của thanh tẩy nhận thức bằng sự giúp đỡ của quan điểm định hướng. Ý nghĩa của nhận thức: là kiến thức thiêng tác động trở lại bản chất người, và vì vậy cần xuất hiện - và ngược lại, ở đâu bản chất người thấu suốt được hiện thực hóa, ở đó sự hiểu biết cần mở ra một cách phổ quát. Cái này không thể có khi thiếu cái kia.
Trong thời gian gần đây nhất châu Âu không chỉ đặc trưng bằng sự vô cảm đối với sự sống bản chất, mà còn không hề hay biết về mối quan hệ giữa sự thanh tẩy hiện sinh và sự phổ quát của định hướng.
Sự vô nghĩa trong tư tưởng đã lên đến điểm đỉnh, khi người ta mong muốn hiểu triết học như một mảnh còn sót lại nghèo nàn của định hướng phổ quát. Triết học không phải là một phổ quát có định hướng nữa mà chỉ là một phần của khoa học, bởi vậy triết học đã xuống cấp trở thành khoa học.
Bởi vậy sự so sánh tính chất tâm linh của Alexandra với trường đai học hiện đại cũng hoàn toàn dối trá. Leontyev gọi cấp đại học châu Âu hiện đại là một con đĩ Babel, không chỉ vì nó bảo đảm một môn học về sự chệch hướng, mà cấp đại học châu Âu còn vô cảm với chính sự hư hoại của nó, thậm chí nó còn vờ vịt và nâng đỡ đối với sự hư hoại.
Cấp đại học hiện đại một mặt không hề biết chút gì về bản chất người của định hướng phổ quát và hiện sinh minh bạch (transzparens egzisztcnda), mặt khác nó từ bỏ từ từ tính chất định hướng phổ quát, hoặc tan rã trong tri thức phân ngành phi hiện thực hoặc biến thành chủ nghĩa bách khoa toàn thư hão huyền.
64.
Gnozis có nghĩa là dnyana-joga, hay sự nhận thức thiêng, hay dnyana-moksa-sự giải thoát do nhận thức. Nền tảng của gnozis là; hành động soi sáng hoàn chỉnh hiện thực của con người và giải thoát nó, cần xuất phát từ nhận thức.
Con người cần thực hiện sự minh bạch hoàn hảo của mình bằng nhận thức mở về kiến thức định hướng phổ quát, đến tận khi nào: “ không có bên ngoài, bên trong, không có gì hết ngoài nhận thức trong sạch như pha lê ” (Brihadáranyaka-upanisad 4,5,13).
65.
Genezis đều có ở tất cả mọi truyền thống. Vũ trụ học, thần số học và thực hành trật tự sống, nghi thức, truyền thuyết và nhân học cũng đều không nói lên bản chất của truyền thống, bởi chúng có thể là tri thức được thể hiện ở mức độ sự sống cao hơn, chỉ của đẳng cấp tinh thần ( sruti), và cùng lắm chúng là điều được nhớ lại trong đời sống người, là điều “người ta nói” ( smriti).
Các truyền thống lớn và tổng hợp như Trung Quốc, Iran, Do Thái, Ai Cập, Hi Lạp, Orfika là những hệ thống sự sống hoàn chỉnh nói về sự xuất hiện của thế gian, về nguồn gốc con người, về thiên nhiên, về mục đích, ý nghĩa đời sống, nói về các nguyên lí của trật tự mà thế gian được gây dựng lên từ đó, bằng hiện thực vật lí, bằng xã hội và bằng thực thể người.
Kitô giáo như lời tuyên ngôn trong Phúc Âm không phải là một sự tạo dựng như vậy. Không cần thiết, bởi cái mà truyền thống khác đã nói, từ hiệu lực của nó Phúc Âm không hề đánh mất đi chút gì, thậm chí còn gìn giữ ( từ luật lệ, một i-ôt duy nhất cũng không mất đi). Kitô giáo là tri thức nói về sự phá vỡ sự sống và sự làm mới, phục sinh lại sự sống. Dạy dỗ của Chúa Jezus đặc biệt soi sáng ở điểm giữa bị mờ mịt hóa của sự sống.
Ở Alexandria người ta cho rằng cần gấp rút gây dựng sự dạy dỗ này bằng thần học nói về sự xuất hiện của thế gian, bằng môn vũ trụ học và bằng cả một đội quân các môn học liên quan đến hình ảnh thế gian hoàn hảo.
Và sự gây dựng này đã xảy ra. Nhưng một bộ phận của các môn học này là thứ lí thuyết thần bí mê tín, rối loạn một cách phí phạm, một phần khác - rất dễ dàng nhận ra - là các bình luận ấu trĩ, tùy tiện. Còn một phần khác nữa là sự ngu xuẩn đầy hạn chế.
66.
Plotinos có thể đã nhận ra gnozis trong hình thức muộn mằn và bị phá vỡ của nó, chứ không phải từ nền tảng của các tác giả ưu tú nhất. Bởi vậy công trình nghiên cứu mà ông kính cẩn dành cho các nhà gnosztik (Prosz tousz gnosztikousz) là một đòn khá nặng đối với trường học mang tính chất Alexandria, tuy nhiên công trình này cũng không có gì nổi bật.
Đối tượng của công trình thực chất không phải là chủ nghĩa Thanh giáo (gnosticizmus), mà là một sự thay thế của thứ tri thức nửa mùa thành thị - thế gian đầy tính xúc phạm thời bấy giờ, như thể một người nào đó muốn học tập khoa học hiện đại ngày nay từ các cuốn truyện tranh ăn khách.
Plotinos xuất phát từ sự phủ nhận thế gian của các nhà gnostik (phái Thanh giáo) và đứng trên quan điểm kẻ nào xỉ vả sự sắp xếp thế gian, kẻ đó cũng gây tai họa. Phái Thanh giáo phủ nhận thế gian xuất phát từ tư tưởng thiếu nhận thức cân bằng vũ trụ. Còn những người Alexandria muốn thanh toán sự hỗn loạn trong đời sống thế gian bằng một phương pháp phép thuật đáng nghi ngờ.
” Cái xấu - Plotinos nói - không là gì khác ngoài sự nhận thức thiếu, là mức độ thấp hơn của cái tốt và dần dần loại trừ cái tốt ” . Cái xấu không phải là hậu quả của sự phá vỡ sự sống mà nó là một sai lầm khi điều chỉnh vị trí bằng sức mạnh của con người. Quan niệm này, như chúng ta đã biết là sự ấu trĩ của chủ nghĩa duy lí Hi Lạp.
Phái những người Thanh giáo muộn hơn lại muốn xua đuổi sự tàn phá của sự sống thế gian bằng sự giúp đỡ của các quyền lực cao hơn và bằng sự bài trừ các thế lực ma quỷ xấu. Plotmos đã chống lại điều này một cách kiên quyết, cần nói thêm các trò phù thủy không phải là những đức tin tốt đẹp. Không loại trừ khả năng các thế lực cao “ bằng các lời ca và sự gào rú, tru rít lên ” trở thành những kẻ có tác động. Rõ ràng tất cả những điều này không là gì khác ngoài sự nhầm lẫn của những kẻ cả tin.
67.
Trong hình thức gốc của phái Thanh giáo vẫn còn chứa đựng một nhận thức tỉnh táo mà sau hai, ba thế hệ, nhận thức này đã hoàn toàn biến mất. Sự tỉnh táo này người ta đặt tên là diakriszisz pneumatón , là ý nghĩa nhận thức mang một khả năng phán xử không thể lừa dối, liên quan đến hiện sinh đích thực của con người. Từ Hi Lạp này có nghĩa: “ sự lựa chọn của tinh thần ”.
Đây là sự lựa chọn cái xấu cái tốt, cái giả cái đích thực, cái đúng cái sai, cái là sự thật hay cái phá hỏng sự sống. Không từ quan điểm xã hội, không từ tâm lí học, không từ các chuẩn mực đạo đức, không từ tôn giáo. Nền tảng phán xét của diakriszisz không từ hình thức, hành vi mang tính vũ trụ và sinh học, mà là một đặc điểm sau cùng không phân tích nổi, không dẫn sang cái khác của bản chất người, như là trọng lượng và sự trong sạch của sự nhập thế (inkarnacio) của tinh thần tuyệt đối.
Trong thời gian đầu tiên của Kitô giáo người ta dạy rằng diakriszisz là sự đóng góp của Tinh thần Thiêng (tinh thần của sự thật, theo Thánh Giăng : Pneuma tesz aletheiasz), đây là nhận thức của sự thật chiếu rọi có trong tất cả mọi con người. Diakriszisz là sự nhạy cảm không thể lừa dối nổi về sự thật và về sự lừa dối sự sống.
Bằng sự mờ mịt dần của khả năng phân biệt, sau cùng khả năng này biến mất hẳn khiến khả năng đánh giá của các sức mạnh tinh thần trong con người ngừng trệ. Hậu quả của nó là không bao giờ con người còn phân biệt nổi sự chệch hướng với việc học hành đích thực và không biết phân biệt hành vi đúng với hiện sinh giả.
Sự đo lường biến mất tạo khả năng cho sự sống dối trá tấn công vào đời sống người một cách không thể chống đỡ.
68.
Nếu phái Thanh giáo không là gì hết ngoài một sự thu thập tri thức cổ, giá trị của phái này vẫn có thể độc nhất vô nhị trong bước ngoặt của lịch sử. Lúc đó người ta gọi bước ngoặt này là sự toàn vẹn của mọi thời gian. Nhưng pleroma tou khronou (Hi Lạp) trong cách sử dụng từ của phái Alexandria không mang tính chất hùng biện, cũng không huyền bí như sau này người ta nghĩ.
Pleroma là một trong những từ quan trọng nhất của phái gnozis, có nghĩa là sự tràn đầy tự thân của sự sống trong sự giàu có lớn nhất và trong hình thức tích hợp hoàn hảo. Những lời tuyên bố về sự vẹn toàn bởi sự sống đậm đặc này như một thể hiện nội dung của sự sống thời kì đầu (vườn Eden, thời hoàng kim, szatja-juga) và sự trọn vẹn này Phúc Âm đặt vào trọng tâm.
Pléroma là thần tượng mang tính chất gnostik, có nghĩa là lời tuyên bố của những sự khác biệt vô tận của MỘT. Không phải mọi thời gian đều có khả năng hiện thực hóa bất kì loại tri thức nào theo sở thích. Sự vẹn toàn của mọi thời gian, sự đậm đặc bằng các thời gian, khi từ các tầng cao hơn MỘT thể hiện trong mọi khác biệt vô tận về hiện thực hóa trong đời sống người.
Từng có những trường học gnostik, nơi người ta nhân cách hóa pléroma và nói về nó như về một nữ thần, có người cho rằng liên quan đến Sophia, nữ thần của sự thông thái, và có thể là sự tương đồng với từ hohma (Do Thái), theo Kabbala là nguyên lí thứ hai của sự tạo dựng thế gian, là thế gian tinh thần-vật chất luôn mang trong bản thân mọi khả năng của sự sống.
Gnosis cho rằng trong sự toàn vẹn của mọi thời gian (nơi Đấng Chuyển Hóa ra đời) trong toàn bộ, tri thức cổ đã trở thành thời hạn. Đây là khoảng thời gian, khả năng định hướng phổ quát mở ra cho con người. Hiện sinh người thấu suốt, minh bạch một cách hoàn hảo đem lại khả năng cho sự hoàn chỉnh của các tri thức, đây là kẻ sống trong sự sống mở của sự thật (aletheia).
Sự toàn vẹn của mọi thời gian đứng ngoài lịch sử và là các mức độ, có thể nói đây là các bậc thang cao cấp của sự nhập định.
69.
Clemens Alexandrinus đại diện cho một quan điểm hoàn toàn ngược lại với Markion. ông cho rằng Kitô giáo chỉ có thể bắt nguồn từ truyền thống Do Thái, nhưng cái đặc trưng cho quan điểm của ông lại không phải điều này.
Clemens suy đoán rằng toàn bộ tư tưởng Hi Lạp bắt nguồn từ Do Thái. Về các tương đồng giữa nhiều truyền thống, giống như khoa học hiện đại, Clemens cũng không có khả năng giải nghĩa, đấy là đôi khi những văn bản chính xác ghi chép một cách độc lập với nhau đều chắt lọc từ một nguồn duy nhất cho phép, một cách thường xuyên và trong một thời gian tuyệt đối.
Ông giả thiết rằng, một truyền thống nào đấy cần phải lâu đời hơn, và các tư tưởng cần phải coi như có tác dụng mới từ cái cũ. Chúng ta đều biết, giả thiết này hoàn toàn sai lầm. Tất cả mọi truyền thống đều có quan hệ trực tiếp với status absolutus (nền tảng cơ bản), và các tương đồng, thậm chí giống hệt nhau bắt nguồn từ đây, chứ không phải từ tác động của chúng.
Clemens đã mắc sai lầm, khi mong muốn giải thích tư tưởng Hi Lạp trước thời Sokrates, thậm chí giải thích Platon từ tác động của Tora. Không cần đặc biệt nhấn mạnh là di sản Hi Lạp có nguồn gốc độc lập, nhưng lại có nền tảng cơ bản chung với di sản Do Thái.
Tầm quan trọng của Clemens khác. Một mặt, ông là nhà tư tưởng đầu tiên đặt Kitô giáo là nền tảng nhận thức. Mặt khác, ông hoàn toàn đứng đối lập với quan điểm hiện sinh của các giáo phái gnosis.
70.
Tác phẩm của Origenes, nhà tư tưởng Alexandria duy nhất chắc chắn bất khả xâm phạm và sẽ còn lại. Cái ông làm là một dạng của ngôn ngữ học ( filology) thiêng, có nghĩa là ông đã mở ra khả năng giao tiếp với lời tuyên bố thiêng và tạo dựng một phương pháp giữ gìn sự giao tiếp này.
Phương pháp của Origenes đặc biệt, ông soi sáng những lời tuyên bố bằng bảy thứ ngôn ngữ (theo các ghi chép, ông giảng cùng một lúc bằng bảy thứ tiếng), bởi vì theo ông ý nghĩa tận cùng của các từ vựng trong một ngôn ngữ của thời lịch sử đều đã bị hư hoại, bởi vậy không chứa đủ khả năng diễn đạt.
Sự phân tích bằng bảy thứ tiếng ít nhất chỉ ra một hướng có thể tìm kiếm ý nghĩa của từ ngữ trên nền tảng ban đầu và cơ bản. Chính vì vậy ngôn ngữ học của Origenes không thể nhầm lẫn với sự phân tích theo hiện tượng học mà Aristoteles đã sử dụng trong cuốn Siêu Hình Học V hoặc trong cuốn Organo, cũng không thể nhầm lẫn với ngôn ngữ học duy lí hiện đại xuất phát từ ngôn ngữ khoa học, một thứ ngôn ngữ không hề thấy ở đâu.
Cách sử dụng từ ngữ của Origenes mang nhiều tính chất họ hàng với cách sử dụng từ của Kabbala (có vô vàn ví dụ trong kinh Zohár). Trong thời trung cổ mọi trường hợp đều có logos (trong ý nghĩa sử dụng của Herakleitos, hay còn gọi là dahar như người Do Thái thường gọi).
Thực chất Origenes bằng phân tích từ vựng thông qua ngôn ngữ đã tái tạo nền tảng cơ bản. Đây là một công trình có một không hai trong lịch sử, đặc biệt nếu ai để ý rằng tại châu Âu có Socrates và ở một xứ xa xôi có Khổng tử, là những người chỉ coi sự rối loạn phổ quát của nhân loại có thể loại trừ trong trường hợp ý nghĩa gốc của từ ngữ (việc sử dụng từ ngữ chính xác) được trả lại vị trí của nó.
71.
Origenes thuộc một số rất ít những người cho rằng xây dựng các lí thuyết xung quanh lời tuyên bố là việc không thể loại bỏ, nhưng cũng lại không đủ nếu coi đấy chỉ là một tri thức tận cùng. Một kẻ nói về sự xuất hiện của thế gian và nói về việc xây dựng một hệ thống thế gian, nói về nguồn gốc con người, trong mọi trường hợp kẻ đó giống anh hề của Đức Mẹ Đồng Trinh, kẻ không biết ca ngợi Thượng Đế bằng cách nào bèn với sự giản dị của trái tim giới thiệu tiết mục lộn vòng của mình dưới bàn thờ Đức Mẹ.
Trong nhiều trường hợp, trong toàn bộ các ngành khoa học cũng xảy ra nhiều cú lộn vòng trước quyền lực của sự vô tận, những cảnh diễn con trẻ và vô tội này (nghi lễ, sự báng bổ), những thứ trước Thượng Đế không mang ý nghĩa gì, chỉ là những cú lộn vòng vụng về. Như người Thuyết giáo nói: mọi sự thông thái của các nhà thông thái đều là sự điên rồ.
Nhưng nhu cầu của Origenes không hề nghèo nàn. Ông muốn coi lời tuyên bố là lời thú nhận cuối cùng. Origenes là một người theo phái Ngộ đạo, hay nói cách khác nền tảng tư tưởng của ông; nhận thức là sự giải thoát, ông không muốn nhận thức ra những điều phụ thừa thãi, mà muốn nhận thức cái bản chất (cái Một, cái cần). Một nhận thức trong sạch như pha lê.
Có một khái niệm của truyền thống Do Thái: hath kol. Từ này có nghĩa là: kẻ nào biết thu thập kiến thức cần thiết, kẻ đó sẽ nghe thấy giọng nói của cô gái nhà trời. Cô gái nhà trời hát về sự thật. Sự thật không ngân lên từ tiếng kèn đồng mà từ hơi thở của gió mang cánh bướm lượn.
Người ta bảo nhiều người (các nhạc sĩ và nhà thơ nhân tạo) đánh mất thính giác của họ cũng như nhiều (họa sĩ, nhà điêu khắc, nghệ sĩ) đánh mất thị giác mang tính chất nhà trời của họ, cũng giống như nhiều (nhà chuyên môn và các nhà bác học) không bao giờ nghe thấy bath kol nữa bởi nghề nghiệp của họ đối với mối quan hệ tâm linh đã trở nên vô cảm, trong con người chuyên môn sự trong sáng của thính giác biến mất.
Origenes tìm kiếm giọng hát của cô gái nhà trời. Tất cả đều chứng minh rằng ông là một trong những người Kitô giáo nghe thấy giọng hát này rõ ràng nhất, ông biết rằng trong đời sống người không có gì quan trọng hơn một đôi tai trinh nguyên. “ Con người không kiếm tìm hạnh phúc của nó mà đi tìm trọng lực đặc thù bản chất của nó ” (Saint-Exupery), và điều này chỉ có thể đo được bằng mức độ nó nhận được gì từ trên cao.
Sự thật chính là cái bình thường. Tri thức chuẩn bị cho sự bất tử (Sự thật làm giải thoát - dnyana-moksa). Nhận thức của tri thức cổ chỉ ngần này: nhận thức của sự thật vĩnh cửu. Nhưng trước nhất, Origenes biết, lời tuyên bố không thể nghe thấy trực tiếp nữa, cần kiếm tìm sự thật soi sáng và mở ra sự sống trong Lời đã ghi chép, nơi đọng lại lời tuyên bố.
72.
Origenes thực ra là một dịch giả lớn bằng phương cách muốn người đọc hiểu được ý nghĩa tận cùng của sự minh bạch nằm trong ngôn ngữ người như thế nào. Ông xuất phát từ hai ngôn ngữ, từ tiếng Hi Lạp và tiếng Do Thái. Từ tiếng Hi Lạp bởi ở Alexandria đấy là thứ ngôn ngữ định hướng phổ quát. Rốt cuộc đây cũng là thứ ngôn ngữ chung ở châu Âu, không chỉ trong một khoảnh khắc mà tồn tại cho đến tận ngày nay.
Trong thế kỉ XX ngôn ngữ Hi Lạp đã duy trì châu Âu làm một. Ngôn ngữ thế gian là thứ ngôn ngữ, một câu, từ một ngôn ngữ khác không bằng phương pháp phù hợp hoặc theo nghĩa của từng từ, mà vẫn có thể định nghĩa hóa ở trình độ cao hơn. Ngôn ngữ khác ở đây là tiếng Do Thái “ tuy không phải ngôn ngữ cổ, nhưng trong hình thức bị hư hoại nhất vẫn đứng gần nhất với ngồn ngữ cổ ” (Baader). Thiếu nhận thức về ngôn ngữ Do Thái không thể hiểu nổi lấy một từ của Phúc Âm trong ý nghĩa sâu sắc nhất.
73.
Irenaeus dưới tác động của phái Ngộ đạo lần đầu tiên nói thế gian có ba giai đoạn, tạo dựng, phạm tội và chuyển hóa. Bằng điều này thực ra lần đầu tiên Irenaeus nói về thời lịch sử.
Trước đó phần lớn chỉ có biên niên sử (chronicle), truyền thuyết, những câu chuyện ngắn hay còn gọi là những tập hợp ngẫu hứng; muộn hơn cũng vẫn những điều này còn lại, khi một người nào đó chìm vào sự bắt chước lẫn nhau của các nhà viết sử, và các sự việc không được tư duy một cách trọn vẹn từ đầu đến cuối.
Sử học hiện đại phần lớn không khác gì biên niên sử hoặc truyện ngắn, cùng lắm là một dạng khoa học lịch sử mang ý nghĩa cá nhân tùy tiện, một cuốn tiểu thuyết tập thể mang nội dung triết học, một hoang tưởng theo kiểu này.
Lịch sử đích thực chỉ có khi đời sống thế gian (con người) phụ thuộc vào một sự kiện duy nhất, và như sau: tác động của sự kiện quyết định các sự việc hoặc sự chuẩn bị cho các sự kiện đặc trưng cho các sự việc. Điều kiện của lịch sử, hai sự kiện sự sống quan trọng nhất, cái bắt đầu và cái kết thúc phải được làm sáng rõ, và nếu sự mở ra hoàn toàn không thể nhìn thấy, thì chúng cũng cần hiện ra như một hiện thực tuyệt đối.
Bởi vì tất cả những sự việc giữa chừng xảy ra đều do sự kiện đầu tiên và cuối cùng quyết định. Xuất phát và cập bến, bởi vì con người sẽ đến đó, nơi nó xuất phát.
Đối với phái Ngộ đạo trước Phúc Âm, quan trọng nhất là sự kiện đầu tiên. Và bằng Phúc Âm họ cũng biết về cái cuối cùng, không chỉ từ Khải huyền ( Apokalipszis ) của Thánh Giăng, mà từ toàn bộ văn hóa Khải huyền của Iran, Do Thái.
Khải huyền không chỉ thể hiện hành vi đặc trưng hay sự chờ đợi sau cùng của thời đại sẽ đến, mà khải huyền thật sự đã thể hiện nội dung của từ này: sự vạch trần, bóc trần - hay nói cách khác, lời tuyên bố của ý nghĩa sau cùng bị giấu giếm từ trước tới nay. Bởi vì từ Khải Huyền dịch sát nghĩa là sự soi sáng điều bị cất giấu trong mờ mịt.
Về cái mở đầu không còn gì để phân vân. Cái mở đầu là vườn Eden, sau đó lập tức đến sự phá vỡ do con người tạo nên. Đây là điều chúng ta mang trong bản thân mình như sự sáng sủa buổi ban đầu và như sự phá vỡ sự sống buổi ban đầu. Thời hoàng kim và sự hư hỏng, hư hoại.
Phúc Âm dạy rằng, nếu con người không trả lại vị trí trong sạch của sự sống ban đầu trong bản thân mình và trên thế gian, nó sẽ bị kết thúc trong tai họa thảm hại và khủng khiếp. Đây là ý nghĩa của mọi thời kì trong mọi thời đại lịch sử, rõ ràng rành mạch, không thể không quan tâm..
Đây là sự kiện và là một sự kiện duy nhất. Tất cả những gì đã từng xảy ra, chỉ là tác động của sự kiện này và cái xảy ra; chỉ là hậu quả bất khả kháng của sự kiện này.
Lịch sử có thể xác định rằng về cái bắt đầu, là cái chúng ta biết chắc chắn, nhưng cái kết thúc lại mở. Sự mở ra của kết thúc người ta gọi là tự do, không phải một lịch sử mang tính chất cơ giới và tự động, không có sự phát triển hoặc lạc hậu trở lại thiếu ý chí con người, và điều cơ bản, không có sự lưng chừng. Con người không thể loại trừ bản thân mình khỏi lịch sử, bởi vô nghĩa sống một cách tách biệt trong lịch sử.
74.
Thật đặc biệt khi Philon, nhà Ngộ đạo Do Thái thời Alexandria, bằng toàn bộ tư tưởng của mình biết đứng trong một thế gian của không gian. Không gian đây cần phải hiểu là vũ trụ, hay thiên nhiên, trong mọi trường hợp đấy là một trật tự vững chắc và cần thiết bên ngoài.
Ở Clemens Alexandrinus, người gần như là bạn cùng thời với Philon có cái mà Philon không có; ý thức về cái bắt đầu và cái sau cùng. Clemens không sống trong một thiên nhiên chắc chắn và trong sự liên tục vĩnh cửu của cấu trúc vũ trụ. Nếu thế giới của Philon là một tòa nhà, thì của Clemens là một bản giao hưởng.
Đây là thứ chất liệu lỏng và dễ bay hơi, cái người ta gọi là thời gian, một thứ không thể chặn đứng, còn lại và bình yên trở lại, bởi trong chất liệu này cái toàn bộ tan ra và rách tã, tụ hợp lại, nhưng chỉ trong giây lát, núp vào hình dạng để một lần nữa lại tan rã.
Hai tư tưởng, như kiến trúc và âm nhạc. Cái ở thế giới của không gian vững chắc để có thể sờ mó là ảo ảnh dày đặc, như người Ấn Độ thường nói: là trọng lượng trong thời gian, không thể nắm bắt.
Con người trong Kitô giáo không sống trong không gian vũ trụ bị khóa, mà sống trong lịch sử, bị uốn cong, không chỉ mở ra mà còn bị tước đi và đánh mất. Thời gian không phải là ý nghĩa cổ cũng chẳng phải tuyệt đối, con người biến nó thành cái này hoặc cái kia một cách không hoàn toàn. Luôn luôn còn lại một bản sao không phải là giây phút, là ngày hoặc năm, mà là một cái gì đó tăm tối không thể đo lường, trốn tránh sự kiểm soát.
Vũ trụ vững chắc vận hành theo dòng quay bởi vậy người ta bảo con người aion không trong hệ thống vũ trụ mà trong thời gian của lịch sử, sống trong sự bất khả kháng của các tiền lệ và các hậu quả, một thứ một quyền lực không hãm phanh nổi.
Lịch sử bước ra từ nỗi khát sống của sự chờ đợi cái kết thúc (khải huyền), từ sự hoảng loạn vì tai họa, từ nỗi lo âu và chịu đựng, từ sự tê liệt của một đời sống bắt nguồn từ những hậu quả của đời sống phạm tội. Đây là thực tại không còn nghi ngờ gì nữa của lịch sử, nhưng không phải toàn bộ.
Con người thành tôi tớ, mọi sự bảo vệ của con người bị phá vỡ. Nó đã bị bỏ rơi (như thể thời gian trong sự sống là hiện thực thường xuyên của cái phi sự sống). Trong thời kì lịch sử duy nhất có một niềm hạnh phúc, không bước ra khỏi mọi thời gian mà là sự thực hiện toàn vẹn của mọi thời gian.
75.
Có sự khác biệt giữa ý thức chờ đợi cái kết thúc và cái kết thúc, đây là sự khác biệt giữa khải huyền và tận thế. Khải huyền là vấn đề của tâm trạng, còn tận thế là tri thức về những sự việc sau cùng.
76.
Kitô giáo thời kì lịch sử đã mắc sai lầm từ rất sớm, và muộn hơn không bao giờ sửa chữa nổi, thậm chí còn trầm trọng hơn, và bởi vậy nó đã phạm một lỗi lầm định mệnh. Đây là sai lầm: không làm tan rã phái Ngộ đạo mà gán cho họ cái mác dị giáo và đuổi họ ra khỏi Kitô giáo. Bằng điều này khả năng của hoạt động tinh thần tự do nhận thức trong Kitô giáo đã chấm dứt.
Sự phản đối, chống trả lại phái Ngộ đạo của Plotinos có thể hiểu được (tha thứ được). Ông rút về sống cô độc và vì vậy các thông tin của ông có thể không chính xác.
Nhưng giới giáo sĩ Kitô giáo mang thẩm quyền cao, các văn bản của họ có thể đầy đủ và đáng tin tưởng, và chắc chắn đã từng có. Chính vì vậy chiến dịch chống lại những nhà Ngộ đạo không thể phán xét như sự phán xét với Plotinos.
Trong lịch sử Kitô giáo đây là trường hợp đầu tiên giới giáo sĩ thừa nhận hành vi Chống Kitô giáo. Đây là trường hợp đầu tiên trong lịch sử, quyền lực của giới giáo sĩ đã thể hiện chống lại ngôi nhà MỘT-nhà thờ.
77.
Phái Ngộ đạo từng có những học thuyết sai, và mọi dẫn chứng cho thấy đấy là những kẻ ngộ đạo độc hại có thừa, nhưng câu hỏi: điều này có là lí do đủ để thanh toán phái Ngộ đạo hay không?
Ngộ đạo có nghĩa là sự nhận thức về tinh thần. Nhưng trong cuộc chiến của giới giáo sĩ, như sau này cho thấy và điều này như một hành vi lặp đi lặp lại thường xuyên, quyền lực không phải là một học thuyết sai, mà là cuộc tranh đấu dấy lên do giới giáo sĩ nhằm chống lại hoạt động soi sáng nhận thức.
Hậu quả của việc bài trừ phái Ngộ đạo là những khả năng thông tin phổ quát chấm dứt. Cái đã xảy ra, không thể hiểu sai lệch. Giới giáo sĩ chiếm lấy một nửa quyền lực, giới giáo sĩ đã chiếm nhiều vị trí quan trọng của Đền Thờ, và bắt đầu coi mình là Đền thờ đáng tin cậy, giới này không chịu nổi những hoạt động nhận thức tự do của những người Ngộ đạo. Giới giáo sĩ đối với tính thần tự do cũng có một hành vi y như của những người theo phái Pharisees.
78.
Phái Ngộ đạo dựa trên nền tảng rằng hành vi con người thay đổi từ những khởi đầu của các sản phẩm nhận thức tinh thần. Bất kì tư tưởng như thế nào cũng đều chỉ dẫn con người đi về một hướng nào đấy. Đặc thù hình thức hóa sự sống này của tư tưởng tăng lên khi con người thể hiện nó sâu sắc như thế nào, một cách liên tục và cụ thể và thường xuyên ra sao.
Phái Ngộ đạo tiếp nhận từ truyền thống Ai Cập việc ứng dụng đều đặn và có ý thức của phương pháp như một sự thiết lập (giải thoát) sự sống của tư tưởng, của nhận thức, của tri thức, và phương pháp này còn tồn tại dưới cái tên là thuật giả kim.
Thuật giả kim (luyện vàng) thực chất là sự thanh tẩy, soi sáng và chuyển hóa bên trong của các nguyên tố bằng hoạt động nhận thức. Mục đích là thực thể người đã thanh tẩy trở nên trong sạch (quá trình luyện vàng không là gì khác ngoài quá trình hiện thực hóa sự sống thời hoàng kim), hay nói cách khác là một hiện sinh thấu suốt, minh bạch.
Sai lầm mà giới giáo sĩ mắc phải trong Kitô giáo thời kì đầu là tiếp nhận sự soi sáng nhận thức (định hướng phổ quát - univerzalis orientacio ) như một sức mạnh hình thức hóa sự sống và đặt hoạt động vào vị trí của nhận thức với lí do con người đạt được phúc lạc chỉ từ các hành động.
Bằng điều này họ đã cắt đứt chức năng chiếu sáng của nhận thức, làm què quặt đời sống người, khóa tính chất phê phán của trí tuệ lại. Đây là lí do, vì sự phi lí này nên bên trong Kitô giáo luôn có sự bấp bênh và không yên ổn thống trị (các cuộc nổi loạn, các giáo phái, tà giáo).
79.
Phái Giáo sĩ đã thành công trong việc ngăn trở hoạt động tinh thần của nhận thức tự do trong, ngoài Nhà Thờ hơn một nghìn năm với các cấm đoán giáo điều, nhưng chủ nghĩa duy lí thời hiện đại, xuất hiện trong dạng hình què quặt và méo mó của nhận thức đã lật tẩy địa vị thống trị giấu giếm của giới Giáo sĩ.
Từ quan điểm này cần coi chủ nghĩa duy lí là sự trả thù của nhận thức không bị đồng hóa của Kitô giáo.
80.
Schmitt Jenõ Henrik là người đã nhận ra chủ nghĩa đối kháng giữa phái Ngộ đạo và phái Giáo sĩ và ông nghiên cứu những quá trình cơ bản của sự chống đối này. Nhưng trong quá trình tư duy ông đã phạm một sai lầm là đồng nhất Giáo sĩ với Nhà Thờ.
Ông thấy rõ sự căng thẳng của nhận thức (tinh thần) và bản năng quyền lực, nhưng bên trong Kitô giáo ông không nhận ra sự căng thẳng giữa Nhà Thờ và Giáo sĩ (Kitô giáo mang tính chất Phúc Âm và Kitô giáo thời kì lịch sử).
Không thể và không được phép đánh đồng Kitô giáo với giới Giáo sĩ. Nếu Schmitt đúng, và nếu sự soi sáng của nhận thức không do giới Giáo sĩ mà do Nhà Thờ bài trừ tẩy chay, lúc đó toàn bộ Kitô giáo đã bị chôn vùi.
81.
Từ Hi Lạp ergon trước tiên mang nghĩa là sự đảm đương, sự hoàn thành, sự hoạt động, là một hành động không bao giờ tự thân, mà trong toàn bộ một quan hệ liên quan nào đó. Một cái gì đó, bắt đầu và kết thúc, một cái được chuẩn bị, bởi vậy ergon thực chất là một tác phẩm (tiếng Latin là ovus). Còn ergomai có nghĩa là trở thành một hoạt động vì lợi ích của mục đích nào đó, hành động và kết thúc vì tác phẩm.
Từ Hi Lạp pragma (praxis) là một hành động một lần và mang tính chất vật lí bên ngoài, hay là sự bận rận, làm một cái gì đấy, và giữa các pragma không có mối liên hệ (tiếng Latin là actus).
Ergon là hoạt động mà con người hoàn thành với việc xâv một cái nhà, và trong sự hoạt động này, cái nhà như một tác phẩm đã xong, nếu gạch được mang đến, vôi được trộn, cột bê tông được dựng. Còn -pragma là hộp diêm rỗng người ta quăng ra từ cửa sổ trên tàu hỏa.
82.
Ở châu Âu, đặc biệt trong thời hiện đại, con người càng đến gần với thời gian hiện đại bao nhiêu, càng có cảm giác (cái được gọi) là hành động, chỉ là một pragma ( actus). Như thế, bị tách rời khỏi tác phẩm con người liên tục, phi mối liên hệ, có thể là một cử chỉ ( actus ) duy nhất, nhưng thực ra vô cùng hiếm.
Trong huyền thống, trong trật tự đời sống bình thường của con người chúng ta đều biết nhiệm vụ của đẳng cấp brahma là nhận thức, là khám phá và bảo vệ tri thức, ở Ấn Độ đây là yoga, nhận thức siêu việt. Dnyjana-yoga, con đường brahma có nghĩa như bằng tinh thần tuyệt đối hợp nhất trên con đường của nhận thức. Nhận thức là sự giải thoát (dnyána-moksa).
Đẳng cấp tinh thần cũng là hoạt động, nhưng hoạt động này, vì phi-hành động nên được gọi là phi-hoạt động. Mô hình phi-hoạt động này ở Trung Quốc là tác phẩm của hoàng đế (cai trị mà ngón tay không hề động đậy). Như người ta nói: ngài không làm gì khác ngoài ngoảnh về phía nam.
Brahman cũng xây dựng tác phẩm của đẳng cấp, nhưng bằng phi-hành động. Đẳng cấp tinh thần không bao giờ làm một actus, một hành động vật lí, mà xây dựng, xây dựng tác phẩm cuộc đời bằng các tư tưởng và từ các tư tưởng ( ergon, opus ).
Ở Ấn Độ các bậc thầy tinh thần cũng vứt nốt cái phi-hoạt động này. Không xây dựng gì hết. Phi-hành động. Không cần tác phẩm cuộc đời. Chỉ vứt bỏ. Không hành động.
“ Những ảo ảnh quấy rầy bản chất của một kẻ nào đấy, sẽ nhập vào thân xác nó để vật vờ làm điều nọ điều kia ” ( Kaivalja-upanisad ).
Mahabharata nói; hoạt động (tác phẩm, nghiệp) là cái trói buộc con người, sự nhận thức (tri thức, dnyana) là cái tháo gỡ con người. Chỉ kẻ nào bản chất “như nhận thức trong sáng pha lê” mới được giải thoát.
Tạo hóa ( visvakarman ) tạo dựng thế gian trong sự rối loạn nhiễu nhương. Kẻ nào nhận thức thức tỉnh, sẽ không thấy có lí do gì để tạo dựng bất cứ loại tác phẩm nào nữa. Loại bỏ, tháo gỡ, xé toang, làm tan ra. Hành động tốt cũng sai lầm, như cái xấu.
Những hành động đức hanh, Eckhart nói, không làm tinh thần giàu thêm. Nếu con người xây dựng tác phẩm, hãy để nó bằng một hạt thóc. Tác phẩm sẽ làm họ phải quay lại đây, và cần phải quay lại đến tận khi mọi dấu vết của tác phẩm đã được xóa sạch.
Visvakarman (Tạo hóa) không làm gì khác ngoài việc tạo dựng lên thế gian trong sự mơ màng, khiến nó bị buộc vào và giữ chặt lấy, rồi theo tỉ lệ và mức độ của sự thanh tẩy, nhận thức sẽ tháo bỏ và xóa tan thế gian.
Trong mọi hành động (tạo dựng, làm) đều có bản năng hoạt động khiến tác phẩm được ai đó tạo dựng. Truyền thống Ấn Độ gọi tác phẩm này là karma (nghiệp). Karma là ngôi nhà, nhà nước, thi ca, hệ thống tư tưởng, quần áo đã may, lưỡi gươm đã rèn.
Nghiệp là cái mà con người bằng tư tưởng và hành động tự xây dựng lên trong bản thân, là thứ sẽ mang theo mình khi chết, là thứ quyết định từng cử động của nó ở nơi đây và ở tất cả các thế giới khác, cho đến tận khi nó bước qua ngưỡng cửa của sự thức tỉnh và chặn hoạt động của nó lại.
Nghiệp là tác phẩm cuộc đời, mà con người xây dựng từ sự nhận thức của các kinh nghiệm đã làm trong đời, vô hình nhưng cứng rắn và bền bỉ hơn bất kì thứ gì, là thứ chỉ được tan ra bằng duy nhất sự thức tỉnh nhận thức.
83.
Vị trí đặc thù của hoạt động là đời sống của đẳng cấp cai trị-hiệp sĩ (ksatrija). Hiệp sĩ thực hành yoga- nghiệp , không là gì khác ngoài việc hợp nhất với sinh linh cao nhất bằng con đường hoạt động không ngừng nghỉ.
Tác phẩm cuộc đời của brahman là sự tháo gỡ, là phi-hành động, là sự tự tại tránh mọi hành động;
Tác phẩm cuộc đời của ksatrija là sự hoàn thành các hành động lớn, là trật tự, là sự thật, nhân danh đức hạnh, vì kẻ yếu, vì kẻ bị xua đuổi, vì kẻ vô thức và vì kẻ nghèo khổ.
Dnyana-yoga chỉ được gìn giữ trong những cuốn sách thiêng, còn truyền thống karma-yoga do các trường ca Ramajana, Mahahharata, Ilias, Odiissze, Gral gìn giữ.
Sự nhập định karma đặc trưng là phần đầu tiên của Bhagavad-gita, trong đó thần linh đã điểm đạo cho người anh hùng Ardzsuna nhập định vào tác phẩm cuộc đời mang tính chất anh hùng ca, và dạy dỗ các đức hạnh anh hùng.
Không phải để trở thành thông thái và hiểu biết, mà để trở nên dũng cảm và cao thượng, có mục đích, tự hiến dâng và cao cả. Đời sống mang tính chất anh hùng ca không phải là cao nhất, nhưng chắc chắn đẹp nhất và rạng ngời nhất.
Trong karma của đẳng cấp ksatrija mọi hành động chỉ về một hướng duy nhất, đây là tác phẩm cuộc đời anh hùng, trong đó người anh hùng hi sinh bản thân mình cho cuộc đấu tranh vì sự thật, và được vinh danh trong hành động này. Sự cao cả và tính chất nghiêm chỉnh của tác phẩm cuộc đời anh hùng cùng giá trị với tác phẩm của đẳng cấp tinh thần: người anh hùng, nếu hoàn thành tác phẩm của mình bằng các hành động một cách đầy đủ, được giải thoát.
84.
Vaisja và sudra (trật tự kinh tế và phục vụ) là đẳng cấp được xây dựng một cách có phân cấp vào trật tự đời sống của các xã hội bình thường, và như vậy tác phẩm cuộc đời của những đẳng cấp này cũng là một sự liên kết và thống nhất một cách có ý nghĩa và tất nhiên như của đẳng cấp hrahman hoặc ksatrija, chỉ có điều tác phẩm cuộc đời này không sang trọng như của brahman, không rạng rỡ như của ksatrija.
Hệ thống trật tự kinh tế và phục vụ không phải là tri thức và đức hạnh hiệp sĩ, nhưng cũng có tầm quan trọng như vậy trong lợi ích của việc duy trì sự sống. Nhưng tầm quan trọng ở đây là lợi nhuận.
Theo truyền thống Ấn Độ người hầu dù là người hầu cuối cùng đi chăng nữa nếu hoàn thành nghiệp của mình đúng vị trí cũng có thể đạt tới một trật tự cao trong sự sống, hơn hẳn một ông vua hoặc như một giáo chủ không làm đủ phận sự (dharma).
Đẳng cấp kinh tế chăm lo đến các nhu cầu vật chất của cộng đồng người (nông dân, chăn nuôi gia súc, thợ thuyền, thương gia v.v.) và nghiệp của họ là sự gây dựng cho nhân loại sự trù phú, sự sinh sôi nảy nở, tạo ra nền kinh tế và đời sống cao.
Nghiệp của đẳng cấp phục vụ là sự hoạt động của công việc chân tay. Trong mọi trường hợp đều là những hành động được xây đắp vào tác phẩm cuộc đời và là những hành động tiếp theo từ sự tất yếu của tác phẩm cuộc đời (ergon, opus), các hành động mang ý nghĩa như một nghiệp duy nhất, như một sự tạo dựng duy nhất, không thể tách khỏi con người.
85.
Pragma là một hành vi đứt rời từ tác phẩm cuộc đời, đứng một mình, không phụ thuộc vào tiền lệ và hệ quả (không phải nghiệp), thực chất nó có nghĩa là người ta chọn lựa hành động từ người hành động, và đưa nó vào một khái niệm rỗng và phi cá nhân. Đấy là cái xảy ra, không có ý nghĩa trong mối liên hệ với con người, là một hành vi ai thực hiện cũng được, ở Judea, chủ nghĩa rabbinizmus giải thích tội lỗi bằng khái niệm-hành vi này và bằng khái niệm này tóm lấy con người và khuất phục họ. Họ không hỏi, đấy là ai, tại sao, như thế nào, trong mối quan hệ như thế nào và trong tác phẩm cưộc đời như thế nào. Ngoài khái niệm pragma thuần túy ra họ không muốn chú ý đến bất kì điều gì khác.
Phái của những kẻ mang tên Pharisees là kẻ đi ra từ ý đồ đạo đức không rõ ràng. Kẻ Pharisees tuyệt đối không ưa thích nếu cá nhân con người được tính đến và cân nhắc; bằng luật hóa điều kiện này nó cũng tự bào chữa cho mình nếu một ai đó ngoài pragma thuần túy ra còn cân nhắc đến cả những cái khác.
Phái Giáo sĩ của Kitô giáo ngay từ buổi ban đầu đã tiếp nhận khái niệm pragma này từ những người Pharisees. Đây là cách thức bảo đảm nhất để tách rời bản chất khỏi hành động và để che giấu, trước đám đông chỉ đưa ra các hành vi độc quyền, nhưng đây cũng là một phương thức, để không cần thiết phải nêu lên những vấn đề cá nhân, mà có thể kết án người khác từ nền tảng hành vi thuần túy.
Thứ chủ nghĩa mà những kẻ Pharisees đi theo là một thứ đạo đức giả thực chất là kĩ thuật tự vệ của con người sống trong một sự sống dối trá: trong sự kết án bản chất riêng của mình viện cớ ra một vài hành động khiêu khích, để những câu hỏi liên quan đến bản chất đó không thể đặt ra, và như vậy nó có thể duy trì bản chất của nó trong sự mơ hồ.
Trong khi đó nó lại muốn bắt quả tang kẻ khác từ một vài hành động có vẻ như làm ảnh hưởng đến đạo đức bên ngoài, và thế là có thể đóng con dấu tội phạm lên kẻ khác mà không cần đặt ra những câu hỏi liên quan đến bản chất.
Phái Giáo sĩ chấp nhận loại hành vi mà Chúa Jezus chống lại, và bằng điều nàv thử làm mất ảnh hưởng của Phúc Âm. Sự khác nhau chỉ như sau: đạo đức của phái Giáo sĩ không phải là đạo đức của phái rahhi, mà chỉ là thứ hành vi trưởng giả (sabion) hình thành theo lịch sử, là thứ hành vi liên quan rất ít đến hành vi bên ngoài của người Do Thái.
Từ giây phút ấy trở đi đối với phái Giáo sĩ sự dạy dỗ Phúc Âm không bao giờ là tác phẩm cuộc đời thành công nữa, mà là sự khó chịu bất tận, không phải là ánh sáng nữa mà là sự sợ hãi ánh sáng (terror lucis), và cũng chẳng phải là tôn giáo nữa mà là một sự thực hành quyền lực.
86.
Phúc Ầm bằng sự dạy dỗ chống lại sự phá vỡ sự sống, và thực hiện trạng thái trong sạch hơn trạng thái ban đầu của sự tồn tại. Phái Giáo sĩ bằng việc khôi phục chủ nghĩa giả dối, đạo đức giả của những người theo phái Pharisees lại một lần nữa đặt hành vi phạm tội vào trọng tâm đời sống, và bằng điều này làm lu mờ sự dạy dỗ nói về sự phá vỡ sự sống và sự thanh tẩy.
Phái Giáo sĩ đáng lẽ phải nhìn thấy hoạt động nhận thức từ sự dạy dỗ của Phúc Âm, nhưng họ lúc đầu xua đuổi, sau cùng im lặng, không phải vì học thuyết sai lầm mà vì sự soi sáng nhận thức quá rành rành. Từ phút này trở đi trọng tâm của Kitô giáo không phải là tư tưởng hướng về sự sống bị phá vỡ và sự chuyển hóa nữa, mà tiếp tục, một lần nữa, tư tưởng về tội ác và sự trừng phạt đã thay thế.
87.
Hành động đạo đức giả của phái Pharisees và phái Giáo sĩ có sự khác biệt cơ bản; sự giả dối của phái Pharisees nhân danh sự tăng trưởng (làm giàu) trong đời sống, còn sự giả dối của phái Giáo sĩ phục vụ cho bản năng quyền lực.
Bởi vậy hệ thống đạo đức giả của những kẻ theo phái Pharisees ở mức độ kĩ thuật sống thấp hơn, như một mức sống giả dối, là bạo lực và bóc lột, còn phái Giáo sĩ để đạt được và duy trì mục đích quyền lực thế giới, đã dựng lên cả một hệ thống sự sống giả dối. Bằng cách, nhận thức mang ý nghĩa duy trì trong Kitô giáo, đã trở thành một khái niệm bị cấm, và sự đánh giá con người chỉ còn theo hành động thuần túy (pragma, actus).
Điều này đã khiến vị trí của phái Giáo sĩ (như của phái đạo đức giả) nhẹ đi rất nhiều. Không gì dễ dàng hơn khi kết án từ cơ sở của các hành vi bên ngoài. Phái Giáo sĩ đã chiếm lĩnh quyền lực vô hạn trên đầu con người, vì phái này quyết định cái gì là tốt, là xấu, là đức hạnh, là tội lỗi, còn những thứ khác (tư tưởng, cá nhân, cảm xúc, ý đồ, đạo đức) không hề được nhắc đến.
Khả năng nhận thức tự do chấm dứt. Chỉ còn các hành động khủng bố. Tinh thần như một sức mạnh tạo dựng trong thời kì lịch sử bị đánh mất, và gnozis (dnyana-duy tri-ngộ đạo) chỉ có thể tồn tại bất hợp pháp trong các giáo phái, hoặc như một sự lựa chọn cá nhân (thần bí).
Trong thế kỉ thứ ba, thứ tư sau Công nguyên, phái Giáo sĩ gần như đã thành công trả lại vị trí cho khoảng thời gian trước Phúc Âm, và nhân loại đã sống như thể giữa chừng chưa từng xảy ra bất kì điều gì.
Cái có nguồn gốc không phải là sự sống mang tính chất Phúc Âm, cái đó là Chống Kitô. Hoặc là cái này-hoặc là cái kia. Trong các tinh thần không có sự thỏa hiệp, trung lập càng không.
88.
Từ khi phái Giáo sĩ của Kitô giáo nguyên thủy trù dập phái gnozis, và bằng điều này thành công tạo ra nền tảng quyền lực cho mình, ở châu Âu mọi quyền lực phi luật cho đến tận ngày nay vẫn bắt đầu bằng việc cấm tự do tư tưởng (và tự do ngôn luận), tước đoạt khả năng xây dựng tác phẩm cuộc đời của con người, và đòi hỏi các loại hình hành động nhất định quy định cho những hường hợp nhất định, không phải là một tác phẩm hiện sinh mà chỉ là các hành vi phi cá nhân.
Bởi ergon luôn hướng về cái toàn thể và muốn tạo dựng cái toàn thể. Hành động càng chuyên môn hóa bao nhiêu con người càng giống một loài côn trùng mà ngoài khả năng chuyên ngành hóa (sự phân chia lao động tuyệt đối) chật hẹp của đời sống ra, không còn khả năng đời sống nào nữa. Côn trùng hóa trong thời hiện đại là những dấu hiệu không còn nghi ngờ gì nữa, đặc biệt từ khi con người biết bay như côn trùng, mà không bay như chim.
Bằng điều này phái Giáo sĩ không chỉ duy trì con người trong vô thức mà còn dẫn con người đi chệch hướng, như ý nghĩa đích thực của hành động (ergon-pragma).
Bởi vì con người bằng hành động cá nhân của nó hiểu cái đang có, như Vico tuyên bố, hiểu hoàn toàn một cái gì đó có nghĩa là đang làm cái đó. Phái Giáo sĩ đã giải quyết thành công vấn đề quyền lực. Sự mạo hiểm chống lại phái Giáo sĩ quá lớn, con người run sợ buộc phải thể hiện ra những hành động tốt. Tôn giáo của hành động tốt luôn là sự phơi bày một thái độ đạo đức giả, hiện sinh giả, sự thích nghi, sự giả dối.
Hệ thống giả dối của những người Giáo sĩ bằng sự lập lại sự sống giả dối của phái Pharisees đã làm vững hơn tình cảnh trước thời đại của Phúc Âm. Tất nhiên bằng kĩ thuật dối trá phát triển cao hơn, phái Giáo sĩ không chỉ đóng khung trong các giới hạn gia đình giống như những kẻ đạo đức giả theo phái Pharisees mà còn lan truyền giữa các dân tộc trên khắp thế giới.
Sự dạy dỗ những điều tốt đẹp của Kitô giáo ngày nọ qua ngày kia biến mất. Quá trình Chống Kitô có nghĩa là: không có sự phá vỡ sự sống, không trách nhiệm với nhau, không có nghĩa vụ bắt buộc phải trở nên tốt, không có món nợ, không có sự chuyển hóa. Một lần nữa, tất cả lại như trước kia, chỉ có tội lỗi và sự trừng phạt, không Thượng Đế, chỉ có sức mạnh tối tăm và bẩn thỉu.
89.
Quyền lực là thứ mang lương tâm cắn rứt, sợ sự lật tẩy, bởi vậy quyền lực cấm sự tỉnh táo, và chỉ đòi hỏi hành vi, coi thể hiện hành vi là lời tuyên thệ trung thành, bởi vì nó không thể nắm bắt được con người trong tư tưởng, mà chỉ trong các hành động. Đây là nền tảng của thứ đạo đức giả mang tên Pharisees, là tội lỗi trong hành động.
Nỗi sợ hãi của những kẻ Pharisees thật khủng khiếp khi hiểu ra những điều Chúa Jezus dạy: sự phá vỡ không nằm trong hành động, mà trong việc ai sống một đời sống như thế nào, một đời sống phá vỡ sự sống hay một đời sống thanh tẩy.
Cái xấu và sự nhơ bẩn không nằm trong tư tưởng và trong hành động mà nằm trong sự sống đã bị hư hoại. Kẻ có tội không phải kẻ làm cái xấu một lần, mà là kẻ liên tục sống trong cái xấu, bởi nó không nhận ra, nó làm gì và sống như thế nào. Một nghìn lần xấu là kẻ không chỉ cho rằng đời sống liên tục trong cái xấu là đúng, mà còn, như người ta thường nói, coi đó là hiện thực, và còn gấp trăm nghìn lần xấu nữa kẻ đi truyền dạy đời sống nhơ bẩn này và bắt những người khác phải theo.
Không gì dễ dàng hơn việc nhúng chàm dơ bẩn, và không gì khó khăn hơn việc thanh tẩy để trở nên trong sạch. Lời Giảng Trên Núi là bản án kết tội những kẻ Pharisees, là sự phản kháng chống lại thứ đạo đức-hành động, và là nền tảng để nói rằng cái xấu trong mọi tư tưởng và hành động và sự hư hỏng thể xác đều là bản năng tăm tối của tình trạng phá hủy sự sống (là Chống Kitô).
Những tội lỗi hiển hiện ở bên ngoài, những tư tưởng tuyên bố và sự hư hỏng về thân xác là một, là hậu quả của sự sống bị hủy hoại nơi sâu thẳm nhất của bản chất người. Những hậu quả này không thể tiêu diệt bằng phơi bày hành động đạo đức giả, bằng những tư tưởng nhân hậu giả dối và bằng sự chữa chạy thân xác bên ngoài. Duy nhất chỉ sự chuyển hóa biến những hậu quả trên thành cái tốt.
Sự chuyển hóa này bắt buộc cho tất cả mọi người, có hiệu lực với tất cả mọi người, và nếu ai bỏ qua, người đó tiếp tục phá vỡ sự sống, bởi vì sự sống không chỉ của riêng nó và của mình nó, mà còn có cùng lúc với toàn thể nhân loại, với toàn bộ thực thể sống, bởi vì sự sống Thượng Đế cũng là chung và tương đồng (Việc đánh cắp sự sống).
90.
Đến cuối thời trung cổ các văn bản viết là hình thức của đẳng cấp tinh thần (brahman) hoặc của các dạng tầng lớp thoái hóa khác (phái Pharisees, Giáo sĩ). Trong các đẳng cấp khác như chúa đất, tầng lớp quỷ tộc cũng thuộc loại hình thức này, nhưng chưa nổi lên nhu cầu về tri thức viết của họ.
Đẳng cấp cai trị ksatrija tỏ ra xa lạ với kiến thức đọc-viết, họ sử dụng các nhân viên “những Giáo sĩ” giải quyết các công việc hành chính. Và khi phái Giáo sĩ phản bội các đặc quyền đẳng cấp tự nhiên vì sự thâu tóm quyền lợi bá chủ thế giới, lúc đó nó cũng cần đến nạn mù chữ của xã hội để phục vụ mục đích quyền lực của nó.
Phái Giáo sĩ không chỉ có nhiệm vụ bảo vệ và chăm lo các văn bản thiêng, nhưng nếu vì quyền lợi cá nhân - cũng như phái Pharisees một thời - họ cũng cất giấu những văn bản này, và như vậy vì lợi ích cai trị dễ dàng hơn, họ tước mất quyền biết đến các khả năng tổng quát của Phúc Âm đích thực.
Muộn hơn, bằng giáo phái hóa quyền lực, bằng thời kì Ánh Sáng, rồi Cải cách, rồi đến các biến hình quyền lực của dân chủ hóa và xã hội chủ nghĩa, tình thế đời sống không hề phục hồi, trái lại càng trở nên tồi tệ hơn.
Người ta bắt buộc phải dạy con người đọc-viết, nhưng chỉ để, bằng sự thực hành các kiểm duyệt, bằng việc cấm những văn bản “nhạy cảm”, cùng lúc đó chưa bao giờ Viết trở nên thông tục như ngày nay bằng báo hằng ngày, bằng thông tin đại chúng, tranh ảnh, khoa học thường thức... đến mức so với sự thất học, tri thức còn vô phương hướng hơn, và tóm lại đã tạo ra một dạng vô thức nhân tạo.
91.
Phái Giáo sĩ như một quyền lực, với lương tâm cắn rứt, muốn thách thức với trường phái Ngộ đạo hay trong hoạt động tinh thần, giống như phái Pharisees, bắt đầu đòi hỏi hành động, bởi vì quyền lực không khuất phục được con người trong tư tưởng, mà chỉ trong hành động.
Sự trung thành tôn giáo trở thành một sự phụ thuộc vào hành động, đời sống trong sạch phụ thuộc vào hành động, chân phúc phụ thuộc vào hành động, các chức phẩm địa vị của phái Giáo sĩ càng màu mỡ bao nhiêu càng phụ thuộc vào các hành động bấy nhiêu.
Tất nhiên trong phái Giáo sĩ cũng có thể đòi hỏi các hành động thiện, nhưng điều này không đáng kể, bởi vì theo Phúc Âm cái đáng kể không phải là pragma mà là ergon, là tác phẩm cuộc đời, là đời sống như một cái toàn bộ. Nền tảng duy nhất của bản án là hành động thiện nhân danh chân lí của sự sống, hay nhân danh một sự sống dối trá.
Đại đa số hành động thuộc về những kẻ theo phái Pharisees, khi sắm vai trò trước dân chúng, đằng sau đó không chỉ là khát vọng làm giàu, như ở Judea, mà trong trường hợp với Kitô giáo còn là ý đồ muốn thâu tóm quyền lực, và muộn hơn là sự duy trì mộng bá chủ toàn cầu.
Lời Giảng Trên Núi như thể chưa bao giờ vang lên. Từ giây phút phái Giáo sĩ bắt đầu ngăn cấm loại hoạt động soi sáng nhận thức con người, phương pháp hữu hiệu nhất để giải quyết các vấn đề nan giải đối với quyền lực chính là sự im lặng. Song song với chiến dịch chống lại phái Ngộ đạo là việc viết giả mạo Phúc Âm, xóa những câu “khó chịu” và thêm vào những câu củng cố, ca ngợi phái Giáo sĩ.
Trong cuốn sách của mình, giáo chủ Irenaeus điểm ngược lại danh sách các giáo chủ đến tận Thánh Peter. Nếu ai đặt câu hỏi, ngài đều viện dẫn đến lời tuyên bố. Khi đội quân của Đại Pháp Quan (inkvizicio) chiếm Besier, viên chỉ huy hỏi vị giáo chủ làm thế nào để xác định ai là kẻ ngoại đạo và nên giết ai. Cứ việc giết hết tất cả mọi người - Giáo chủ trả lời - Thượng Đế (Chúa) sẽ tự lựa chọn các con chiên của Ngài.
Dường như có thể chuyển nguyên văn lời khuyên của các rabbi ở Jeruzsalem đến Roma và Milano, Paris và Strassburg, ở đó chủ nghĩa đạo đức giả tiếp tục được thực hành, chủ nghĩa này là một dạng hình thức vô liêm sỉ không bị lật tẩy ngày càng tăng, và là thứ sau này từ chủ nghĩa vô liêm sỉ người ta làm nên khoa học.
92.
Kẻ bị xúc phạm trong sự thật, không hề rung động, cùng lắm mỉm cười. Kẻ bị xúc phạm trong cơn mê muội thì vùng vẫy, gào rống lên và giận giữ. Kẻ bị xúc phạm trong sự hèn hạ trở nên buồn rầu và chắc chắn sẽ cầu viện đến Thượng Đế.
93.
Chiến thắng hoàn toàn của phái Giáo sĩ với phái Ngộ đạo - gnozis sẽ không xảy ra nếu giữa chừng Thánh Augustino không đối mặt với gnozis và giữ lập trường đứng bên cạnh phái Giáo sĩ. Ngoài Giăng Thánh giá, Pascal và Nietzsche ra, ở châu Âu không ai có thể chịu đựng sâu sắc sự hủy hoại sự sống hơn như ở Thánh Augustino. Ngài sống trải qua sự hủy hoại đến mức sau này trở thành tấm gương trong Kitô giáo.
Ngài coi Phúc Âm là tôn giáo, muốn giải quyết sự hủy hoại bằng sự ăn năn và chuộc tội, và sự giải quyết này, với nhiều người, tìm thấy trong sự quy phục hoàn toàn với ý chí của Nhà Thờ, với niềm tin Nhà Thờ và Giáo sĩ là một,
Sự tự kết tội liên tục và cơn khát thanh tẩy tận cùng của Thánh Augustmo phần lớn là cảm hứng thi ca, là thứ không nắm bắt được ý nghĩa của tính chất hoạt động soi sáng của nhận thức. Trong Thánh Augustino cơn khát về hiện sinh minh bạch rất lớn, thật khó hiểu, tại sao ngài chống lại định hướng phổ quát, cho dù ngài biết rõ, sinh linh được soi sáng không thể thiếu nhận thức phổ quát siêu việt.
Theo dấu vết và dưới tác động của Thánh Augustino một quan niệm và thực hành Kitô giáo không hề mới lan truyền, và mau chóng trở nên phổ thông hóa. Thánh Augustinus coi Kitô giáo như một sự khó chịu trong sự sống, và Thánh Phao lô cũng có cùng quan điểm như vậy.
Phúc Âm không phải trạng thái khó chịu của sự sống, mà là rất khó chịu, nhưng là trạng thái khó chịu với sự yên ổn trong sự sống hư hoại (không trong “thân” mà là “gai” trong sự hủy hoại.)
Từ Thánh Phao lô dấu ấn bị hành hạ xuất hiện trên nét mặt con người hiện đại, khiến nhiều người sợ hãi, và là thứ Nietzsche chống lại và đảm nhận vai trò xóa nó đi.
Từ thời Thánh Augustino trở đi con người bắt buộc phải trở thành đau khổ và nhăn nhúm từ Phúc Âm, cho dù Phúc Âm, như ý nghĩa của Lời, trước hết là tin mừng, là tin mừng cho việc xuất hiện sự sống đã thanh tẩy.
Sau này từ hệ quả của tài hùng biện có một không hai và khả năng tranh luận cá nhân của Thánh Augustino, sự giải nghĩa Kitô giáo như một sự đau khổ đã trở thành thí nghiệm cho những nhà hiện sinh đích thực, từ Tolsztoj đến Dosztojevszkij, những nhân vật chứng thực Kitô giáo của mình như những kẻ ưa thích sự đau khổ.
(Phái Giáo sĩ tất nhiên gật đầu cho quan niệm này, bởi vì những con người mải quan tâm đến những đau khổ chủ quan, không nghĩ đến việc nhìn quanh thế gian, ngoài đau khổ ra không quan tâm đến gì khác, với một sinh linh như vậy thật dễ dàng thực hành quyền lực trên đầu họ).
94.
Sự khác biệt giữa phái Pharisees và Kitô giáo:
- Phái Pharisees thay vì soi sáng và thanh toán những sức mạnh hủy hoại sự sống, họ giấu giếm chúng.
- Kitô giáo thay vì giấu giếm những sức mạnh hủy hoại sự sống, soi sáng và thanh toán chúng.
Kitô giáo, vì không giấu giếm những sức mạnh hủy hoại sự sống nên bất lợi trước đám đông. Kitô giáo gánh chịu sự hủy hoại, ý thức hóa vào bản thân mình, nhưng không đánh lừa bản thân và cũng không đánh lừa những người khác. Kitô giáo là con người phạm tội, nhưng cũng không muốn là kẻ vô tội, và không bao giờ bảo mình là kẻ trong trắng cũng như vô tội.
Phái Giáo sĩ vì giấu giếm những sức mạnh hủy hoại, nên trước đám đông họ có lợi thế. Phái này không đảm đương sự hủy hoại, không thừa nhận, không tự ý thức vào bản thân, mà đánh lừa cả bản thân lẫn những người khác. Người theo phái Pharisees là kẻ không phạm tội, kẻ không làm gì xấu, và lúc nào cũng bày tỏ mình với người khác như một kẻ vô tội và trong trắng.
Sự khác biệt giữa phái Pharisees và Kitô giáo là những người Pharisees sống trong sự sống giả dối, còn Kitô giáo soi sáng bản thân mình bằng sự thật của sự sống. Bởi vậy không có chủ nghĩa đạo đức giả của phái Pharisees nếu thiếu sự ngụy biện, không có Kitô giáo nếu thiếu sự kiếm tìm và hướng đí theo sự thống nhất của ngôn từ.
Kĩ thuật sống một cách ranh mãnh khôn lỏi không thể thiếu thói ngụy biện, còn sự hợp nhất không có nếu thiếu kí ức về sự giản dị (chân phúc) nguyên sơ của trật tự đời sống.
Đặc trưng của kẻ đạo đức giả như một nền mĩ thuật giả dối trưng diễn còn người Kitô giáo đặc thù là người sống thấu suốt (đích thực).
Hai loại người này không bao giờ gặp gỡ nhau nổi, ngay cả trong Thượng Đế riêng của họ.
95.
Phúc Âm là sự diễn tả nỗi đau khổ của hiện thực. Làm sao có thể chịu đựng và sống một cách đích thực thiếu sự hủy hoại sự sống. Đây là một sự thật mà nếu bất kì sự thật nào của thời lịch sử đối diện với nó đều phơi bày bản chất thảm hại và vô lí của nó.
Thà chọn cây thánh giá còn hơn là cho phép một giây phút phá hủy sự sống. Các ngươi hãy giết đi! Chết không là niềm vui, nhưng không thể sống một cách nhơ bẩn.
− Jaspers nói: nhìn từ thế gian Chúa Jezus là một sự vô lí. Bởi vì thế gian nhìn từ Chúa Jezus: tất cả các ngươi hãy đến cùng ta, nếu không ta không thể giúp các ngươi.
96.
Hiện sinh Chống Kitô là giới Giáo sĩ kẻ bảo vệ sự hủy hoại sự sống trong thực hành bằng đạo đức, tôn giáo, pháp luật và luật lệ một cách ngụy biện. Hay nói cách khác là kẻ bảo vệ bản chất hư hỏng bằng sự thật, và sự bảo vệ này được xây dựng thành một hệ thống đã tung hoành quyền lực của nó trên khắp quả địa cầu.
Không có gì khủng khiếp hơn một kẻ có sự thật trong dối trá. Phá vỡ quyền lực này Phúc Âm cũng không làm nổi, thậm chí trên nền tảng đã học được trong Phúc Âm kĩ thuật hủy hoại sự sống này hoàn thiện theo cấp số nhân.
Giới giáo sĩ hiện đại trở nên hoàn thiện hơn trong sự hủy hoại sự sống, hơn cả những kẻ đạo đức giả theo phái Pharisees. Sau này, kỉ Ánh sáng đã thành công phá vỡ quyền lực của giới giáo sĩ, và cho ra đời thứ chủ nghĩa chính trị-khoa học mang tính chất giáo sĩ hiện đại, là thứ mà kĩ thuật hủy hoại sự sống của nó hoàn thiện hơn theo cấp số nhân, so với phái Pharisees.
97.
Sự kiện mang bản chất đặc trưng cho một nghìn năm trăm năm lịch sử châu Âu: hoạt động Chống Kitô của giới giáo sĩ và chủ nghĩa đối kháng bất tử của Nhà Chung mang tính chất Phúc Âm. Dưới tay giới Giáo sĩ quyền lực cần phải hiểu như là tổ chức của giới giáo mục. Còn Nhà Chung là sự thống nhất siêu việt của nhân loại nhân danh sự sống đã thanh tẩy và được nâng cao bởi Phúc Âm.
Bắt đầu từ chiến dịch phát động chống phái Ngộ đạo đến tận chủ nghĩa bolshevick tại châu Âu, thậm chí bắt đầu từ thế kỉ XX toàn bộ sự kiện mang tính chất lịch sử trên trái đất, trong một hình thức nào đấy đều mong muốn thanh toán chủ nghĩa đối kháng này.
Một mặt, là sự ca ngợi hành động theo kiểu Pharisees (như chủ nghĩa thực dụng Mĩ-Nga). Mặt khác là sự hủy hoại sự sống mang tính Chống Kitô được đặt tên là lịch sử thế giới, là sự lừa bịp, dối trá và bạo lực nhằm gia tăng của cải thế gian, là các lí thuyết kinh tế, kĩ thuật, quân đội, bằng sự kêu gào đinh tai nhức óc và nhuốm máu. Trong khi đó âm thanh của Phúc Âm vang lên quá khẽ khàng, bị phỉ nhổ, bất lực, bị phủ nhận, bị cản trở, bị chế giễu và bị chứng minh là vô hiệu một cách khoa học.
98.
Truyền thống đứng trên cả thời đại, dân tộc và cá nhân, nhưng trong thời kì lịch sử chúng ta chỉ biết đến một vài nơi, nơi mà nền tảng cơ bản dựa trên truyền thống được bộc lộ một cách trong sạch tự thân.
Talmud là một thực hành đặc thù dành cho dân tộc Do Thái, đúng như cách thức của Manava-dharmasasztra (sách luật của Manu) dành cho dân Ấn Độ, và như ở ngưỡng của thời lịch sử các szophosz (Solon, Lukurgos, Pherekudes) ứng dụng các chức vị con người siêu việt cho các thành phố nhà nước Hi Lạp khác nhau.
Nền tảng cơ bản là lời tuyên bố, là sự biểu lộ (sruti), là cái bảo đảm sự vững bền logo của nền tảng cơ bản. Bởi vậy cần phải gắn với lời tuyên bố, hay có thể nói lời tuyên bố là thứ ngôn ngữ tuyệt đối (Lời).
Nhưng lời tuyên bố trong các thời kì lịch sử không thể sử dụng một cách trực tiếp, mà chỉ như szmriti (truyền thuyết, pháp luật, tôn giáo). Talmud là một loại szmriti như thế. Sự xuất hiện của nó khoảng bằng sự xuất hiện của lời bình luận giải thích Veda (Xem thêm triết học của Origenes).
Từ sự hiểu biết đúng đắn về ngôn từ của lời tuyên bố phần lớn người ta duy trì các buổi diễn thuyết công cộng, các vị thầy chuẩn bị và thu thập các văn bản giải thích nghĩa của các từ, các tín điều của thời trung cổ cần hiểu bằng phương pháp này, bổi vì các tín điều không phải là lời tuyên bố nguyên sơ, mà chỉ thuần túy là sự giải nghĩa mang tính chất lịch sử trên nền tảng lời tuyên bố, là lí thuyết, là thời đại người dành cho các dân tộc.
Nếu tín điều không thể lừa bịp của giáo chủ là đúng, điều đó có nghĩa là từ chiếc ghế giáo hoàng: từ “ex cathedra” là sự thật, đồng nghĩa với lời tuyên bố, điều này vô lí.
Tín điều là tâm linh, nguồn của nó trong mức độ nào đó tuyệt đối, nhưng nhân đạo và mang tính chất thời lịch sử, không phải là Lời tuyệt đối. Thiếu tín điều không có sự tồn tại của lịch sử, nhưng kể cả khi đó tín điều cũng không bất khả xâm phạm, thậm chí trong khi ý nghĩa cơ bản của nó vẫn còn nguyên vẹn, nó vẫn liên tục bị thay đổi trong thời lịch sử.
Hai ý nghĩa từ tín điều:
1. Mang tính chất Nhà Chung, là nơi bắc cây cầu giữa sự thật của lời tuyên bố và đời sống thời lịch sử, và đây là bằng chứng chắc chắn về sự dạy dỗ cội nguồn cho một hiện sinh người.
2. Đồng thời mang cả tính chất của giới Giáo sĩ, là lớp người vì quyền lợi duy trì quyền lực gắn bó với câu chữ của một phán quyết. Bởi vậy trong quá trình lịch sử tất cả các tín điều (Kitô giáo, Talmud, Do Thái v.v.) đều mang hai nghĩa.
99.
Thời trung cổ tăm tối, hay nói đúng hơn, bị đóng băng và hạn hẹp, ai cũng có thể định nghĩa về nó nếu họ nhìn thấy những năm đầu tiên của thời trung cổ mới (theo Bergyajev) - giai đoạn đầu của thế kỉ XX. Bắt đầu như thế nào bằng sự thu hẹp dần, sự sống người bị teo tóp lại ra sao, các như cầu giảm đi như thế nào, chủ nghĩa cơ hội lớn dần ra sao, mức sống trở nên thấp kém hơn cả của tầng lớp thị dân như thế nào, và con người chui vào những giải pháp đời sống ngày càng trần trụi và vô nghĩa ra sao.
Thuyết vô thần đầy rẫy giới hạn lại là một sự hứa hẹn đền bù nồng nhiệt. Trong cơn bệnh về giấc mơ thời trung cổ không ai còn biết rằng sự què cụt về tường trình siêu việt là nguyên nhân đầu tiên làm lu mờ hiện sinh, hoặc ngược lại, cái hiện sinh ngày càng mờ mịt là nguyên nhân đầu tiên thu hẹp dần định hướng phổ quát.
Trong khoảng một nghìn năm xảy ra duy nhất một sự kiện chấn động cơ bản, là dưới ảnh hưởng của phái giáo sĩ, quyền lực thế gian từng bước tạo ra các ứng dụng hủy hoại sự sống, và cùng với điều này Kitô giáo bị vô hiệu hóa ở mức độ ngày càng lớn.
Về mặt kĩ thuật sống các giáo phái và các tông đồ giáo phái lạc hậu thử các thí nghiệm nổi dậy vì những mảnh vỡ thảm hại của sự thật, lần lượt trở thành nạn nhân cho thứ quyền lực vô thần nhân danh thần thánh để cai trị. Sự nhẹ dạ và phi đức tin.
Quyền lực không cần che đậy, sự thật không có sức mạnh, ad hoc tạo dựng bằng các công thức ngụy biện. Tính chất tự tra vấn cao nhất của nhận thức chấm dứt hoàn toàn, và hệ quả của mọi phản kháng là nhà tù, Đại Pháp Quan, giàn lửa. Trong các bản án dị giáo như với Galileo Galilei, Savonarola, Husz János, Giordano Bruno giới giáo sĩ không bảo vệ sự thật mà bảo vệ vị trí quyền lực của họ. Bởi vậy ai cũng biết sự thật về giới giáo sĩ là gì.
100.
Chúa Jezus bằng hành vi phản ánh sự sống đến tận gốc rễ sâu nhất dưới thân xác người, trong ý thức về sự thất bại chắc chắn và cái chết thảm hại, nhưng không có ý định chiến đấu chống lại sự hủy hoại sự sống một cách đơn giản và công khai, mà muốn cho mọi người thấy ngay trong bản thân mình không cần làm gì, nói gì, mà cần phải sống như thế nào.
Còn Giáo hội, thay vì trở thành bí tích cho đời sống, đã lập tổ chức, và bảo vệ sự hủy hoại sự sống này - “‘hằng trái tim hư nát” - trái ngược với sự trong sạch trong lời dạy của Chúa Jezus, đã duy trì và làm cho sự hủy hoại này sâu đậm hơn và để nó là thứ ngự trị duy nhất trên trái đất.
Hủy hoại sự sống là hành động tội phạm, mà Phúc Âm đặt tên nó là tội lỗi chống lại Tinh Thần Thiêng (pneuma tesz aletheiasz), về điều này không có lời xin lỗi.
Bởi vậy, vì thay thế Nhà Chung bằng tầng lớp Giáo sĩ, thay thế đời sống mang tính Phúc Âm là sự hủy hoại sự sống, thay thế Chúa Jezus là sự Chống Kitô, nên tất cả mọi người và ngay lập tức, vô điều kiện, hãy cần trở thành tín đồ của Kitô giáo.
101.
Cái Phúc Âm đặt tên là tình thương yêu, là sự trưởng thành sau cùng của hiện sinh người, là mức độ cao nhất của sự thanh tẩy hiện hữu, nói bằng ngôn ngữ Do Thái: là sự giải thoát.
102.
Chiến thuật Chống Kitô thực ra ngay từ đầu không có gì thay đổi. Phái Pharisees, như một kẻ Do Thái đạo đức giả, lúc đầu bộc lộ trong một hình thức tương đối thô thiển, dù cố che giấu vẫn lộ ra đặc điểm xỏ xiên đê tiện, bước chuẩn bị cho sự bẩn thỉu và độc ác và cái hành vi đắc thắng này sau này của họ vẫn thế (hãy nhìn tượng bán thân của Konstantin, chân dung của giáo chủ Velazquez Ince, hoặc chân dung của một vị tướng, một nhà ngoại giao hay một nhà bác học hiện đại).
Ngay lúc đó một quan niệm chung đã cho rằng lương thiện là ngu xuẩn và ngớ ngẩn (chủ nghĩa lí tưởng) độc nhất chỉ có sự đê tiện là có lợi (chủ nghĩa hiện thực). Các hành động, luôn chỉ có hành động! Quyền lực xây dựng trên nền tảng không cần tinh thần, và không có cách khác. Một sự bất lực của cai trị nhân danh tinh thần sự thật.
103.
Bài học của thời Cải cách: cuộc tranh đấu chống lại giới giáo sĩ trên bình diện tôn giáo là không thể, bởi vì bản thân nền cải cách trong một thời gian ngắn, thậm chí trong những mức độ tăng dần đã trở thành một chủ nghĩa đạo đức giả của giới Giáo sĩ.
Thời kì Cải cách thực chất chưa từng là một sự kiện, chỉ là một giai đoạn lịch sử và là hệ quả của các tiền đề nhất định, có thể dự đoán, không bất ngờ, và cái chính là phi bản chất.
Tác động ngược lại của thời Phục hưng Ý đã Hi Lạp hóa là sự nông nổi, không là gì khác ngoài một sự lai căng mới, là một thứ đạo đức giả mang tính chất Pharisees không hề linh cảm trước, thứ mà bên cạnh nó nền Phục hưng Ý đầy màu sắc sáng sủa vẫn còn tốt hơn (luôn luôn cái giấu giếm là cái hư hỏng hơn), bởi vì nó không có ý nghĩa và không mang lại gì khác ngoài thứ chủ nghĩa tội lỗi cuồng tín luôn bị la ó và thói đạo đức giả không thể tưởng tượng so với thời Jeruzsalem cổ.
Điểm đen tối của thời Cải cách là nó thử thế tục hóa Kinh thánh, từ những quan điểm nhất định đây là thứ giống hệt như đạo Phật từng thử nghiệm với truyền thống của Veda, bởi vậy Guénon coi những dạy dỗ của Phật giáo cũng như một dạng cải cách. Nhưng đạo Phật không cắm rễ lâu nổi ở Ấn Độ, và trong một thời gian rất ngắn nó cũng biến mất.
Bằng việc dùng ngôn ngữ đại chúng, các bản dịch Kinh thánh đã hoàn toàn thất bại. Kinh thánh không thể thế tục hóa, hay nói cách khác không thể tan vào thời gian (mà dấu hiệu của nó là ai không sống qua eo ipso, thì một chữ cũng không hiểu nổi), bởi cái không thực hiện trong thời gian và cho thời gian, trong toàn bộ, nó đứng ngoài thời gian, và thời gian không chạm nổi vào nó. Bởi vậy thí nghiệm thế tục hóa Kinh thánh muộn hơn sau này (mà khoa học gọi là phê phán lời tuyên bố) cũng thất bại. Phúc Âm là sự kiện sự sống, không mang tính chất lịch sử, không phải là hệ quả của lịch sử, mà đúng hơn làm ra lịch sử.
Thí nghiệm để thế tục hóa nó, chắc chắn đi vào ngõ cụt. Đấy là một thử nghiệm không có nền tảng tích cực, thuần túy chỉ là một thí nghiệm dân chủ, chống đẳng cấp, và điều này ngay cả sự sống trong trạng thái hư hoại cũng không chịu nổi. Sự thế tục hóa sau rốt cũng chỉ là một hành vi Pharisees (giả dối), xảy ra để con người buôn bán với cả Kinh thánh, và điều này cũng đã xảy ra.
Bằng cải cách, tôn giáo và chính trị bắt đầu tách đôi. Tôn giáo trở thành sự vụ riêng. Người ta tách việc riêng khỏi việc công như thế, tách việc bên trong ra từ việc bên ngoài, và từ đây bắt đầu (cái gọi là) hành vi cấm can thiệp vào công việc bên trong.
Con người cần phải nhìn quyền lực bên ngoài một cách bất lực nếu ở đấu đó một vụ thảm sát hoàn toàn là công việc nội bộ. Tất nhiên ai cũng thừa biết không hề có tôn giáo và chính trị, việc bên ngoài và việc nội bộ. Chỉ có sự phá vỡ sự sống và con người cần cố gắng hành động vì sự sống trong sạch, và đây là thước đo của tất cả mọi sự vụ, Nhưng vì không có Nhà Chung và không có quyền lực chính đáng của tinh thần, bởi vậy tất cả mọi hiệu lực đều có thể thâu tóm một cách tùy tiện.
104.
Sự khác biệt giữa Nhà Chung và giới giáo sĩ là cần duy trì Nhà Chung như một đẳng cấp tinh thần (brahman), còn giới giáo sĩ mang tính chất manh động, nghĩa là họ sống cuộc đời của đẳng cấp hiệp sĩ (ksatrija). Có thể, về nhân tố cơ bản mang tính chất quyết định này, hàng nghìn năm nay ở châu Âu, ngoài Origenes ra không hề ai có linh cảm.
Ai không là brahman, ai không sống cuộc đời tinh thần (nhận thức, trầm tư, nhận biết, tri thức, nghiên cứu, tư duy, phi-hành động) người ấy không biết rõ về ý nghĩa sau cùng của sự việc, còn kẻ chìm ngập trong các hành động (nghiệp), trong thời lịch sử, không nhìn ra, không bước khỏi thời gian, kẻ đó cần trở nên vô thức trong các sự việc và sẽ cứ tiếp tục như vậy.
Nhiệm vụ của giới giáo sĩ châu Âu luôn là cai trị, áp dụng luật, phục vụ chân lí (ở trần thế và trên trời!) chứ không phải duy trì một quan điểm phi-hành động. Bởi vậy ở châu Âu thí nghiệm lập ra một đẳng cấp tinh thần chưa hề xảy ra, và chính vì vậy luôn thiếu brahman, thiếu một tinh thần, nhận thức và tầm nhìn cao hơn, và họ vì vậy chỉ sống để phục vụ cho lịch sử. Giới hiệp sĩ cùng lắm đem lại lí tưởng, nhưng nhận thức sau cùng thì không, ví dụ Platon. Một đặc điểm cơ bản của lịch sử châu Âu cho đến tận ngày hôm nay là không có lấy một người biết thật sự cái gì đang xảy ra.
Từng có một vài thí nghiệm yếu ớt thử suy tưởng đối kháng với thứ tôn giáo-hành động. Đấy là thời của St. Victor, Richard và Hugo, đúng là chỉ diễn ra trong bầu không khí của tu viện, nhưng ít nhất họ đã thử thực hiện tầm nhìn phi-hành động. Tại đây, như thể một dạng nhập định tinh thần Kitô giáo bắt đầu hình thành.
Nhưng tương tự, trước tiên phải nói đến phong trào Soledad Tây Ban Nha ở thế kỉ XVII. Soledad bùng nổ như một bệnh dịch dưới ảnh hưởng của cuốn sách do Molinos, một thầy tu bình thường viết, rất có thể chịu ảnh hưởng từ người Do Thái hoặc từ Sufi. Molinos bị tống vào ngục và không bao giờ ra khỏi ngục tối của La Mã nữa.
Phong trào Soledad mang lại nhiều tín đồ, những người này sống phần lớn trong những hang động nhỏ trên bờ biển Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha, như các Lạt Ma Tây tạng hay các szannjaszin Ấn Độ, trong sự từ bỏ khó có thể tưởng tượng nổi, trong sự vô danh nghiêm khắc và sự phi-hành động.
Như một nạn dịch lớn dần, nhiều người từ bỏ công danh của một đời sống cao cấp, từ bỏ nền văn minh và học thức, một ngày quấn vải trắng (daroc) ẩn vào núi, và như các tin đồ Phật giáo, họ bắt đầu sống bằng khất thực.
Nhưng giới giáo sĩ chỉ bằng một từ ngữ duy nhất đã xóa hẳn phong trào Soledad, họ nói đây là chủ nghĩa vô vị mang tính chất tà giáo, ngày nay người ta bảo đây là sự trốn tránh trách nhiệm lao động trước xã hội. Các tổ chức quyền lực luôn biết rõ, chúng sẽ bị mất quyền lực trên đầu những kẻ sống trong hang.
Từ phong trào Soledad sức mạnh tính thần nào bùng nổ, có thể nhận thấy từ nhân vật Loyola gần như suốt cuộc đời dao động giữa rút về ẩn dật phi-hành động hay phục vụ cho phái Pharisees. Từ sự căng thẳng này sinh ra tư tưởng về một trật tự Jezus của (cái gọi là) chủ nghĩa Jezus đặc biệt chủ trương chống lại trạng thái phi-hành động, thậm chí manh động một cách cực đoan như một tổ chức chiến đấu-quân đội (tsatrija).
Thực chất (cái gọi là) chủ nghĩa Jezus này là một dạng hóa thân của chủ nghĩa Pharisess nhấn mạnh vào chủ nghĩa khủng bố, có thể nhận ra chân dung của các đảng phái chính trị trong cơ cấu của nó. Trong từng thời kỳ một, đây đúng ra là một tổ chức tội phạm hơn là gây chiến.
Điều mới trong tổ chức này - dù đã chinh phục cả thế giới - vẫn y như cũ: vì quyền lợi của giới giáo sĩ, tha bổng hành động trước tất cả mọi giới hạn đạo đức. Từ tổ chức mới này phái giáo sĩ tạo dựng một nền tảng mới (phản cải cách), và so với các tổ chức quyền lực trước kia giới giáo sĩ đã sử dụng tốt hơn hẳn chủ nghĩa Jezus vào mục đích quyền lực, bởi nó đã trở thành một công cụ trung thành mù quáng cho cả những ý đồ đen tối nhất.
Đại Pháp Quan - đại diện cho giới giáo sĩ - tiêu diệt phong trào Soledad đến cùng bằng những hình phạt bằng lửa-bằng sắt. Và như mọi lúc, những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội có thể quay sang hàng ngũ giáo sĩ, còn những người khác bị tống vào tù hoặc lên giàn thiêu. Nói một cách khác theo quy tắc của phái Pharisees-giáo sĩ, những hiện sinh trung thực bị loại bỏ, còn những kẻ giả dối nhận được các vị trí béo bở.
105.
Chiến thuật của phái Pharisees, những kẻ đạo đức giả đến tận ngày nay vẫn không thay đổi, bởi giới giáo sĩ vẫn tiếp tục sử dụng và chiến thuật này hiển nhiên trở thành sự thực hành quyền lực tự động.
Bởi vậy chủ nghĩa đạo đức giả và giới giáo sĩ chưa bao giờ xuất hiện thiếu sự gắn bó khăng khít với thực hành pháp luật quan liêu, bàn giấy đến như vậy. Họ không ưa thích sự đụng độ. ưu thế của các thực hành quyền lực tự động là có thể đơn giản hóa bất kì trường hợp nổi bật nào, có thể thanh toán tất cả một cách đơn giản không hề ai hay biết.
Sự tự động hóa thực hành quyền lực của giới giáo sĩ đạt tới đỉnh cao trước hết trong tổ chức Đại Pháp Quan, sau đó trong chủ nghĩa Jezus, chỉ trong trường hợp cuối cùng muốn đưa nạn nhân lên giàn thiêu, còn phần lớn chúng ưa thích nhà tù và việc quên hẳn nạn nhân trong đó.
Bộ máy hóa giáo dục, an ninh, quân đội, hành chính, trước hết ưu tiên cho đồng phục và các hành vi tập thể (bước đi trong cuộc diễu binh, các buổi mít tinh). Một quá trình bắt đầu trong một xã hội không có tâm linh, và các mối ouan hệ hữu cơ cũng bị phá vỡ, thay vào đó là các chức năng đã cơ giới hóa. Phái Pharisees và giới giáo sĩ coi tất cả các vấn đề sự sống là các vấn đề hành chính.
Họ mong mỏi nhất là bắt con người phục vụ cái hệ thống máy móc hóa hoạt dộng độc lập với con người. Nhưng cản trở chính lại là tôn giáo, là thứ họ từng tuyên bố, đứng ngáng đường họ. Cần phải thanh toán tôn giáo như một cản trở cơ bản trên con đường máy móc hóa mọi sự vật sự việc.
Đây là lịch sử Chống Kitô thứ ba với nền tảng hiện đại.
106.
Cảm hứng của Descartes không được coi là một trường phái, cũng không phải là một giả thuyết có ý thức và phủ trong mơ hồ, như luận lí pháp nói về tiên đề ẩn. Ý đồ trong giả thuyết của Descartes muốn xây dựng một hệ thống tư tưởng vì lợi ích quyền lực thế giới, để biến thực hành quyền lực trở nên dễ dàng hơn, đáng tin cậy hơn, giản dị hơn và vĩnh viễn.
Giả thuyết này cho rằng sự sống thực ra là một bộ máy hợp lí. Cơ giới hóa sự sống là một tư tưởng đã xuất hiện ở giới giáo sĩ thời trung cổ, nhưng lúc đó là một lí tưởng xây dựng trên rất nhiều niềm tin.
Nhưng các lí tưởng này đánh mất dần tác động của chúng, và như vậy hệ thống giáo sĩ rơi vào khủng hoảng, vấn đề giờ đây nổi lên như sau: sau sự thất bại của giới giáo sĩ quyền lực vững chắc và tất yếu có thể đứng vững nếu nền tảng của bộ máy duy lí.
Descartes xây dựng học thuyết về bộ máy này, và thứ lí thuyết này người ta gọi nó là chủ nghĩa duy K. Chủ nghĩa duy H không phải là phương pháp luận nhận thức như nó rêu rao về bản thân mà là nền tảng lí thuyết của thực hành quyền lực bá chủ toàn cầu được tạo ra từ hình mẫu của giới giáo sĩ.
107.
Chủ nghĩa duy lí không liên quan gì đến bộ não. Nhưng không phải không có lí do cho một giả thuyết, ẩn trong phạm trù não có một sức mạnh nào đấy xa lạ, đáng sợ và ma quỷ, có thể gọi là sự biểu lộ tinh thần ma quỷ (theo Klages).
Chủ nghĩa duy lí là một hệ thống lí thuyết nhân danh trí óc nhận thức, nhưng trong thực tế không phải nhận thức, mà là xây dựng một nền móng (fundmentum) dành cho sự thực hành quyền lực thế giới sau cùng. Chủ nghĩa duy lí định nghĩa quyền lực chính xác, đúng như những gì giới giáo sĩ và phái Pharisees đã làm, là lí thuyết che đậy sự dối trá-bạo lực-và sự bóc lột (theo Szabó Lajos), bởi vì như vậy còn có thể đề cao sự thật.
Bởi vậy chủ nghĩa duy lí không chỉ là sự phá hủy sự sống mà cùng lúc còn lừa dối sự sống. Quyền lực trong kế hoạch của nó không thay đổi, chủ nghĩa duy lí tiếp thu từ giới giáo sĩ nhưng đổi mới cơ cấu tổ chức đã lạc hậu của nó. Cơ cấu cơ giới hóa chân phúc lạc hậu thời trung cổ biến thành guồng máy được xây dựng một cách có ý thức, và đặc biệt chủ nhân của nó chú ý đến việc guồng máy này hãy trở nên khép kín và không thể chối bỏ.
Bằng điều này chủ nghĩa duy lí không hề soi tỏ sự phá hủy sự sống mà còn tăng nó lên gấp bội. Có một điều không nghi ngờ gì nữa là sự tồn tại của con người không hề sáng sủa hơn, chân thật hơn, nhân đạo hơn, trật tự hơn, mà trái lại đen tối hơn, căng thẳng hơn, vô nhân tính hơn, giả dối hơn, nói cách khác chủ nghĩa duy lí là một sự sống hư hoại có tổ chức, giống như chủ nghĩa Pharisees và giới giáo sĩ từng tồn tại, chỉ kĩ thuật sống của nó cao hơn một mức độ.
Khoa học được coi là đỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy lí. Chủ nghĩa duy lí trong khoa học tạo dựng ra một hệ thống không thể tránh khỏi, không thể bào chữa với dụng ý duy trì một chương trình phá hủy sự sống. Khoa học là bộ máy của chủ nghĩa duy lí kiểu Descartes, là thứ thông dịch mọi quá trình của sự sống ra ngôn ngữ của guồng máy.
108.
Cách tư duy của Descartes và từ toàn bộ góc độ của khoa học hiện đại có thể quay ngược lại từ một điểm duy nhất. Khoa học coi thế giới đang hiện hữu là hiện thực nguyên sơ. Điều này không thể tránh khỏi, bởi tất cả chúng ta đang sống trong cái thế gian này và hiện thực này tất yếu có hiệu lực đối với chúng ta. Nhưng nếu khoa học cũng là điều tất yếu không thể phủ nhận, bởi ai cũng biết thì không cần dạy, ai cũng thừa biết thế giới này là thế giới thứ hai, không phải thế giới nguyên sơ đầu tiên.
Trong con người luôn có ý thức về một thế giới nguyên sơ ban đầu (nền tảng cơ bản thời hoàng kim) và ngày hôm nay, tại đây có những hiện thực khác nhau trong bản chất của ý thức ấy. Điều quan trọng nhất là thế giới này cho dù không thể đạt tới và không thể thực hiện nổi, nhưng luôn ở thời hiện tại. Thế giới này không phải như một ý niệm lí tưởng mà như một sự đòi hỏi bắt buộc, không thể hòa giải, dựa vào chính bản thân sự sống người. Còn khoa học lại là một hệ thống làm tắt đi, khóa ý thức về thế giới này trong tất cả mọi con người, và sự nhầm lẫn từng bước của nó là coi điều này có thể tắt đi, khóa lại trong ý thức con người.
Từ quan điểm trên chủ nghĩa duy lí Descartes và khoa học có thể xác định bất cứ cái gì, nhưng đều vô hiệu. Nó chỉ nói ra một nửa sự vật, còn nửa kia nó im lặng. Bằng cách cố tình không nhắc đến sự thật còn nguyên vẹn của sự sống nguyên sơ và trật tự tuyệt đối, là thứ vẫn tồn tại nguyên vẹn trong hiện tại, như đã hiện thực hóa một thế gian hư hoại.
Tri thức siêu việt của con người một giây phút cũng không quên, rằng thế giới này, ở đây, hôm nay không phải là thiên nhiên duy nhất mà là một vũ trụ hư hoại tồn tại trong hậu quả một sự sống bị phá hủy, và con người không yên ổn trong đó, không biết và không thể yên ổn với ý nghĩ rằng cần chấp nhận thế gian như đang có này.
Bởi vậy ngay đến một con người hư hỏng nhất cũng không thể tin rằng thế gian này đang là một guồng máy, và hơn nữa, con người đang bị coi là một bộ máy và bị điều hành.
Khoa học đặt nhận thức hư hoại vào trọng tâm của nó, và gọi đấy là trí tuệ. Bởi vậy nó coi quyền lực cũng là trí tuệ hóa, cho dù quyền lực này nằm trên cái hiện thực tồn tại bởi hệ quả của sự phá vỡ sự sống, trên một thứ cần phải thanh toán, cần trả lại vị trí cho cội nguồn sự thật của sự sống.
109.
Tư duy hiện đại đã từ lâu chú ý tới quá trình cơ giới hóa sự hiện hữu, và giải thích bằng nhiều loại lí thuyết. Một trong những lí thuyết đó cho rằng guồng máy là hệ quả tuyệt đối hóa trí tuệ (không phải là nhận thức).
Nhưng tuyệt đối hóa trí tuệ xuất hiện từ sự phủ nhận bản chất tinh thần cá nhân của con người. Còn điều này đã xuất hiện khi nào, không thể biết, rất có thể trong buổi ban đầu của thời hiện đại, bởi vậy Guénon không gọi thời Phục hưng là thời phục sinh mà gọi là thời đại của sự thối rữa.
Nếu con người trong hiện sinh tâm lưới của nó ngập ngừng, do dự, chắc chắn nó phải trở thành nạn nhân của một sự phân vân nào đấy. Trong trường hợp này nó trở thành nạn nhân của thứ ánh sáng mù lòa của cái trí, và con quái vật của bộ máy vũ trụ được nghĩ ra “trong ảo tưởng của tri thức toàn trị”.
Sự phủ nhận tâm linh là việc không tuân thủ hiện thực hóa sự sống, là sự bỏ rơi hiện thực cơ bản, là sự thu hẹp hiện thực và sau cùng là thí nghiệm thử từ bỏ nhân tố quyết định. Bằng cái giá đã làm nghèo nàn hóa sự sống, guồng máy được dựng lên vẫn có khả năng hoạt động, nhưng chắc chắn bên trong nó giá trị nhân đạo không hề có, chính vì thế không có sự hiện hữu thật sự.
Đặc điểm không thể tránh khỏi của hệ thống - duy lí là không thể thiếu được chủ nghĩa huyền bí học. Chủ nghĩa duy lí và chủ nghĩa huyền bí học là hai phiên bản của cùng một loại hành vi, đấy là ineptia mysterij (sự vô cảm đối với siêu nhiên).
Sự vô cảm này càng có cường độ lớn bao nhiêu, cái bóng bao phủ của nó càng lớn bấy nhiêu. Định nghĩa sau cùng của hệ thống duy lí (khoa học) chính là chủ nghĩa duy vật, thực chất là một hệ thống mê tín huyền bí học.
Trong một quan điểm nhất định nào đấy chủ nghĩa guồng máy cũng là một dạng của chủ nghĩa huyền bí học. Guồng máy, về mặt kĩ thuật (robot, golem) về cơ cấu xã hội (cơ quan hành chính, quần đội, đảng phái, chủ nghĩa duy ý chí) không xuất phát từ con người thật sự mà từ các hình nộm người (humunculus).
110.
Người ta giả thiết trong thời kì của chủ nghĩa giáo sĩ, các thần linh thực hiện các hành động thiện nhiều hơn cần thiết để đạt tới chân phúc. Những hành động thiện thừa thãi này cũng được các giáo sĩ xếp cất đi, như cá đã ướp muối, để thưởng cho kẻ nào xứng đáng.
Đây là khe hở giữa ergon và pragma.
Sau này có thể chuộc các tội lỗi (luôn là các tội lỗi!) bằng cách con người có thể mua được từ các tu sĩ lang thang được giao phó những miếng giấy, tội ít thì trả tiền ít, tội nhiều thì trả tiền nhiều, và như vậy sẽ thoát hết mọi tội lỗi. Chân phúc là vấn đề tiền bạc. Tất cả đều thành mua bán. Chủ nghĩa giáo sĩ đến thế kỉ thứ mười lăm đã biến thành bộ máy tạo chân phúc, thứ có thể xóa bất cứ tội lỗi nào một cách tự động.
Có vẻ như bộ máy này đã chấm dứt hoạt động vào kỉ Ánh Sáng, cần một thời gian nữa để con người nhận ra: bộ máy ấy vẫn hoạt động có hiệu quả. Nhưng giờ đây không phải vấn đề phúc lạc nữa, mà toàn bộ đời sống đã bị cơ giới hóa.
Toàn bộ niềm tin cho rằng cả cái thế gian hiện hữu, linh hồn, đời sống, tôn giáo, tư tưởng thực chất chỉ là một guồng máy được cấu tạo duy nhất, khổng lồ, duy lí. Không cần thiết phải ghi lại những yếu tố không cơ giới có liên quan đến ỷ nghĩa của sự sống. Không cần thiết đến những nhân tố không chắc chắn. Thượng Đế, linh hồn, tự do ý chí sau cùng cũng không thể chứng minh nổi, Kant nói.
Sự hiện hữu của con người không do tinh thần hay tư tưởng và đến cả đời sống cũng không, chỉ cơ giới chỉ đạo. Trong guồng máy, bản thân con người cũng là bộ máy và là một bộ phận điều hành lớn hơn, không phải là một thực thể tâm linh nữa mà là một chức năng.
Không cần thiết nhắc đến đời sống tinh thần và linh hồn con người nữa mà sự hoàn thành các hành vi, ý đồ bên ngoài tự khắc đảm bảo cho sự hiện hữu. Toàn bộ những điều này cực kì duy lí. Vũ trụ là guồng máy lớn, nhân loại là guồng máy bé hơn trong đó, rồi trong đó con người lại là bộ máy bé nhất. Các bộ máy đồng bộ. Toàn bộ sự hiện hữu từ một phòng điều khiển nào đấy hoạt động theo kiểu bấm nút, tự thân. Giả thiết về một cá nhân điều khiển là một điều thừa.
111.
Một miêu tả quen thuộc về diện mạo Chống Kitô là hình ảnh Đại Pháp Quan-Tòa án Tôn giáo của Dosztojevszkji. Trong các truyện ngắn của Dosztojevszkij, Kristus xuất hiện một lần nữa trên trái đất bèn bị Đại Pháp Quan bỏ tù và kết án phải đưa lên giàn thiêu, nhưng đến đêm Đại Pháp Quan đến và đề nghị ngài hãy quay trở lại thiên đường và đừng có can thiệp vào công việc vốn không thể thay đổi của con người.
Miêu tả này được đúc kết từ tính chất của giới giáo sĩ thời trung cổ và chủ nghĩa duy lí, dù ngay trong thời của Dosztojevszkij cũng không hề hợp lí. Đại Pháp Quan vẫn còn mang tính chất cá nhân, hay vẫn là thực thể người, có nghĩa là còn có thể can thiệp. Nhưng Chống Kitô cá nhân đã từ lâu trở thành một guồng máy phi cá nhân.
Có thể, bộ máy hiện đại đầu tiên từng có là chủ nghĩa Jezus. Bộ máy là các xí nghiệp công nghiệp, cơ quan tiền tệ, chính quyền, nhà nước, quân đội, cơ quan hành chính, và dấu hiệu nhận biết của chúng là nuốt chửng nhân loại trong cái toàn bộ.
Cơ giới hóa xã hội không từ hình mẫu của một nhà máy, mà là sự thực hiện tư tưởng guồng máy của một sự sống kĩ thuật hiện đại. Guồng máy không là ảo tưởng, không phải là chủ nghĩa xã hội, cũng chẳng phải là chủ nghĩa phát xít, không phải chủ nghĩa cộng sản. Guồng máy đi trước tất cả, và tất cả những điều nói trên chỉ là sự thực hành guồng máy ở các dân tộc khác nhau và trong các hoàn cảnh lịch sử khác nhau.
Trong guồng máy không có quyền lực, bởi không có cả sự cai trị, sự phục vụ, một cơ cấu được dựng lên do một trí tuệ phi cá nhân chỉ có các bộ phận thực hiện các chức năng nhất định, vua, nhà độc tài, quân nhân, công nhân, nhà bác học, nghệ sĩ, nông dân hoặc nhà toán học.
Trong guồng máy không bao giờ còn ý chí, nhận thức, tác phẩm cuộc đời, ý đồ, cảm xúc, danh vọng, chỉ thuần túy sự sản xuất, nhân danh sự xóa sổ nhân loại (sự phá vỡ sự sống), bởi vì guồng máy là các mức độ đẩy đến mức tận cùng của sự phá vỡ sự sống tích cực.
Quyền lực khủng khiếp của Đại Pháp Quan-Tòa án Tôn Giáo vẫn còn chịu đựng được bởi con người còn đối mặt với một thực thể sống, một kẻ có thể gọi tên, dù hậu quả đến đâu, còn guồng máy không hề lên tiếng.
Đại Pháp Quan Chống Kitô của Dosztojevszkij là hành vi con người, còn guồng máy là một hệ thống độc lập với con người. Guồng máy không có sự thật của nó, còn con người cần phải có, dù không là sự thật cũng là sự giả dối của nó.
Trước guồng máy mọi từ ngữ của nhân loại vang lên trống rỗng, nuốt chửng cả phái Pharisees, giới giáo sĩ, Đại Pháp Quan, giàn thiêu, các nhà tù, các nhà nước, các dân tộc, tôn giáo, nghệ thuật, kẻ giàu, người nghèo, kẻ nắm quyền lực cũng như kẻ bị đè nén.
112.
Bộ mặt đầu tiên của Chống Kitô; chủ nghĩa Pharisees (đạo đức giả), sự tăng trưởng (làm giàu) của nhân gian khoác áo thành thật. Khuôn mặt thứ hai là giới giáo sĩ, bản năng quyền lực thế gian khoác áo tín điều tôn giáo. Bộ mặt thứ ba là guồng máy, hệ thống phá vỡ sự sống đội lốt trí tuệ phi cá nhân.
Trái ngược với chúng là sự phi tổ chức của các nhân tố tích cực của sự sống - các nhân tố tích cực càng cao hơn bao nhiêu càng khó tổ chức bấy nhiêu. Tình yêu thương là một tính chất phi tổ chức hoàn thiện nhất.
113.
Sự thống trị khủng khiếp của hệ thống phá vỡ sự sống đã hiện đại hóa bắt đầu vào cuối thế kỉ trước. Những biểu hiện của nó Kierkegaard, Dosztojevszkij, Szolovjov, Nietzsche đã ghi lại chính xác. Sự sống rối loạn ban đầu chỉ ở châu Âu, muộn hơn trên khắp trái đất nó đã đạt tới mức độ như một điềm báo trước, và ngày hôm nay, trong nửa sau của thế kỉ XX còn như một điềm báo trước khác, rằng đời sống con người ngoài những hành vi có hình thức như một guồng máy thuần túy ra, không còn mang một ý nghĩa gì hết.
Hệ thống này đã khóa lại mĩ mãn, lan ra đến tận chuyển động của các vì sao, các hiện tượng vật lí, đến toán học, các tế bào, các nguyên tử, đến tôn giáo, đến hành động của con người, đến các truyền thuyết, đến siêu hình học.
Sự giáo dục và dạy dỗ đã cơ giới hóa, công việc và thực hành hành chính, tư tưởng và tình cảm đặc biệt diễn ra trong guồng máy, và hậu quả tự thân của nó là sự đói khát ngày càng tăng về một cái gì đó đích thực, dù là tình dục hay chính trị, hay các hành động khủng bố chính trị, tội phạm hay một sự kiện kịch tính hoặc nạn nghiện ngập, miễn là thỏa mãn được cơn thèm khát.
Trong cái tỉ lệ của sự sống bị giảm dần, bị trương phình, bị giản lược, bị thu hẹp nhất là trong các đô thị, cơn mê sảng đặc thù của sự thèm khát sống hình thành từ sự tham lam và sự đồi trụy tha hóa bởi sự sống trong guồng máy, đã trở nên không thể chịu đựng nổi.
Vì không ai sống một cuộc đời riêng của mình nên cũng không ai đạt tới chính bản thân họ, trong con người nổi lên những cơn ham muốn tuyệt vọng khiến họ tức giận với chính mình và tranh đấu chống lại sự bảo tồn mình một cách quằn quại, và điều này khiến con người đánh mất hoàn toàn ý nghĩa của nó.
114.
Một điều trong nửa sau của thế kỉ XX ai cũng biết: chủ nghĩa Giáo sĩ mang tính chất tôn giáo thời trung cổ đã đảm bảo một sự sống có trật tự cao hơn cho con người, so với chủ nghĩa Giáo sĩ chính trị quan liêu duy lí.
Về bản chất thực ra không có gì thay đổi, bởi sự phá hủy sự sống lúc đó cũng như bây giờ phơi bày bản thân nó như một quyền lực tốt đẹp nhất. Trước cái mặt nạ sặc sỡ thời trung cổ, kể cả bị thôi miên đi chăng nữa nhưng vẫn còn có thể nhân danh một cái gì đấy.
Trước guồng máy, đến sự giả dối cũng không đạt được bất cứ điều gì. Hồi đó, ít nhất từng có tội lỗi, giàn thiêu và sự dối trá, giờ đây chỉ còn một giọng rên rỉ đơn điệu tiêu hóa sự sống, và được cả một hệ thống duy lí biến con người thành pho tượng và bảo vệ sự dửng dưng của nó.
115.
Sau khi con người một nghìn năm trăm năm sống dưới một quyền lực như vậy - một hệ thống chống lại sự thật (nhận thức), giờ đây nó sống dưới một quyền lực hệ thống thiếu sự thật (nhận thức). Trước kia có thể chết vì sự thật. Còn trong một hệ thống thờ ơ với sự thật không có cả đau khổ, và có nhà tù, còn cái chết thì vô nghĩa. Thời của Đại Pháp Quan cần bịt mũi để bước vào, còn giờ đây cần từ bỏ sự sống và đưa cả đời sống ra đổi lấy một mẩu tồn tại.
Trong cơn kích động giận giữ chống lại sự thật, con người vẫn có thể biết về sự thật của hiện hữu người, còn giờ đây sự thật về sự sống nếu còn chút ý nghĩa nào, cùng lắm chỉ còn là một sự bê bối và nực cười. Giữa trạng thái cướp giật, thảm hại, giả dối, bẩn thỉu không hề động chạm tới vận hành đơn điệu của guồng máy, cái xấu và cái tốt trong sự sống bị đóng băng, bị máy móc hóa, giữa tội lỗi và đức hạnh, chân lí và sự thật không có sự khác biệt.
116.
Khẩu hiệu đã từng xuất hiện là; sự thích nghi. Giờ đây không cần đến nữa. Không thể thích nghi với guồng máy, bởi không máy móc hóa nổi con người. Guồng máy duy trì một cái gì đấy mà một con người duy nhất trên trái đất cũng không chấp nhận, không biết chấp nhận. Một viễn tưởng vô hiệu lực với tất cả mọi người. Không ai thích nghi, không ai chấp nhận, không ai đảm đương, không thể, bởi không có. Thứ duy nhất không có này, là cái đang có.
117.
Trải qua hàng thế kỉ, theo dấu vết có thể thấy âm thanh của cô con gái nhà Trời trốn tránh như thế nào vào các phân tích ngữ nghĩa bác học (của Origenes) vào huyền học (của Dionüszios Areopagites, Eckhart, Rusybroek) vào toán học (của Cusanus, Pascal) vào thi ca, hội họa, âm nhạc, tiểu thuyết, triết học, và đã bị mờ nhạt và cô lập như thế nào.
Đôi khi có vẻ như sự xua đuổi vẫn còn ưa thích sự trong sạch của âm thanh. Nhưng rồi lan truyền đi một quan niệm cho rằng luôn chỉ có sự bẩn thỉu và dối trá mà thôi. Sau cùng, đến thế kỉ XX trong các đô thị, trong nền văn minh của những kẻ côn đồ, kẻ khủng bố và gái điếm, âm thanh giọng nói của cô con gái nhà Trời đã hoàn toàn im bặt, và biến mất hẳn vào những tín hiệu đứt đoạn xám xịt của guồng máy.
Âm thanh trở nên đích thực là âm thanh khách thể đã cơ giới hóa (khoa học), là tiếng động ồn ào, là âm thanh của các tổ chức đã hành chính hóa một cách trống rỗng, là giọng điệu của quảng cáo, điều hành, giọng của radio và máy ảnh-phi Nàng Thơ, như người Hi Lạp thường nói.
118.
Sau khi đã thành công phá hủy nhân loại bằng sự dối trá, bằng bạo lực, sự bóc lột và lừa đảo, bằng các cuộc chiến tranh, bằng máu đổ và sự nô lệ, nhưng vẫn chưa ở mức độ thỏa mãn, nửa sau của thế kỉ XX mở ra một khả năng hủy diệt thế gian và nhân loại bằng những lí tưởng ân sủng, bằng chủ nghĩa nhân đạo, bằng những mức sống cao và bằng tư tưởng hòa bình thế giới.
Phương pháp này của giới giáo sĩ tỏ ra có hiệu quả hơn.
Vladimir Szolovjov cho rằng sau thế kỉ XX đầy chiến tranh, thế kỉ XXI hòa bình nhân loại sẽ đạt tới điểm đỉnh của sự khủng hoảng. Trái đất từ lâu đã là một nhà nước duy nhất. Những trái ngược dân tộc, giống nòi và giai cấp đã biến mất. Thời gian làm việc mỗi ngày là bốn tiếng, không có người đói, ăn mày, người nghèo, rách rưới. Khả năng di chuyển vị trí vô hạn.
Mức sống cao và tiện nghi và nền giáo dục cao dành cho tất cả mọi người. Bình yên, thỏa mãn, đầy đường mật. Đời sống ngọt ngào đến mức không diễn tả nổi, ai ai cũng mỉm cười, và hòa bình cân bằng đến mức nhân loại chín mươi lăm phần trăm béo lên và đau thần kinh. Năm phần trăm còn lại tự tử.
Không phải vì bình yên và mức sống cao và nền giáo dục tốt, và vì không bao giờ còn nạn mù chữ, nạn dịch, chỉ còn thức ăn pha chế và đồ hộp tuyệt vời, hoa quả đóng chai. Tất cả thật hấp dẫn nhưng tuyệt đối không có gì đúng.
Nhân loại không chịu nổi sự bẩn thỉu này, nổi loạn và trong cuộc chiến đấu chống lại Chống Kitô, trận đánh quyết định đã xảy ra ở Armageddon.
119.
Bởi lịch sử trong khoảnh khắc này nhân danh Phúc Âm, mọi tổ chức đều bất thành, con người bắt buộc phải có một khả năng của nó: trong một Nhà Chung tồn tại nhưng không thực hiện hóa, là phép rửa tội của nhân loại dựng lên từ cuộc đời Chúa Jezus, một mình và đã cá nhân hóa - không phải ex catedra, mà là ex existentia transparente và ex orientationne universale (từ một hiện sinh được soi sáng và từ sự chỉ dẫn siêu việt), hay: ex existentia veritatis, từ bản chất của sự thật tồn tại nhân danh Phúc Âm, và đến một chữ cái duy nhất của từ này cũng không thể bỏ qua, dù trong bất kì môi trường nào.
Guồng máy trong toàn bộ là sự phá hủy sự sống. Trong khoảnh khắc này chúng ta không làm gì khác ngoài làm nhân chứng và trở thành nhân chứng cho guồng máy. Bài học này - làm nhân chứng ngày hôm nay là sự ủy quyền duy nhất, là khả năng duy nhất của một đời sống đích thực.
Hành vi trong bản chất của sự thật không có nghĩa rằng con người trở thành sự thật một cách đầy đủ, mà là cái con người nghĩ và làm, từ bản chất đã thanh tẩy và được soi sáng từ sự thật, không tính đến các hậu quả, hãy nghĩ, hãy nói và làm.
Và bởi điều này trong cộng đồng không thể, chỉ một cách cá nhân và trực tiếp có thể, đến chừng nào cộng đồng (NHÀ CHUNG) được thực hiện và phép rửa tội duy nhất chỉ có trong từng cá nhân con người. Kẻ nào phản bội lại sự thật này, kẻ đó là một hiện sinh Chống Kitô.
120.
Trong nửa sau của thế kỉ XX viễn cảnh lịch sử đã rõ hoàn toàn. Bởi hòa bình cũng có, chiến tranh cũng có, đúng hơn không hòa bình, chẳng chiến tranh, và bởi hiện thực hóa hiện thực trước mắt không hề có, trong trạng thái lưng chừng này sự ngưng trệ bắt buộc hình thành, nhưng cũng không bền vững, và không thể bền vững, bởi đặc thù của tình thế chính là bất cứ khoảnh khắc nào cũng đều bấp bênh, đều là vật cản không thể vượt qua.
Tất cả những gì đang có đều tạm thời, sắp chìm, không bền vững và may rủi. Đặc điểm của tình thế hiện nay không phải là cái đang có mà là cái không có. Có thể nói như sau, đặc trưng duy nhất của tình thế chúng ta là không có bất kì cái gì.
Một nỗi lo âu sợ hãi bắt buộc giữa hai, luôn luôn là hai. Bởi vậy sự cố gắng của con người đi về hướng, tự quây lấy cho mình một trạng thái bảo vệ tuyệt vọng, cố gìn giữ mức trung bình và cố giữ hoàn cảnh đang có như đang có. Chỉ không có gì mới. Không có gì, cái gọi là sự thay đổi, bởi đấy là một sự chấn động. Tốt nhất là chui rúc, hay nhất là ngậm miệng, như kinh Veda nói: “ăn một mình”.
Quyền lực đang huy động mọi sức mạnh của nó để đảm bảo vị thế hiện tại của nó. Nó không ngày càng bảo thủ hơn mà ngày càng manh động hơn. Tất nhiên sự manh động được đặt tên là sự tiến bộ, giống như hòa bình là chiến tranh và tự do nghĩa là sự phục vụ.
Giữa thế kỉ XX cố gắng duy nhất của mọi nhà nước là bảo vệ sự cân bằng ngày hôm nay bằng mọi giá, và đừng xua đuổi kẻ mà trên vị trí của nó muốn thay đổi theo bất kì hướng nào.
Thực chất đây là tính chất của thời trung cổ, là sự cứng nhắc của các lí thuyết, là trường học duy lí, là hệ thống đẳng cấp chỉ nghiêm khắc bên ngoài, là sự khủng bố hành chính, là tòa án tôn giáo-Đại Pháp Quan (còn được gọi là an ninh nhà nước), là mạng lưới các hệ thống phòng thủ phức tạp duy trì sự sợ hãi trước mọi biến đổi.
Kẻ mạnh hơn không phải kẻ manh động hơn, mà là kẻ sợ hãi nhiều hơn và phòng thủ thận trọng hơn. Ngoài điều này ra không có gì liên quan đến (cái gọi là) sự căng thẳng, mà là trạng thái hôn mê thì đúng hơn. Điều quan trọng nhất; hãy biết sợ.
Tất nhiên không có hoàn cảnh nào không phương cứu chữa, trừ một điều duy nhất, và dân chúng trên trái đất hi vọng, rằng điều này, ở đây, lúc này không phải chỉ là một điều này. Con người chưa bao giờ mang tính chất đạo đức giả nhiều hơn mức độ đạo đức giả mà phái Pharisees đại diện, và quyền lực chưa bao giờ bộc lộ tính chất tham vọng mạnh hơn tham vọng giới giáo sĩ đã từng có.
Những đại diện của hai phái này (Pharisess và giáo sĩ) là những kẻ đã phát triển sự minh bạch nguyên vẹn thành một thứ kĩ thuật giả hiệu, những kẻ phong cho mình tấm gương đạo đức trong khi đó vì một miếng xương gặm dở sẵn sàng quỳ xuống và van xin.
Còn có một loại người, kẻ sám hối trong lí tưởng, là kẻ cố tình đánh lạc hướng, hoặc sám hối trong hiện thực; Còn kẻ giả mạo sự sống là kẻ ra bộ chiến thắng, đây là một loại hiện sinh bốc mùi thỏa hiệp, bởi luôn cần có cớ để phạm tội, nhưng để trở nên hư hỏng, không ai cưỡng ép nó.
(Viết xong tại Tiszaalkonya
ngày 19 tháng Giêng năm 1963)