Minh Triết Thiêng Liêng Tập 3

Lượt đọc: 155 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
IV. Androgen
1.

Androgen là một từ Hi Lạp, có nghĩa là một sinh linh mang tính chất giống đực giống cái.

2.

Androgen không thể nhầm lẫn với hermaphroditus. Androgen là sự cân bằng của giống đực và giống cái trong một con người, và còn nhiều hơn thế nữa, bởi androgen còn có nghĩa là sinh linh và bản chất (essens và existens). Hermaphroditus (lưỡng tính) không phải không cân bằng, mà là không bình thường.

Androgen là sự thống nhất của hai giới tính, còn hermaphroditus là bẩm sinh méo mó của giới tính.

3.

Về androgen tất cả mọi truyền thống đều biết đến. Theo kinh Tora, Thượng Đế tạo ra con người từ hình ảnh của mình để thành đàn ông và đàn bà. Như vậy Thượng Đế là sinh linh giống đực giống cái, và con người đầu tiên cũng thế.

4.

Sankhija cho rằng trong sự sống thống nhất, sự phân biệt đầu tiên là tinh thần-đàn ông (purusa) và thiên nhiên-đàn bà (prakriti). Truyền thống Trung Hoa cũng dạy đúng như vậy, là sự việc tách ra đầu tiên giữa trời và đất, đây là đạo và đức, giống đực và giống cái, muộn hơn là dương và âm. Là tên của hoàng đế Trung Hoa, vị hoàng đế cai trị nhân danh sự thống nhất cổ, fu-mu, nghĩa là Phụ-mẫu.

5.

Tính chất hai giới tính của thế gian được ngôn ngữ gìn giữ bằng từ giống đực và giống cái. Giống đực và giống cái nói chung là tính chất của danh từ, nhưng có một thứ ngôn ngữ (semita) mà tính chất giới tính cũng nằm trong cả động từ, và từ ý nghĩa của nó ta biết người hành động là đàn ông hay đàn bà.

6.

Về nguồn gốc rất có thể lưỡng tính đã từng là androgen. Lưỡng tính là sự thoái hóa của androgen. Là sự vắng thiếu sức thu hút, giống như neutron trong vật lí. Cái chúng ta đặt tên là lưỡng tính thực ra là sự thiếu giới tính. Bởi vì trung lập (neutrális), không hiển thị điều gì, và thừa. Bởi vậy trong nhiều ngôn ngữ sự trung lập cũng biến mất.

Hướng của sinh linh mang giới tính đực cái mở ra cả về phía đực lẫn cái và kết hợp hai giới tính này lại. Còn lưỡng tính bị khóa lại đối với cả hai giới tính và vì thế tách hai giới tính. Nhưng tất cả đều cần tồn tại như một dạng giới tính, sự trung lập về giới tính là phi giới tính và chỉ có thể coi là một biểu hiện của sự sống bị hư hoại.

7.

Đực và cái thực ra không phải là một giới tính hoàn toàn, mà là sự vỡ đôi của MỘT vẹn toàn. Đực là một nửa giống và cái cũng là một nửa giống. Tên của sự vẹn toàn và cái toàn bộ là androgen. Sau sự phá vỡ, androgen bị chia theo tỉ lệ vàng, từ androgen, nửa nhiều hơn chia cho giống đực, nửa ít hơn cho giống cái. Điều này có nghĩa là tỉ lệ đàn ông đổi thành thực thể giống cái nhiều hơn so với đàn bà.

Nhưng cùng với sự tăng nhanh của sự sống bị hư hoại, tỉ lệ vàng cũng biến mất, trong một con người tỉ lệ giống đực và cái hoàn toàn vô chuẩn, và sự phá vỡ chuẩn này thất thường, ở mỗi người khác nhau. Giống đực và giống cái phù hợp lẫn nhau trở thành một hiện tượng bị khóa kín. Từ lúc ấy trở đi sự thống nhất lại của đực và cái trở thành nhiệm vụ sống của con người, và là một trong những nhiệm vụ lớn nhất và khó nhất trong mọi nhiệm vụ.

8.

“Sự sống trở nên hoàn hảo nếu trời và đất, tinh thần và thiên nhiên, thực thể tạo dựng và thực thể tiếp nhận ảnh hưởng lẫn nhau một cách qua lại, bởi vì lúc đó trật tự vĩnh cửu của vũ trụ thế gian được thực thi” (Khổng tử, trong phần bình luận về Kinh Dịch).

9.

Người ta hỏi Thượng Đế khi nào sẽ đạt đến sự toàn vẹn, Ngài trả lời: “khi hai thành một, khi không bao giờ đàn ông và đàn bà còn riêng rẽ, mà đã biến thành một và sẽ là một” (Lời truyền khẩu còn lại).

10.

Kabbala từng bình luận về chương nói về vườn Eden trong sách Sáng thế. Theo truyền thống Do Thái, chương này cũng giống như các chương khác: thật tội nghiệp cho kẻ nào giải thích văn bản này theo từng từ, và còn trăm lần tội nghiệp hơn cho kẻ nào giải thích văn bản này không theo nghĩa của từng từ.

Lời bình luận của kinh Kabbala trên như sau: trong hậu quả của sự phạm tội, đàn ông và đàn bà đã đánh mất tính chất thiên đường cội nguồn của mình. Tính chất đực và cái bị đứt. Nền tảng cơ bản của con người bị tan vỡ. Phần đàn bà bổ sung của đàn ông ở lại thiên đường và đàn ông nhận được Eva thay thế cho phần này. Phần đàn bà gốc là hohma, mà sau này phái Ngộ đạo gọi là Sophia.

Eva là sinh linh không mang tính chất gốc, chỉ là một phần bổ sung nên không được tạo dựng lên một cách vẹn toàn. Và thế là trong ý thức đàn ông nhớ mãi một kỉ niệm không thể xóa nhòa về một nửa đích thực không sống cùng họ. Phần này sống ở một nơi, như Böhme nói, trong sự sống hư hoại hôm nay chúng ta không bao giờ với tới, cũng như toàn bộ trật tự nguyên sơ, chân phúc, không bao giờ với tới.

Chân phúc là trật tự đời sống, và vì nó là cái đó nên sự thống nhất đực cái mới thực hiện được. Trên trần gian, đời sống dù có hư hoại đến đâu, dù chân phúc chỉ là một khoảnh khắc trôi đi, vẫn cần đến ít nhất hai con người, một đàn ông và một đàn bà.

11.

Tâm lí học hiện đại tiếp cận truyền thống trong phần nhắc đến một tư tưởng thời trung cổ, khi nói về anima, người đàn bà bổ sung có trong bản chất của mọi đàn ông.

Tâm lí học khi nói về anima cho rằng tất cả kinh nghiệm thu thập được về đàn bà của đàn ông được làm đậm đặc trong một bóng dáng duy nhất (mẹ, vợ, người tình, cô bé, người chị em, bạn gái, thiên thần phù hộ, phù thủy, nữ thần).

Anima là hiện thực tâm lí học lớn nhất của bản chất đàn ông, và không có một quá trình nào trong sự sống của đàn ông lại không do anima chỉ dẫn. Tất nhiên cái mà trong thời hiện đại đặt tên là anima không là gì khác, ngoài kỉ niệm và ý thức được gìn giữ về người đàn bà vườn Eden, nhưng không đồng nhất với toàn bộ những kinh nghiệm thu thập về đàn bà, mà là những kinh nghiệm méo mó thu thập trong một sự sống hư hoại, nhưng chỉ vậy thôi cũng đã là quyền lực lớn nhất của sự sống đàn ông, cũng như quyền lực lớn nhất của sự sống đàn bà là người đàn ông bổ sung cho bản chất của họ (animus).

Anima là người đàn bà gốc bị chìm đắm trong sự hư hoại của sự sống của thực thể-đàn ông, giống như animus là người đàn ông gốc bị chìm đắm trong sự hư hoại của sự sống của thực thể-đàn bà. Còn anima animus là thực thể bổ sung cho một nửa giới tính của con người, kẻ đã cùng con người giữ gìn và duy trì trạng thái androgen buổi ban đầu.

12.

Tâm lí học hiện đại linh cảm được một nhân tố cổ sau đây: điểm nhạy cảm nhất của sự sống người chính là sex (tình dục). Quyền lực của tình dục lớn hơn của trạng thái đói, là thứ mà khoa học hạn chế gộp cả đói và tình dục vào với nhau và gọi là các bản năng cơ bản (duy trì sự sống-duy trì nòi giống).

Nói về trạng thái đói chỉ đúng về nhân tố, nhưng không đúng sự thật, Đói là nhân tố của sự phụ thuộc phi cách giải quyết của con người, chỉ mang ý nghĩa là con người muốn duy trì bản thân, và điều này chỉ được thực hiện bằng sự sống hóa với các sức mạnh bên ngoài nó. Trạng thái đói không có đạo đức của nó, sự tỉnh táo của nó, không có hạnh phúc của nó, không có chân phúc của nó. Bởi vậy sự đói chỉ là đời sống, nhưng tình dục lại tồn tại trong vòng sự sống. Đói là trạng thái thiếu thốn khổ sở mang tính vật chất, còn tình dục nhiều hơn, là sự tồn tại phân mảnh (fragmentál).

13.

Hoàn toàn sẽ hiểu sai lệch về androgen, nếu kẻ nào cho rằng quá trình xã hội hóa động chạm tới mối quan hệ đàn ông-đàn bà. Androgen không tan ra trong tình yêu, hôn nhân hoặc tình bạn, mà luôn tồn tại bên trong con người. Androgen là tên gọi của một hiện thực kép ban đầu và cơ bản, là tên gọi của mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà trong đời sống xã hội người cụ thể, nó từng và sẽ là nền tảng của mối quan hệ đàn ông và đàn bà trong đời sống xã hội người cụ thể.

Nó là nền tảng của tất cả những gì song song, ma sát, đối kháng, cân bằng, căng thẳng, thu hút giữa hai giới tính. Androgen mang ý nghĩa là sự thống nhất nguyên sơ bên trong con người của hai giới tính, giống như trong thực vật hai giới tính tác động lẫn nhau, cùng nhau như một tổng thể.

14.

Hệ quả quan trọng nhất của việc trả lại vị trí cho nền tảng cơ bản là thực thể đực cái được hoàn tất. Nhưng không phải từ quan điểm sinh vật học và tâm lí học. Sự thống nhất của hai giới tính diễn ra trong vòng đặc thù của nó, chính là lĩnh vực tình dục, là thứ không thể nhầm lẫn với bất kì cái gì khác.

Điều kiện thống nhất của hai giới tính đực cái nguyên sơ là con người biết sống một đời sống thành công trong xã hội. Không có chuyện: thiếu cân bằng bên trong, số phận bên ngoài của con người lại có nề nếp. Hiện thực hóa androgen là nền tảng tồn tại của con người bình thường.

15.

Đói không có hiện thực kép; con người bị đói và thế giới của chất dinh dưỡng giống nhau. Cái không thể loại bỏ trong tình dục là thế giới của giống đực và giống cái khác nhau, nhưng chỉ trong hiện thực này có hai bộ mặt, và bộ mặt này không nhìn thấy bộ mặt kia.

Thuần túy chỉ là cực (polaritás), là hè-đông, bắc-nam, ngày-đêm, mặt trời-mặt trăng, lạnh-nóng, trên-dưới, thiên nhiên-tinh thần, bên phải-bên trái. Nếu cái này là đực, mọi giá cái kia phải là cái.

Đói là sự nhạy cảm trong bản thân đời sống, rằng đời sống không phải là sự sống, mà là sự thèm khát sống, sự đói sống - Berierde des Wesens - như Baader nói.

Còn tình dục, khát vọng được thỏa mãn của một dạng hình thức bị xé đôi luôn là sự phá vỡ màn đêm của sự sống, dù con người đạt tới sự thỏa mãn hay không, vẫn là sự đau khổ, khi thiếu, kể cả khi không thiếu, bởi sự thỏa mãn không hoàn toàn. Không có sự thỏa mãn hoàn toàn. Tình dục luôn đòi hỏi cái tuyệt đối, nó không chịu nổi sự tạm bợ hay giải pháp giả vờ.

16.

Những điều đau khổ nhiều nhất của con người ở tất cả mọi nơi và trong mọi thời gian đều vì tình dục, và nền văn minh càng cao, con người càng phát triển cao, sự đau khổ chịu đựng này càng lớn.

Từ sự thật, từ bệnh tật, từ sự đói rách cũng không làm con người trở nên khổ sở đến thế so với nỗi khổ sở vì tình dục. Điều duy nhất người ta có thể làm nổi ở châu Âu thời hiện đại là thử kìm hãm nhu cầu cội nguồn của nó, và cho rằng sự khổ sở tình dục nằm trong sự phi ức chế thú tính.

Khoa học - như nhiều điều khác - cũng tin rằng một hành vi, một sức khỏe bình thường phụ thuộc vào sự hoạt động cụ thể của quá trình mang tính động vật học. Tất nhiên điều này hoàn toàn sai.

Sự khổ sở tình dục từ đó đến nay không hề giảm bớt, thậm chí ngày càng tăng lên cùng với (cái gọi là) sự giải phóng tình dục. Trái ngược với sự hoạt động hoàn hảo của bộ máy sinh vật học, sự khổ sở vì tình dục phần lớn diễn ra trong thao tác tình dục của số đông con người.

Nhưng vì không có cách giải quyết vấn đề này nên duy nhất có một điều người ta đã thực hiện, là người ta nuôi dạy những kẻ ngu ngốc về dục tính, những kẻ tất nhiên vẫn còn nguyên mọi vướng mắc tình dục, nhưng cố gắng xóa bỏ ý thức của mình về sự nhạy cảm này, về ý thức sự sống của những khó khăn của mình.

Hàng triệu các tai họa tình dục không phải là sự bất thường sinh lí học, mà là hậu quả của thứ tình dục đã bị ma quỷ hóa, và sự thực hành của phi ức chế thú tính không hề chấm dứt, mà trong nhiều trường hợp còn không hề bị động tới. Sức khỏe không là gì khác ngoài sự trả lại vị trí của thực thể đực cái.

17.

Nỗi ám ảnh tình dục trong thời hiện đại so với mọi sự rối loạn (turba) mang tính chất xã hội, kinh tế và quyền lực, không còn nghi ngờ gì nữa, mang một tính chất quyết định và sâu sắc hơn nhiều.

Nỗi bất hạnh được dẫn ra do các bế tắc đời sống bên cạnh những thảm họa tình dục không thể tính được. Bởi tình dục không thể đặt dưới bất kì một tổ chức kiểu nào, không thể điều chỉnh, không thể bắt ép và hãm phanh bằng quyền lực.

Không phải bởi vì nó mang tính chất nguyên sơ mà bởi vì ngoài việc thực hiện quy luật sự sống chỉ một lần, duy nhất, một cách đặc thù, nó không muốn tiếp nhận bất cứ cái gì khác.

Người ta muốn bóp nghẹt hoặc làm sai lệch con đường đi của nó, sẽ giải phóng những sức mạnh địa ngục. Mục đích duy nhất không phải là sự hợp nhất về thể xác mà là việc trả lại vị trí thống nhất của hai nửa giới tính.

18.

Tinh thần có những đặc tính androgen. Nếu không là gì khác đi chăng nữa, vẫn tồn tại một nhân tố mà nguồn vĩnh cửu của tinh thần là hohma (Sophia), hay nói cách khác là người mẹ tinh thần (sự thông thái).

Nhưng về thứ tinh thần này chỉ nửa đàn ông của con người nhận biết, bởi Sophia (anima) chỉ sống trong phần đàn ông trong chúng ta. Đàn ông nhận ánh sáng của sự hiểu biết từ Sophia.

Từ Do Thái ruah, nghĩa là tinh thần, đôi khi là giống đực đôi khi là giống cái, như thể từ này là androgen. Nhưng tinh thần, đặc biệt là tinh thần như châu Âu đặt tên, thuộc thế giới tự nhiên.

Như Sankhja đã dạy: tinh thần (buddhi) là con đầu lòng của vũ nữ thế giới (prakriti). Tinh thần không phải là androgen.

Có vẻ như toàn bộ thiên nhiên mang tính chất nữ tính; tất cả, cái có thể cảm, có thể thấy và mang tính chất tích cực, tất cả, cái chúng ta kinh nghiệm được về nó và là cái có tên gọi. Toàn bộ thế giới mang tính chất nữ tính, là cái vô hình duy nhất, tận cùng, không thể nắm bắt, là cái từ trọng tâm thế giới thẩm thấu, chiếu sáng, thấu hiểu và sắp xếp cái toàn bộ.

19.

Pannwitz cho rằng, quy luật chính của sự sống là sự phân chia bất tận. Từ một thành hai, từ hai thành bốn. Đây là một hiện thực được nhân nhiều lên gấp bội mà chúng ta sống trong đó. Như thể bản thân tình dục vì thế mà có, để sự sống ngày càng giàu có hơn.

Androgen là chuyển động đối kháng với sự phân chia vô tận này. Từ bốn thành hai, từ hai thành một. Nhưng là sự tái hòa nhập (reintegracio), quay trở lại cái có một gốc rễ.

20.

Để con người thống nhất được tính đực và cái trong bản thân mình, trước hết ngay trong bản thân nó cần làm tan ra toàn bộ thế gian hiện hữu, các loài động vật và thực vật, các hạt nhân và các ngôi sao, lũ ma quỷ và các thiên thần, các tinh thần cùng các quyền lực, và mọi cái hiện hữu cần trở lại là chính mình, và bước sau cùng là hai giới tính trong một sự hiện hữu cần hòa tan vào với nhau.

21.

Thuật giả kim gìn giữ những thực hành cổ có liên quan đến việc trả lại vị trí cho androgen.

Trong sự thống nhất tận cùng của thuật giả kim, người ta biến việc luyện ra vàng, chính là việc xây dựng lên thời hoàng kim thành một hệ thống có ý thức và tiến hành từng bước, dấu vết của sự dạy dỗ này có thể bắt gặp ở Ai Cập, nhưng thực ra ở truyền thống nào cũng có thể thấy rõ (Trung Quốc, Ấn Độ, Orfika, Kabbala).

Tác phẩm quan trọng nhất của sự thực hành này là sự thanh tẩy, đặc biệt bằng sự giúp đỡ của lửa. Lửa này, ở Ấn Độ là tapasz, lửa của sự tự phủ định, ở nhóm Orfika là lửa của sự khổ hạnh, ở người Do Thái là sự nhịn ăn, cầu nguyện, tắm rửa, ở thời trung cổ là lửa thanh tẩy.

Vàng là ánh sáng chói ngời, là zohar, là bahhir, như người Do Thái thường nói. Sự sống vàng là thứ cần phải đạt tới.

22.

Kĩ thuật của thuật luyện vàng, là trong lửa (khổ hạnh, tapasz, tự phủ định) cần làm lên men giống đực và cái tự nhiên, cần phá vỡ, cần để nó hỏng, cần sấy khô, cần đốt cháy thành tro.

Đây là putrefactio với nhiều phương pháp của nó. Hai con đường quan trọng nhất là khô và ẩm ướt. Các kĩ thuật của thuật luyện vàng cần thực hành thường xuyên, không ngơi nghỉ và cần thẩm thấu tất cả.

Con người tự thực hành tác phẩm này trong bản thân mình một cách có ý thức, cái mà số phận (nhu cầu) trong đời sống của nó cũng thực hiện - và quả thật được thực hiện, khi xay mọi sự thừa thãi ra thành bột.

Nhưng putrefactio có ý thức và tỉnh táo xảy ra dưới sự giám sát của nhận thức người, và lúc đó sự đau khổ của nó có ý nghĩa và được soi sáng trong từng bước của quá trình. Khi số phận kết thúc, thật đau khổ, nhưng cần phải như thế; Gottes Mühlen mahlen langsam, aber trefflich klein (những máy xay của Thượng Đế xay từ từ, nhưng thành bụi, thành bụi hoàn toàn).

Trong quá trình thanh tẩy, đực và cái từ bỏ sự khổ sở, nỗi ám ảnh, vứt bỏ mọi hư hoại, soi sáng mọi tối tăm, xua đuổi mọi ma quỷ. Và như thể bước ra khỏi sự phi-tồn tại, chú rể lần đầu tiên gặp gỡ cô dâu, kẻ thật sự là một sự bổ sung đích thực và cội rễ của bản chất mình.

Đêm tân hôn này thuật luyện vàng gọi là conjunctio, cùng một nền tảng. Khi Sol (mặt trời, đực) và Luna (mặt trăng, cái) trùm phủ lẫn nhau. Conjunctio là cuộc hôn nhân giữa nhà vua (đàn ông) và hoàng hậu (đàn bà). Cuộc hôn nhân này là hình ảnh tượng trưng của androgen.

Kẻ trong bản thân nó khát vọng của conjunctio không bao giờ thức dậy, và kẻ không biết chút gì về đêm tân hôn này, kẻ đó trong tình dục mang tính chất động vật và trong bản chất chỉ là một nửa giới tính, trong sự sống là kẻ không trưởng thành và không toàn vẹn.

23.

Cái con người thật sự sống không phải là đời sống mà là ý niệm-bất tử riêng của nó. Nếu con người tưởng rằng - cũng như ngày nay người ta cho rằng -con người chỉ thuần túy sống một đời sống, không nhiều hơn và con người cũng không muốn cái sống khác, đây thực chất không phải đời sống mà chỉ là sự tồn tại như của các sinh vật sống khác.

Một đời sống trước hết cần biến thành một ý niệm để bản thân con người cần phải xây lên. Chỉ có thể sống bằng một cách: sống các mức độ cao hơn hiện thực ban đầu, sống một cái gì đó giàu có hơn, nhiều hơn, quý giá hơn hiện thực, nhất là nhiều cảm hứng hơn.

Không có một đời sống thuần túy trần trụi đối với con người. Đời sống cần chân phúc, cần như mật ngọt để có thể xứng đáng sống, nghĩa là cần phải trở thành bất tử, để con người hưởng đầy đủ dù chỉ là khoảnh khắc, đời sống cần vô tận và tận cùng để có thể nắm bắt.

Con người không mong muốn sống một đời sống, mà mong muốn sống một lí tưởng bất tử, và cho dù nó chỉ ước một đời sống trần trụi đi chăng nữa, điều này cũng chỉ thực hiện được trong cái ý thức về sự bất tử mà thôi.

24.

Về ý niệm của sự bất tử đàn ông không cần bàn nhiều. Những kim tự tháp, các môn siêu hình học, các đội quân chiến trận và các bản giao hưởng đã nói đủ về điều này. Luôn luôn có một cái gì đấy vượt thời gian, hoặc ít nhất mong muốn vượt thời gian. Cái kéo dài cuộc sống của thực thể người vào vô tận là cái còn lại như một cái TÔI DUY NHẤT.

Theo những người đã nhập định, con người đạt được sự giải thoát nếu biết chiến thắng hai đối kháng giới tính, biết phá vỡ hình thức của thế giới giác quan, làm cho nó trống rỗng và biết bước ra khỏi thời gian. Giải thoát chỉ có ý nghĩa như sau; loại bỏ sự lấp đầy thân xác và quay trở lại với sự sống nguyên khởi.

Cái người đàn ông sống, là tương đồng bị méo mó của giải thoát gốc, thay vì, nâng mình lên sự sống phi thời gian, họ sáng tạo và nâng cao tác phẩm nhưng không trong sự vô tận mà chỉ trong thời gian được kéo dài.

Bởi vì trong sự vô tận chỉ bản chất có vị trí, còn tác phẩm không có vị trí. Thay vì giải quyết hiện sinh của mình, họ tạo vật thể kỷ niệm cho riêng bản thân. Họ muốn đạt tới sự vĩnh cửu trong đài kỉ niệm (monumentum). Không xóa bỏ mọi dấu vết và cứu vớt bản thân, họ biến vào vật thể tự xây lên và bằng cách ấy muốn ở lại nơi đây một cách có dâu ấn.

25.

Ý niệm bất tử trong sự háo danh và tham vọng của đàn bà hoàn toàn ngược lại. Trái ngược với đàn ông, đàn bà lúc nào cũng là tự nhiên, cụ thể, gần gũi, nhạy, lúc nào cũng ở trong thời gian và trên thế gian. Sự bất tử của đàn bà nằm trong cái trôi qua. Cái tưởng như không thể lại xảy ra, cái vô lí và vô nghĩa, cái trở thành bất tử không ở trong tượng đài mà trong cây cỏ nở hoa, cái đến tối là hết, trong sự biến mất không bao giờ trở lại, trong một tia chớp duy nhất, trong cái chìm xuống và trôi đi.

Bởi vậy tất cả đều mang tính chất đàn bà, cái là bài ca và điệu nhảy, là hoa và quả, là món ăn và quần áo, là mùa và trạng thái, là cảm xúc và tư tưởng, là xã hội và thân thể. Là tất cả những cái sẽ biết mất không để lại dấu vết.

Vĩnh cửu và bất tử chính là nằm trong cái trôi đi; khi không thể giữ lại, khi luôn cụ thể và gần gũi, khi chỉ một lần và không bao giờ nữa, không thể lặp lại và giản dị, như bông tuyết bay trong không gian.

26.

Androgen là một sự hiện diện hai lần. Ở đây, chỉ khi nào cũng ở đó, và ở đó chỉ khi cũng ở đây. Và ở đây càng cụ thể, một lần, trong cái đang trôi đi, càng trong sự thường xuyên vĩnh cửu, phi thời gian. Sự siêu việt của cái sẽ mất. Khoảnh khắc vô tận.

Androgen cùng lúc biết sống trong sự vĩ đại như Pharao Echnaton, người xây dựng trật tự nhà nước thế gian từ siêu hình học của mình, để cái TÔI còn lại trong sự cao cả vĩnh cửu, và cùng lúc biết trở thành điệu nhảy trong khoảnh khắc tan ra của tia nắng chiều, trong sự tan biến của mình một cách đáng vinh danh và còn lại trong sự vô tận phi thời gian.

Đứng trong sự toàn vẹn của sự sống lúc này và bước vào hiện thực vĩnh cửu vô hạn bằng cách thật sự đang ở đây và đứng ở đây. Sự nỗ lực cố gắng của quyền lực tác phẩm được tạo dựng, cùng lúc chìm xuống khoảnh khắc tan rã ra. Hai ý tưởng của bất tử cùng lúc. Đàn bà không biết, cũng không muốn trở thành bất tử ở nơi khác, ngoài trong những dạng hình thức sẽ bị tan rã và trong thời gian, nhưng trong các buổi dạ hội, son phấn nhạt phai của họ cũng vĩnh cửu như đài tưởng niệm bằng đá nguyên khối.

Tại sao lăng mộ Taj Mahal (Ấn Độ) lại có thể còn lại lâu bền hơn giọng người đàn bà nằm dưới đó? Ý niệm của sự bất tử đàn bà là ở đây, trong tấm voan phủ mặt, bằng những trang sức kẹp trên tóc và trong đôi dép xăng đan, như một bức tượng cô gái Hi Lạp ở Leszbosz, có thể vĩnh cửu - và đúng là vĩnh cửu.

Không phải những giả thuyết trừu tượng hoặc những cây cột, không phải hệ thống và nhà nguyện. Không phải thần học. Không phải các bức bích họa. Vàng quý không vì đắt và không bị gỉ mà vì trên ngón tay, nó ấm áp và sáng lấp lánh một cách mềm mại.

27.

Ý niệm của sự bất tử đàn ông nằm trong kí ức, còn của đàn bà nằm trong sự quên lãng. Cả hai đặc tính này hoàn toàn có giá trị như nhau.

28.

Nền tảng lí tưởng bất tử của đàn ông là lịch sử, của đàn bà là truyền thuyết.

29.

Con người trong giới tính của nó sống một đời sống tổng quát và tuyệt đối.

30.

Cũng có thể nói tình dục là sự thể hiện, là lời tuyên bố của bản năng bất tử của con người. Tình dục mạnh, bản năng bất tử mạnh. Bản năng bất tử mạnh, tình dục mạnh.

Bởi vậy tôn giáo trong những mức độ nhất định nào đấy hòa làm một với Eros-tình yêu và Eros trong mức độ nhất định nào đấy hòa làm một với tôn giáo (tham khảo thêm thần học thời trung cổ, Thánh Teréz, Thánh Giăng Baptic, Bhakti-jog, Sufi).

31.

Sự hợp nhất không nhân danh sự sinh sôi đông đảo hóa, mà là sự thực hiện trong một khoảnh khắc duy nhất của androgen và là sự trả lại vị trí của sự toàn vẹn người.

32.

Trong khoảnh khắc hợp nhất không phải sinh con là mục đích trong con người, mà đấy là quá trình hiện thực hóa sự thống nhất đực cái.

33.

Sự hợp nhất phần lớn xảy ra bằng các ý tưởng bất tử phân tán, bởi vậy các ý tưởng này không gặp nhau, bởi vì trong mờ mịt của sự hư hoại chúng không nhìn thấy nhau. Cái chúng nhìn thấy là các con vật.

34.

Trong sự hiện diện của đàn bà đích thực, các sự vật xa nhất cùng lúc cũng trở nên gần gũi và có thể tiếp cận. Trong sự hiện diện của đàn ông đích thực, các sự vật khó hiểu nhất cũng trở nên sáng rõ và dễ hiểu.

35.

Đàn bà trong giới tính của mình biết sống một hiện sinh hoàn toàn, còn đàn ông luôn cần thêm một cái gì đấy, luôn cần đạt tới một cái gì cái cao hơn bản thân nó để trở nên hoàn toàn.

36.

Kabbala viết: một cách trực tiếp, ngay sau sự đổ vỡ ban đầu, khi kí ức về sự sống vườn Eden vẫn còn sống động, đực bằng sự phóng rọi của tư tưởng đã thụ tinh cho cái. Bằng các tư tưởng chúng tác động lẫn nhau và từ sự tác động qua lại này giống cái thở ra đứa con. Đứa trẻ như một linh hồn bước vào thế gian và tụ vào thân xác ở đây.

Muộn hơn, điều này không đủ, đàn ông cần nhìn thấy đàn bà và từ các tia nhìn này đàn bà mang thai. Muộn hơn nữa cần phải nói với nhau và đàn bà thụ thai bằng lời nói của đàn ông. Muộn hơn nữa, cần phải đụng chạm nhau. Muộn hơn nữa cần phải ôm nhau. Chỉ một sự hư hoại cần đến mức độ sâu hơn nữa của nó mới để đàn ông và đàn bà hợp nhất với nhau một cách thô bạo như vậy.

37.

Đặc tính của hoạt động mang tính chất người trong toàn bộ và trong từng phần đều do ý niệm bất tử quy định. Hoạt động của đàn ông; trở thành bất tử trong động lượng tịnh tiến (momentum); hoạt động của đàn bà: trở thành bất tử trong sự trôi qua ngắn ngủi. Cả hai đều có mục đích và một cái gì đó của minh, cái bên ngoài họ và cái họ muốn đạt tới.

Androgen không có mục đích, nhưng có ý nghĩa. Đây là một nhận thức vô mục đích và tự do, cái mang tầm quan trọng ngay trong bản thân nó; trò chơi. Ai, một lúc nào đó thật sự hiểu tồn tại là gì, đều hiểu ra, đó là trò chơi. Vedanta, Trang tử, Heraklaitos, Kabbala, Böhme, Nietzsche. Trò chơi là một hoạt động, là cái còn lại trong bản thân nó và làm cạn kiệt, sử dụng hết sự tồn tại trong toàn bộ, không để lại dấu vết (công việc là một trò chơi hư hoại).

38.

Trong lời nói các nguyên tố mang tính đàn ông và đàn bà ảnh hưởng, tương tác lẫn nhau. Đàn ông trong lời nói cố gắng xây dựng về mặt ngôn ngữ học một cách tự do điều muốn nói, lí tưởng của họ là câu có hình thức logic, một tác phẩm tự biện có quá trình liên kết và có nghĩa, bởi vậy phần lớn họ đến được nơi họ muốn đến.

Tất cả những điều này không phải là tiêu chí trong lời nói của đàn bà. Với đàn bà cái quan trọng là sự hiện diện trong khoảnh khắc. Bởi vậy không có ý nghĩa, khi lời nói của đàn bà phi logic và không mang tính chất ngữ học, cho dù họ nói chuyện tào lao không mục đích, bị đứt đoạn bằng nước mắt hoặc bằng tiếng cười.

Mục đích của đàn bà là sự xuất hiện: trong giọng nói, trong bộ điệu. Bởi vậy họ không có nhu cầu đi đến nơi nào đấy, và không có nơi để đến - chỉ cất cánh tung bay và họ như pháo hoa. Trên một logic hạn chế.

Sự bất tử nằm trong tác phẩm ngôn ngữ hình thành một cách logic và sự bất tử nằm trong khoảnh khắc rạng ngời của sự sống hiện tại.

39.

Trong đời người đàn ông hoặc đàn bà không biết về androgen, không biết rằng hai giới tính thực ra là một, với kẻ ấy sự hợp nhất thật sự không thể có.

40.

Bậc thang đầu tiên của sự thực hiện androgen, khi đàn ông lấy lại đàn bà vào bản thân mình, trả lại vị trí gánh chịu trách nhiệm, bao phủ bảo vệ, lo lắng cho đàn bà, còn đàn bà quay trở lại vào đàn ông và trưởng thành từ đấy, bình an, nở hoa và hoàn thiện mình và từ bản thân mình mở rộng một tâm trạng vàng và hòa tan vào tình cảm thân mật. Đây không là gì khác mà chính là cái biết cho từ sự trực tiếp của đời sống, các món ăn ngon, nhà cửa đẹp và hòa bình trong sạch (Chân phúc).

41.

Androgen không thể hiện thực hóa nếu hai con người không nhận ra nhau. Nhận ra chỉ có nghĩa chừng này: tách rời. Nếu sự tách rời không xảy ra, không thể xảy ra sự hợp nhất. Ngộ nhận lẫn nhau. Bắt đầu một sự khúc xạ không kết thúc, người nọ chiếu mình vào người kia và nhận lại, rồi lại rọi chiếu đi, rồi lại nhận lại. Kẻ có lỗi tất nhiên bao giờ cũng là kẻ kia.

Tâm lí học là sự bắt đầu, sự trách móc, bản án, đổ trách nhiệm; lại chiếu rọi một lần nữa, lại nhận lại lần nữa, những bùng nổ tuyệt vọng, bất hòa, dối trá, thuốc độc, trả thù, thái độ, sự bực tức, mê cung; đánh mất người khác, đánh mất bản thân, đánh mất bản chất, đánh mất sự bất tử.

42.

Như thể sự bất tử đàn ông nằm trong đàn bà, sự bất tử đàn bà nằm trong đàn ông, như thể không vì nhau mà vì sự bất tử của lẫn nhau mà họ sống. Như thể ghen tuông là nỗi lo sợ rằng kẻ này đùa giỡn với sự bất tử của kẻ kia.

43.

Đàn ông mang theo mình chân phúc, đàn bà mang theo mình cái chỉ ở đây và ngay bây giờ, có thể thực hiện được trong đời sống này.

44.

Androgen trong mọi dạng thức, ở mọi nơi và trong mọi thời gian đều có dấu ấn của nó, và hai nửa trong mọi sự thống nhất luôn cần hiện diện. Conjunctio của Sol (Mặt Trời) và Luna (Mặt Trăng) là một nền tảng không thể bỏ qua, tồn tại trong siêu hình học, trong các thể chế, trong các lí tưởng, các phụng thờ, thế nào cũng được, nhưng cần phải có ở đâu đó.

Ở Ấn Độ đấy là atman, khái niệm của cái TÔI tuyệt đối. Ở Trung Quốc đấy là nhịp điệu vĩnh cửu của dương và âm; ở thời trung cổ người mẹ của thần linh giống như vai trò trung gian giữa trời và đất; trong các nền dân chủ hiện đại là sự bình đẳng giữa nam và nữ.

Thiếu hình ảnh tượng trưng của cuộc hôn nhân giữa Sol và Luna không có đời sống con người.

45.

Không chỉ tồn tại các thực thể mang giới tính đực và cái, và giới tính đực-cái không chỉ xuất hiện trong ngôn ngữ của chúng ta. Các sự vật cũng có giới tính của chúng. Các dân tộc man rợ phân biệt cung tên, dây xích, dao, cái cọc - các đồ vật có giới tính đực với nồi niêu, túi, cái địu - các đồ vật có giới tính cái.

Không có gì lại không mang giới tính của nó. Bachofen cho rằng có những nền văn minh giống đực và những nền văn minh giống cái, và trước thời kì (gọi là) lịch sử ở đâu đâu chế độ mẫu hệ cổ (matriarchatus) cũng chiếm lĩnh trước khi có nền văn minh đàn ông hiện đại (patriarchatus).

Lí thuyết này không vững lắm. Nhưng điều chắc chắn, Bachofen đã mở mắt cho con người về đặc điểm giới tính của sự chung sống và từ đó tới nay sự phân biệt giữa patriarchatus matriarchatus đã trở nên bắt buộc.

Về trật tự sống của androgen, cả Bachofen lẫn bất kì ai đều chưa hề nói đến, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, dù nở ra trong dạng hình bị phai mờ đến đâu một nền văn minh như vậy cũng vẫn còn lại dấu ấn của nó.

46.

Một điểm chung trong nền văn minh phụ hệ (patriarchatus) chủ gia đình là người cha, cho nên tên và của cải sẽ tiếp tục truyền cho con trai. Trong trật tự đời sống này pháp luật quy định tình dục, và mục đích hành chính hóa hôn nhân cũng là sự hãm phanh bản năng. Biểu tượng của nền văn minh này là mặt trời (trật tự sống Solaris). Đối ngược với thiên nhiên là sự duy trì quyền lực của tinh thần. Đàn bà ở vị trí phụ.

Trong trật tự đời sống mẫu hệ (matriarchatus) thừa hưởng gia sản rơi vào nhánh con gái trong gia đình, hình ảnh tượng trưng của nó là mặt trăng, các bản năng thiên nhiên tự do, chủ gia đình là người mẹ và đàn ông sống trong vị trí phụ.

47.

Trong chế độ mẫu hệ cổ - Bchofen cho biết sự hợp nhất với “con rồng của dòng xoáy đen tối (với giống đực) là sự bắt buộc và khổ sờ đối với đàn bà. Sự sống trong đàn bà chỉ là khoảnh khắc, là sự tan rã ngắn ngủi. Đàn bà sống trong ý thức này và nếu sinh ra linh hồn là sinh ra cho sự trôi qua ngắn ngủi và cho cái chết. Tốt nhất là không để sinh ra các linh hồn.

Sự chuyển hóa vào cái bất tử xảy ra bằng sự soi sáng tinh thần của đàn ông. Sự hợp nhất trong trật tự ánh sáng của tinh thần trở nên hợp lệ và sau cùng, là nơi không có sự tuyệt vọng nữa mà chỉ còn niềm vui và sự bình an.

48.

Các biến động của trật tự sống phụ hệ và mẫu hệ là tôn giáo cha và tôn giáo mẹ. Tôn giáo cha trước tiên là người Do Thái. Quyền lực không thể tránh khỏi và vô điều kiện có tác động trên thế gian là người đàn ông duy nhất, là vị thần cha.

Đây là một tổ chức quyền lực chính mà sự tương đồng của nó chính là toàn bộ cộng đồng và gia đình. Sống trong tôn giáo cha này, dù mờ nhạt đi chăng nữa vẫn là Bizanc. Tôn giáo cha cũng thực hành ở nước Nga, nơi quyền lực vô điều kiện và có một không hai đã cá nhân hóa vào vai trò của Sa hoàng.

Một tôn giáo cha như thế nữa là chủ nghĩa Mohamet thừa nhận duy nhất một thẩm quyền trời và đất là Thượng Đế và nhà tiên tri. Đấy là các quyền lực trừu tượng và nóng nảy, bạo chúa, với cấu trúc hình học, với đạo đức nghiêm khắc và các thực hành quyền thế tập trung, khép kín.

Đàn ông có ưu thế, nhất là người già. Trật tự sống là sự chống lại tự nhiên, không chịu nổi chủ nghĩa cá nhân, ưa thích những gì là đạo luật và đạo đức, là nội quy và chính thống, là cái tuyệt đối và là luật lệ. Tôn giáo duy nhất một cuốn sách (Tora, Koran, Kinh thánh).

Còn tôn giáo mẹ trước hết sống trong truyền thuyết, đa thần, nhà là thiên nhiên, không chịu nổi quyền lực tập trung, không ưa thích cả nhà nước, càng không ưa thích nhận thức trí tuệ, ưa thích dân chủ hơn, nhưng tôn giáo mẹ sẵn lòng nhất là sống trong đẳng cấp.

Các nhà thờ tuyên dương tôn giáo cha là nhà thờ Thanh giáo, còn nhà thờ tôn giáo mẹ đầy rẫy tranh ảnh tượng, các trang trí và nến. Tôn giáo mẹ ưa thích một đời sống giàu có và bè bạn đa sắc màu, nhiều sách vở, nhạc, nhà hát, anh hùng ca và khiêu dâm, tự do cá nhân và sự ngây ngất của cảm xúc.

49.

Không còn nghi ngờ gì nữa, châu Âu từ khoảng thời gian sau Orpheus của Hi Lạp cho đến tận ngày hôm nay vẫn tiếp tục là tôn giáo mẹ. Tôn giáo mẹ có ba thời đại rực rỡ, một là chủ nghĩa Hi Lạp hóa, hai là thời Phục hưng và ba là thế kỉ mười tám-mười chín.

Con người châu Âu có khuynh hướng chỉ chấp nhận trật tự sống có nguồn gốc của nền văn minh mẫu hệ, và cũng chỉ coi là văn minh nơi nào con người sống trong sự đa dạng của nhiều sắc màu, nơi tôn giáo hòa tan vào truyền thuyết, nơi nghệ thuật phát triển và nơi các cuộc cạnh tranh biến đời sống xã hội thành sự giật gân.

Nơi cộng đồng phân chia tầng lớp và nhiều sắc thái. Nhưng không theo đẳng cấp mà theo dân chủ. Phân chia lao động theo chuyên ngành. Các thành phố được xây dựng lên với các ngôi nhà đủ tiện nghi. Công nghiệp và thương nghiệp phát triển. Trong nhà nước các lí thuyết là phụ, quan trọng là sự sung túc. Nhà hát, các buổi biểu diễn mốt, nhà thờ, dạ hội, nghi lễ tang. Nhiều tranh hội họa, nhiều thơ ca, tiểu thuyết, xiếc và các ngân hàng.

50.

Di sản Hi Lạp trong buổi bình minh của châu Âu bao phủ trong sự mơ hồ đẳng cấp, có thể trong một thời gian ngắn, gần như phi dấu vết, nhưng trong mọi trường hợp đều nằm ngoài lịch sử, chỉ tồn tại nhân danh androgen từng phân, giống như Ấn Độ và Trung Quốc thời cổ.

Tất cả, cái bắt nguồn từ thời gian ấy, và cái có nền tảng trong thời gian ấy đều cho thấy Orpheus xây dựng nên trật tự sống một cách có ý thức trên các mức độ tuyệt đối của sự tồn tại. Orfika không ấu trĩ, non nớt và còi cọc, nhất là đây không phải thứ tinh thần nguyên thủy, mà là một tri thức chín muồi có tầm vóc phổ quát về sự sống.

Điều này có minh chứng, trước hết là thần số học Orfika và hình học dựa trên thần học. Nhưng không có gì lớn hơn bằng siêu hình học về MỘT. Điêu khắc, kiến trúc và các mức độ của thi ca Hi Lạp, các bi kịch và các thờ phụng (Olimpia, Iszthmosz) đã chứng minh điều này.

Cái Orfika chỉ ra nguồn gốc là tính chất đặc trưng đã cô đọng hóa, chính xác, kỉ luật hóa, nhưng tự nhiên, không chút dấu vết nào của sự gò ép. Tất cả ở đúng chỗ của nó. Cái chỉ dẫn đến nguồn gốc có thể nhìn thấy đều trên nền tảng của Orfika, là sự minh bạch tận cùng thuần túy của thể thống nhất Mặt trời-Mặt trăng.

Theo Bachofen, di sản Hi Lạp không phải Dionüsos và Apollon, nhưng cũng không nhân danh sự căng thẳng kép mà đứng vững trong tỉ lệ tuyệt đối, nơi xúc cảm và nhận thức, đời sống và sự sống, đực và cái, thiên nhiên và tinh thần được cân bằng hóa. Orfika là sự thực hiện mức độ này và đây là cái mà “trái ngược của tất cả những gì sau này người ta gọi là chủ nghĩa hellenizmus - chủ nghĩa Hi Lạp hóa” (Bachofen).

51.

Từ cái thế giới mà Orfika tạo dựng, chỉ cần đề cao một từ để con người có thể hiểu những mức độ và tỉ lệ đã được thực hiện ra sao. Những từ Hi Lạp lớn lao, như logo, kozmos, idea, daimon, éthos và các từ trực tiếp khác như sự trực tiếp của các bức tượng, thẩm thấu đẫm chất liệu đời sống; trong suốt như đá quý đan xen các đường mạch máu như các cơ thể sống.

Một từ như vậy: psyché -con người linh hồn. Một từ được so sánh sát nghĩa với từ anima (hồn) và spiritus (thần linh), tiếng Do Thái là nefes, ruah, nesamah, tiếng Phạn là buddhi, manas, -prana, và những từ của các ngôn ngữ châu Âu sau này ( soul, Seele, âme ).

Trong từ psziché của Orfika không thể thiếu từ eros . Trong bản thân nó ở ranh giới giữa sự sống và phi-sự sống là một giấc ngủ thiu thiu, nhưng thiếu eros là điều không thể tưởng tượng nổi, eros sáng lấp lánh trong đó. Cả hai chỉ có thể cùng nhau. Cùng nhau là một.

Psyché là chất nữ tính được soi rọi bằng lửa của giống cái ở chức phẩm cao nhất, là androgen, là thứ trong đó đực và cái sống trong conjunctio (sự kết hợp) không thể tách rời, một cách như trong thực vật và trong sự tuyệt đối.

Con người trong psyché mang theo hình ảnh cổ của bản thân nó, và ở thế gian bên ngoài, nó chỉ nghỉ ngơi và bình tâm ở nơi cái psyché này biểu hiện. Trong Orfika nó là nhà thơ, thi phẩm, hình học và các bức tượng, tất cả đều là psyché hóa thân, và còn hơn thế.

Nó tỏa sáng để cả thế gian bao phủ bằng psyché -linh hồn người, và còn hơn thế nữa. Psyché -linh hồn người, là thứ duy nhất con người mang theo mình, như mang theo nội dung, bản thể cô đặc của đời sống, và hít hương vị đời sống vào chính bản thân mình.

52.

Tâm lí học hiện đại, khi cho rằng đời sống của linh hồn không là gì khác ngoài eros (tình yêu), đã nói đúng, nhưng sự thật này tâm lí học hiện đại đã khái niệm hóa ở mức độ thấp và thô thiển, khiến con người bị ghê tởm.

Người Trung Quốc tuyên bố: con người chỉ có nghĩa như sau: là kẻ yêu người khác. Hay nói theo truyền thống Kitô giáo, ai không sống theo tình yêu thương của Phúc Âm, đời sống của kẻ đó không đạt được gì hết.

53.

Đối tượng của các nhà tư tưởng Hi Lạp đầu tiên chỉ là phüsis (thiên nhiên). Nhưng thứ thiên nhiên này không được phép nhầm lẫn với khái niệm thiên nhiên sau này người ta dùng ở châu Âu. Thiên nhiên của thế kỉ XVIII vẫn được coi như có họ hàng với Hi Lạp gốc, nhất là ở các nhân vật tỉnh táo và trong sạch như Helvetius và Goethe.

Thiên nhiên, luôn ở hình thức đã hoàn thành và đang có ( Form, die lebend sich entwickelt ). Trong thế kỉ XIX, khái niệm thiên nhiên - như mọi khái niệm sự sống quan trọng - biến thành hiện tượng mang nội dung guồng máy, và như một sự nhầm lẫn hoàn toàn.

Từ phüsis có nguồn gốc Hi Lạp gần như giống hoàn toàn với từ prskriti của Ấn Độ. Prakriti là đối cực của tinh thần giống đực ( purusa ). Prȧkriti là vũ nữ mê hoặc của thế gian, là chính bản thân thiên nhiên. Thiên nhiên, nơi chúng ta sống và nơi ta đang có trong đó, chưa bao giờ được coi như một sinh linh hiểu biết và tỉnh táo, thiên nhiên tự tại được coi là hiện thực đầu tiên.

Những điều như vậy chỉ là đặc thù của những thời đại muộn hơn, mang tính chất ngụy biện, như là kinh nghiệm, cảm xúc, ưu thế của chủ nghĩa duy vật luôn là đặc điểm của những con người và những thời đại mệt mỏi.

Thiên nhiên là thứ đáng ngạc nhiên. Là thứ con người ngạc nhiên vì nó. Còn cái tự tại có thể hiểu được của nó và cái là hiện thực nguyên sơ dành cho con người là cái vô hình, là tính thần, là sự tỉnh táo, là con số, là mức độ.

Giống như cái tự tại có thể hiểu được chính là Thượng Đế, còn các thời đại hư hỏng và ngụy biện là đặc điểm của chủ nghĩa vô thần.

Đối với Parmenides và Xenophanes và Anaximandros vấn đề không phải là tinh thần, sự tỉnh táo và trật tự có như thế nào, mà là sự thay đổi, ảo ảnh, mạng lưới sự rối loạn, sự tha hóa, sự mờ mịt, sự lầm lẫn có thể như thế nào, hay nói cách khác thiên nhiên có thể như thế nào.

Phüsis là một thiên nhiên tuyệt đẹp, mê hoặc. Nghĩa là có một sự sống tuyệt đối, liên tục, đầy ánh sáng, có ở xung quanh chúng ta một cách bí ẩn, đây là sự thấp thỏm không thể tin được, đây là sự mong manh không thể hiểu nổi.

Câu hỏi luôn là, nếu có một hiện thực tinh thần (tiếng Ấn Độ gọi là Atman), làm sao cùng lúc có thể có ảo ảnh (maja).

Ở Platon cũng đúng như vậy: nếu có sự hiện hữu phi thời gian, thế giới của các ý niệm, làm sao lại có thể có cả một thế giới giả bộ mang tính cảm giác, mà trí tuệ tỉnh táo không thể coi là hiện thực.

Ở các nhà tư tưởng trước thời Socrates cũng vấp phải khái niệm thế giới-hợp nhất của Orfika. Một mặt là thần học tự nhiên với xuất phát điểm từ thiên nhiên, và sự giải thích tinh thần là phóng xạ của thiên nhiên. Mặt khác là thần học ý niệm, như của Socrates, đến một cái cây cũng không cần nhìn, ông nói, chẳng có gì để học từ thiên nhiên.

54.

Từ phüsis của Hi Lạp cho dù bằng từ khác, như từ thiên nhiên chẳng hạn, cũng không thể dịch ra, đồng nhất với thiên nhiên ngày nay lại càng không, bởi vì phüsis là một khái niệm siêu hình học nói như Guénon, giống như từ prakriti của Sankjia, hoặc từ âm, hoặc từ đức của Trung Quốc cũng khó lòng dịch cho thoát nghĩa.

Phüsis là cái nguyên sơ (cái bắt đầu). Không liên quan gì đến thiên nhiên cảm giác, thế giới thiên nhiên vật chất liên quan đến phüsis như thực thể sống cụ thể liên quan với khuôn mẫu, như bản sao với hình ảnh cổ, hay như Eva với Sophia.

Theo thuyết giả kim phüsis prima naturae hay prima materia, là thứ không được phép nhầm lẫn với thiên nhiên vật chất thô thiển. Hình thức cụ thể của hình ảnh cổ về thiên nhiên vật chất là secunda materia, là cái ở Platon là phi-tôn tại( mé on ), ở Ấn Độ là maja hay là phép thuật và ảo ảnh.

55.

Con người, trong duy nhất một truyền thống cũng không mang mối quan hệ với thiên nhiên, như con người ở châu Âu. Ở Trung Quốc - nhất là ở Nhật Bản - dạo chơi, đi du lịch nằm trong trật tự đời sống của đẳng cấp quý tộc, kẻ tìm thấy niềm vui trong thiên nhiên, tri thức văn hóa vườn và hoa sinh ra để phục vụ kẻ ấy, đối tượng của vẽ và hội họa phần lớn lấy từ thiên nhiên.

Nhưng đây là sự biểu hiện của một hiện sinh mĩ học cao cấp. Ở chỗ khác đến một thứ gần giống như vậy cũng không tìm ra dấu vết. Cái gì xảy ra trong con người châu Âu nếu trời ấm lên và bằng đôi chân trần bước lên thảm cỏ? Cái gì xảy ra trong con người nếu ngồi hàng giờ bên bờ biển ngắm nhìn nước, hoặc lang thang đơn độc dạo chơi trong thiên nhiên?

Người hầu của Wordsworth chỉ căn nhà cho khách và nói: đây là thư viện của ông chủ tôi, phòng làm việc của ông ấy (chỉ quả núi) ở ngoài kia kìa. Trước hết cần sự an bình. Giống như con người ngồi bên váy mẹ, biết chắc chắn đây là nơi có sự bảo vệ lớn nhất.

Quay trở về với MAGNA MATER. Nhưng sự quay trở về này đầy ăm ắp eros (tình yêu) sâu sắc. Không gì đúng với thiên nhiên bằng từ phüsis của Hi Lạp. Là thứ sấu sắc nhất ở châu Âu, không nghi ngờ gì nữa đấy là nghệ thuật, và cái sâu sắc nhất trong nghệ thuật là sự mê đắm tiếp nhận từ thiên nhiên.

Như chân dung Velazquez, phong cảnh Ruysdael, bản sonat của Mozart hay bài hát của Schumann. Người Trung Quốc là con trai của trời, người Do Thái là con của Jahve, người Ấn Độ bản thân họ là atman (dzsivatma), còn người châu Âu là con và người tình của mẹ Đất.

56.

Trong thời trung cổ con người sống trong trật tự đời sống được tạo nên bởi Nhà Chung, còn Nhà Chung là Nhà Thờ Đức Mẹ. Như người mẹ thứ hai và cao hơn thiên nhiên.

Thế gian tự tại được hiểu như một thế giới của Mặt trăng, một trạng thái thiu thiu ngủ hơn là một sự tỉnh táo. Đức Mẹ của Nhà Chung không phải là Sophia. Không phải sự thông thái thể hiện trong sự chăm sóc tinh thần, mà như một thiếu phụ thực vật trong thân xác mĩ miều, người chiếu sáng thế gian bằng ánh sáng trắng lạnh của mặt trăng.

Trong thời trung cổ không gì hiếm hơn ánh sáng mặt trời, tư tưởng tự do và mở. Không có tâm linh đích thực. Thi ca là sự phục vụ đàn bà (Minne, người hát rong), nghệ thuật là sự chinh phục dành cho Nhà Thờ Đức Mẹ.

Nơi nào có chế độ gia trưởng ( patriarchatus ) nơi đó luôn mang tính chất thanh giáo ( puritan ), như cải cách, là thử nghiệm trả lại vị trí cho tôn giáo Cha của Do Thái.

Chế độ gia trưởng luôn đạo đức hóa, khép kín, giữ lời, dạy bảo, bằng những thức ăn đơn giản và các trang phục giản dị. Đời sống ở phái thanh giáo là nhiệm vụ.

Nơi có chế độ mẫu hệ, ở đấy có niềm vui hưởng thụ đời sống, có nhiều loại trang phục, nhiều hình thức phong phú, nhiều chuyện “ngồi lê mách lẻo” nhiều sự vụn vặt nhỏ nhặt, như các trường phái triết học và nghề thủ công, nhưng là những ngày lễ ồn ào, long trọng, đầy thú vui và là một bếp ăn nhiều gia vị.

57.

Thời Phục Hưng thực ra cũng chưa từng xảy ra nhiều biến cố, chỉ các đạo luật về nữ quyền bớt khắt khe, và tinh thần tự do được Hi Lạp hóa sau cùng đã giải phóng tình yêu thiên nhiên và khát vọng sống của châu Âu.

Nỗi khát sống sau cùng được giải tỏa.

Quyền lực Nhà Thờ Đức Mẹ bắt đầu là chế độ mẫu hệ thất bại, muộn hơn là sự dối trá. Không một ai biết cái gì là sự lừa phỉnh, chỉ biết rằng đấy không phải là cái như người ta nói.

Trong thời Phục Hưng những điều này đều bị lật tẩy. Chế độ mẫu hệ tự bộc lộ nó một cách hoàn toàn. Hội họa, âm nhạc, thi ca, tiền tệ, nền văn minh thành phố, công nghiệp và thương nghiệp. Sau cùng và quan trọng nhất: khoa học tự nhiên.

58.

Giữa thời đại mẫu hệ thời trung cổ, nảy sinh vài ba người khác hẳn những người khác: Dante, Cusanus, và một vài nhà huyền bí học. Tác phẩm của Dante chắc chắn là androgen nhân danh thực thể đực-cái một cách có ý thức, gần như một sự nhập định.

Tác phẩm Vita nuova đã thể hiện rõ điều này. Hình tượng Beatrice từ thời Sáng thế đến tận lúc đó là một khắc họa duy nhất trong sạch và tỉnh táo không thể hiểu sai lệnh của Sophia-anima, và chỉ có một hình tượng khác tương xứng, đấy là Dulcinea của Cervantes, nhưng là một nhân vật vô thức.

Anima là nguồn của tri thức và cảm hứng, là hình ảnh người đàn bà ở lại thiên đường trong sinh linh người. Beatrice không phải là sự ngợi ca bản chất maja trong người đàn bà, nhưng cũng không phải là một thánh nữ khắc kỉ.

Như Bachofen nói, đàn bà là kẻ nằm trong sở hữu của huyền bí, là kẻ đã nhập định, là bà chủ của tri thức, là kẻ trung gian đi về hướng vô tận. Beatrice là sự trái ngược của Eva. Luna đích thực là chiếc gương chiếu sáng. Beatrice là kẻ dẫn dắt Giáo hội.

Chúng ta biết đây là điều huyền bí gì. Đây là sự bất tử thiu thiu ngủ trong sâu thẳm của từng khoảnh khắc sẽ hủy hoại của đời sống chờ đợi được thể hiện, là một thứ, từ trạng thái thiu thiu ngủ chỉ Mặt trời giống đực biết đánh thức bất tử sự sống của nó, và chỉ bằng cái người ta gọi là tình yêu, bởi vì nếu nó tỉnh giấc bằng một thứ khác, các quyền lực giận dữ của thế giới âm sẽ thức tỉnh, lan tỏa và xé xác cả người đàn bà lẫn người đàn ông.

Đàn ông và đàn bà hợp nhất trong tình yêu, là cái xảy ra trong đời sống, sự tương đồng của hiện tượng xảy ra trong một thế giới cao hơn, và không là gì khác ngoài sự hợp nhất của thời gian và sự vĩnh cửu trong khoảnh khắc.

Beatrice là anima, kẻ mang tri thức đến để sự sống và đời sống không tách biệt, mà cần đợi giây phút tách rời từ đất, con người trong đời sống trần gian cần thực hiện sự bất tử trong từng trạng thái của cái thất thoát, và sẽ được giải thoát.

59.

Người ta cho rằng rất có thể dưới các cuộc thập tự chinh, từ phương Đông nhiều tư tưởng đã chuyển tới châu Âu mà không được ghi chép lại. Trong các tác phẩm của Eckhart, Tauler, Ruysbroek, muộn hơn của Cusanus, Merswin và nhiều tác phẩm khác đều có lịch sử bất thường với truyền thống phương Đông và ở châu Âu, có hàng trăm nghìn thứ giống nhau không thể giải thích.

Tác phẩm Divina Commedia có quan hệ họ hàng với các cuộc phiêu lưu sang thế giới bên kia (Ardai Viraf) là điều rành rành (xem thêm: Guénon -L’Esotérisme de Dante).

60.

Một thời gian ngắn trong thời Phục Hưng ý niệm-bất tử bị thay đổi. Con người không sống trong niềm hứng khởi có nền tảng là sự vĩnh cửu nữa, mà trong niềm vui của khoảnh khắc.

Nghệ thuật chuyển sang thành sự vinh danh- maja , giống như trong chủ nghĩa Hellenizmus (Hi Lạp hóa), bởi thời Phục hưng không tiếp nhận di sản Hi Lạp của Sophos và Heros, mà của “graeculus” phù phiếm và nhơ bẩn, không tiếp nhận từ Platon mà từ Lukinos.

Ảnh hưởng này có thể thấy ngay cả trên tác phẩm của Leonardon và Michelangelo, nhất là của Raffaellon. Sự ngây ngất trong ảo ảnh thay thế cho tinh thần. Không phải cái đẹp của sự sâu sắc mà của bề mặt.

Bản chất giống cái của đời sống chưa ở đâu và chưa bao giờ dễ dàng bắt gặp đến thế. Không phải các đạo luật định hướng thế gian, mà là các câu chuyện thì thầm từ buồng the, không phải các giáo chủ và các bá tước thống trị nữa mà là các mệnh bà, bởi trong chế độ phụ hệ cơ cấu cộng đồng mở một cách tàn nhẫn, còn trong chế độ mẫu hệ chỉ toàn rèm che và các âm mưu.

61.

Châu Âu luôn tồn tại thiếu đẳng cấp tinh thần, bởi vậy trong trật tự của nó chua từng có một nền tảng vững chắc, bởi thiếu brahman nên không ai đảm bảo cho đạo luật. Thời Phục Hưng, sau giấc ngủ thiu thiu của thời trung cổ đến một dạng say ngất ngưởng mang tính chất âm, trong đó ý thức cai trị cao cả của Nhà Chung biến mất cực kì nhanh chóng, và mọi quyền lực tối cao biến thành quyền lực trần gian.

Một sự kiện chịu tác động xa hơn từ chế độ mẫu hệ châu Âu thời kì mới là sự biến mất của ngôn ngữ phổ quát. Ngôn ngữ để thờ phụng không còn là tiếng Latin đa chức năng nữa mà là ngôn ngữ bình dân nặng tính chất địa phương. Sách Thánh được dịch ra các ngôn ngữ cụ thể. Đây thực ra là hiện tượng tan rã từng mảnh của androgen logo .

Ngôn ngữ của tu duy trong một thời gian ngắn vẫn là tiếng Latin, trước hết vì bí truyền, sau cùng chỉ vì thuật ngữ. Dấu ấn của sự xuất hiện ngôn ngữ của các dân tộc là những từ ngữ tổng quát quan trọng nhất hoặc mang một nội dung bị thu hẹp, hoặc vô thưởng vô phạt, phi nội dung và khi chủ nghĩa dân tộc bắt đầu làm rung chuyển trái đất, quá trình thế tục hóa bắt đầu tiến hành, đến gần sự biến chất và tan rã mà trong đó không có gì chắc chắn và thường xuyên nữa, chỉ còn chiều ngang, rời rạc, không còn là gì khác ngoài sự tàn rữa.

62.

Đức tin từ từ và dai dẳng của một nguồn gốc đi từ dưới lên là dấu hiệu nhận biết đầu tiên của chế độ mẫu hệ. Là thứ tư tưởng sau này phát triển trong chủ nghĩa Darwin. Đây là sự đòi hỏi của thực thể đàn bà sinh nở và nuôi dưỡng, rằng quyền lực trên mọi thực thể sống khác phải là của nó.

Sau này khi đời sống con người không còn do philo-Sophia định hướng nữa, mà do philo-Phüsis , hay nói cách khác không còn sự thông thái của người đàn bà trời nữa mà là của người đàn bà trần gian (đất), sự đối lập giữa hai chất nữ tính ngày càng tăng.

Cuộc tranh đấu này giữa Sophia và thiên nhiên là thứ ngăn cản lời tuyên bố (sự biểu hiện) của tinh thần tự do ngày nay ở châu Âu, không bằng sự khủng bố của Giáo hội trung cổ nữa mà bằng sự tức giận xấu xa triền miên và có tầm ảnh hưởng.

Trong tư duy, hành vi chống đối tinh thần của Sophia ngày càng mạnh mẽ, ý thức về sự xuất thân cao quý hơn của con người ngày càng lu mờ, thậm chí nghiêm trọng hơn nữa, nguồn gốc con người từ thiên nhiên đối ngược hẳn lại với nguồn gốc cao cả không chỉ làm định hướng sai lầm và trở nên dối trá, mà còn là một sự vô lí và nực cười, cùng với điều này con người gần như biến mất từ chính tư duy của nó.

Và về điều này, rằng: sự thiếu vắng tư tưởng trong nguồn gốc xuất xứ đã làm lộn nhào trật tự đời sống như thế nào, đã khiến sự bình thường hóa đời sống bất lực ra sao, đã trích dẫn sự vô luật và vô lượng trong kinh tế, trong nhà nước, trong nghệ thuật, trong phong tục tập quán, trong luật pháp, và nhất là trong tình dục ra sao, không ai nói đến. Hậu quả của sự từ bỏ tính thần chắc chắn dẫn đến một dạng nhận thức mờ mịt mới.

63.

Dần dần các từ ngữ bắt đầu lan rộng và xua đuổi tất cả mọi thứ khác ra khỏi linh vực tinh thần, ví dụ những từ ngữ như: xuất phát điểm từ kinh nghiệm, xuất phát điểm từ quan sát, từ các nhân tố, sự tra vấn hiện thực, sự trung thành của đối tượng. Sau sự xuất hiện những từ ngữ mới này là một trạng thái lo âu tự thân sâu sắc hơn chỉ đạo những điều trước đấy, thậm chí trạng thái này mở ra một phương pháp luận và tạo khả năng phát triển cho phương pháp luận này.

Tính chất mẫu hệ là một sự chịu đựng cho rằng, kể cả bị hành hạ vẫn còn hơn là không được quan tâm. Đặc điểm của tính chất mẫu hệ là chỉ chấp nhận tư tưởng đàn bà làm trọng tâm để nghiên cứu, kiểm chứng, để tò mò, ngạc nhiên và chỉ để nói về họ, và không ngừng quan tâm đến họ.

Tính chất phụ hệ ưa thích tìm kiếm cho mình những gì cao hơn mình, phi cá nhân và lí tưởng trừu tượng, bởi vậy khuôn mẫu của phụ hệ là chủ nghĩa niềm tin độc thần Do Thái và luôn như vậy.

Còn tính chất mẫu hệ hướng tới sự bất tử khác, sự bất tử này là cái bản chất thân xác sẽ bị hủy hoại của mình. Cả hai cực trên đều phi cá nhân, bởi vì sự cân bằng bị bóp méo, một đằng hướng lên trên, một đằng hướng xuống dưới.

Cái được biểu hiện trong kinh nghiệm, trong quan sát và trong nghiên cứu vật chất, thực ra không là gì khác ngoài sự đòi hỏi đặt thực thể tự nhiên vào trọng tâm. Cái trong thời hiện đại đặt tên là nghiên cứu thực tế chỉ là sự cúi đầu, là sự khuất phục vô điều kiện trước thiên nhiên mang tính chất mẫu hệ và là sự sùng bái tôn giáo.

Đàn bà được coi như một hành vi tình dục trong nhận thức của khoa học tự nhiên - điều tất nhiên bởi eros và nhận thức chưa bao giờ tách rời nhau, và có một số ngôn ngữ ví dụ trong tiếng Do Thái, từ “quen” có nghĩa là sự hợp nhất tình dục.

64.

Thứ tình dục có tên trong thời hiện đại là nghiên cứu thực tế - định lí ẩn của khoa học tự nhiên - đã thành công trong việc hướng sự quan tâm tới thiên nhiên mẫu hệ và biến nó thành đối tượng duy nhất dành cho các công cuộc nghiên cứu.

Bởi vậy người ta không chấp nhận tư tưởng ít quan tâm đến tính chất nữ tính, và nếu xuất hiện sự phê phán trong điều này, người ta cắt bỏ. Cái gọi là khoa học tự nhiên là cái gương trong phòng ngủ của người đàn bà tự nhiên, chỉ dùng vào việc thỏa mãn sự chiêm ngưỡng riêng của tính chất đàn bà.

Còn các kết quả nghiên cứu đúng hay không tự nó có thể hiểu được. Các kết quả nghiên cứu đặc biệt chú ý đến điều này: trong sự ve vãn đừng có những tâng bốc rỗng (nhất là đối với các nhà thơ, những kẻ không được coi trọng cho lắm). Đối với khoa học tự nhiên, tất cả cần phải đúng, từ quan điểm vũ trụ theo kiểu của Toricelli đến Newton và Rutherford, bởi phải đúng người ta mới thường xuyên quan tâm đến thiên nhiên. Và chỉ như vậy mới có niềm tin vô hạn và xuất hiện sự ngưỡng mộ vô điều kiện.

65.

Kẻ không nhận ra điều này là kẻ đã đánh mất hoàn toàn sự tỉnh táo trong nguồn thiên nhiên duy trì bốn trăm năm nay, hay nói cách khác là kẻ không bao giờ đặt câu hỏi, rằng cái trật tự sống này, cái mà người ta phơi bày ra, cái duy nhất nói đến thế gian này, cái bỏ xa các nền văn minh khác xưa hơn, và cái đặc sắc hơn trong thành công của nó so với mọi cái, đã xảy ra như thế nào, trong cái trật tự sống mà các cuộc chiến tranh khủng khiếp này nối tiếp cuộc chiến tranh kia, sự tàn sát, sự thù hằn giữa các tôn giáo vẫn tiếp diễn, hòa bình không thể thực hiện giữa các dân tộc, trong một xã hội, đẳng cấp này nhe nanh với đẳng cấp kia, các nhà nước vật vã với sự phá sản công nợ đến tận cổ, tâm linh hao mòn, đạo đức và hệ thống luật pháp đảo lộn, và thuyết hư vô ( nihilizmus ) chuẩn bị nuốt chửng toàn bộ nền văn minh từ tất cả?

Chủ nghĩa phụ hệ đổ tội cho những tàn sát bằng sự xúc phạm luật (trời), còn chủ nghĩa mẫu hệ cũng nói đúng như vậy nhân danh việc bảo vệ đời sống.

66.

Trong thế kỉ mười tám, người ta thậm chí còn gọi người đàn bà quý phái (dáma) là thiên nhiên, người ta hô khẩu hiệu, nếu có chuyện xảy ra, việc duy nhất là hãy quay trở lại với thiên nhiên (bởi đàn bà quý phái không bao giờ từ bỏ chủ nghĩa lãng mạn vốn có). Nói như Nietzsche, đại thể như sau: chúng ta hãy đẽo một cây gậy, lùa cừu ra đồng cỏ đầy hoa và lắng nghe bồ câu gù trong nắng.

Nhưng đến thế kỉ XIX, đời sống không còn mang tên người đàn bà nữa. Giờ đây thiên nhiên không còn mang tính chất tỉnh lẻ nữa mà thành một thực thể đô thị. Trong sự hình dung của nó không chỉ là một thiếu phụ bình đẳng, một nữ binh, một nữ nghệ sĩ hay nữ ca sĩ lên ngôi, mà sự thay đổi của thời gian còn đưa các mệnh phụ trơ trẽn của đời sống với những đôi tất nilon quần màu xanh (gái mãi dâm) lên các trường đại học, các ghế bộ trưởng, lên những vị trí quan trọng.

Sophia đâu rồi, người đàn bà Thượng Đế dịu dàng của sự thông thái?

Đời sống trước hết là một phẩm tước cao hơn, bởi sự thống trị của nó lan rộng từ vi khuẩn đến khủng long. Đời sống là cái tên quan trọng nhất, bởi sự thèm khát sống không bao giờ thỏa mãn. Và tư tưởng này mới “khoái trá” làm sao: trở thành một kẻ nào đấy đứng giữa trọng tâm của những dục vọng không bao giờ thỏa mãn.

67.

Những hành vi nguy hiểm theo kiểu hành vi Clytemnestra (giết chồng) cũng không làm sự xua đuổi tinh thần trong chế độ mẫu hệ chùn bước, thậm chí vẫn còn cho đến tận hôm nay, và ngày càng phổ biến và công khai hơn. Người đàn bà Hi Lạp đã giết chồng bằng bàn tay của chính mình.

Sự xua đuổi tinh thần này nhiều khi trở thành sự thủ tiêu tinh thần, nhưng kể các dẫn chứng lịch sử ra là thừa. Cũng đủ, nếu ta dẫn ra các biện pháp phòng thủ chống lại tinh thần của con người trong thế kỉ XX của các thế lực nhà nước khác nhau (các trại tập trung, các nhà tù, các cuộc xử tử, các vụ đầu độc, các vụ giết thuê).

Phần lớn người ta kinh ngạc không thể hiểu nổi, sau sự xua đuổi tinh thần của giới giáo sĩ trung cổ trong thời hiện đại, bằng những công cụ hiệu quả hơn tại sao sự xua đuổi lại có thể tiếp diễn.

Người ta cũng không hiểu nổi sự căm thù đàn bà đến loạn trí, sự chống lại tính chất Clytemnestra trong những con người đàn ông có đầu óc tỉnh táo sắc sảo (như Nietzsche, Strindberg) đã xuất hiện như thế nào, tất nhiên sự căm thù này không là gì khác ngoài nỗi ghê tởm sự phi pháp luật, sự nịnh hót phi cá nhân, sự tha hóa, sự ghen tị, sự trả thù, sự thấp kém trong tình dục của tính chất mẫu hệ.

68.

Tính chất mẫu hệ trong một giới hạn nhất định bắt đầu giống xã hội côn trùng một cách đặc biệt không chỉ vì mẹ của hoàng hậu có vị trí đặc quyền và duy nhất, mà cả vì quyền lực chính trong xã hội này thuộc về nữ chiến binh Amazon gan dạ.

Nữ chiến binh Amazon là một thực thể giống cái đã đánh mất tỉ lệ giới tính, là một dạng lưỡng tính. Thuật giả kim gọi sự lưỡng tính là Lunus-Luna, hoặc gọi là một thực thể sống đực-cái nhân danh mặt trăng, một hiện tượng mang linh cảm méo mó và mờ mịt về cả hai giới tính.

Thực thể này đối lập với cả hai giới tính bằng sự tàn bạo của vô sinh tha hóa, như loài kiến, mối và ong. Đây là những dạng nữ công nhân và nữ hành chính vô sinh, đặc biệt dạng cảnh sát nữ vượt xa sự tàn bạo đàn ông trong chế độ mang tính chất mẫu hệ, không chỉ mỗi ngày tăng lên mà còn giữ vai trò tích cực trong guồng máy thế gian hiện đại.

Đây là một thực thể côn trùng lưỡng tính, mù lòa với đời sống, một thực thể đàn bà mà chất nữ tính đích thực (Sophia) đã hoàn toàn biến mất.

69.

Tất nhiên trong chế độ mẫu hệ có một loại tư duy đặc thù hoạt động, đây là hệ thống lunáris luciditás , có tên gọi là chủ nghĩa duy lí ( racionalizmus ).

Chủ nghĩa duy lí không phải là ánh sáng mặt trời, thứ ánh sáng tỏa sáng từ nguồn trực tiếp mà là thứ ánh sáng phản chiếu, bị khúc xạ, theo vật lí học, hay còn gọi là thứ đến sau.

Đó là thứ ánh sáng của gương phản chiếu, không phải của nguồn. Điều đáng ngạc nhiên trong trí óc nó là thứ ánh sáng cực mạnh, nhưng đặc điểm của chủ nghĩa duy lí là dấu hiệu nhận biết của thứ ánh sáng này, và nó không có khả năng chiếu sáng phần lớn không gian nhìn.

Chưa có sự đo lường cụ thể nào để biết chủ nghĩa duy lí không nhận thức nổi những phần nào của hiện thực. Rất có thể trong cái tầm nhìn bất lực của nó chứa đựng toàn bộ những gì không hấp dẫn đối với thế gian-thiên nhiên-vật chất của nó.

Rất có thể trong bản thân chủ nghĩa duy lí các sự vật vô cùng phù hợp với nhau, chẳng có gì để ngạc nhiên nếu trong đầu óc của những kẻ yếu thế hơn lại có sự thỏa thuận đáng kinh ngạc như vậy.

Nhưng sau sự việc, như ở Paris ngày nào người ta cũng tôn sùng sự duy lí là nữ hoàng, chẳng có gì lạ nếu quyền lực của thứ ánh sáng mang tính chất mặt trăng (âm) này hoàn toàn ngự trị sự sống con người.

70.

Nữ thần Duy Lí và nữ thần Đời sống là một cấp độ không thể tăng thêm. Những gì có thể đạt tới nó đều đã đạt. Lời tuyên bố của tinh thần (dương) tự do, nhất là trên các điểm chính, đã hoàn toàn chấm dứt. Cơ cấu xã hội từ giờ phút này trở đi đều mang tính chất mẫu hệ.

Một hệ thống đời sống đã dựng lên thành công, trong đó tự bản thân các nhân tố mang tính chất đàn bà thỏa mãn các đặc quyền có thể hiểu (bởi chỉ thỏa mãn không đủ, sự vinh danh sẽ hoàn toàn nếu ai tự thỏa mãn một cái gì đó). Thực thể mang tính chất âm đã biến đời sống trần gian thành quyền lực chính. Đã thành công biến tất cả thành sự thèm khát.

Đã thành công dựng lên một hệ thống chứng nhận-khoa học tự nhiên - thứ hệ thống không có nhiệm vụ gì khác ngoài việc kéo toàn bộ sự sống quay trở lại với thiên nhiên vật chất, và chỉ sùng bái vật chất.

Bằng những bí mật của thiên nhiên, như người ta thường nói - “các bí mật!” - có từ nào hấp dẫn hơn từ này? Vị thần Tinh Thần phụ hệ bị tổn thương, và đời sống-vật chất-thiên nhiên trở thành một quyền lực vạn năng.

71.

Các hình mẫu của Bachofen về mẫu hệ thời cổ, trong đó coi giống đực là mặt hàng và là sự thỏa mãn cho bản năng (hệt như trong chế độ phụ hệ coi giống cái cũng như vậy). Trong thời hiện đại, quyền lực giống cái (femini) đã chinh phục xong đàn ông. Trong con người, trí tuệ âm (lunáris) đã hiện thực hóa là nhận thức (gần như) chỉ về một bộ phận nhạy cảm nhất, được dàn dựng bởi những công cụ mà bằng sự giúp đỡ của những công cụ này có thể đánh lừa được những ý kiến đối kháng thông thường.

Nhưng không đánh lừa được một vài trí tuệ (dương tính), tuy ít ỏi nhưng lại có trọng lượng, những người cẩn trọng, thậm chí biết nghi ngờ khi đánh giá, với hiểu biết ít-nhiều chống lại trật tự đời sống mẫu hệ vì lợi ích của trật tự nguyên sơ của thế gian.

Nhưng những trí tuệ này không phù hợp với (cái gọi là) tinh thần thời đại, nên nói chung đều bị gác xó tuy họ không hề nhầm lẫn. Sự phản kháng, không chỉ thuần túy biến thành ý kiến mà trở thành một hành vi tỉnh táo của nhận thức, từ nền tảng của hành vi tỉnh táo này đẳng cấp tinh thần ở châu Âu có thể hình thành, để chúng ta có thể coi hai nghìn năm mẫu hệ này là quá khứ, nhưng, cho đến tận hôm nay vẫn chưa thể hình thành nổi.

72.

Nền tảng mạnh nhất của chế độ mẫu hệ trong thế kỉ XX từ các sức mạnh âm tính, từ tư duy âm tính, từ sự sùng bái vật chất, từ tư tưởng xuất phát từ dưới lên trên đã tập hợp thành chủ nghĩa duy vật. Đây không phải (cái gọi là) quan điểm thế giới quan được chắp vá lỏng lẻo giữa thế kỉ XIX mà siêu hình học của Thales cũng còn ở trình độ cao hơn hẳn nó.

Chủ nghĩa duy vật là một loại hành vi trí tuệ của kẻ không sống trên mặt đất mà ở biển hoặc dưới mặt nước lờ đờ, của kẻ không có sự hiểu biết về sự sống tự tại, về ánh sáng thực chất, là kẻ mà bản năng tự thân không nhiều hơn sự bấp bênh của tri thức vô cùng bị hạn chế.

Chủ nghĩa duy vật đúng hơn, giống hành vi của một con người còn nằm trong bụng mẹ, kẻ không mong ước được sinh ra, không phải vì như vậy nhàn hạ hơn mà vì nỗi lo sợ với sự sống tự tại tóm lấy nó, nỗi sợ hãi về xương cốt và ánh sáng, sợ phải duỗi thẳng xương, phải đứng lên, phải khởi hành, và vì thế tốt nhất chọn cách giải quyết bằng sự rối loạn trí và bệnh còi xương.

Nó không xây dựng một sự sống độc lập mà chỉ ở lại như một bộ phận. Chủ nghĩa duy vật, nếu con người ở trong đó, sẽ vĩnh viễn chỉ là một hành vi bị khóa kín, một sự bảo vệ tuyệt đối trong vật chất, một kẻ vừa sinh ra ý nghĩa sống của nó đã chấm dứt và trở nên vô dụng.

Bởi vậy chủ nghĩa duy vật là một dạng trẻ sơ sinh, tiếc thương quá khứ, một sự tồn tại nấp trong vật chất, một loại sữa mẹ, là tã cho trẻ con và là trạng thái ngủ gà gật.

73.

Trong thế kỉ XX dân tộc Nga sống trong một thứ tôn giáo Cha nghiêm khắc như trước đó hàng trăm năm, thậm chí các nhân vật độc tài còn là các Cha vô điều kiện so với các Sa hoàng trước kia.

Hành vi của dân chúng ngay cả trong một hệ quả chấn động nhất vẫn rất ít sự thay đổi. Dân tộc Nga duy trì truyền thống Kitô giáo phương Đông, trong thời Phục hưng, thời Cải cách (cái gọi là) thời Ánh sáng với dân tộc Nga chưa từng có, thậm chí để chống lại mọi ảnh hưởng, nước Nga khép kín lại một cách bản năng, có ý thức.

Nước Nga sợ châu Âu, nhưng cũng coi thường châu Âu, nước Nga khép kín và căm thù châu Âu. Các nhà tư tưởng Nga truyền thống (Florenszkij, Trubeckoj, Leontyev, Szolovjov, Bergyajev, Merezskovszkji, Bulgakov) đã rất nhiều lần và với những biện minh gay gắt chứng thực sự biệt lập thù địch với châu Âu, họ viết, châu Âu đã phản bội truyền thống tâm linh, và Kitô giáo đích thực chỉ tồn tại ở nước Nga.

Tư duy Nga đối lập với chế độ mẫu hệ Hetéra châu Âu xảy ra vào giữa thế kỉ trước, nhưng sau Szolovjov không thể hiểu nhầm được nữa, như người ta nói tư duy Nga “mang tính chất Sophia”. Có nghĩa là những người Nga muốn duy trì tư tưởng dưới sự bảo trợ của bà mẹ thông thái phương Đông Sophia.

Bởi vậy bằng tư duy androgen tại châu Âu hiện đại, ngoài Paracelsus và Böhme, không ở đâu có sự quan tâm đến androgen một cách sâu sắc và thường xuyên như ở người Nga.

Hiện sinh mang tính chất người đích thực là androgen . Là dấu hiệu duy nhất, là nơi sự căng thẳng lớn nhất của đời sống đạt tới mốc cân bằng bình an và sau cùng. Tư duy Nga không chấp nhận chế độ phụ hệ Sa hoàng, nhưng vẫn cho nó còn tốt hơn cái tôn giáo Mẹ sặc sỡ và nông nổi của châu Âu. Truyền thống tâm linh này của tư tưởng Nga cùng với phong trào cách mạng thực ra đã biến mất.

74.

Sau cách mạng, nền tảng tôn giáo Cha ở Nga không hề lung lay, thậm chí còn trở nên đặc thù hơn. Cái mà Szolovjov chống lại đã xảy ra: khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy vật được quốc hữu hóa, thậm chí biến thành tri thức chính thức. Thế là một tình thế đặc biệt đã tấn công nước Nga.

Đặc điểm của trật tự phụ hệ luôn là hành vi bảo thủ. Sau cách mạng hành vi này không bị phai mờ, mà nhân lên thành chủ nghĩa bảo thủ. Đây là chủ nghĩa dân tộc ghen tị và tức giận Nga, dưới mặt nạ cường quốc quốc tế đã trở thành một phong trào mất trí. Toàn bộ những đặc thù phụ hệ được giữ nguyên. Tính chất độc tài là quyền lực tuyệt đối. Hơn thế nữa; trong giao tiếp các thị dân gọi nhau bằng tên người cha. Dân Nga không phải là con gái của mẹ mà là con trai của cha.

Nhưng cùng lúc nhân danh chủ nghĩa duy vật lan truyền sự chống đối tích cực tâm linh, tôn giáo, triết học (chống lại Sophia) và cơn mê sảng sùng bái vật chất của khoa học tự nhiên, và với những gì chống đối, bằng quyền lực Cha, giận dữ tiêu diệt với Đại Pháp Quan đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại.

Trong mọi trường hợp, ở đây có vẻ như những nhân tố đực và cái gặp nhau trong một hình thức quái gở. Androgen hóa thân vào dạng hình đặc thù. Tôn giáo thiên nhiên châu Âu mang tính mẫu hệ và nước Nga mang tính tôn giáo Cha.

Chủ nghĩa duy vật khoa học tự nhiên và sự tuyệt đối, gần như mang đặc tính Do Thái, nhưng trước hết là sự khủng bố mang tính chất Cha độc thần. Không liên quan đến nhau, thậm chí đây là sự trộn lẫn của những nguyên tố đối kháng lẫn nhau. Ngay phút đầu tiên và nhìn từ xa đều thấy, đây không phải là vấn đề của androgen mà đúng hơn của một con quái vật.

75.

Quyền lực tập trung đòi hỏi nhận thức vô điều kiện từ con người và sự trung thành với cấp trên, ở Judea cũng hệt như ở những người Mohamet hay dưới thời các Sa hoàng. Bởi vì không thể thiếu mệnh lệnh đạo đức lạnh lùng phụ hệ và sự phục tùng vô điều kiện gần như độc quyền, để các sức mạnh âm sinh sôi nảy nở vô hạn. Đây là ý nghĩa của trật tự sống phụ hệ và đây là quan điểm tôn giáo Cha Do Thái cội rễ.

Nhưng đạo đức quyền lực ở đây và cùng với điều này không quy định giới hạn cho sự tăng trưởng của cải vô hạn, bởi quyền lực là khoa học tự nhiên mang tính chất âm (mặt hăng), và như vậy nó đòi hỏi sự ưu tiên âm tính. Quy luật mang tính chất âm không mang tính chất tâm linh-đạo đức mà mang tính chất sinh vật học.

Cái nhân danh đời sống, mọi giá chống lại tinh thần. Dấu hiệu đầu tiên của sự xuất hiện các sức mạnh mang tính mẫu hệ là sự hậm hực chống lại trí tuệ giống đực dương tính. Quyền lực mẫu hệ muốn trở thành độc quyền và mong muốn được tăng trưởng vật chất, và khó khăn thích ứng với sự điều tiết. Nó không là nhận thức mà là bản năng.

Bởi vậy trong hệ thống quyền lực tôn giáo Cha mặt bên trong của khoa học tự nhiên, duy vật đã luật hóa và giáo điều là một con quái vật ngày càng bành trướng, một mô hình địa ngục khác hẳn mọi cái từng được dựng lên trong quá trình lịch sử.

Không còn nghi ngờ gì nữa đây là một dạng hợp nhất của sức mạnh đực, cái, kể cả khi chúng không là gì khác ngoài sự độc tài Cha bị truyền nhiễm bởi khoa học tự nhiên duy lí âm tính.

Tất cả những điều này tăng dần lên bằng một nỗ lực lớn, như thể người cha Nga trong cơn ghen tuông chạy đua vì người đàn bà-tự nhiên-vật chất muốn trở thành duy nhất và còn lại duy nhất. Nước Nga bằng con quái vật này đã thành công thực hành một quyền lực mà so với nó nền văn minh âm tính ( effeminált ) châu Âu không là gì hết.

76.

Tôn giáo Cha khủng bố và con quái vật của chủ nghĩa duy vật hóa thạch ( fossilis ) trong nửa sau của thế kỉ XX, chỉ có một địch thủ quyền lực duy nhất, đấy là androgen-pseudo Trung Quốc quấy đảo cả một truyền thống cổ, một dạng sức mạnh thế gian khác đang phát triển trong từng mức độ, trên nền tảng một guồng máy mang tính chất lưỡng tính.

Đây là Lunus-Luna phi đặc tính, nhân danh đặc tính âm (mặt trăng) làm trung hòa các giới tính và sau cùng làm các tính chất tan ra trong vũng bùn.

77.

Sự huyền bí, là hai, Bachofen nói, thứ thực chất chỉ là một. Sự sống-đời sống, ngày-đêm, đực-cái, sáng-tối, tinh thần-thể xác; cội rễ như nhau, nhưng vẫn là hai, và đối lập nhau.

78.

Nói về androgen có vẻ như một cách liên tục cần nắm lấy sự kết hợp đực-cái, và như thể là các từ ngữ này: hợp nhất, thống nhất lại, làm cân bằng, đứng đúng vị trí.

Kinh Dịch bằng tác động tương hỗ của các mặt đối lập trả lại vị trí cho Đạo trong sự thống nhất, và như vậy nhìn thấy sự toàn vẹn của đời sống, đúng như thuật giả kim mà yêu cầu của nó là: ex duobus unus , hay: một từ hai.

Giống như huyền thoại của Platon trong Symposium : ban đầu con người là một thực thể hai khuôn mặt, bốn tay, bốn chân, nhưng nó ngày càng trở nên phi thường đến nỗi các thần linh vì lòng ghen tị đã cắt nó làm hai, và từ đó đến nay thực thể này không thể nghĩ đến cái gì khác ngoài việc đi tìm một nửa đã bị cắt của mình và hợp nhất với nửa ấy.

79.

Chỉ trong thần học về tỉ lệ của Orfika nổi lên những bằng chứng cho thấy trong androgen sự kết hợp đực-cái bằng từ ngữ thành Một là không hợp lí. Bởi vì đây không nói về sự đối lập mang tính chất toán học, là cái có thể hợp chúng lại thành một. Thứ chúng ta gọi là sự hợp nhất chỉ là một hoạt động logic. Quá trình bổ sung song song cho hoạt động này là một quá trình phân biệt.

Sự kết hợp (conjunctio) đực-cái không được phép nhầm lẫn với điều này. Con người chỉ hợp nhất cái cùng lúc nó phân biệt, và chỉ phân biệt cái cùng lúc nó hợp nhất. Tư tưởng con người nằm trên động tác cơ bản này (logic hợp nhất), nhưng androgen thì không.

80.

Giải pháp khá rẻ tiền là đặt tên cho sự cắt đôi androgen và gọi sự kết hợp đực-cái trong đó là sự huyền bí, và coi như vấn đề như vậy đã giải quyết xong. Những tư tưởng bị vỡ vụn thường bất lực. Một sự che đậy thì đúng hơn.

Mâu thuẫn đực-cái không xuất hiện từ mô hình mâu thuẫn trời-đất, mặt trời-mặt trăng. Ngược lại thì có. Nền tảng và mô hình đầu tiên của tất cả các dạng mâu thuẫn là mâu thuẫn đực-cái, có thể trong thời gian không phải là dạng đầu tiên nhưng trong bản chất thì chắc chắn như vậy.

81.

Điều khó hiểu trong nhận thức về sự bị cắt đôi của đàn ông và đàn bà không phải là con người trở thành hai, mà là điểm giữa ( androgen ) nối họ lại bị rơi ra. Người đàn ông quá xa với đời sống còn người đàn bà lại quá gần. Bởi vậy đàn ông luôn rơi ra khỏi vai trò đời sống, còn đàn bà bị hòa tan vào đời sống không để lại dấu vết.

82.

Sự tương đồng chỉ có một - sự tương đồng duy nhất.

83.

Từ thời Aristoles trở đi người ta coi sự tương đồng là vấn đề logic, mặc dù trong ý nghĩa sau cùng nó không phải là vấn đề logic mà là vấn đề siêu hình học.

Tương đồng không có nghĩa là A bằng A, không có nghĩa là mọi sự vật bằng chính nó. Khái niệm này không mang tính siêu hình học, cũng chẳng phải logic mà vì nói về sự bằng nhau-mang tính chất toán học. Một định nghĩa về tương đồng có ba giải nghĩa: toán học, logic học và siêu hình học. Hai nghĩa đầu là sự thư hẹp của nhận thức siêu hình học.

Nếu giải thích tương đồng như một định nghĩa logic điều đó không khác gì Tautology (môn Lặp thừa). Trong logic và trong toán học, định nghĩa sự tương đồng là nền tảng hoạt động mọi hình thức của nhận thức. Siêu hình học không có cơ sở hình thức mà là định lí, như sau: sự sống trong mọi cơ thể sống như nhau.

84.

Bởi châu Âu không có và cũng chưa từng có siêu hình học có ý thức và được chuẩn bị kĩ lưỡng của nó, nên chống lại quan điểm cho rằng giả thuyết về sự tương đồng thuần túy mang tính chất của môn Lặp thừa luôn bị phản đối. Người ta biết, nhưng không hiểu. Bởi vì ngoài một vài ngoại lệ, không ai biết tiêu chuẩn của siêu hình học là gì nên cũng không ai vượt quá môn Lặp thừa (Tautology).

Nhận thức siêu hình về tương đồng chỉ có thể xuất phát từ truyền thống. Truyền thống Ấn Độ hiểu về tương đồng rõ ràng nhất, bởi vậy các hệ quả của nó cũng chỉ có thể rút ra từ đấy.

Ở châu Âu phần lớn sự tương đồng được xác định đối ngược với sự khác biệt ( Heidegger: Identitat und Differenz ).

Nhưng sự khác biệt không có bất kì mối quan hệ nào với tương đồng. Sự khác biệt-đa dạng là khái niệm nằm trong lĩnh vực logic hợp nhất, bởi phân biệt chỉ có thể có trong sự hợp nhất, còn trong sự tương đồng thì không thể.

Quan hệ với tương đồng chỉ có thể là phi-tương đồng. Hợp nhất có nhiều, kể cả khi hợp nhất cuối cùng là một. Tương đồng không có nhiều. Bởi vậy chỉ có một sự tương đồng duy nhất.

Đây là Brahman-átman-aikjam ( Brahman-átman- tương đồng). Nghĩa của nó là: con người nhận biết về bản thân nó tương đồng với sự tồn tại, sự sống. Tad apasjat, tad abhavat, tad aszit - nó thấy, trở thành như thế bởi nó là điều ấy.

Sự tồn tại-sự sống trong mọi thực thể sống giống nhau. Không có chuyện có nhiều sự tồn tại, hoặc chỉ trong người nào đấy hoặc cái gì đấy sống, sự tồn tại này tương ứng với sự tồn tại của tất cả thực thể sống.

Bởi vậy định nghĩa sau cùng của truyền thống Ấn Độ: tat tvam aszi - cái này là mi.

85.

Chúng ta là những phần của sự sống-sự tồn tại, nhưng không theo nghĩa chúng ta là một phần được xác định trong sự sống, mà như trong mọi thực thể sống chúng ta là toàn bộ sự sống, sự tồn tại có trong hiện tại. Sự tồn tại không thể chia ra, mà trong mọi thời gian mọi nơi mọi thực thể và sự vật, sự tồn tại là một cái toàn bộ hợp lí.

Sự sống không thể phá vỡ, không có một nửa sự sống hay sự sống kép. Cái này ít hơn hoặc nhiều hơn, đấy không phải là sự sống mà là một thứ có thể chia ra, là thứ có thể là một phần, có từng mức độ, giống như đời sống hoặc sự tỉnh táo hoặc ý thức, hoặc một cái gì khác. Sự sống có ở bất kì đâu cũng chỉ như một cái toàn bộ.

86.

Những hệ quả của định lí tương đồng trước tiên bộc lộ trong tôn giáo. Nhận thức siêu hình học đầy đủ về tương đồng và thông qua nhận thức này sẽ quyết định sự sống còn hay phi-sự sống của tôn giáo.

Chỗ nào con người và toàn bộ các thực thể sống thừa nhận mối tương đồng với Thượng Đế trong sự tồn tại-sự sống, ở đó thực chất không có tôn giáo.

Chỗ nào mối tương đồng với Thượng Đế của con người trong sự tồn tại mờ mịt, và xây dựng trên nền tảng của phi-tương đồng, ở đó tôn giáo xuất hiện.

Bởi tôn giáo không là gì khác ngoài sự phi-tương đồng giữa Thượng Đế và con người, tôn giáo không bao giờ là sự tương đồng, giữa bất cứ môi trường nào, và là sự phi-tương đồng vô tận.

Từ trạng thái hốt hoảng và run sợ xuất hiện sự xa cách và xa lạ với Thượng Đế của con người trong tồn tại. Đấy chính là tôn giáo. Con người theo tôn giáo không tương đồng, chỉ là hình ảnh và sự giống nhau. Chỉ là bản sao.

Như thể có hai sự sống, một mang tính chất Thượng Đế, một mang tính chất con người. Như thể Thượng Đế và con người vĩnh viễn và định mệnh tách rời nhau. Như thể tôn giáo chia đôi sự tồn tại ra thành sự tồn tại cao hơn và thấp hơn, và hậu quả của nó tất nhiên là các dân tộc tiếp tục xé nát sự sống theo chủng tộc, theo các tôn giáo, theo các ý kiến và theo các sắc mặt người.

Ở châu Âu rất ít người nhận ra điều này. Chỉ đôi khi xuất hiện một vài nhà tư tưởng, như Scotus Eriugena, một kẻ dám nói như sau: “Nếu Thượng Đế và tạo phẩm là hai loại riêng, lúc đó cả hai hoặc từ nền tảng chung trước nhất duy nhất hoặc từ một thiên nhiên xưa tương đồng cùng một nguồn gốc, hoặc là hai nền tảng đối lập nhau trên thế gian và có tổ tiên” (De divisione naturae III. 22).

Tất nhiên cả hai giả thuyết đều vô lí. Không thể hình dung nổi, con người và Thượng Đế xuất hiện từ một nền tảng cao hơn, cũng phi lí như trên thế gian có hai nền tảng và tổ tiên.

“Không được phép coi Thượng Đế và tạo vật là hai sự việc tách rời nhau, mà chỉ có thể trong mối tương đồng, bởi vì tạo vật cũng có trong Thượng Đế và Thượng Đế cũng có trong tạo vật, và bằng cách thức vô thinh, liên tục và kì diệu tạo dựng... sự vô hình hóa thân, trở thành tính chất siêu nhiên... ở đây và bây giờ là thực thể sống vĩnh cửu và phi thời gian...” (De divisione naturae II. 12).

87.

Định nghĩa hoàn hảo nhất về mối tương đồng duy nhất: aham Brahman aszmi (tôi là Brahman), hay nói cách khác trong sự sống tôi tương đồng với Thượng Đế.

Cái nhìn này từ góc độ tôn giáo là một sự nguyền rủa, bởi con người dám tương đồng với Thượng Đế, nhưng nhìn từ góc độ siêu hình học là một sự thật cụ thể và chính xác.

88.

Từ Hindu giải thích sự tương đồng là átman.

Từ châu Âu phù hợp với átman (soi, self, Selbst) là tôi, bản thân tôi. Chủ thể xuất hiện đúp bởi tôi đã tan hòa vào bản thân tôi và từ này thừa nhận sự tương đồng.

Điều nổi bật, nó là đối tượng tranh luận thường xuyên. Nhiều người cho rằng đây là sự kết hợp giữa hai đại từ (aham và ta). Nhưng không chỉ thuần túy là hai. Bản thân “ta” cũng dự phần vào đấy, như thể là aham và tad, và lúc đó nghĩa của từ là “ta là mi” và “mi là ta” tương đồng. Đây là sự tương đồng ta - mi. Trong định lí này cái “có” của sự vật cũng đồng nghĩa với “ta”. Átman tương đồng với sự tương đồng “ta - mi” và tương đồng với “ta - sự vật”.

Không một ngôn ngữ nào có từ tương ứng như vậy. Có vẻ như từ átman của Ấn Độ cho chúng ta khả năng nghĩ đến một sự tương đồng tuyệt đối; nghĩ đến sự hiện diện của chúng ta trong đó “ta”, “mi”, “sự vật”, “sự sống”, “Thượng Đế” cùng tương đồng trong một vòng quay, một vòng quay duy trì và có hiệu lực bởi sự tương đồng.

Bởi vậy tư tưởng: aham Brahman aszmi mới có thể có, hay nói cách khác trong sự sống - sự tồn tại tôi tương đồng với thần linh. Như Brihadáranyaka-upanisad nói (3,9,10): “Szarvasja átmanah parajanam” - đây là điểm cao nhất của từ átman. Chỉ cần nói thêm, á tman là từ trọng tâm của siêu hình học Ấn Độ, và bởi vậy siêu hình học duy nhất là siêu hình học của sự tương đồng.

89.

Một số người giải thích trong từ átman âm “m” và “n” nghĩa là “ta” vì trong một vài ngôn ngữ khác những âm này có liên hệ đến Một. Tiếng Sancrit aham (ta) tiếng Do Thái ani (ta) có họ hàng với từ Hi Lạp hen (một) và Latin unus (một), trái lại từ éka (một) của Sancrit và ehad (một) của Do Thái cũng có âm như từ Hi Lạp - Latin ego (ta). Như thể từ “ta” và “một” là những khái niệm có thể hoán vị. Trong mọi trường hợp, đây đều là một cuộc phiêu lưu triết học.

90.

Tôn giáo đi tìm phúc lạc, bởi vậy dựng lên một hình ảnh Thượng Đế vạn năng phi - tương đồng, một Thượng Đế bằng quyền lực vô tận cứu giúp những kẻ trung thành với mình, và phúc lạc là phần thưởng ngài ban.

Siêu hình học không đi tìm chân phúc mà đi tìm sự thật, và bắt gặp trong sự tồn tại mọi thực thể sống sự tương đồng với Thượng Đế. Đây là sự tương đồng duy nhất và là cái mà từ átman nói đến. Siêu hình học Ấn Độ tuyên bố átman szaman, hay sự tương đồng (szama). “Với Thượng Đế, với con người, với con kiến, với con muỗi, với con voi”.

91.

Tư tưởng này ở châu Âu có một vài người nói đến. Eckhart, Cusanus, Böhme, Guénon. Cusanus nhận rõ sự khác biệt giữa khái niệm mang tính tôn giáo và mang tính siêu hình học của sự sống, và giống như Scotus Eriugena, ông biết, tôn giáo chỉ mong muốn phúc lạc, và vì vậy sự tồn tại đứng ở cấp độ thấp, mong manh và tạm bợ, còn siêu hình học đi tìm sự tỉnh táo cuối cùng trong sự thật.

Không thể biết chính xác, ảnh hưởng phương Đông đến với Cusanus như thế nào trong hai tác phẩm ông viết khi bước vào tuổi già: trong Idem ipsum Non aliud ông đưa ra những định nghĩa trùng lặp với truyền thống Ấn Độ.

Cả hai tác phẩm đứng về mặt siêu hình học, với phương pháp xác định và phủ định đều tuyên bố Thượng Đế “cũng như vậy” và “không thể khác”. Tư tưởng này giống hệt với upanisadok. Định lí của Kathaka - upanisad etad vai tat, nghĩa là: cái này không khác, như cái đó - cái này và cũng như vậy.

Điều này chống lại quan niệm bất kì ai cũng có thể vạch một đường giới hạn chia cắt giữa các thực thể sống và nói đến một sự sống riêng biệt mang tính chất Thượng Đế hoặc tính chất người. Điều này và điều đó như nhau (điều này không khác) Idem ipsum. Non aliud.

Trong sự tồn tại, mọi thực thể tương đồng. Trong truyền thống Ấn Độ dấu hiệu của Thượng Đế: cái đó (tad). Thượng Đế “tương đồng” (szama).

92.

Trong tôn giáo, con người vì không nhận thức được sự tương đồng của mình với Thượng Đế trong sự tồn tại, nên sống trong mặc cảm tự ti, như một thực thể đặt dưới một quyền lực định mệnh và không thể thay đổi của một ý chí cao siêu.

Bởi vậy hành vi con người trong tôn giáo không bao giờ minh bạch (thấu suốt) và mở, ngay cả đến các Thánh cũng vậy. Con người không dám nhìn vào ánh sáng riêng (Srir maji) của mình.

93.

Átman là khái niệm phi cực. Átman là cái còn lại sau khi mọi tầng thất thoát (ảo ảnh) đã cởi bỏ. Đây là cái không thể nắm bắt được (ucciszta). Đây là cái hoàn toàn trống rỗng. Đây là cái tràn đầy bằng sự sống, bằng nhận thức và bằng cảm hứng (szatcsit-ananda). Đây là sự sống tập trung (átmanvat).

Còn tất cả những cái khác bị tan rã, còn lại cái duy nhất, cái có bản chất đích thực (aitad-átmjam). Tinh thần là thứ linh hồn phi cá nhân, còn átman là khái niệm cái Tôi. Chủ thể duy nhất vắng bóng mâu thuẫn, là thứ không có khách thể phù hợp của nó. Átman là từ phổ quát duy nhất.

94.

Thứ có thể xác định đối lập với átman maja - ảo ảnh. Nhưng maja không phải là mâu thuẫn của átman, mà là thứ ảo ảnh được kinh nghiệm trong sự tỉnh táo bị suy thoái của átman.

Nếu con người thức tỉnh, ảo ảnh tan ra, và không còn lại gì khác ngoài átman. Không có Hai (advaita) “Không có minh chứng cho sự hiện diện của Hai. Cái có thể chứng minh được là chỉ duy nhất có một mình á tman, là thứ không phải là Hai” (Nriszimha-tapanja-upanisad).

Átman này là vũ trụ (idam szarvam jad ajam átman). Đây là átman cùng tương đồng với Brahma (thần linh). Brahman này là átman trong mỗi chúng ta (esa ma’ antar hridaje). Aham Brahman aszmi (ta là Brahman).

95.

Sự mờ mịt mơ ngủ mê mệt trong các giấc mộng và các hình ảnh đa dạng, dày đặc, trong các hành động và trong các đam mê, trong ảo ảnh của sự tỉnh táo bị suy thoái cùng sự phong phú của tri thức và nhận thức dâng trào cuồn cuộn.

Còn sự tỉnh táo lại giản dị, không lời và nghèo khó. Đây là sự yên bình của nhận thức (dnyana-piaszada).

96.

Anubhava là tên truyền thống Ấn Độ đặt cho nhận thức của con người trong mối quan hệ tương đồng với átman, nghĩa là với toàn bộ sự sống, với Thượng Đế.

Anubhava có nghĩa là: đồng cảm với sự tồn tại trực tiếp. Nếu con người đạt tới mức độ này, Sankara nói, thực ra không có gì xảy ra.

Con người không biết thêm bất cứ cái gì, không học thêm bất cứ cái gì, không phát hiện, chẳng nhìn thấy gì mới hơn, không kinh nghiệm, không có chỗ cho sự ngạc nhiên hoặc rúng động.

Átman átmanam abhiszamvivesa - đi sâu vào bản thân và nhận ra sự bất phân biệt của bản thân. Những cản trở ngăn nhận thức chấm dứt. Con người là một bộ phận của tri thức, một thứ tri thức nó luôn là một phần trong đó, nhưng như một kẻ mộng du vật vờ, trong sự sống suy thoái nó không hề biết đến tri thức này.

Nhưng trạng thái mộng du sẽ tan dần, còn lại trạng thái tỉnh táo bất tử - ksaram tu avidja hi, amritam tu vidja (Svetasvatara - upanisad 5,1).

97.

Átman không phải thuật ngữ triết học, bởi vì ở Ấn Độ tuyệt đối không có triết học. Từ này không bứt ra từ ngôn ngữ, như một thuật ngữ. Átman là một từ hoàn toàn hòa vào ngôn ngữ, và trong vô vàn mối liên quan cũng như trong nguồn gốc của nó đều mang nghĩa là sự tương đồng duy nhất. Một từ mà ở ngoài chợ người ta cũng có thể dùng. Nhưng không phải từ ngữ của con trẻ mang nhiều nghĩa lẫn lộn nhau.

Ngôn ngữ cổ có đặc điểm siêu hình học, cùng lúc mang bản chất cụ thể đầy xúc cảm, có thể nhận ra từ tác động phổ quát và từ sự chính xác của nó. Trong các từ ngữ cổ, siêu hình học và bài ca của chim hòa quyện vào nhau. Trong các từ ngữ này ngôn từ và sự vật hòa vào lẫn nhau (từ dabar - tiếng Do Thái vừa có nghĩa là từ vừa là sự vật).

98.

Tương đồng là lời tuyên bố của một nhân tố siêu hình học. Duy nhất chỉ có một tương đồng, đó là sự tương đồng của mọi thực thể sống trong sự tồn tại. Trong sự sống - sự tồn tại Thượng Đế không là gì khác ngoài con người, hay trong sự tồn tại cũng vậy.

Sự sống là thứ duy nhất không xuất hiện trong sự tạo dựng. Sự sống có trước so với sự tạo dựng, ngoài ra sự tạo dựng (tạo hóa) không làm cạn kiệt sự sống. Cái sử dụng vẹn toàn sự sống là átman.

Bởi vậy theo upanisadok: cái ở sâu nhất trong con người - átman - không xuất hiện, mà có sẵn từ vĩnh cửu và bất tử. “Chỉ nhận thức hạn hẹp mới thấy Brahman không tương đồng” (Brihadaranyaka - upanisad 4.4). Sự tương đồng là tương đồng với thực thể sống duy nhất.

Sự đồng nhất không phải là tương đồng. Tương đồng là một thực hành bằng nó có thể chấp nhận bản thân thực thể sống tương đồng với sự sống. Định nghĩa này của Vadzsazsanejiszamhitá: átmana átmanam abhiszamvivésa - nhấn vào bản thân và chấp nhận mình không có sự phân biệt. Nói bằng từ ngữ khác: tad apasjat, tad abhavat, tad aszit - thấy, trở thành cái đó bởi vì nó là cái đó.

Nhưng nếu tương đồng chỉ là một thực hành đơn thuần, có thể chặn nó lại. Nhưng chúng ta đều biết trong quá trình đời sống của chúng ta sự tương đồng chỉ được thực hiện trong trường hợp ngoại lệ. Chỉ trong con người thức tỉnh một cách hoàn thiện.

Phần lớn các đồng nhất là sự nhầm lẫn. Con người chưa từng có từ vĩnh cửu, đồng nhất nó với sự sống toàn bộ và bất tử, như vậy nó không hiện thực hóa được á tman, hoặc nói chung bằng những thứ khác, chỉ bằng chính á tman là không.

99.

Truyền thống nói về một sự đồng hóa nhầm lẫn từ hai vị trí. Hai vị trí này là Sankara (Védanta-szura) và Tabula Smaragdina. Védanta-szura đặt tên sự đồng nhất nhầm lẫn là adhjasza, còn Tabula Smaragdina gọi là adaptatio. Cả hai vị trí này đều thống nhất một quan điểm là sự xuất hiện của thế gian hiện hữu - đông đảo - giác quan, quay về với adhjasz, hay adaptatio.

Bởi vì về mặt nguồn gốc và trong thực tế không có hiện thực nào khác ngoài một sự sống trong sạch và mối tương đồng với sự sống này. Hành vi tương đồng này là sự tỉnh táo (vidja). Trong khoảnh khắc sự tỉnh táo bị suy giảm, sự sống trở nên rối loạn, cho dù bản thân sự minh bạch (thấu suốt) của nó vẫn còn lại y như thế, nhưng khi sự tỉnh táo suy giảm các ảo ảnh bắt đầu xuất hiện, và thực thể sống bắt đầu đồng hóa nó với các ảo ảnh này.

Từ sự đồng hóa nhầm lẫn, con người không bao giờ phù hợp với hiện thực nữa. Ở kẻ nào sự tỉnh táo bị suy thoái, kẻ đó bị rối loạn và bắt đầu nhầm lẫn mình với ảo ảnh. Đây là cái Sankara gọi là adhjasza và Tabula Smaragdina gọi là adaptatio.

Đây là nguyên nhân đầu tiên và duy nhất của sự xuất hiện ảo ảnh. Vedanta nói, tạo hóa sinh ra thế gian trong mờ mịt mộng du (avidja). Thế gian vật chất là “thứ tinh thần méo mó từ trọng lượng tri thức lệch lạc” (adnyana upahitam csaitanjam).

“Từ sự đồng nhất nhầm lẫn xuất hiện phép mầu (ảo ảnh) và các phương pháp của nó” - Hinc adaptiones erunt mirabiles, quarum modus est hic.

100.

Mới đây người ta coi sự đồng nhất nhầm lẫn là vấn đề của tâm lí học. Tất nhiên tâm lí học không có những công cụ để có thể đo lường ( adaptatio).

Nhà nghiên cứu tâm lí học C. G. Jung cho rằng những cái xảy ra trong con người hiện đại gọi là gì cũng được, chỉ không thể cho đấy là sự tỉnh táo và trạng thái bình thường. Nguyên nhân đầu tiên của trạng thái rối loạn là một sự đồng nhất nhầm lẫn. Nhưng, cũng như khoa học hiện đại, không ai nghi ngờ chút nào, kể cả một cách mơ hồ nhất, rằng, một sự sống hư hoại bằng phương pháp được tạo ra từ sự hư hỏng lại có thể biến thành một sự bình thường.

Sự chẩn đoán mà Jung đưa ra như sau: nguyên nhân đầu tiên của sự mù quáng (verblendung) của con người hiện đại là coi nội dung phản ánh từ vô thức tự thân là các nhân tố khách quan, sau hàng trăm năm được xây dựng thành một thế giới hiện thực tổng quát và cô đọng, đây là thứ đúng là cô đọng, tổng quát và vững chắc, thành hệ thống bên trong bản thân con người, tuy nhiên có liên hệ rất ít với hiện thực.

Thế giới này là công thức của ngày hôm nay, và là thứ công thức trong một con người đứng ở mức độ tỉnh táo vô cùng thấp. Nói theo ngôn ngữ truyền thống, trong sự tỉnh táo bị suy thoái, con người tin rằng cái chiếu rọi ra (khúc xạ) là hiện thực mà không mảy may linh cảm rằng: “thế gian là một thứ tinh thần méo mó từ trọng lượng của tri thức lệch lạc”.

Nếu ai có nhận ra điều này, thực ra họ không hề thay đổi khác đi, vì đây là đặc thù của con người. Nhưng chỉ lúc đó họ trở nên minh bạch - thấu suốt trong sự tồn tại của mình. Họ trở thành sự tỉnh táo (vidja).

Những ảo ảnh và cái được chiếu rọi ra (khúc xạ) trong sự tỉnh táo suy thoái được coi là hiện thực sẽ duy trì trạng thái lộn xộn của các tưởng tượng giả dối, đưa con người đến trạng thái không đủ khả năng nhìn xuyên thấu hệ thống giả nhầm lẫn mình đã xây dựng lên, và con người bị khóa lại hoàn toàn trước hiện thực đích thực.

101.

Điều khó khăn trong việc soi sáng sự nhầm lẫn - lộn xộn không phải vì con người coi những hình dung phản chiếu từ bên trong mình ra là hiện thực đầu tiên, hay không phải vì con người coi ảo ảnh tạo ra từ sự đồng nhất nhầm lẫn là nhân tố. Điều khó khăn là bức tường ảo ảnh này lúc thì đổ vỡ lúc thì không, hiện thực và phi - hiện thực luôn trộn lẫn vào nhau.

Con người không biết phân biệt sự khác nhau giữa hai cái, và cái phản ánh rất khó phân biệt so với hiện thực. Phản ánh riêng thường xuyên chiếm ưu thế so với hiện thực. Đây là trường hợp khi sự ám ảnh, chứng cực đoan tỏ ra quan trọng hơn hiện thực, đây là hiện tượng bình thường hóa một cách tất nhiên trên mọi lĩnh vực của đời sống hiện đại.

Con người, sống trong một môi trường hình thành từ sự phản chiếu những rối loạn bản thân, bắt buộc phủ nhận hoàn toàn (cái gọi là) thế giới tinh thần và quay trở lại với (cái gọi là) vật chất, hoặc phủ nhận (cái gọi là) thế giới vật chất và quay về với (cái gọi là) tinh thần.

Cả hai cách giải quyết này đều tồi tệ và cưỡng bức, nhưng cái chính là mọi sự việc không cần bắt đầu từ đây. Đúng, thế giới giác quan không phải là mé on (phi - hiện hữu) như Platon nói. Cũng như thiên nhiên vật chất thuần túy cũng không phải là hiện thực duy nhất như chủ nghĩa duy vật khẳng định.

Cả hai đều là một sản phẩm đã xây thành hệ thống của những nội dung chủ quan được phản ánh một cách nhầm lẫn của con người, một thứ sản phẩm không chỉ che đậy hiện thực mà còn có vẻ như chính xác, vì nó thu thập một số lí thuyết tưởng chừng có thể thuyết phục cho các nội dung nhầm lẫn nói trên, dù với bất kỳ ý đồ nào.

Nhưng hậu quả của nó là: thế gian không hề là một thứ như con người cho rằng, và đấy là thứ thế gian , như thế nào con người không hề hay biết. Điều này chỉ có thể xác định nếu con người biết rút lại những gì nó phóng chiếu ra theo tưởng tượng của nó, và những gì nó đổ trách nhiệm lên đầu người khác hoặc lên các sự việc, và nó biết cách giải quyết và hiệt tiêu các vọng tưởng của nó.

Trả lại vị trí cho hiện thực không có con đường khác cũng bởi vì hậu quả trực tiếp và tất nhiên của sản phẩm không ngừng tự phóng chiếu là thứ mà tâm lí học gọi là sự đánh mất bản thể: sự bất lực, phi tri thức, sự rối trí, sự phân thân, sự hư hoại, nhận thức suy giảm v.v... và v.v...

Thu hồi những ảo ảnh đã phóng chiếu ra sẽ khiến con người biết tập trung tư tưởng hơn, tỉnh táo hơn, nhận thức mạnh mẽ hơn. Theo tâm lí học hiện đại chỉ trong trường hợp này mới có thể chấm dứt những rối loạn trong môi trường sống, những mờ mịt trong thế giới quan của đời sống người, và nhất là con người không đổ lỗi cho người khác vì những rối loạn, vụng về, ngu dốt của mình, và sẽ tự vấn mình một cách nghiêm khắc.

102.

Sự đồng nhất sai lầm (nhầm lẫn) không mang tính chất cội nguồn của con người. Sự đồng nhất nhầm lẫn đầu tiên xảy ra trong lĩnh vực tạo dựng ra thế gian, bằng cách thế gian đã được (quan niệm) tạo ra từ hình thức nhầm lẫn này.

“Brahman hiển hiện một cách nhầm lẫn trong hình thức của thế gian vì những ảo ảnh bên trong của thế gian”.

Thế gian xuất hiện từ adhjasza, từ sự phản chiếu nhầm lẫn.

103.

Chỉ có một tương đồng duy nhất. Ngoài ra tất cả mọi tương đồng khác đều nhầm lẫn. Sự đồng nhất nhầm lẫn này như ảo ảnh xuất hiện tất yếu sau sự tỉnh táo bị suy thoái đầy rẫy khắp nơi trên thế gian hôm nay. Cái con người gọi là thế gian chỉ là sự phản chiếu, hay nói cách khác không phải là hiện thực mà chỉ là hệ quả của một sản phẩm sống nhầm lẫn.

104.

Cần bắt đầu thanh toán adhjasza.

Cần rút lại sự tạo dựng.

Thức tỉnh chỉ có nghĩa ngần này: chiếu sáng, soi rõ những nội dung ý thức đã phản chiếu.

105.

Không được phép hoảng sợ khi cho rằng con người cần xem xét lại cội nguồn của sự đồng nhất nhầm lẫn. Thế gian như vậy, trong cái hình dạng của sự phản chiếu bằng những ảo ảnh riêng khi tạo dựng ra thế gian, cái mà truyền thống Ấn Độ gọi là trạng thái bất lực của sự rối loạn (abhimánitvan prajatah).

Phát hiện ra sự đồng nhất nhầm lẫn này không thể là một sai lầm lớn hơn. Con người cần nhận về mình sự nhầm lẫn (adhjasza) này, bởi vì nếu không coi sự nhầm lẫn này là của mình, sẽ không thể từ bỏ nó.

Bản chất của con người chìm vào ảo ảnh, chỉ trên một điểm duy nhất, như từ một tia lửa, con người mới có ý thức tỉnh táo và trong sạch về một sự tương đồng với sự sống gốc.

Điểm duy nhất đó truyền thống Ấn Độ gọi là á tman. Átman chỉ là một điểm. “Điểm này bé hơn hạt bụi, lớn hơn đỉnh núi, lớn hơn thế gian, lớn hơn thế gian gộp với tất cả”.

106.

Thế gian không phải là cái bên ngoài, không phải là bên trong, hay đúng hơn vừa bên ngoài vừa bên trong: là cái toàn bộ. Hậu quả của rối loạn sự sống biến thế gian thành bên ngoài và bên trong, cái bên trong bị phản chiếu ra bên ngoài và đặt ở bên ngoài, cái bên ngoài như một sự tồn tại độc lập với cái bên trong.

Con người cần phải coi người khác như một cái bên ngoài, và đồng nhất mình với họ một cách nhầm lẫn. Con người chỉ có thể đồng nhất bản thân mình bằng những ảo ảnh của mình, và sự giống nhau này làm con người tin chỉ vì nó phản chiếu bản thân nó trong ảo ảnh, trong ảo ảnh con người gặp chính bản thân mình.

107.

Trả lại vị trí cho sự tương đồng không là gì khác ngoài việc chấm dứt sự phản chiếu ra bên ngoài.

108.

Pannwit đặt câu hỏi: những điều kiện nào của chủ thể tạo khả năng cho khách thể? Câu trả lời: sự phân định giới hạn tạo ra khách thể. Sự phán định giới hạn là một hành động thầm kín nhất và tích cực nhất, còn khách thể là giới hạn, không độc lập và không phụ thuộc vào con người.

Khách thể chỉ trở nên độc lập khi con người đồng nhất nhầm lẫn họ với nó, rọi chiếu bản thân họ vào trong nó và nhầm lẫn cho rằng nó và họ là thực thể sống một cách độc lập.

109.

Con người bị vướng mắc vào khách thể, và mối bòng bong khách thể xuất hiện như vậy.

Đấy là sự cầm tù của các linh hồn trong các sự vật.

Eros (tình yêu thương) là sự giải thoát của linh hồn khỏi các sự vật và là sự tan hòa trở lại vào sự sống.

110.

Sự giải thoát khỏi trạng thái cầm tù của thế giới khách thể của đàn bà với đàn ông và của đàn ông với đàn bà. Đây là cuộc gặp gỡ trong sự sống tương đồng và sự tương đồng trong sự sống. Trong sự sống mà truyền thống gọi là: szat-csit-ananda, hay: sự thật - nhận thức - sự ngây ngất. Mọi cuộc gặp gỡ đàn ông - đàn bà xảy ra đều nhân danh tính chất toàn vẹn của sự sống ( androgen).

111.

Giống đực và giống cái đều như một khách thể được phản chiếu từ nhau, Như sự sắp đặt của nguyên tắc. Bởi vậy coi nhau như một món hàng để thỏa mãn là sự tầm thường nhất.

Nhưng vị trí của đàn bà trong đàn ông (anima) và của đàn ông trong đàn bà (animus) không ở bên ngoài sự tồn tại đặt giữa các sự vật, mà ở bên trong sự tồn tại. Giống đực và giống cái không phải là một sự vật độc lập với nhau, mà là giới hạn của nhau.

Eros: “là sự dự phần vào tồn tại trực tiếp” bởi nhau. Nếu Eros lấy lại giới tính đực, cái, giới hạn bị phá vỡ và hòa vào sự sống tương đồng, và từ sự hòa quyện này sự sống phục sinh và xuất hiện một thực thể mới.

112.

Thượng Đế như một khách thể. Như một phức tạp được phản chiếu ra ngoài. Như một hệ quả của một sản phẩm sự sống nhầm lẫn, hay còn gọi là adhjasza. Như một thực thể độc lập với con người. Thượng Đế như một bạo chúa buồn rầu hoặc như một con điếm phóng túng. Đây là Thượng Đế bên ngoài.

Thượng Đế trong thế giới bên ngoài có thể thấy, nhưng không với tới, ở thế giới bên trong có thể với tới nhưng không thấy. Nếu con người dập tắt sản phẩm nhầm lẫn của nó lúc đó Thượng Đế có thể với tới và có thể nhìn thấy.

113.

Sự tách làm đôi thành giống đực và giống cái của androgen không phải là một tai họa sự sống riêng biệt, mà là hậu quả của sự rối loạn tự thân xảy ra trong sự sống trước kia.

Hậu quả của sự rối loạn này là cái chúng ta đặt tên là: “sự tạo dựng vật chất”. Sự sống trong hình dạng nguyên sơ của nó không phải là sự tạo dựng. Cái từng có là giới tính - sinh sản, không phải bằng con đường tách đôi giống đực - cái mà trong androgen.

Bởi vậy ai không đặt trọng tâm lên đặc tính ảo ảnh của tạo hóa, mà lên sự phục sinh không ngừng của sự sống (như Böhmen). Người đó không nói: Thượng Đế sinh ra thế gian, mà biết rằng thế gian tự hình thành giới tính và sinh sản trong bản thân, hay nói cách khác, không ngừng giới tính hóa và sinh sản.

Tương đồng là từ chúng ta nói đến. Từ này là átman, là từ bộc lộ sự tương đồng của mọi thực thể sống trong sự tồn tại. Một từ duy nhất dùng để chỉ khái niệm hóa giới tính và sự sinh sản không có. Chúng ta sẽ không hề linh cảm về điều này nếu chúng ta không nhận biết về androgen.

114.

Cái xảy ra giữa đàn ông và đàn bà, là sự tương đồng đổi mới không ngừng xảy ra trong sự phức tạp của sự sống.

115.

In hora conjunctionis maxima apparent miracula - Thời điểm kết hợp là phép lạ rõ nhất.

116.

Bởi không có một khách thể mang giá trị hoàn toàn phù hợp với chủ thể, nên tất cả mọi phản chiếu nhất thiết cần phải là từng bộ phận. Không thể phơi bày đầy đủ chủ thể. Điều này liên quan đến kẻ tạo dựng lẫn sự tạo dựng. Thế gian không phải là sự phơi bày đầy đủ của thực thể tạo dựng, chỉ thuần túy là một sự phóng chiếu, phản ánh. Như vậy, khi kẻ tạo dựng đồng nhất mình với những sản phẩm tạo dựng một cách nhầm lẫn và tạo ra đời sống, cái tạo ra đời sống chỉ là một phần, một bộ phận.

Bởi vì kẻ tạo dựng tồn tại giữa những bất lực khi nó phản chiếu bản thân -bước vào đời sống, giống như một thực thể mang luật tự thần đồng nhất mình với kẻ tạo dựng, nhưng chỉ từng phần, không đầy đủ. Thế gian được đông đảo hóa bởi những sự phản chiếu từng phần của kẻ tạo dựng.

Trong từng bộ phận của sự phản chiếu, cá tính là một thực thể độc lập, mang ý chí tự do và tính chất đồng nhất với quyền lực cao nhất, với Thượng Đế, nhưng cũng chỉ là một tia lửa từ mặt trời.

Thế gian phức tạp của sự phóng chiếu chỉ có thể thanh toán được bằng một cách. Sự thanh toán là một sự kiện hiện thực xảy ra thường xuyên. Và xảy ra nhân danh trạng thái tiêu thụ sự sống, nhân danh tính phổ biến và tính chất tiêu tan của sự sống, và xuất hiện nhu một sự phóng đại.

117.

Giống đực và giống cái trên thế gian là dấu hiệu rõ ràng về bản chất rời rạc từng mảnh của sự tạo dựng. Còn tri thức về androgen là dấu hiệu rõ ràng cho thấy sau tri thức về sự sống bị tách rời, và chúng ta có tri thức về sự toàn vẹn. Trong tất cả đàn ông và đàn bà đều tồn tại một bản năng muốn lập lại vị trí cho trạng thái gốc, và sự lập lại vị trí này trong bản thân nó là một mức độ cao, kể cả khi sự sống hư hoại tiếp tục tràn xuống những tầng thấp phía dưới.

118.

Không cần xuất phát từ sự cầm tù lẫn nhau mà từ sự giải phóng cho nhau.

119.

Sự tạo dựng như vậy, như đang có, không thể chấp nhận được. Cần làm mới lại. Cần chuyển hóa. Cần đưa cái cội rễ lên mức độ cao hơn. Một trong những điều kiện của điều này là conjunctio sau cùng của hai giới tính.

120.

Sự thực hiện androgen là mức độ quan trọng nhất trên bậc thang dẫn tới trạng thái tương đồng với sự sống toàn vẹn.

(Viết xong tại Bokod

ngày 22 tháng Hai năm 1963)

« Lùi
Tiến »