Minh Triết Thiêng Liêng Tập 3

Lượt đọc: 156 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V. Logic hợp nhất (một số phần)
1.

Thật đặc biệt, sự huyền bí mà chúng ta nhận thức mới ở xa xôi làm sao, cũng như sự phạm tội, nếu thiếu nó chúng ta không có chút tri thức nào về bản thân.

Bởi vì cũng không có gì làm khuấy đảo trí óc ta hơn một nhận định, rằng sự phạm tội của con người đầu tiên tạo ra những kẻ đồng phạm, những kẻ mới xa nguồn tội lỗi làm sao và hầu như họ không liên quan gì. Hậu quả không chỉ có vẻ phi lí mà còn bất công nữa.

Không có gì xúc phạm con người một cách phũ phàng hơn sự dạy dỗ này, nhưng cho dù đây là một giả thuyết khó chấp nhận trong mọi giả thuyết, nhưng thiếu giả thuyết về sự huyền bí này, chúng ta khó lòng hiểu nổi bản thân chúng ta. Cần quay trở lại với mầm mống bản chất của chúng ta ở sự sâu sắc này (Pascal).

2.

Tất cả chúng ta đều là những kẻ phạm tội ngay từ lúc mới sinh ra, hai nghìn năm nay người ta nói, và tư tưởng đạo đức này làm chúng ta quen dần và không để ý đến nó nữa.

Sự hư hoại của thân xác khó chịu hơn, đây là một xác nhận rành rành: chúng ta không bình thường, chúng ta đang bị bệnh.

Với điều này, rõ ràng nhận thức của chúng ta cũng bị suy giảm, hay nói cách khác nhận thức của chúng ta giả dối. Pascal cho rằng điều mà Vedanta hay Kabbala, hay là phái Ngộ đạo nói, hiện tượng chúng ta đặt tên là sự phạm tội, không thể biến thành nhận thức về hiện thực.

Sự phạm tội là một sự hư hỏng toàn bộ. Diễn đạt như vậy cũng không đúng. Điều đúng là sự phá vỡ sự sống có nguyên nhân là con người. Bởi vì con người là kẻ đã làm hỏng toàn bộ sự tạo dựng này.

Bởi vậy theo nhận định của E. M. Cioran, tạo hóa là kẻ tạo dựng xấu xa (le mauvais démiurge) và sự tạo dựng là một sự bê bối (scandale de la creation), điều này nhầm.

Theo Baader con người đã lôi cả thế gian theo nó vào sự hủy hoại. Xuất hiện cả những nhà khoa học tự nhiên (như Weizsacker), người cho rằng cả cái vũ trụ này, cả cái hành tinh này về mặt nguồn gốc cũng chỉ là một đống đổ vỡ bốc khói. Và cái thế gian đang có không phải là hiện thực gốc, chỉ là một mảnh, một bản sao của bản gốc mà chúng ta thu nhận được bằng các giác quan và bằng các đặc tính đã bị vỡ ra từng mảnh của chúng ta.

Sự đo lường của chúng ta cũng hỏng. Cái người ta ít khi nghĩ đến là bản thân các con số cũng hư hoại. Junger cho rằng bằng sự tính toán con người biến thành kẻ dự phần trong một sự nhập định cao hơn. Một sự nhập định mà chúng ta không thể đạt tới, và chúng ta cũng chẳng thể biết chỉ còn lại những con số hay không nữa; thế giới của những con số cũng là một đống đổ nát như bầu trời xung quanh chúng ta.

3.

Rất có thể, Sesztov là tác giả đáng tin cậy của tư tưởng này. ông viết hậu quả quan trọng nhất của sự phá vỡ sự sống là cái mà ở châu Âu từ thời Hi Lạp người ta gọi là cái trí (nousz, ratio). Đấy là một cái gì biết nhận thức và chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào nó, và cũng là cái xa vời nhất đối với hiện thực.

Đây là cái trí, chỉ là một nửa của nhận thức, và là nửa dưới. Theo ngôn ngữ Kabbala đấy là cái trí phân biệt bị cắt đứt từ hohma (tri thức nguyên sơ), hay còn gọi là binah.

Cần nói thêm, Sesztov không phải là một nhà duy lí hiện đại. ông không nói, từ thời Sokrates, người đã dạy những người Hi Lạp và châu Âu về chủ nghĩa duy lí, khái niệm số là giả dối. Bởi vì không có nhân tố thế gian hợp lí nào bằng con số. Điều này Orpheus và Pythagoras đều biết, và còn biết cả một điều khác nào đó mà chúng ta đã quên.

Trong chủ nghĩa duy lí vấn đề không phải ở chỗ tất cả đều cố thể bỏ đi, mà ở chỗ chúng ta không biết cái gì là cái bỏ đi và cái gì cần giữ lại. Cội rễ của sự sống bị hư hoại sâu xa hơn. Một điều chắc chắn là tính chất không lầm lỗi của con số hiện ra như một sự nghi ngờ, và sự nghi ngờ này là điểm vững chắc nhất của hành vi đối kháng với chủ nghĩa duy lí.

4.

Ai cũng biết, con số ở Ấn Độ và Ai Cập cổ, ở Judea và Hi Lạp một cách như thế nào đấy có thể hoán đổi cho nhau và cùng lúc lại không thể hoán đổi.

Tính chất cân xứng tương đồng này ta đặt tên là thần số học (aritmologia), trên nền tảng arithmosz (con số) và logo (ý nghĩa), hay thần số học giải nghĩa. Toán học hiện đại châu Âu cũng là một trong số các thần số học, và không có lí do gì để cho rằng nó hoàn hảo hơn. Nó không tuyệt đối như thuyết duy lí nghĩ. Nó không phải một loại thần số học trong đó con số không mang ý nghĩa gì khác ngoài là bản thân con số.

Trong các môn thần số học cổ, con số mang một phẩm chất tâm linh. Trong phẩm chất của môn thần số học duy lí châu Âu, dãy số đã loại bỏ tính chất tâm linh của nó. Con số của châu Âu hiện đại đã được đặt vào chủ nghĩ duy lí đúng như cách con số của Trung Quốc hoặc Hi Lạp cho phù hợp với truyền thống.

5.

Để con số của châu Âu trở thành tuyệt đối, cũng vô lí như thần số học của Kabbala cho rằng nó là tuyệt đối. Ta không thể biết đến số tuyệt đối, chỉ biết đến con số đã bị phạm tội. Con số bị phạm tội cũng có thể thay thể bằng: con số không vững chắc, không đáng tin cậy, không tỉnh táo, không trong sạch, bị hư hoại, tương đối.

Điều kiện duy nhất của nhận thức tỉnh táo về hiện thực là trải rộng những quy tắc của sự nhập định vào truyền thống và từ sự sống bị hư hoại chỉ ra con đường giải thoát.

Con số là một thứ trả lại vị trí của thế gian trước khi rơi vào sự phạm tội cội rễ. Tính chất của sự nhập định, như Ernst Junger nói, ngay các môn thần số học hiện đại châu Âu cũng giữ gìn trong các dấu vết. Nhưng chúng ta không biết đến con số tuyệt đối, cũng như chúng ta không biết đến một con người bình thường.

Trong nền tảng của mọi sự nhập định cổ (trả lại vị trí một con người bình thường) gồm từng loại thần số học. Như Baader viết, số phận con người theo sau trật tự của các con số.

Con số hiện đại là thí nghiệm thử thực hiện một sự sống phi phẩm chất. Sự sống phi phẩm chất này là guồng máy. Guồng máy không là gì khác ngoài sự ứng dụng vào sự sống tính chất dửng dưng (phi cá nhân) của con số một cách hoàn hảo nhất đối với vẻ đẹp, sự trù phú, sự giàu có của đời sống.

6.

Con người tính toán, trông cậy, nhờ cậy vào một ai đấy, một cái gì đấy, hoặc ngược lại. Với cái họ tính toán hoặc không, họ đếm, tường trình, thanh toán, lưu ý, quan tâm, triệt tiêu.

Có: sự tính toán, sự thanh toán, các hiệu lực, phi hiệu lực, điều tra. Sự sống của thế gian, theo Pythagoras đều do các con số chỉ đạo. Nếu con số hư hỏng tất cả mọi thứ tính đến đều bị hư hỏng.

7.

Có ba loại thần số học. Loại đầu tiên nằm trên bản chất đã xác định (mang tính tôn giáo). Loại thứ hai là con số duy lí (đại chúng). Loại này cũng nhầm lẫn như loại kia, vì cả hai đều đã bị phá hỏng. Loại thứ ba là thần số học của sự hợp nhất - trinitarius aritmologia.

Phù hợp với ba loại thần số học là ba loại logic. Loại thứ nhất là logic tương đồng, loại thứ hai là logic duy lí và loại thứ ba là logic hợp nhất.

Loại thứ nhất phù hợp với thời cổ, loại thứ hai phù hợp với thời kì lịch sử. Logic hợp nhất không có tình chất thời kì. Cả ba thời kì và thần số học và logic thực ra là một.

8.

Định nghĩa về con số truyền thống mang tính chất đã được xác định. Có thể là các hình dạng, như hình học của Euclide, hay vũ trụ học của Ptolemaic. Các mức độ giá trị đều là sau cùng. Trật tự, cùng lúc là hệ thống và hệ thống là định luật. Các mức độ giá trị là các lĩnh vực sự sống, và tên của các lĩnh vực sự sống là đẳng cấp. Và các đẳng cấp giữ vị trí bên trên nhau theo hình dọc.

9.

Mọi đẳng cấp có một con số. Những dạy dỗ này có thể kiểm chứng từ các truyền thống Orfika, Kabbala, Veda, Iran. Thế gian không phải là sự sáng tạo của Tạo hóa mà của các thế lực được phản chiếu. Các hiện thân này Kabbala gọi là szefira, Veda gọi là pradzsapativ, truyền thống Iran gọi là amsaszpandok. Có mười quyền lực phản chiếu như vậy. số mười là đẳng cấp cao nhất.

10.

Sự tương đồng không là gì khác ngoài sự phù hợp tồn tại giữa từng đẳng cấp. Tabula Smaragdina nói như sau; “Cái ở trên phù hợp với cái ở dưới, cái ở dưới phù hợp với cái ở trên”. Một ví dụ bao trùm tất cả về điều này: số bảy. Bảy là primum movens, phát động lực đầu tiên. Đây là bảy tinh tú cổ của vòng tuần hoàn mặt trời, phù hợp với bảy ngày, bảy nguyên âm, bảy màu sắc, bảy âm vực của bảng diatonic. Sự hợp nhất duy nhất là của số bảy.

11.

Con số luôn có thể mô tả. Hình học của đẳng cấp truyền thống là tri thức về sự mô tả con số. Hình học thời Orfika cổ muộn màng nhưng dưới dạng hình trong sạch là hình học kiểu Euclide. Hình học Euclide ngày nay chưa phi hiệu lực hơn cách đây 2500 năm, chỉ ngày nay cách giải nghĩa con số khác, và vì thế cần loại hình học khác.

Gần đây nhất lan truyền một loạt các tương đồng mới như tương đồng mang tính tâm lí học, xã hội học, mang tính thế giới quan, mang tính xã hội, tư tưởng, lí luận nhận thức. Tương đồng hiện đại không mang tính đẳng cấp, hay nói cách khác không khách quan mà chỉ phi cá nhân.

12.

Tương đồng không phải là phép ẩn dụ.

13.

Nhân loại cổ tư duy theo logic tương đồng. Tính chất của con người phù hợp với một kim loại nào đấy, kim loại phù hợp với một tinh tú nào đấy, tinh tú phù hợp với một màu sắc nào đấy, màu sắc với một âm thanh nào đấy, âm thanh với một vị giác nào đấy, vị giác với một quyền lực tinh thần nào đấy, quyền lực tinh thần với một con số nào đấy. Không có tiếp tục. Con số là nền tảng của cuối của tương đồng.

Trong truyền thống, sản phẩm cơ bản của tư duy là nhận thức về những sự phù hợp. Cái có thể nhìn thấy trên bầu trời đầy sao mô tả cái có trong tính cách con người và cái đó mô tả cái có trong các kim loại.

Thế gian là một tổng thể khóa mà mọi thành tố của nó phù hợp với một thành tố khác. Nền tảng của sự phù hợp là thần số học (aritmologia).

Logic tương đồng và thần số học tương đồng cũng là một tổng thể khóa, bởi khái niệm số là số đã xác định (definitiv) . Vũ trụ của truyền thống, xã hội khóa kín (đẳng cấp), cấp bậc của nó và siêu hình học của nó nằm trên nền tảng này.

14.

Khi nhân loại thời lịch sử dựng lên các quy tắc tư duy duy lí, với mong đợi có thể nhận thức các quy luật tư duy, Platon vẫn còn thử giữ gìn ý nghĩa của con số cổ.

Quan điểm của Pythagoras vẫn là: con số dẫn dắt số phận con người, trật tự xã hội và nhà nước. Con số đã xác định (defintiv) tạo dựng ra trật tự đã có sẵn. Nhưng Platon đã bắt đầu tư duy theo logic duy lí và nền tảng tư duy của ông đã không còn là quy luật nữa mà là biện chứng.

Logic tương đồng và logic duy lí có quan hệ với nhau như quy luật với biện chứng.

15.

Logic tương đồng có quy luật cơ bản duy nhất: giữa tất cả các tầng hiện thực có sự phù hợp. Logic duy lí có quy luật cơ bản duy nhất; A=A.

Logic tương đồng tư duy trong những sự đa dạng, logic duy lí tư duy trong các mâu thuẫn. Logic tương đồng đa dạng, logic duy lí đối kháng. Từ tư duy tương đồng hệ thống xuất hiện, từ tư duy duy lí biện chứng xuất hiện.

16.

Biện chứng vô tận chi có nghĩa chừng này: dãy số vô tận. Lạm phát, mất giá, cái xấu vô tận.

Nền tảng của tư duy tương đồng là trình bày (thẳng thắn), nền tảng của tư duy duy lí là chứng minh. Cái cần chứng minh là cái duy lí.

Logic tương đồng là MỘT, logic duy lí nhân danh HAI.

Logic tương đồng sắp xếp trên - dưới một cách thứ bậc, đa dạng có đánh giá và kết hợp một cách có lựa chọn. Logic duy lí đối kháng lẫn nhau.

Cái tiếp theo từ logic duy lí là cuộc đấu tranh sinh tồn, đời sống như một cuộc chiến, là sự đối kháng. Từ logic tương đồng cái tiếp theo là trật tự, hệ thống, sự toàn vẹn, sự cân bằng.

Tư duy tương đồng là logic của thấu thị, tư duy duy lí là logic quyết định.

17.

Tất cả các tương đồng đều soi sáng và hợp với nhau bằng một sự phù hợp bản chất duy nhất. Sự phù hợp này là sự tương đồng giữa thế giới có thể nhìn thấy (mang tính chất kinh nghiệm) và thế giới vô hình (siêu kinh nghiệm).

Cái có ở trên phù hợp với cái có ở dưới, cái có ở dưới phù hợp với cái có ở trên (Hermes Trismegistos). Thế gian có thể thấy không là gì khác ngoài sự tương đồng vĩ đại vô hình. Theo tư duy tương đồng thế giới nguyên sơ là vô hình. Theo tư duy duy lí giữa hai thế giới không có cái nào nguyên sơ hoặc thứ hai, bởi tư duy là mâu thuẫn của sự thờ ơ với các giá trị. Khái niệm số của sự thờ ơ với các giá trị hiện đại tạo ra sự vô cảm với giá trị logic và tạo ra đặc thù tư duy của thời lịch sử.

18.

Tư duy duy lí là sự lãnh đạm giá trị. Con số duy lí là sự vô cảm với giá trị. Con số này là mức độ cao của sự hư hỏng. Con số về số lượng (phi chất lượng) thông qua sự vô cảm giá trị mang tính chất logic tạo ra số đông (đám đông) hay nói cách khác tạo ra thái độ vật chất hóa, tình trạng phi cá nhân, guồng máy.

19.

“Không có các nhân tố, cái có, chỉ là sự giải thích”.

(Nietzsche)

Nhưng theo thần số học cả sự giải thích cũng không, bởi vì khi con người giải thích chỉ là so sánh các khái niệm số.

Bởi vậy chỉ có một nhân tố, đấy là con số.

Không có con số vô nghĩa.

20.

Logic tương đồng có thể sắp xếp trên - dưới. Logic tương đồng là xã hội đẳng cấp.

Logic duy lí đối kháng. Sự đối kháng là cuộc tranh đấu và mối thù hận. Logic duy lí là nền dân chủ.

21.

Logic tương đồng là dòng chuyển liên tục từ sự tương tự đến sự đa dạng, từ sự đa dạng vào sự tương đồng.

Logic duy lí là dòng chảy liên tục từ khách quan vào chủ quan và ngược lại, từ tích cực vào tiêu cực và ngược lại, từ cụ thể vào trừu tượng và ngược lại. Logic duy lí là logic mâu thuẫn (k onfliktus).

22.

Logic duy lí cũng được đặt tên là logic tương đồng trên nền tảng của một giả thuyết mà Aristoteles nhân đinh: A= A.

Dấu hiệu toán học của logic duy lí là sự bình đẳng. Logic này tạo khả năng cho tư tưởng bình đẳng xã hội ở nhân loại.

23.

Thực ra có bình đẳng không, cái giống nhau, và có giống nhau không, cái bình đẳng? Con số bình đẳng và con số giống nhau không bình đẳng, và cũng không giống nhau nốt.

24.

Tất cả những gì nhân danh số Hai, đều mâu thuẫn. Số hai là số không có điểm giữa.

Cái không có điểm giữa, thuần túy ngoại vi.

Con số ngoại vi phi chất lượng, chỉ thuần túy là con số số lượng.

25.

Logic tương đồng là MỘT, logic duy lí là HAI, logic hợp nhất nhân danh số BA.

26.

Người sáng tạo ra logic hợp nhất là Jakob Böhme.

Nền tảng của logic hợp nhất là khái niệm inqualieren, có nghĩa là ảnh hưởng qua lại. Ảnh hưởng qua lại như sau:

Trong tư duy khi tôi kéo hai thành tố logic đến gần nhau, tôi kéo cả hai thành tố này lại đến chừng nào chúng gần như trở thành tương tự.

Nhưng: trước khi sự tương đồng (tương tự) xảy ra - vì trong cả hai thành tố vẫn còn lại một điểm duy nhất không thể đồng nhất - điểm này biến thành tác động chống lại. Hai thành tố một lần nữa lại bắt đầu tách ra đến chừng nào cả hai đều đạt đến giới hạn của sự chống lại.

Nhưng: chúng không trở nên đối kháng, bởi trong hai thành tố luôn cùng còn lại một điểm duy nhất. Hai thành tố một lần nữa lại bắt đầu đến gần nhau. Sự xích lại gần nhau này xảy ra đến khi cả hai đạt đến giới hạn giống nhau của chúng. Và cứ tiếp tục phư vậy.

Khái niệm inqualieren có nghĩa như sau: trong trọng tâm chất lượng được coi là giống nhau của sự vật luôn ẩn náu mâu thuẫn, và trong trọng tâm chất lượng được coi là mâu thuẫn đều ẩn náu sự giống nhau. Tiêu cực trong mọi tích cực, chủ quan trong mọi khách quan, số lượng trong mọi chất lượng, và ngược lại.

Hai thành tố không bao giờ trở thành đối kháng cũng như tương tự nhau.

Nếu hai thành tố không trở thành tương tự, cũng không trở thành đối kháng, vậy chúng có thể làm được gì? Các thành tố có thể hợp nhất. Inqualieren là sản phẩm của sự hợp nhất.

27.

Haidegger trong tác phẩm Identitat und Differens (Tương đồng và khác biệt) đã mắc phải sai lầm khi cài tư tưởng khác biệt vào tư tưởng tương đồng. Bởi vì ông đã đưa không phải sự khác biệt mà là sự đối lập vào sự tương đồng.

Cái không giống nhau là cái đối lập (antitezis) còn sự tổng hợp không phải là sự hợp nhất mà là hệ thống giả của sự thống nhất hóa. Bởi vậy logic của Hegel không phải trinitarius mà là biện chứng.

28.

Trong inqualieren, BA không xuất hiện như một kết quả, mà là điểm giữa của hai, là cái hợp nhất HAI.

Làn sóng của MỘT tràn qua HAI, làn sóng của HAI tràn qua MỘT. Làn sóng của MỘT là sự hồi hộp, làn sóng của HAI cũng là sự hồi hộp. Xuất hiện sự bình lặng, BA, cái nổi lên từ sự hợp nhất của MỘT và HAI.

29.

Logic hợp nhất trong sản phẩm hợp nhất là sự tương đồng trong mâu thuẫn, và mâu thuẫn trong sự tương đồng.

Nếu sự hợp nhất không có trong sự tương đồng và trong mâu thuẫn, vậy nó nằm ở đâu? Sự hợp nhất nằm trong tính phổ biến, sự đông đảo.

30.

“Cái vô hạn biến thành Một được thanh tẩy bởi sự đa dạng vô hạn” (Holderlin).

31.

Cái nhân lên gấp bội, cái hợp nhất làm một. Cái chia nhánh, tách biệt (differencia) là cái tập trung, hội nhập (integral).

32.

Logic hội nhập không loại trừ logic tương đồng và logic duy lí mà hợp nhất chúng. Logic tương đồng và logic duy lí cùng lúc là ba logic trong cùng một sự hợp nhất. Có nghĩa là ba thời kì không tách rời mà trong mọi thời gian cả ba đều có trong hiện tại, từng có và có. Tất cả chỉ trên nền tảng logic hợp nhất mà biểu hiện, bởi trong sự hợp nhất chúng trở nên tự do.

33.

Sự rối loạn xuất hiện khi con người muốn thực hiện một sản phẩm bằng thứ logic không liên quan đến nhau. Ví dụ sử dụng tư duy tương đồng vào quá trình mang tính chất tư duy duy lí. Hoặc khi muốn hiểu tư duy cổ bằng tư duy thời lịch sử.

Trong logic hợp nhất ba sản phẩm logic được sắp xếp như Ba trong Một (trong sản phẩm hợp nhất, trong inqualieren, trong tác động lẫn nhau).

34.

Hợp nhất chỉ có nghĩa như sau; giải phóng mọi đặc tính của sự vật (cá nhân) nghĩa là hiện thực hóa mọi con số.

Hợp nhất chỉ có thể xảy ra trong sự thống nhất.

35.

Truyền thống dạy rằng tất cả tương đồng đều dựa vào một sự phù hợp cơ bản duy nhất, sự phù hợp này là tương đồng giữa các thế giới kinh nghiệm được và siêu kmh nghiệm (trước kinh nghiệm).

Cái có trên phù hợp với cái có dưới. Ban đầu đều là sự vô hình trong mọi trường hợp. Khái niệm siêu hình học của tương đồng là thế giới nguyên sơ vô hình.

Thiên nhiên không là gì khác ngoài sự tương đồng vĩ đại của thế giới tính thần.

Khái niệm logic duy lí là thiên nhiên và tinh thần giống nhau (đối kháng nhau).

Khái niệm siêu hình học của logic hợp nhất là thiên nhiên và tinh thần là MỘT.

Logic tương đồng là logic thấu thị, logic duy lí là logic của sự quyết định. Loại đầu mang tính anh hùng ca, loại sau mang kịch tính.

36.

Thời kì lịch sử, logic duy lí và con số mang tính chất số lượng tồn tại cùng nhau và tạo ra số đông (đám đông), hay còn gọi là con số đám đông, là quá trình vật chất hóa, đám đông hóa, hay còn gọi là guồng máy.

Logic tương đồng có thể sắp xếp trên - dưới (đẳng cấp), còn logic duy lí đối kháng (logic của mâu thuẫn, logic của hận thù).

Logic duy lí là logic xung đột. Các xung đột: cá nhân - tập thể, tương đồng - đối kháng, khách quan - chủ quan, tích cực - tiêu cực, cụ thể - trừu tượng.

Logic duy lí vô tận. Nhảy từ cái đầu vào cái cuối. Chỉ cái này là Hai. Dấu hiệu toán học của logic duy lí là sự bình đẳng. Dấu hiệu bình đẳng tạo dựng lí tưởng về bình đẳng cho nhân loại (*) .

« Lùi
Tiến »