2.
Năm sau bà vú Okane của tôi, lúc này đã năm mươi bảy tuổi, sau bao năm giúp việc nhà tôi, nay xin nghỉ và trở về tỉnh Nagahama, quê quán của bà. Một ngày cuối tháng mười trước khi bà ra đi, tôi cùng bà thăm viếng đền Shimogamo. Bà dâng lễ vật, cầu nguyện một lúc trước chánh điện, và rồi nói bằng một giọng đầy xúc động:
- Vú không biết bao giờ mới thấy lại đền này...
Sau đó, bà đề nghị chúng tôi dạo chơi một lát trong khu rừng quanh đền về hướng cầu Aoi.
Khi chúng tôi tản bộ, bà chợt quay sang tôi mà nói:
- Cậu biết hết chứ, phải không Tadasu?
- Biết gì ạ? – Tôi hỏi, lấy làm bỡ ngỡ.
- Nếu cậu chưa biết thì thôi, tôi không nói.
- Vú nói gì thế?
- Không biết tôi có nên nói cho cậu biết không – bà nói có vẻ lưỡng lự. Rồi còn ngần ngại một cách kỳ lạ, bà tiếp – Tadasu cậu biết nhiều về mẹ kế của cậu chứ?
- Không – tôi đáp – tôi chỉ biết tên thật của bà là Tsuneko.
- Sao cậu biết?
- Năm ngoái tôi có việc phải trích lục hồ sơ thành phố.
- Cậu chỉ thật sự biết bấy nhiêu đó?
- Vâng.
Cha nói: Không nên tò mò về mẹ. Còn vú thì có cho tôi biết gì đâu, vì thế tôi quyết định không hỏi.
- Bấy lâu còn giúp việc nhà cậu, tôi không muốn đề cập đến chuyện ấy, nhưng tôi sẽ phải về quê không biết bao giờ gặp lại cậu. Vì thế tôi nghĩ là nên cho cậu biết trong lúc này. Nhưng mà cậu không được để cha cậu biết đấy.
- Đừng lo – Tôi nói mà không thật tình muốn nói thế – Đừng cho tôi biết. Có lẽ tôi nên nghe lời cha.
Nhưng bà nhất quyết:
- Dù sớm muộn gì thì cậu cũng biết. Chuyện này thì cậu phải biết.
Câu chuyện huyên thuyên dài dòng của bà lôi cuốn tôi, bà kể tôi nghe từng chút khi chúng tôi thả bộ theo con đường đền thờ.
- Tôi chỉ nghe người khác nói lại chuyện này nên không dám chắc – Okane bắt đầu và tiếp tục kể tôi nghe đầy đủ về quá khứ của mẹ tôi.
Hình như bà sinh trong một gia đình ở Kyoto làm chủ một cửa hàng rộng lớn cố định ở miền Nijo, đặc biệt bán các loại giấy hoa và bút lông. Nhưng khi bà lên chín thì gia đình phá sản, vào lúc mà Okane kể chuyện, cửa hàng ấy không còn nữa. Mười một tuổi người ta đưa bà đi làm tập sự trong một ngôi nhà ở Gion; từ mười hai đến mười lăm bà làm vũ nữ biểu diễn trong các buổi yến tiệc. Người ta có thể tìm ra cái tên nghề nghiệp mà bà dùng lúc đó; cái tên ở ngôi nhà geisha... nhưng Okane thì không rõ. Rồi lên mười lăm, có người con trai của một thương gia chuyên bán bông tơ trả hết nợ cho bà, và đem bà về làm vợ. Tuy tính tình không hòa hợp, bà vẫn là người vợ chính thức của y, dù tên bà không bao giờ có trong hồ sơ hành chánh. Dẫu sao đi nữa, bà đã vui hưởng mọi đặc ân của người vợ và trong vòng ba năm sống đầy đủ là một bà chủ trẻ của một nhà giàu có. Nhưng lúc mười tám tuổi, vì một lý do nào đó, bà với chồng ly dị. Có người nói do áp lực gia đình ấy nên bà bị đuổi ra, có người bảo chỉ vì người chồng hoang phí của bà đã chán bà rồi. Chắc chắn lúc ấy bà có nhận một số tiền đáng kể, nhưng bà trở về căn nhà nhỏ bé buồn nản của cha mẹ ở Ryukyu, sửa sang căn phòng trên lầu thành một lớp học để bà sống bằng nghề dạy cắm hoa và trà đạo cho các thiếu nữ láng giềng.
Chính vào những ngày này cha tôi quen biết với bà. Không ai rõ trường hợp nào ông gặp bà, hay họ gặp nhau nơi đâu trước khi bà đến Tổ Diệc làm vợ ông. Từ khi mẹ chết đến ngày tục huyền của cha được hơn hai năm rưỡi. Cô gái có thể gợi ông nhớ tới người vợ đã mất một cách sống động nên có lẽ không đầy một năm sau cái chết của người đàn bà mà ông quá tôn thờ, ông đã yêu nàng; có lẽ ông quyết định chỉ vào mấy tháng trước khi hôn lễ cử hành.
Người vợ đầu chết vào năm hai mươi hai, người vợ thứ hai khi lấy ông hai mươi tuổi; cha thì ba mươi ba, mười ba tuổi hơn nàng, còn tôi lên tám, hầu như quá trẻ.
Biết về quá khứ của người mẹ kế khơi dậy sự tò mò mãnh liệt trong tôi, cùng với mọi loại cảm giác khác. Tôi không ngờ rằng bà là geisha chuyên nghiệp ở Gion. Dĩ nhiên bà khác xa các cô gái thông thường loại đó: bà xuất thân trong một gia đình vọng tộc, và chỉ vài năm từ bỏ khu ăn chơi mà sống một cuộc đời của bà chủ trẻ tuổi trong một gia đình nề nếp, suốt thời gian đó bà đã tập được phong cách lịch thiệp quý phái. Tuy nhiên, tôi cảm phục bà đã giữ được vẻ duyên dáng yêu kiều dù đã làm một vũ nữ Gion, nhưng còn giọng nói thanh lịch trong sáng của bà, giọng nói êm ái theo truyền thống của giai cấp thị dân Kyoto xưa? Dù bà chỉ sống hai ba năm ở Gion đi nữa thì giọng nói của bà phải chịu ảnh hưởng ít nhiều chứ. Hay người chồng thứ nhất và gia đình đã sửa giọng cho bà? Tôi nghĩ rằng một người đàn bà như thế làm mềm lòng cha tôi vào lúc ông buồn bã cô đơn là chuyện tự nhiên. Và cũng tự nhiên khi ông tin tưởng một người đàn bà như nàng sẽ có đức tính của người vợ trước và giúp tôi quên đi nỗi buồn mất mẹ. Tôi bắt đầu nhận thấy rằng ông đã nghĩ nhiều về chuyện ấy, không vì chính ông mà chính vì tôi. Ngay cả dù mẹ kế của tôi có cùng ý muốn của ông làm tôi nghĩ rằng hai người mẹ của tôi là một người đàn bà duy nhất đi nữa thì đó cũng là do cố gắng phi thường của ông mà ông mới có thể đúc khuôn nàng trong hình ảnh người mẹ ruột của tôi. Tôi có thể thấy rằng tình yêu mà ông dồn vào người mẹ kế của tôi và tôi chỉ làm tăng thêm tình yêu cho người vợ đầu tiên mà thôi. Và do đó việc thổ lộ những bí mật cuộc đời quá khứ của người mẹ kế tưởng là làm hỏng tất cả cố gắng kiên nhẫn của cha tôi thì trái lại khiến tôi càng biết ơn ông và kính trọng người mẹ kế hơn.
Sau khi Okane ra đi, chúng tôi thuê người tớ gái khác để nhà có đủ bốn người. Và trong tháng Giêng năm sau tôi biết rằng mẹ đã mang thai. Đó là vào năm thứ mười một kể từ năm bà lấy cha tôi. Vì bà chưa bao giờ có con, ngay cả với người chồng cũ, nên cả cha và bà cùng ngạc nhiên vì một chuyện như thế đã xảy ra sau bao nhiêu năm.
- Tôi thấy xấu hổ khi vào tuổi tôi mới có mang như thế này – bà thường nói. Hay “nghe nói quá ba mươi mà mới sinh lần đầu thì rất khó sinh”.
Cả mẹ và cha đã yêu thương tôi bằng tình phụ mẫu vô biên, nay có lẽ do ngại phản ứng của tôi trước chuyện này. Nếu thế thì họ không cần lo ngại. Tôi không thể diễn tả được niềm vui của mình khi nghĩ rằng sau bao năm là con một tôi sắp có một đứa em, hoặc trai hoặc gái. Tôi cảm thấy rằng tâm hồn cha tôi thỉnh thoảng mờ tối đi vì nhớ lại những kỷ niệm không hay về cái chết của mẹ tôi trong lúc mang thai. Nhưng điều khiến tôi lấy làm lạ hơn hết là cha cũng như mẹ đều không muốn đề cập đến điều này, tôi để ý thấy họ có vẻ buồn bực một cách kỳ lạ khi nói đến chuyện ấy.
- Vì tôi đã có Tadasu rồi, nên không cần có con nữa – bà nói có vẻ như đùa cợt.
- Tôi lớn tuổi rồi, còn con cái gì nữa.
Biết rõ tính tình bà, tôi nghĩ bà nói một điều như thế chỉ để che giấu nỗi xấu hổ khi có thai thì cũng lạ.
- Sao má lại nói thế? – Tôi phản đối – Má không nên nói những chuyện kỳ khôi như vậy! – Nhưng mà dường như cha cũng đồng tình với bà.
Vị bác sĩ xem mạch bà nói rằng tim mẹ hơi yếu, nhưng không có gì đáng lo, nói chung bà có một cơ thể khỏe mạnh. Tháng Năm năm đó bà hạ sinh một đứa bé trai. Bà sinh tại nhà chúng tôi: căn phòng sáu chiếu nhỏ nhắn mà tôi ở nay dành cho bà. Đó là đứa bé trai khỏe mạnh và cha tôi đặt tên cho nó là Takeshi. Nhưng một hôm khi từ trường trở về – tôi nhớ là khoảng hai tuần sau – tôi giật mình không thấy Takeshi đâu.
- Ba, Takeshi đâu rồi? – Tôi hỏi.
- Ba má đã đưa nó tới Shizuichino nhờ người nuôi – ông đáp – ngày nào đó con sẽ hiểu nhưng giờ đừng hỏi gì cả. Không phải tự ba bày ra chuyện này từ lúc biết rằng đứa bé sắp ra đời, má con và ba bàn bạc hằng đêm. Má con còn muốn như thế hơn cả ba. Lẽ ra cũng nên nói trước với con nhưng ba sợ nói với con về chuyện ấy chỉ thêm phiền chứ không ích gì.
Tôi bỡ ngỡ nhìn ông một lúc lâu. Mẹ chỉ mới ra khỏi giường hôm qua, dường như cố ý lánh mặt để chúng tôi được tự do.
- Má đâu rồi? – Tôi hỏi.
- Chắc ở ngoài vườn – ông đáp như thể không biết.
Tôi đi tìm bà lập tức. Bà đang ở giữa cầu, vỗ tay gọi cá và ném thức ăn cho chúng. Khi thấy tôi, bà đi tới phía bên kia hồ, ngồi xuống một chiếc đôn sứ màu xanh nhạt bên cạnh một bức tượng La Hán bằng đá trông có vẻ dữ dằn nọ và ra dấu tôi đến ngồi xuống chiếc đôn đối diện.
- Con vừa nói chuyện với ba – tôi nói – chuyện gì lạ vậy?
- Con ngạc nhiên lắm phải không Tadasu? – Gương mặt tròn hiền dịu của bà lộ lúm đồng tiền trong một nụ cười. Ánh mắt bà vẫn giữ vẻ bình tĩnh lạ thường đối với một người mẹ cố nén đau thương khi đứa con sơ sinh yêu dấu bị cướp đi.
- Dĩ nhiên là con rất ngạc nhiên.
- Nhưng má đã chẳng nói Tadasu là đứa con duy nhất mà má cần sao? – Vẻ bình thản của bà vẫn không thay đổi – Cả ba con và má đều cho như thế là hơn cả. Lúc nào đó mình sẽ nói về chuyện này.
Đêm đó căn phòng mà tôi đã nhường cho mẹ và đứa bé lại trở thành phòng ngủ của tôi. Càng nghĩ tới chuyện vừa qua tôi càng bối rối. Khi tôi thiếp ngủ trời đã bình minh.
Giờ tôi cũng nên nói qua về Shizuichino, nơi mà Takeshi được gửi đến.
Shizuichino là tên mới đặt cho miền Ichiharano, nơi mà anh hùng Raiko trong huyền thoại đã ra tay giết hại chúa đảng đạo tặc. Ngay cả bây giờ một ngôi làng ở đấy vẫn có tên là Ichihara, và đó cũng là tên của nhà ga địa phương trên đường xe điện chạy tới ngọn Kurama. Tuy nhiên, đường xe cũng mới mở trong mấy năm nay; trước kia người ta đã phải đi sáu bảy dặm đường từ Kyoto đến Shizuichino bằng xe kéo hay bằng xe ngựa xa như Mijake Hachiman và rồi đi bộ khoảng ba dặm rưỡi. Trong nhiều thế hệ chúng tôi có những liên hệ mật thiết với một gia đình tên là Nose, là những trại chủ giàu có trong vùng ấy, có thể một trong những ông bà của tôi đã từng được gửi nuôi nấng tại nhà họ. Ngay cả trong thời cha tôi, ông chủ gia đình Nose và vợ ông ta vẫn đến viếng thăm chúng tôi vào dịp tết, đem theo cả một xe rau cải tươi. Loại cà kano và đậu nành xanh của họ không có bán ngoài chợ, chúng tôi luôn luôn vui mừng khi thấy họ đến với chiếc xe nhỏ. Vì chúng tôi thường đến nhà họ nghỉ đêm trong mùa thu, đi tìm nấm hương, tôi quen thuộc với vùng đó từ hồi còn nhỏ.
Con đường từ nhà Nose đến quả đồi nấm hương chạy dọc theo sông Kurama, một trong những nguồn nước của Kano. Chúng tôi đã biết rõ về Kyoto: khi chúng tôi leo cao hơn, chúng tôi thấy thành phố nằm ngay phía dưới. Người ta nói rằng nhà đại học giả Fujiwara Seika về ẩn ở đây sau khi từ chối lời mời của Shogun Ieyasu đến Edo. Tòa nhà miền núi mà Seika sống đã biến mất từ lâu, nhưng vị trí của nó nằm ở khúc quanh rộng lớn của dòng Kurama ngoằn ngoèo, gần đấy là những nơi mà ông chọn làm “Tám cảnh đẹp”, ông có đặt những tên như Động Suối Gối Đầu và Hồ Chim Bay.
Một địa điểm đáng chú ý khác gần đó là đền Fudaraku, mà người ta thường gọi là đền Komachi nơi Ono no Komachi và kẻ cầu hôn khốn khổ của nàng được chôn cất theo lời đồn đại. Theo cuốn Chỉ nam kinh đô minh họa, đây là ngôi đền mà Thiên Hoàng Go Shira Kawa thăm viếng trong cuộc hành trình đến Ohara, như đã kể lại trong Truyện Heike (Heike monogatari – Bình Gia vật ngữ) . Có một đoạn trong vở tuồng Nô về Komachi thuật rằng ngày xưa có một người đàn ông đi ngang vùng Ichiharano nghe một giọng nói phát ra từ trong bụi cỏ Susuki cao đọc lên bài thơ này:
Khi nào nổi trận thu phong
Komachi thở than trong mù lòa
Có ai trông thấy mặt hoa
Giữa hoang vu cỏ gọi là “suki”.
☆
Vị tu sĩ trong đền nghe chuyện ấy bèn đi đến Ichiharo cầu an cho linh hồn Komachi. Tôi từng nhìn thấy một bức họa cổ vẽ cỏ Susuki mọc lên từ chỗ trũng của đôi mắt chiếc sọ mà người ta tin là sọ Komachi; và trong đền Komachi còn có một “bia đá thở than” trên có khắc bài thơ mà tôi vừa trích. Hồi tôi còn nhỏ, cả vùng là một đồng hoang cỏ Susuki mọc đầy ngập.
Sau khi biết câu chuyện kỳ lạ về Takeshi, vài hôm tôi quyết định bí mật thăm viếng gia đình Nose ở Shizuichino. Tôi không có ý định bắt Takeshi đem về nhà. Tôi không phải hạng người có thể làm chuyện như thế theo ý mình, chỉ vì tôi cảm thấy quá thương xót cho đứa em bé bỏng của mình, bị giật khỏi tay mẹ đem đến một ngôi nhà xa xôi ở tận đồng quê. Ít ra tôi phải xem coi nó mạnh khỏe thế nào để rồi về nhà xin ba má tôi xét lại. Nếu họ không nghe tôi thì trước hết tôi sẽ năng lui tới thăm Takeshi, giữ nguyên vẹn sự liên lạc của chúng tôi với nó. Sớm muộn gì họ cũng hiểu tôi.
Sáng hôm sau tôi lên đường sớm và đến ngôi nhà ấy gần đúng ngọ. Rất may là Nose và vợ y vừa ngoài đồng trở về, nhưng khi tôi xin gặp Takeshi thì họ có vẻ bối rối.
- Takeshi không có đây – họ bảo tôi.
- Thế thì nó ở đâu?
- Ờ... – họ e dè liếc nhau như không biết trả lời thế nào.
Nhưng sau khi tôi căn vặn nhiều lần vợ Nose đành nhượng bộ đáp:
- Chúng tôi giao em cho người ở gần đây.
Rồi họ giải thích bởi vì trong nhà không có ai nuôi trẻ sơ sinh, và bởi vì cha mẹ tôi muốn Takeshi đi xa, họ đưa nó tới nhà người bạn đáng tin cậy để nó ở với họ. Khi tôi hỏi gần đây là nơi nào, Nose luống cuống hơn:
- Ba má cậu biết nơi ấy – y đáp – làm ơn hỏi họ, tôi không được phép cho cậu biết.
Vợ y phụ họa:
- Họ dặn nếu cậu có đến hỏi, chúng tôi không được nói cho cậu biết.
Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng làm cho họ tiết lộ nơi ấy là một làng tên là Seriu.
Một bài dân ca có câu “xa khỏi Kyoto là Ohara và Seriu”, và vở tuồng Kabuku nhan đề Trường Làng có một đoạn nói về “giấu đứa con của chủ họ trong làng Seriu nằm giữa núi đồi”. Nhưng Seriu này nằm ngay trong Đèo Ebumi trên con đường từ Shizuichino tới Ohara và bây giờ đã có một cái tên khác. Còn Seriu mà Nose và vợ y nói là một ngôi làng miền núi ở Tamba, còn xa xôi hiu quạnh hơn nữa. Muốn đến đó phải đi xe điện tới Kibune, ga thứ nhì sau Shizuichino, và vượt đèo Seriu để vào Tamba. Đây là một con đèo hiểm trở, cao gấp hai lần đèo Ebumi và suốt năm dặm đường từ Kibune đến Seriu không có bóng ngôi nhà nào.