Rosalie đã ra đi và Jeanne đang ở vào những ngày cuối cùng của thời kỳ thai nghén đau đớn. Do quá nhiều phiền muộn dày vò, Jeanne không cảm thấy vui thú tý nào khi biết mình sắp được làm mẹ. Lòng trĩu nặng một nỗi lo về những tai họa mơ hồ có thể xảy ra thêm, nàng chờ đợi đứa con mà không một chút tò mò, khắc khoải.
Mùa xuân đến thật nhẹ nhàng. Cây cối trơ trụi vẫn run rẩy trong ngọn gió còn lạnh, nhưng trong đám cỏ ẩm ướt dưới các hố đất, nơi đang mục rữa lá cây rụng từ mùa thu, những bông hoa ngọc trâm màu vàng đã bắt đầu hé nở? Từ khắp khoảng bình nguyên, từ sân các ấp trại, từ những cánh đồng sũng nước, tỏa lên một mùi hương âm ẩm, như mùi rượu đang lên men. Vô vàn những đốm xanh lá mạ đã trổ ra trên đất nâu và lóe sáng dưới ánh mặt trời,
Một thiếu phụ to lớn, vững chãi như một pháo đài, đã thay thế Rosalie để dìu bà nam tước trong những cuộc đi dạo đơn điệu dọc con đường của bà. Bước lê của chân bà đã nặng nhọc hơn để lại trên đường đi những vệt dài luôn ẩm ướt và vũng bùn.
Ông bố đưa tay làm chỗ dựa cho Jeanne lúc này bước đi cũng đã ì ạch và trong người luôn cảm thấy khó thở. Bận rộn với việc sinh đẻ sắp tới của cháu, dì Lison lo lắng cầm tay nàng và đi kèm ở mé bên kia. Lòng bà rối lên mỗi khi suy nghĩ về cái điều bí ẩn kia mà đời bà chưa từng được biết.
Họ đi bên nhau như vậy hằng giờ, không nói một lời, trong khi đó, Julien cưỡi ngựa rong ruổi ngang dọc khắp vùng. Gần đây, thú chơi mới này đã đột ngột xâm chiếm lòng anh.
Không một chút gì đến khuấy động dòng đời tẻ nhạt ấy của họ nữa.
Ông bà nam tước và Julien đã có lần đến thăm gia đình Fuốcvin (Fourville). Riêng Julien có vẻ như quen biết họ nhiều. Không một ai có thể giải thích đúng được sự tình như thế nào mà lại có thể quen biết như thế. Với gia đình Brizơvin (Briseville), những người vẫn thường xuyên sống ẩn dật trong khu lâu đài im lìm như ngủ ấy, họ cũng đã qua lại thăm hỏi xã giao nhau một lần nữa.
Một hôm, vào khoảng bốn giờ chiều, có hai người, một nam, một nữ, phi ngựa nước kiệu, chạy vào sân mặt trước lâu đài Bạch Dương. Julien rối rít chạy ngay lên phòng Jeanne: "Nhanh, nhanh lên, xuống đây em! Có ông bà Fourville đến chơi. Biết tình hình sức khỏe của em, họ đến thăm với tư cách là lân bang hàng xóm, chỉ đơn giản có thế thôi. Em cứ nói là anh đi vắng một tý, sẽ về ngay. Đủ thì giơ cho anh sửa soạn một chút thôi mà".
Jeanne ngạc nhiên đi xuống. Nàng thấy một thiếu phụ, người còn trẻ và xinh đẹp, nước da xanh, nét mặt u buồn, đôi mắt say đắm, tóc vàng mà không bóng, tưởng như chưa từng được ánh mặt trời vuốt ve bao giờ. Thiếu phụ bình thản giới thiệu với Jeanne chồng cô, một người cao lớn như ông khổng lồ, một vị ba bị chín quai với bộ ria mép hung hung to tướng. Cô nói thêm: "Chúng tôi đã có nhiều dịp gặp ông De Lamare nhà ta. Nhớ có ông, chúng tôi được biết là bà đang bệnh, và thế là chúng tôi không muốn để chậm hơn nữa việc đến thăm bà, với tư cách là bạn láng giềng với nhau và không chút nghi thức xã giao nào. Bà thấy đây, chúng tôi đi ngựa mà thôi. Ngoài ra, hôm trước đây, tôi cũng đã sung sướng được tiếp cụ ông, cụ bà nam tước nhà ta đến thăm”.
Cô nói những lời đó với một vẻ vô cùng thoải mái, thân tình và trân trọng. Jeanne thấy mình bị chinh phục và quý mến cô ngay lập tức. "Một người bạn được đây!”, nàng nghĩ.
Ông bá tước De Fourville thì trái lại, trông cứ như một con gấu lọt vào trong phòng khách. Khi ngồi xuống, ông đặt mũ lên chiếc ghế bên cạnh, ngần ngừ một lát không biết nên xử trí đôi tay như thế nào, hết đặt nó lên đầu gối, lại lên chỗ tựa của chiếc ghế bành, cuối cùng bèn chắp hai bàn tay vào nhau như lúc cầu kinh vậy.
Bất thình lình, Julien bước vào. Jeanne kinh ngạc không nhận ra anh nữa. Anh đã cạo râu sạch sẽ, trông đẹp trai, duyên dáng và hấp dẫn như những ngày họ chưa làm lễ cưới vậy. Anh bắt bàn tay lông lá của ông bá tước; ông này như nhớ có anh đến mà tỉnh được cơn buồn ngủ. Anh hôn bàn tay người thiếu phụ. Đôi má trắng ngà chợt ửng hồng lên chút ít và đôi hàng mi cũng chấp chới rung lên nhè nhẹ.
Anh nói chuyện. Anh vẫn có cái vẻ dễ thương như xưa. Đôi mắt to, tấm gương phản chiếu tình yêu, lại trở nên trìu mến. Mái tóc, hồi nãy trông còn xỉn và cứng, nay nhờ được chải kỹ, được xức dầu thơm đã đột nhiên bóng loáng và gợn sóng mềm mại trở lại.
Lúc vợ chồng ông Fourville từ biệt ra về, người thiếu phu quay lại phía Julien: "Thưa ông tử tước thân mến, liệu ông có muốn đi ngựa dạo chơi một chuyến vào thứ năm tuần này không?".
Trong lúc anh cúi người xuống thì thầm đáp: "Dạ thưa bà, chắc chắn là có đấy ạ!", Vợ ông bá tước cầm lấy tay Jeanne và, với một giọng trìu mến, thấm vào lòng người, vói nụ cười âu yếm, cô nói; "Ôi! Chờ đến khi nào bà lành bệnh hẳn, cả ba chúng ta sẽ cùng nhau cưỡi ngựa phi nước đại đi chơi khắp vùng, lúc đó, thật sẽ thú vị biết bao, bà đồng ý như vậy không?".
Dáng điệu ung dung, cô nâng tà sau của chiếc váy kỹ sĩ rồi vọt lên ngựa, nhẹ nhàng như một cánh chim, còn ông chồng cô sau một lời chào vụng về đã leo lên và ngồi chắc nịch trên lưng con ngựa giống Normandie to tướng, trông cứ hệt như một quái vật đầu người, mình ngựa trong thần thoại.
Khi họ đã khuất ở khúc đường quành có đặt cây chắn, Julien có vẻ phấn khởi, kêu to lên: "Ôi, những con người dễ thương làm sao. Một sự quen biết có ích đây!".
Cũng thấy hài lòng mà không hiểu vì sao, Jeanne đáp: "Bà bá tước nhỏ nhắn ấy quả là có sức lôi cuốn. Em cảm thấy sẽ yêu mến bà ta; nhưng ông chồng sao lại có vẻ thô lỗ thế! Anh quen biết họ ở đâu vậy?".
Anh xoa tay, vui vẻ nói: "Anh tình cờ gặp họ ở gia đình ông bà Briseville. Ông chồng hình như hơi thô kệch. Ông ta mê săn bắn như điên như dại, nhưng là một nhà quý tộc thực sự đấy".
Bữa cơm tối đó khá vui vẻ. Dường như một niềm hạnh phúc thầm kín nào đó đã lọt vào nhà.
Tình hình cứ như vậy, chẳng có gì mới mẻ, cho đến những ngày cuối tháng bảy.
Một buổi chiều thứ ba, giữa lúc hai vợ chồng đang ngồi dưới gốc cây ngô đồng, quanh một cái bàn gỗ trên đặt hai cóc nhỏ và một bình rượu mạnh, Jeanne bỗng đột nhiên kêu "ái" lên một tiếng, mặt tái nhợt đi, hai tay ôm lấy bụng. Một cơn đau ngắn và mạnh đã bất ngờ lan khắp toàn thân nàng nhưng lại chấm dứt ngay.
Tuy nhiên, chỉ mười phút sau, một cơn đau khác lại ập đến. Cơn này không dữ bằng cơn trước, nhưng kéo dài hơn. Khó nhọc lắm nàng mới lê bước vào được trong nhà;
nhờ có bố và Julien gần như phải khiêng hẳn nàng lên. Đối với nàng, đoạn đường ngắn ngủn từ cây ngô đồng về đến phòng riêng như dài vô tận. Nàng không muốn mà vẫn phải rên lên, hết đòi cho ngồi xuống, lại đòi cho dừng lại, khốn khổ cả người vì cái cảm giác nặng trĩu không sao chịu nổi ở trong bụng.
Tính ra thì nàng chưa đến kỳ, đến tháng, phải tới tháng chín mới đúng ngày sinh. Nhưng để đề phòng tai biến, lão Simon vẫn được lệnh thắng gấp một cỗ xe và phóng vội đi mời thầy thuốc.
Vào khoảng nửa đêm thì ông ta đến. Mới nhìn qua, ông đã nhận ra ngay những triệu chứng của một cuộc đẻ non.
Trên giường, tuy Jeanne có giảm đau chút ít, nhưng một nỗi khắc khoải đáng sợ vẫn siết chặt lấy người nàng. Toàn thân nàng suy sụp một cách tuyệt vọng. Nàng cảm thấy một cái gì như linh tính báo hiệu thần chết đang bí ẩn mầy mò sờ mó đến người nàng. Trong đời người có những lúc như vậy đó: cái chết gần ta đến nỗi cảm thấy cả hơi thở của nó làm lạnh giá cả lòng ta.
Phòng Jeanne đầy ắp những người. Ngồi mọp trong chiếc ghế bành, bà mẹ vẫn đang khó thở. Ông nam tước tay run rẩy, cuống quýt chạy hết chỗ này đến chỗ khác, lúc đưa vật kia, đồ nọ, lúc hỏi ý kiến ông thầy thuốc về việc này, việc khác. Julien ra vẻ bận rộn, đi đi lại lại nhưng trong lòng bình thản. Bà góa Dentu đứng ở chân giường với một nét mặt tùy cơ ứng biến nét mặt của người phụ nữ giàu kinh nghiệm, không một việc gì có thể làm cho kinh ngạc được. Bà đã qua các công việc hộ lý bệnh nhân, hộ sinh, coi xác chết, tiếp nhận những kẻ mới đến với cuộc đời, đón lấy tiếng khóc đầu tiên của những đứa trẻ, tắm rửa lần đầu tiên trong đời cho da thịt mới mẻ của chúng và quấn chúng vào tấm tã đầu tiên, để rồi, cũng với thái độ bình tĩnh ấy, lắng nghe lời nói cuối cùng, tiếng rên cuối cùng, cái rùng mình cuối cùng của những người từ giã cuộc đời, rửa ráy cho họ lần chót, sát dấm vào thân hình khẳng khiu của họ và bọc cho họ tấm vải cuối cùng. Từng trải như vậy nên bà Dentu đã tạo được cho mình một thái độ thản nhiên không gì lay chuyển nổi trước mọi tai biến của việc sinh đẻ và chết chóc.
Cô bếp Luyđivin (Ludivine) cùng dì Lison kín đáo ngồi bên nhau sau cánh cửa phòng chờ.
Thỉnh thoảng, Jeanne lại bật lên một tiếng kêu than yếu ớt, Sau hai tiếng đồng hồ chờ đợi, mọi người đều cho rằng chắc còn phải lâu hơn nữa mới đến giờ sinh. Nhưng gần sáng, cơn đau bỗng dữ dội hẳn lên và mau chóng trở thành cơn đau khủng khiếp.
Không muốn mà vẫn cứ thốt ra tiếng kêu rên qua hai hàm răng nghiến chặt, Jeanne không ngớt nghĩ đến Rosalie. Cô hầu đã không hề đau đớn, đã gần như không rên rỉ gì và đứa trẻ, đứa con hoang vẫn lọt ra được, không có gì là khó nhọc, khổ cực cả.
Trong thâm tâm khốn khổ và rối bời của mình, Jeanne không ngớt so sánh nàng và Rosalie; nàng nguyền rủa
Thượng Đế mà xưa kia nàng tưởng là công bằng lắm, nàng bất bình với những sự ưu đãi tội lỗi của số phận, với những lời dối trá tội lỗi của những kẻ lên giọng dạy đời phải giữ lòng chính trực và làm việc phúc đức.
Có lúc cơn đau dữ dội tới mức mọi ý nghĩ đều tắt ngấm trong đầu nàng. Nàng chỉ còn đủ sức lực, sinh khí và hiểu biết để chịu đựng cơn đau mà thôi.
Trong những phút bớt đau, nàng không thể rời mắt nhìn Julien, và thế là một nỗi đau khác, một nỗi đau tâm hồn lại siết chặt lòng nàng. Nàng nhớ lại ngày người hầu gái ngã khuỵu xuống. Cũng chính dưới chiếc giường này, với đứa con lọt ra nằm giữa hai chân, thằng anh của đứa bé đang dữ dội xé gan, xé ruột nàng lúc này đây. Nàng nhớ như in, không chút phai mờ những cử chỉ, mắt nhìn, lời nói của chồng nàng đứng trước cô gái nằm sóng soài dưới sàn lúc đó. Và bây giờ, nàng đã đọc rõ trong con người anh mọi ý nghĩ của anh dường như đều được viết toạc ra trên mỗi cử động cũng sự bực bội ấy, cũng sự hờ hững ấy của một thằng đàn ông ích kỷ, cáu kỉnh trước việc phải làm cha.
Nhưng một cơn co giật đáng sợ lại ập đến bóp chặt lấy người nàng, một con đau thắt dữ dội đến mức nàng phải tự nhủ; "Ta chết đến nơi rồi! Ta đang chết đây!". Và thế là trong lòng nàng bỗng nổi lên một sự vùng dậy giận dữ, bỗng tràn ngập một đòi hỏi được nguyền rủa, một nỗi oán hờn cùng cực đối với người đàn ông đã hủy hoại đời cô và đối với cả đứa trẻ chưa biết mặt đang giết chết nàng đây.
Nàng cong người lên, gắng sức đến cực độ để tống tháo ra cho được khỏi người nàng cái gánh nặng ấy. Đột nhiên, nàng bỗng cảm thấy cả bụng mình hình như trống rỗng hẳn đi, không còn gì hết, và cơn đau cũng đã dịu bớt.
Bà khán hộ và ông thầy thuốc cùng cúi xuống mày mò trên người nàng. Nàng thấy họ kéo ra một vật gì đó; và tức thì một tiếng thở nghẹn mà nàng đã từng nghe, làm cho nàng giật bắn mình. Rồi tiếng kêu đau đớn, tiếng khóc yếu ớt như tiếng mèo kêu của đứa trẻ sơ sinh bỗng tràn vào tâm hồn, vào trái tim, vào toàn bộ cơ thể tội nghiệp và kiệt sức của nàng. Với một cử chỉ tự phát, nàng gần như giơ cánh tay ra đòi bế.
Một niềm vui, một đà phấn khỏi vươn tới một hạnh phúc mới mẻ bỗng xuyên suốt và bừng nở trong người Jeanne Trong giây phút, nàng thấy mình đã được giải thoát. Dịu hẳn người đi, nàng sung sướng, sung sướng chưa từng thấy. Trái tim và thịt da nàng bừng tươi trở lại. Nàng đã cảm thấy mình làm mẹ.
Nàng muốn được nhìn thấy đứa con. Ra đời quá sớm, nó chưa có tóc, chưa có cả móng tay. Vậy mà khi nhìn thấy cái thân hình giống như con bọ ngọ nguậy, mở miệng cất tiếng khóc oa oa ấy, khi sờ vào cái thai đẻ non dăn dúm, nhăn nhó, sinh động ấy, nàng bỗng thấy tràn ngập một niềm vui không cưỡng nổi, bỗng hiểu là mình đã được cứu vớt, được đảm bảo thoát khỏi mọi nỗi tuyệt vọng, đã có một cái gì đó để yêu, để quý, đến mức không còn biết làm gì khác nữa.
Từ giờ phút này, nàng chỉ còn có một ý nghĩ: đứa con của mình. Trong khoảnh khắc, nàng đã trở nên một người mẹ thương con một cách cuồng tín. Trước đây, nàng thất vọng trong tình yêu, nàng lầm lẫn trong hy vọng bao nhiêu, thì nay, nàng lại phấn khởi bấy nhiêu, cần phải thường xuyên đặt cái nôi ở cạnh chỗ nàng và từ hôm đủ sức đứng dậy trở lại, nàng ngồi hàng ngày dài, lưng dựa vào khung cửa sổ, tay đu chiếc nôi nhỏ nhẹ kề bên của con.
Nàng phát ghen cả với chị vú nuôi. Mỗi khi đứa bé đói bụng vươn tay về phía chiếc vú to hằn lên mấy đường mạch máu xanh nhạt và ngậm qua đôi môi háu ăn vào cái núm vú nâu nhăn nheo, thì nàng lại tái mặt đi, run rẩy nhìn chị nông dân mạnh khỏe và bình thản như muốn giằng lấy con nàng về, muốn đánh, muốn cấu xé cái bộ ngực mà con nàng đang bám vào bú lấy bú để đó.
Để làm đẹp cho con, nàng muốn tự tay mình thêu lấy những bộ áo quần thanh tú có một vẻ duyên dáng cầu kỳ. Đứa bé được bao bọc trong những đăng-ten mỏng như sương và đội những cái mũ lộng lẫy. Nàng chỉ còn nói duy nhất về những thứ đó; nàng cắt ngang những câu chuyện đang bàn để khoe cho được một cái tã, một tấm yếm dài hay một dải băng cắt, thêu tinh tế hơn người. Nàng chẳng còn nghe gì hết về những chuyện đang nói quanh mình mà chỉ say sưa với những tấm lụa là, nàng giơ cao những thứ đó lên, lật qua, lật lại hồi lâu để ngắm cho được kỹ, và để rồi đột nhiên hỏi: "Liệu cháu mặc thứ này có đẹp không nhỉ?".
Ông bà nam tước thấy buồn cười trước tình thương con cuồng nhiệt đó, nhưng Julien lại cảm thấy nếp sống, thói quen của anh bị rối loạn và tầm quan trọng thống trị của anh bị giảm sút với sự xuất hiện của tên bạo chúa to mồm và quyền hành vô hạn ấy. Anh phát ghen một cách không tự giác với cái mẩu người đã cướp mất vị trí của anh trong gia đình này sốt ruột và giận dữ, anh luôn mồm nói mãi; "Liệu cô ta và thằng nhóc đó có quấy rầy quá đáng không nhỉ?".
Tình thương con ám ảnh Jeanne mạnh đến nỗi có những đêm Jeanne ngồi thức trắng bên nôi để ngắm đứa bé ngủ. Do cái tật ngắm con say mê và bệnh hoạn ấy, nàng không còn nghĩ gì đến việc nghỉ ngơi nữa. Nàng gầy yếu kiệt sức đi và mắc bệnh ho. Thấy vậy, thầy thuốc phải ra lệnh cách ly nàng khỏi đứa con.
Nàng nổi xung, khóc lóc, van xin, nhưng ai nấy đều phớt tỉnh. Cứ tối đến là thằng bé được đưa sang phòng chị vú. Và thế là đêm đêm, người mẹ lại lén bước xuống giường, đi chân không đến áp tai vào lỗ khóa để nghe xem con mình có ngủ yên không? Có thật nó không thức giấc không? Có thật nó không cần gì cả không?
Một lần, vì ăn cơm tối ở nhà ông bà Fourvillen về muộn, Julien bắt gặp Jeanne đang theo dõi con như vậy. Thế là
từ đó, để buộc phải nằm yên trên giường, đêm nào Jeanne cũng bị nhốt kín trong phòng riêng, cửa khóa trái lại.
Lễ đặt tên cho thằng bé được tiến hành vào cuối tháng tám. Cha đỡ đầu là ông nam tước. Mẹ đỡ đầu là dì Lison. Thằng bé được nhận cái tên thánh Pie (Pierre)- Ximông (Simon)- và Pôn (Paul). Tên thường gọi là Pôn (Paul).
Vào một ngày đầu tháng chín, dì Lison lại lặng lẽ ra đi. Sự vắng mặt của bà, cũng như sự có mặt của bà không được ai biết đến.
Một buổi tối, sau bữa ăn, ông linh mục đến thăm gia đình. Trông ông có vẻ lúng túng thế nào, cứ như đang giữ một điều gì bí mật vậy. Sau một vài câu chuyện vô tích sự, ông yêu cầu được gặp ông bà nam tước chốc lát để nói một chuyện riêng.
Chân bước chậm rãi, cả ba người đi đến hết con đường lớn thường đi dạo và trò chuyện sôi nổi, trong lúc đó, một mình ngồi lại với Jeanne, Julien ngạc nhiên, lo lắng và nổi cáu vì điều bí mật kia.
Khi ông thầy tu ra về, Julien đưa tiễn ông một đoạn. Hai người đi mất hút về phía nhà thờ lúc đó đang rung chuông cầu kinh buổi tối. Trời mát đến gần như lạnh, nên chẳng mấy chốc, mọi người đều cùng vào ngồi với nhau trong phòng khách, cả nhà đang thiu thiu, nửa thức, nửa ngủ thì Julien đột ngột trở về, mặt mũi đỏ gay, tỏ vẻ bất bình,
Chẳng hề nghĩ là Jeanne cũng có mặt ở đó, vừa mới đến ngưỡng cửa, anh đã quát ngay với bố mẹ vợ: ''Trời đất
quỷ thần ơi, bố mẹ điên mất rồi! Ai lại đem cúng cho con bé đó những hai vạn francs cơ chú!".
Quá bất ngờ nên chẳng một ai trả lời anh cả. Giận dữ, anh lại lu loa lên như bò rống: "Chẳng ai ngu dại đến thế bao giờ: Như vậy là bố mẹ không muốn để lại cho chúng con một đồng xu nhỏ hay sao?".
Bình tĩnh và cương quyết trở lại, ông nam tước tìm cách ngăn chặn anh: "Anh im đi! Hãy nhớ rằng anh đang nói năng trước mặt vợ anh đó!".
Nhưng anh lại dậm chân, cáu kỉnh thêm: "Cái đó thì con chẳng cần! Cô ấy thừa biết chuyện ấy rồi. Như thế là ăn cắp tiền của cô ấy đấy!".
Jeanne không hiểu, sững sờ nhìn mọi người. Nàng ấp úng hỏi: "Có chuyện gì vậy?".
Thế là Julien quay về phía vợ, định lấy nàng làm chứng, như một người cùng bị lừa gạt với mình trong một việc kinh doanh kiếm lợi chung. Anh đùng đùng kể lại câu chuyện mưu mô gả chồng cho Rosalie, việc định đem cho không ruộng đất ở ấp Barville đáng giá ít nhất cũng hai vạn francs. Anh nhắc lại: "Vậy là bố mẹ em điên mất rồi, em yêu quý ạ, điên quá mức rồi! Hai vạn francs! Hai vạn francs! Thật là mất trí! Hai vạn francs vì một đứa con hoang!".
Jeanne nghe mà không hề xúc động, không hề giận dữ. Một thái độ trầm tĩnh làm cho chính nàng cũng phải ngạc nhiên. Bây giờ, với tất cả mọi thứ trên đời nếu không phải là con nàng, nàng đều thờ ơ, lãnh đạm.
Ông nam tước nghẹn họng chưa biết nói gì để trả lời Julien. Cuối cùng, ông nổi cáu dậm chân quát lên: “Hãy nghĩ lại những điều anh nói mà xem, thật là chối tai lắm! Thử hỏi lỗi của ai nên phải cấp của hồi môn cho cô gái không chồng mà chửa ấy? Đứa con đó là con ai? Bây giờ, anh muốn bỏ rơi nó sao?".
Kinh ngạc trước thái độ hung dữ của ông nam tước, Julien dán mắt nhìn ông, rồi nói tiếp, giọng đã bình tĩnh hơn: "Nhưng chỉ cần một nghìn rưỡi francs là đủ rồi. Trước khi lấy chồng, bọn con gái đứa nào cũng chẳng có con cơ chứ? Dù là con anh này hay con anh khác cũng chẳng có gì thay đổi cơ mà! Việc gì mà phải đem cho không một trại ấp đáng giá những hai vạn frăng (francs) như vậy? Ấy là chưa kể, làm như thế, bố mẹ sẽ bêu riếu chúng con, tức là sẽ phô bày cho khắp thiên hạ biết câu chuyện đã xảy ra kia. Lẽ ra, ít nhất, bố mẹ cũng nên nghĩ đến tên tuổi, địa vị của chúng con chứ!".
Anh nói bằng một giọng nghiêm khắc, giọng nói của một người vững tin ở quyền hạn của mình, ở lô-gích trong lập luận của mình. Ông nam tước, bối rối vì lý lẽ bất ngờ đó, cứ đứng há hốc mồm ra trước mặt anh, cảm thấy mình lợi thế, Julien kết luận: "May mắn đấy chưa phải là việc đã rồi. Con còn biết anh chàng định cưới nó. Đó là một con người biết điều, có thể thu xếp mọi việc với hắn ta được. Con xin phụ trách việc đó".
Chắc là sợ phải tiếp tục cuộc tranh luận, anh vội đi
ra ngay. Vui sướng thấy mọi người đều im lặng, anh coi đó như là một sự đồng ý.
Khi anh vừa đi khuất, ông nam tước rất kinh ngạc và giận đến run người, phải kêu to lên: "Ôi! Thật là quá đáng! Thật là quá đáng!",
Nàng nhắc lại: "Bố bố này, bô có nghe cách anh ấy nói mấy chữ "hai vạn francs" không bố?".
Vốn tính dễ buồn mà cũng dễ vui, bà nam tước vừa sung sướng thấy con gái mình đã vui vẻ trở lại, vừa nhớ đến nét mặt cáu kỉnh của ông con rể, nhưng tiếng kêu giận dữ của y, việc y hung hăng không chịu để người khác đem cho cô gái bị y cám dỗ một số tiền không phải là của y. Thế là bà mẹ cũng rung người lên mà cười, cái cười hổn hển, cười đến ràn rụa cả nước mắt ra. Rồi đến lượt ông nam tước, như bị một bệnh truyền nhiễm, cũng lăn ra cười nốt, và như trong những ngày tươi đẹp xưa kia, cả ba lại có dịp vui đùa với nhau một trận đến phát ốm lên được.
Khi họ đã dịu cơn cười, Jeanne ngạc nhiên nói: "Lạ kỳ thật, bố mẹ ạ, không hiểu sao con cứ dửng dưng như không ấy thôi. Bây giờ, con coi anh ấy cứ như một người xa lạ. Con không thể tin được rằng con là vợ của anh ấy. Bố mẹ thấy đấy, con cảm thấy vui thú ngay cả với những chuyện... kém tế nhị của anh ấy!".
Và, không hiểu vì sao, cả ba người đã ôm hôn nhau, miệng vẫn còn tươi cười và lòng vẫn còn xúc động.
Hai ngày sau, cơm trưa vừa xong, khi Julien đã cưỡi ngựa ra đi, một chàng trai cao lớn khoảng hăm hai đến hăm nhăm tuổi, người mặc chiếc áo choàng xanh mới toanh, nếp còn thẳng cứng, tay áo rộng phùng phình, cổ tay có cúc gài chẽn lại, lấm lét trèo qua cái chắn đường, cứ như là anh ta đã phục ở đó từ sáng sớm rồi. Anh ta lần mò theo mép hào phía nhà bác Couillard, đi vòng quanh lâu đài, rồi mới mắt trước, mắt sau, bước gần lại ông bà nam tước và Jeanne lúc đó đang ngồi dưới gốc cây ngô đồng.
Thấy họ, anh ta bỏ mũ ra chào, với điệu bộ lúng túng.
Khi đã đến gần để nói đủ nghe, anh ta lúng búng: "Dạ, kẻ đầy tớ của ngài đây ạ, thưa ngài nam tước, thưa phu nhân, và toàn gia". Rồi, không thấy ai nói gì, anh ta tự giới thiệu: "Chính tôi là Đêzirê Lơcốc (Désiré Lecoq) đây ạ".
Cái tên đó cũng chẳng làm sáng tỏ được gì hết. Ông nam tước hỏi: "Anh muốn gì?".
Trước việc phải nói rõ trường hợp của mình, chàng trai trở nên hoàn toàn bối rối. Cặp mắt không ngừng hết nhìn xuống chiếc mũ vải cầm ở tay lại ngó lên nóc tòa lâu đài, anh ta ấp úng nói: "Thưa, chính ông linh mục là người đã nói đôi câu với tôi về việc đó...". Đến đây, anh ta lại lặng thinh, sợ lỡ lời, có thể thất thố và thiệt hại cho mình chăng.
Vẫn chưa hiểu, ông nam tước hỏi tiếp: "Sự việc gì nhỉ? Tôi, tôi, không biết gì cả".
Thế là, hạ thấp giọng xuống, anh ta quyết định nói: "Dạ, việc người hầu... gái của Ngài..., cô Rosalie đó ạ".
Đoán ra chuyện, Jeanne liền đứng dậy và bế con đi xa xa. Còn ông nam tước vừa chỉ vào chiếc ghế Jeanne vừa ngồi, vừa nói: "Mời anh lại gần đây!".
Anh nông dân bèn ngồi ngay xuống, thì thầm: "Ngài thật là người trung hậu!". Rồi anh ta chờ, như thể không còn gì để nói nữa. Sau một lúc im lặng khá lâu, anh ta lại quyết định nói thêm một câu, mắt cứ ngước lên nền trời xanh: "Thế là có thời tiết tốt cho mùa màng rồi đấy. Ruộng đất nào mà gieo trồng rồi thì lợi phải biết!". Rồi anh ta im lặng.
Ông nam tước nóng ruột. Ông, xẵng giọng, đột ngột nói thẳng ngay vào vấn đề: "Thế nào, vậy chính anh là người sẽ cưới Rosalie phải không?".
Với thói đa nghi của người dân xứ Normande, anh chàng kia lập tức bốì rối, lo ngại ngay. Anh cảnh giác trả lời với một giọng nói đã mạnh bạo hơn: "Cái đó cũng còn tùy. Có thể là như vậy, cũng có thể là không. Tùy!".
Trước thái độ quanh co, lấp lửng ấy, ông nam tước liền nổi xung: "Mẹ kiếp! Thì anh hãy trả lời cho thẳng thắng xem nào! Có phải vì việc đó mà anh đến đây không? Anh có cưới nó làm vợ không? Có hay không?".
Chàng trai ngần ngừ, khó xử, mắt chỉ còn biết nhìn xuống chân mình: "Nếu được như lời ông linh mục nói thì tôi cưới, còn nếu như lời ông Julien, thì tôi chẳng cưới đâu".
- Ông Julien đã nói với anh như thế nào?
- Ông Julien nói là tôi sẽ được một nghìn rưởi francs, còn ông linh mục nói là tôi sẽ được hai vạn francs; tôi rất muốn được hai vạn, chẳng muốn được nghìn rưởi tý nào!
Trước thái độ băn khoăn của anh chàng quê kệch, bà nam tước đang ngồi ngả sâu vào chiếc ghế bành bỗng bật ra một tràng những tiếng cười khúc khích. Ghé mắt nhìn thấy, anh nông dân chẳng hiểu có cái gì đáng buồn cười ở đây; anh ta ra vẻ không bằng lòng và chờ đợi.
Khó chịu với câu chuyện cò kè mặc cả này, ông nam tước cắt ngang; "Tôi đã nói với ông linh mục là anh sẽ được cái ấp Barville cho đến hết đời anh, rồi sau đó giao lại cho đứa bé. Cái ấp đó đáng giá hai vạn francs. Tôi chỉ nói một lời thôi. Như thế được chưa? Anh đồng ý không?".
Chàng trai cười, tỏ vẻ quy lụy và thỏa mãn. Đột nhiên, anh trở nên lắm mồm: "Ôi! như thế thì tôi sẽ chẳng nói "không đồng ý". Tôi chỉ vướng có chuyện đó thôi. Khi ông linh mục nói với tôi như vậy, tôi bằng lòng ngay, tất nhiên là thế rồi. Hơn nữa, tôi cũng rất thích được làm vừa lòng ngài nam tước. "Ông ấy sẽ chẳng quên công mình đâu", tôi tự nói với mình như thế. Có đúng không ạ? giữa người với người, được kẻ khác làm việc tốt cho mình thì về sau, bao giờ lại chẳng gặp nhau và đền đáp cho nhau, Nhưng ông Julien lại đến tìm tôi và nói chỉ có nghìn rưởi thôi. Tôi tự bảo: "Phải hỏi cho rõ", thế là tôi đến đây. Mà đâu có phải là chuyện nói suông: Tin thì tôi tin, nhưng biết rõ, tôi vẫn muốn biết rõ. Tiền nong sòng phẳng, mới thành bạn tốt. Cưa đứt, đục suốt, thì được lòng nhau, phải không, thưa ngài nam tước?...
Ngắt lời anh ta, ông nam tước hỏi: - Anh định bao giờ thì làm lễ cưới?
Thế là, thái độ anh ta bỗng nhiên trở lại rụt rè và rất lúng túng. Cuối cùng, anh ta ngập ngừng: "Thế chẳng lẽ ta lại không giấy, không tờ gì với nhau cả sao?".
Đến đây thì ông nam tước phát cáu: "Ma quỷ! Thế anh sẽ chẳng có giấy hôn thú hay sao? Còn giấy tờ nào hơn giấy đó nữa chứ?".
Nhưng anh nông dân vẫn bướng bỉnh: "Trong khi chờ đợi, ta vẫn có thể viết cho nhau một mẩu giấy như thường, cái đó chẳng bao giờ có hại cả!”.
Để chấm dứt, ông nam tước đứng dậy: "Anh hãy trả lời đi và trả lời ngay lập tức: Anh có bằng lòng không? Nếu anh không muốn nữa thì cứ việc nói ra, tôi còn có kẻ cầu hôn khác".
Thế là nỗi lo bị kẻ khác cạnh tranh đã làm cho anh chàng xứ Normande tinh quái cuống lên. Anh liền quyết định ngay và chìa bàn tay ra như sau mỗi lần anh mua một con bò cái: "Vậy thì xin hãy vỗ vào đây, thưa ngài nam tước. Thế là xong nhé! Đứa nào bội ước, đứa đó là đồ chó!".
Ông nam tước bèn vỗ vào tay y, rồi gọi to: "Ludivine!". Cô đầu bếp thò đầu ra cửa sổ. "Đem ra đây một chai rượu vang, cháu!". Hai bên chạm cốc để ăn mừng một việc trao đổi đã ngã giá. Và chàng trai ra về, bước chân đã nhẹ nhàng, mau mắn hơn.
Không ai nói gì cho Julien biết về cuộc đến thăm đó cả. Giấy hôn thú được chuẩn bị rất bí mật và, ngay sau khi lời công bố kết hôn được đưa ra, thì lễ cưới được tiến hành ngay vào một buổi sáng thứ hai.
Một bà hàng xóm ẵm giúp đứa bé đến nhà thờ và đứng sau lưng vợ chồng mới cưới, coi đó như là một lời hứa có đảm bảo về gia sản vậy. Khắp cả vùng không ai ngạc nhiên. Người ta lại còn mong ước được như Désiré Lecoq nữa. "Thằng cha thật tốt số!", thiên hạ nói với nhau như vậy, kèm theo một nụ cười ranh mãnh nhưng không gợn chút bất bình nào.
Julien nổi một trận lôi đình khủng khiếp đến nỗi bố mẹ vợ anh không còn muốn ở lại Bạch Dương thêm một ngày nào nữa.
Nhìn bố mẹ ra đi lần này, Jeanne không còn thấy buồn rầu sâu sắc quá nữa. Đối với nàng, Paul đã trở thành một nguồn hạnh phúc không bao giờ cạn rồi.