Jeanne đã hoàn toàn hồi phục sau khi ở cữ. Hai vợ chồng quyết định đến thăm ông bà Fourville và làm quen với ông bà hầu tước Coutelier.
Để có thể đi ra ngoài mỗi tháng hai lần, gần đây Julien đã mua được ở chợ về một cỗ xe mới, thứ xe hai chỗ ngồi, rất nhẹ, chỉ cần thắng một ngựa cũng đủ.
Một ngày tháng chạp qua những cánh đồng Normande, xe lọt xuống một thung lũng nhỏ, hai bên sườn là rừng, còn ở dưới lòng thì trồng trọt.
Hết những cánh đồng gieo cấy, liền đến đồng cỏ và tiếp đó là một đầm lầy đầy những cây sậy to, khô khốc, vào mùa này lá dài kêu xào xạo, trông giống như những dải băng màu vàng.
Sau một khúc ngoặt gấp của thung lũng, tòa lâu đài La Voriet (de la Vrillette) hiện ra bất ngờ. Một mặt của lâu đài dựa lưng vào phía sườn có rừng của thung lũng, còn mặt kia, cả dãy tường thành của tòa nhà ngậm nước một cái đầm lớn trải rộng đến tận chân vạt rừng tùng cao vút mọc thoai thoải ngược lên sườn phía bên kia thung lũng.
Xe phải chạy qua một cái cầu rút kiểu cổ, chui qua một cổng to đồ sộ xây theo kiểu thời vua Louis thứ mười ba, rồi chạy vào sân khách danh dự trải rộng trước mặt một khu nhà thanh nhã kiến trúc cũng theo kiểu thời vua trên, có bức tường trang trí viền quanh và những tháp canh nhỏ lợp đá đen ( loại đá người Pháp gọi là d'ardoise, dùng để lợp nhà hay dùng làm bảng viết bằng pgaasn lên) bảo vệ.
Là khách thường lui tới và am hiểu cặn kẽ lâu đài này, Julien giải thích cho Jeanne biết mọi bộ phận của tòa nhà. Anh tán dương mọi chi tiết và, say sưa trước vẻ đẹp của tòa lâu đài, anh nói: "Em hãy nhìn cái cổng giữa này! Một gian nhà ở mà được như nó thôi cũng đã nguy nga chán, phải không? Cả phía mặt kia xây trên mặt đầm, có bậc tam cấp kiểu vương giả xuống sát tận mặt nước, lại có buộc sẵn bốn con thuyền; hai chiếc dành cho ông bá tước và hai chiếc cho phu nhân. Phía bên phải kia, chỗ em nhìn thấy rặng Bạch Dương, là hết cái đầm đấy. Chính từ chỗ ấy bắt nguồn con sông chảy đến tận Fécamp. Vùng này sặc mùi các loại chim đầm hồ. Ông bá tước mê săn bắn ở đây lắm. Nơi đây mới thật đúng là một dinh cơ của lãnh chúa!".
Cửa giữa mở toang, người vợ xanh xao của ông bá tước xuất hiện. Mình khoác chiếc áo dài, đuôi áo kéo lê thê trên mặt sàn như kiểu áo nữ chúa đời xưa, miệng cười tươi, cô bước tới trước mặt các vị khách. Thật đúng là người đẹp vùng hồ. Sinh ra trên đời như để dành riêng cho khu biệt thự vương giả này.
Phòng khách có tám cửa sổ thì bốn cái mở ra phía đầm nước và cánh rừng tùng tối sẫm trên sườn đồi truớc mặt.
Mặt nước màu xanh có ánh đèn làm nổi bật vẻ sâu thẳm, khắc nghiệt và sầu thảm của cái đầm. Mỗi khi gió thổi, cây cối rền rĩ như cất lên tiếng nói của vùng đầm lầy.
Vợ ông bá tước nắm cả hai bàn tay Jeanne, cứ như là bạn bè với nhau từ thời thơ ấu vậy. Cô mời Jeanne ngồi, rồi đặt mình xuống một chiếc ghế thấp kề bên, trong khi đó Julien trò chuyện tươi cười, dịu dàng và thân mật, với tất cả cái duyên dáng đã được phục hồi sau năm tháng bị lãng quên.
Vợ ông bá tước và Julien nói về những cuộc cưỡi ngựa đi chơi của họ. Cô cười nhạo chút ít về cách cưỡi ngựa của anh và gọi đùa anh là "nhà kỵ sỹ Lắc-Lư”. Anh cười vì chính anh cũng đã đặt tên hiệu cho cô là "Nữ hoàng Amazôn" (Amazone) (1). Một phát súng nổ dưới cửa sổ làm cho Jeanne bật kêu khẽ một tiếng: Ông bá tước vừa hạ được một con kết.
Vợ ông bèn gọi ông. Có tiếng mái chèo khua động tiếng con thuyền chạm đá, rồi ông trước vào, chân dận ủng, người cao to, da đỏ hồng chẳng khác gì da hai con chó ướt mềm đang chạy theo ông, chúng nằm dài trên tấm thảm chùi chân trước cửa.
Tại nhà mình, ông có vẻ tự nhiên thoải mái hơn và tỏ ra rất mừng được đón tiếp các vị khách. Ông gọi cho thêm củi vào lò sưởi, gọi rượu vang Mađe (Madère) (2) và bánh bích-quy, rồi bỗng kêu lên: "Nhưng mà hai bác phải ở lại dùng cơm tối với chúng tôi, hai bác thỏa thuận rồi đấy nhé". Không một phút nào ngớt nghĩ đến con, Jeanne tỏ ý từ chối nhưng Julien cứ một mực năn nỉ vợ, và khi thấy nàng kiên quyết không chịu, anh liền tỏ vẻ bực bội bằng một cử chỉ đột ngột. Sợ anh giở thái độ hung hãn và gây gổ, nàng đành phải nhận lời, dù trong lòng thấy đau như dao cắt vì phải xa con cho mãi đến ngày hôm sau.
Buổi chiều hôm đó thật là thú vị. Đầu tiên, họ đi thăm suối nước nhân tạo. Những tia nước phụt ra từ chân một tảng đá phủ đầy rêu đặt trong một cái bể xây, nước thường xuyên xao động như đang sôi. Rồi đến cuộc dạo thuyền, len lỏi theo những ngõ ngách như những con đường thật sự được mở ra trong cả một rừng lau sậy khô. Ngồi giữa hai con chó đang hếch mũi lên để đánh hơi, ông bá tước chèo thuyền, mỗi một nhát chèo như bốc cả chiếc thuyền lên và lao nó về phía trước.
Thỉnh thoảng Jeanne lại dầm bàn tay xuống làn nước lạnh, thú vị vì cái cảm giác giá buốt từ những ngón tay truyền thấu tới tận tim. Ngồi tít mãi phía đuôi thuyền, Julien và vợ ông bá tước khăn quấn đầy người đang tươi cười với nhau, cái cười bất tận vĩnh cửu của những con người sung sướng, tràn đầy hạnh phúc.
Đêm xuống với những cơn chuyển mình lạnh giá. Những ngọn gió bấc thổi vù vù quanh những đám lá úa vàng. Mặt trời đã lặn sau những rặng tùng. Nền trời đỏ, chi chít những đám mây hồng rực và hình thù kỳ lạ, trông qua đã đủ thấy ớn lạnh.
Mọi người trở lại căn phòng khách rộng rừng rực hơi nóng lò sưởi. Vừa bước chân tới cửa, ai nấy đều đã thấy vui vẻ trong người vì cái cảm giác ấm áp và thú vị. Vui nhộn, ông bá tước ôm lấy vợ bằng đôi cánh tay lực sĩ, nhấc bổng cô lên như nhấc một đứa trẻ, kề cô đến gần miệng và hôn lên má hai cái thật kêu, kiểu hôn của những con người trung thực mỗi khi hồ hởi.
Jeanne tươi cười nhìn con người khổng lồ tốt bụng ấy mà, mới chỉ thấy đôi ria mép thôi, nàng cũng đã tưởng như gặp phải một con quỷ ăn thịt người rồi. Nàng nghĩ: "Ôi, hàng ngày ta đánh giá mọi người thật sai lạc biết bao!". Vô tình đưa mắt sang phía Julien lúc đó đang đứng trong khung cửa, nàng bỗng thấy mặt anh tái mét đi một cách đáng sợ, mắt cứ nhìn chằm chằm vào ông bá tước. Nàng lo ngại bước lại gần chồng và hỏi nhỏ:
"Anh ốm đấy ư? Có chuyện gì vậy?". Anh trả lời, cáu kỉnh: "Chẳng sao cả! Mặc anh! Rét tý đấy thôi!".
Khi chuyển sang phòng ăn, ông bá tước xin phép được cho đem hai con chó vào, thế là cả hai con đến ngồi chồm chỗm bên trái và bên phải ông ngay. Ông luôn tay vứt cho chúng ăn và vuốt ve lên đôi tai dài mượt như tơ của chúng. Hai con chó vươn cổ, vẫy đuôi, mừng rỡ,
Sau bữa ăn, thấy Jeanne và Julien sửa soạn ra về, ông Fourville giữ họ lại và mời xem một cuộc đốt đuốc đánh cá.
Ông để hai vị khách và vợ đứng lại trên bậc tam cấp cạnh đầm rồi lên thuyền cùng một người hầu đang cầm trên tay một cái lưới bủa và một cây đuốc. Đêm trong sáng và lạnh buốt dưới một nền trời rải rác những vì sao.
Bó đuốc rọi trên mặt nước những vệt sáng kỳ lạ vằn vèo chuyển động, hắt những ánh lửa mờ nhảy nhót lên lau sậy và soi sáng cả đến rặng cây tùng. Khi con thuyền vừa rẽ, đột nhiên một cái bóng khổng lồ, hư ảo, một bóng người bỗng hiện lên trên mép bìa rừng bừng sáng, đầu vượt khỏi các ngọn cây và mất hút vào nền trời, chân ngập trong nước đầm. Rồi bóng người khổng lồ bỗng vươn hai tay lên như muốn với tới nắm lấy các vì sao. Hai cánh tay dài rộng mênh mông vụt giơ lên rồi lại hạ xuống và tức thì một tiếng nước bị quất mạnh vang lên rào rào.
Con thuyền tiếp tục rẽ quặt nhẹ nhàng. Cái bóng ma to lớn phi thường đó như chạy suốt chiều dài của cánh rừng. Ánh đuốc vừa rọi sáng rừng, vừa xoay theo chiều rẽ của con thuyền. Cái bóng mất hút vào phía chân trời mờ mịt rồi lại hiện ra, nhỏ đi nhưng rõ nét hơn trên bề mặt của lâu đài với những cử động kỳ quái.
Tiếng gọi ồm ồm của ông bá tước bỗng vang lên: "Ginbectơ (Gilberte)! Anh đánh được tám con đây này!".
Có tiếng mái chèo khua nước. Bây giờ cái bóng khổng lồ đứng sững trên nền tường thành, nhưng đã giảm dần chiều cao và bề rộng; đầu như tụt xuống, thân hình teo gầy đi. Khi ông Fourville bước lên bậc tam cấp vẫn có anh hầu cầm đuốc theo sau, thì cái bóng thu nhỏ lại chỉ còn bằng thân hình ông và nhất nhất lặp lại mọi cử chỉ của ông.
Tám con cá đang quẫy trong tấm lưới.
Trên đường hai vợ chồng trở về, người quấn đầy chăn áo của chủ nhà cho mượn, Jeanne bỗng bật nói gần như vô tình: "Ôi! con người khổng lồ đó mới thật trung hậu làm sao!". Julien vừa đánh xe vừa cãi lại: "Phải, nhưng ông ta cư xử với mọi người chưa phải là hay lắm!”.
Tám ngày sau, hai vợ chồng đi thăm ông bà Coutelier nổi tiếng quyền quý nhất tỉnh. Lãnh địa của họ kéo dài từ Rêminin(Reminil) đến tận sát thị trấn lớn Cani (Cany). Lâu đài mới của họ, xây cất từ thời vua Louis thứ mười bốn, ẩn mình trong một khu vườn tuyệt đẹp có tường bao bọc. Còn lâu đài cũ, vết tích vẫn còn đó, ở trên một gò đất cao.
Những người hầu, lễ phục chỉnh tề, mời khách vào một gian phòng nguy nga. Chính giữa phòng, đặt một chiếc cốc khổng lồ, chân to như cây cột, sản xuất tại Xevorơ (Sefvres) (3) , dưới đế gắn một bức thư có tấm pha lê bảo vệ, do chính đức vua tự tay viết mời ông hầu tước Lêôpôn - Hecvê - Giôzep - Giecme đ'ơ Cutơliê (Léopold-Hervé-Joseph-Germe) ở Vácnovin đơ Rôlobôx ( Varneville de Coutelier) tiếp nhận món quà.
Jeanne và Julien đang ngắm nhìn tặng phẩm đó của nhà vua thì bà hầu tước bước vào. Mặt thoa phấn, bà vợ có vẻ vì chức năng của người chủ nhà mà tỏ ra dễ thương. Bà mời chào kiểu cách như để tỏ ra có lòng hạ cố đến người thấp kém hơn mình. Còn ông chồng, một người cao lớn, tóc bạc trắng chải dựng đứng, đã bộc lộ trong cử chỉ, giọng nói và toàn bộ tư thái một sự kiêu kỳ ra vẻ một nhân vật quan trọng.
Cả hai vợ chồng đều thuộc loại người chuộng nghi thức mà tất cả, từ trí tuệ, tình cảm đến lời ăn tiếng nói của họ đều kênh kiệu như những bước chân của người đi cà kheo vậy.
Họ cướp lời, tranh phần nói của người khách; hỏi mà chẳng cần nghe, mỉm cười một cách thờ ơ, lúc nào cũng như đang thực hiện cái chức năng của con người cành vàng lá ngọc hạ cố tiếp đãi lịch sự những tay quý tộc đàn em ở quanh vùng.
Ngỡ ngàng, Jeanne và Julien đành phải cố gắng làm vui lòng các vị chủ nhà. Họ cảm thấy khó chịu vì phải nán lại thêm, nhưng lại không đủ khéo léo để tìm cách rút lui. Nhưng bà hầu tước đã chấm dứt đúng lúc câu chuyện, kết thúc cuộc đến thăm một cách tự nhiên và đơn giản, đúng như kiểu một bà hoàng lịch sự cho bãi chầu vậy.
Trên đường về, Julien bảo: "Nếu em đồng ý, ta sẽ chỉ đến thăm một lần như vậy thôi. Đối với anh, ông bà Fourville cũng đủ rồi". Jeanne cũng nhất trí như vậy.
Tháng chạp u ám, cái lỗ hổng đen ngòm cuối năm ấy trôi qua chậm chạp. Cũng như năm ngoái, cuộc sống nhốt kín trong nhà lại bắt đầu. Nhưng Jeanne chẳng còn chút gì phiền muộn nữa vì nàng đã luôn luôn bận bịu với Paul rồi. Còn Julien lại thường ghé mắt nhìn đứa bé với một vẻ lo ngại và khó chịu.
Nhiều lần, cũng như mọi bà mẹ khác, khi bồng bế và âu yếm con một cách cuồng nhiệt, Jeanne đưa con cho chồng và bảo; "Kìa, hôn con đi chứ! Anh chẳng yêu nó hay sao ấy!" thì Julien vừa chán ngán lướt nhẹ môi lên cái trán nhẵn nhụi của đứa bé, vừa xoay mình đi một vòng như để tránh khỏi phải chạm đôi bàn tay nhỏ xíu, ngọ nguậy và co quắp của nó. Rồi đột ngột, anh bỏ đi ngay, như thể có một sự kinh tởm nào xua đuổi vậy.
Thỉnh thoảng, ông xã trưởng, ông bác sĩ và vị linh mục lại đến ăn cơm với vợ chồng Julien, nhưng quan hệ ngày càng thân thiết hơn thì chính là với gia đinh Fourville.
Ông bá tước có vẻ rất yêu quý Paul. Ông đặt nó ngồi trên đùi ông suốt cả thời gian đến thăm, nhiều phen cả một buổi chiều. Mặc dù đôi tay ông cứ như đôi tay hộ pháp, ông vẫn bế và xoay chuyển đứa bé rất khéo. Quệt cái đuôi bộ ria mép dài vào mũi đứa trẻ, ông cù nó rồi say sưa ôm hôn nó chẳng khác một bà mẹ hôn con. Ông thường buồn về chuyện có vợ mà không có con.
Qua tháng ba, trời sáng trong, khô ráo, dìu dịu, Gilberte, vợ ông bá tước, lại đem chuyện bốn người sẽ đi chơi bằng ngựa ra bàn. Đã mệt mỏi vì những buổi tối, hết ngày dài lại tới đêm thâu, đơn điệu, hôm nào cũng như hôm nào, nên Jeanne hết sức vui thú với dự định ấy. Nàng đồng tình ngay và hào hứng ngồi may một cái váy cưỡi ngựa trong suốt một tuần lễ.
Họ bắt đầu các cuộc đi chơi ấy. Bao giờ họ cũng đi thành hai tốp, vợ ông bá tước và Julien đi đằng trước, cách ông bá tước và Jeanne khoảng một trăm bước. Hai người đi sau trò chuyện như đôi bạn tri kỷ, hai tâm hồn trung thực và giản dị đã làm cho họ trở thành bầu bạn. Hai người đi trước thì hay nói thầm thì, thỉnh thoảng lại phá ra cười ngặt nghẽo, bất chợt nhìn nhau như muốn nói với nhau những điều miệng không thể nói rồi, như thể muốn được cùng nhau bỏ chạy, chạy xa hơn nữa, thật xa, họ đột ngột ra roi cho ngựa phi như bay.
Hình như Gilberte nổi con cáu gắt thế nào đó, nên đôi lúc, hai người cưỡi ngựa đằng sau vẳng nghe theo chiều gió tiếng nói gay gắt của cô. Những lúc đó, ông bá tước lại mỉm cười nói với Jeanne: "Nhà tôi, không phải hôm nào cô ấy cũng bốc lên dữ dội như vậy đâu!".
Một buổi chiều, trên đường về, vợ ông bá tước cứ lấy chân kích mãi vào con ngựa, hết thúc cho nó phóng đi, lại đột ngột kìm nó đứng lại khiến Julien phải nhiều lần nhắc; "Hãy cẩn thận, hãy cẩn thận kẻo không khéo bà sẽ bị ngựa nó lôi đi cho mà xem!". Gilberte cãi lại: "Xin để mặc tôi, đó không phải là việc của ông!". Giọng lanh lảnh và chát chúa vang khắp cánh đồng, treo lơ lửng trên không trung.
Con ngựa sùi bọt mép, lồng lên, lao thẳng tới. Bỗng nhiên, từ lồng ngực to khỏe của ông bá tước bỗng bật ra tiếng kêu: "Em hãy chú ý đấy, Gilberte!". Thế là Gilberte nổi khùng lên, thứ phát khùng của phụ nữ mà không gì có thể ngăn lại được. Như một lời thách thức, cô quất roi túi bụi vào đầu con ngựa, làm cho nó giận dữ bật đứng dựng, khua hai chân trước trong không khí, rồi, khi hạ chân xuống, nó dữ tợn chồm lên một cái và, sải cẳng, phi như tên bắn trên cánh đồng.
Đầu tiên, cô vuợt qua một đồng cỏ, rồi đến những khoảng ruộng cày cấy, nhanh đến nổi đất ẩm và màu mỡ cũng bị cuốn lên thành bụi theo sau và thật khó mà phân biệt nổi con ngựa với nàng kỵ sĩ.
Kinh hoàng, Julien đứng sững lại, gọi lên một cách tuyệt vọng: "Bà bá tưóc! Bà bá tước!".
Nhưng ông bá tước đã càu nhàu một tiếng rồi rạp mình trên cổ con ngựa to nặng, lấy hết sức mình ông thúc một cái cho nó vọt lên phía trước. Bằng giọng thét, bằng cử chỉ của mình và bằng cái đinh thúc ngựa, ông kích động làm cho nó phát hoảng lên, rồi ông cho nó lao đi, nhanh đến nỗi tưởng như người kỵ sĩ khổng lồ ấy đang lấy đùi mình quặp chặt lấy con ngựa, tha nó đi và nhấc bổng nó lên mà bay tới vậy. Người và ngựa lao thẳng về đằng trước với một tốc độ không thể tưởng tượng nổi, và Jeanne chỉ thấy thoáng ở phía xa tắp hình bóng hai vợ chồng ông bá tước phi vun vút, vun vút, nhỏ dần, mờ nhạt đi rồi khuất hẳn giống như hai con chim đang đuổi nhau bị lạc hướng và biến mất ở chân trời.
Julien cho ngựa đi bước một, quay lại gần chỗ Jeanne. Vẻ cáu kỉnh, anh lầm bầm: "Hôm nay, bà ta điên mất rồi!’’.
Rồi hai vợ chồng tiến theo hướng đôi bạn của họ lúc này đã khuất trong một chỗ uốn trũng của khoảng bình nguyên.
Mười lăm phút sau? Jeanne và Julien nhìn thấy ông bà bá tước đang quay ngựa trở về, và chẳng mấy chốc, hai bên đã gặp lại nhau.
Người đỏ bừng, mồ hôi nhễ nhại, ông bá tước tươi cười, lộ rõ vẻ hài lòng của con người chiến thắng. Bàn tay không gì cưỡng nổi của ông nắm chặt con ngựa đang run rẩy của bà vợ. Gilberte, mặt tái mét, nhăn nhó và đau đớn vịn một tay lên vai chồng như thể sắp khuỵu xuống.
Ngày hôm đó, Jeanne mới hiểu rõ lòng yêu vợ của ông bá tước mãnh liệt đến chừng nào.
Qua tháng sau, vợ ông bá tước lại tỏ ra vui vẻ chưa từng thấy. Cô lui tới lâu đài Bạch Dương nhiều hơn, luôn miệng cười và ôm hôn Jeanne rất âu yếm dường như một sự say mê phấn khởi bí ẩn nào đó đã từ cõi thần tiên hạ xuống và bước vào cuộc đời cô. Ông chồng cô cũng rất vui sướng, mắt không một phút rời vợ và lúc nào cũng tìm cách động chạm đến bàn tay, tà áo của cô với một niềm yêu thương tăng lên gấp bội.
Một buổi chiều, ông bảo Jeanne: "Lúc này, chúng tôi sống hạnh phúc lắm bà ạ. Chưa bao giờ, Gilberte lại dễ thương đến thế này! Nhà tôi chẳng còn cáu gắt, giận dữ gì nữa. Đến nay tôi mới thật cảm thấy mình được vợ yêu, chứ từ trước đến giờ, tôi vẫn chưa tin chắc vào điều đó lắm!".
Julien cũng có vẻ thay đổi. Anh vui vẻ hơn và bớt nóng nảy, dường như tình bạn giữa hai gia đình đã đem lại sự hòa thuận và niềm vui cho mỗi phía.
Mùa xuân năm nay đặc biệt đến sớm và nóng.
Suốt ngày, từ những buổi sáng dịu mát đến những buổi chiều êm ả và ấm áp, mặt trời đã thúc nảy mầm xanh trên khắp mặt đất. Đó là một sự nảy nở đột ngột, mạnh mẽ và cùng một lúc của tất thảy mọi thứ mầm non, sự bừng dậy không gì cưỡng lại được của nhựa sống trong cây cỏ, sự hăm hở tái sinh mãnh liệt của thiên nhiên thỉnh thoảng lại xuất hiện vào những năm mưa thuận, gió hòa, khiến cho ta có thể tin được rằng thế giới kia cũng phải có những thời kỳ trẻ lại.
Trước cuộc sống đang lên men đó, Jeanne mơ hồ cảm thấy lòng mình xao xuyến. Có lúc, gặp một bông hoa trên cỏ, nàng cũng đột ngột thờ thẫn cả người. Nàng trải qua những cơn buồn man mác thú vị, những giờ phút mơ mộng vẩn vơ mềm yếu.
Thế rồi những kỷ niệm êm đềm, xúc động của những buổi đầu nhen nhóm tình yêu lại trở về tràn ngập lòng nàng. Điều đó không hề có nghĩa là nàng thấy yêu Julien trở lại; không, tình yêu đó đã tắt, tắt mãi mãi rồi; nhưng hương xuân thắm đượm, gió mát vuốt ve, làm cho toàn bộ thịt da nàng xáo động như đứng trước sự khẩn cầu của một lời kêu gọi vô hình và âu yếm, thế thôi.
Nàng thấy thú vị được sống một mình, được thả mình tắm trong nắng ấm, toàn thân chìm ngập trong những cảm giác, những lạc thú mơ hồ và trong sáng, chẳng hề gợi lên một ý nghĩ gì.
Một buổi sáng, khi nàng còn đang nửa tỉnh nửa mê, nàng bỗng choáng người đi như thoáng nhìn thấy lại cái lỗ hổng rực nắng dưới những tán lá âm u trong cánh rừng nhỏ gần Étretat, nơi đầu tiên, nàng thấy toàn thân rung động bên người trai trẻ kia, lúc anh ấy đương còn yêu nàng. Đó là nơi, lần đầu tiên, anh ấy đã ấp úng nói lên niềm mong ước bẽn lẽn của lòng mình. Đó cũng là nơi nàng những tưởng rằng mình đã đột nhiên với tới được tương lai rực rỡ mà lòng nàng hằng hy vọng.
Và nàng muốn trở lại thăm cánh rừng đó, muốn thực hiện một chuyến đi như kiểu một cuộc hành hương tình cảm và mê tín, cứ như là việc trở lại nơi ấy sẽ có thể thay đổi được chút nào đó bước tiến, hướng đi của cuộc đời nàng.
Julien đã vắng nhà từ mờ sáng. Anh đi đâu, nàng cũng chẳng biết. Nàng cho thắng yên cương vào con ngựa trắng nhỏ của bác Martin thỉnh thoảng nàng vẫn thường cưỡi, rồi ra đi.
Đó là một ngày yêm ả mà cảnh vật, từ ngọn cỏ, lá cây, tất thảy đều không động đậy. Mọi vật đều có vẻ đứng im lìm cho đến mãi phút tận cùng của thời gian, tưởng chừng như gió kia đã tắt thở mất rồi! Có thể nói ngay cả đến côn trùng cũng đã biến hết. Từ mặt trời, một sự yên tĩnh nóng bỏng và ngự trị tất cả đang thản nhiên tỏa xuống; không gian động lung linh những hạt sương vàng. Jeanne vui sướng thả ngựa đi bước một êm như ru. Thỉnh thoảng nàng lại ngước mắt nhìn lên một đám mây trắng nhỏ như một nhúm bông, một chùm hơi nước lơ lửng treo mãi trên tít tận tầng cao, bị lãng quên, thui thủi giữa nền trời xanh thẳm.
Nàng đi xuống cái thung lũng trải dài ra tới sát biển, bên dưới những vòm vòng cung của vách đá dựng đứng ven bờ, được gọi là những cửa Étretat. Rất nhẹ nhàng, nàng đi tới cánh rừng xưa. Xuyên qua những cành cây còn thưa lá, ánh sáng mặt trời đổ xuống như mưa. Đi lang thang hết đường mòn này qua đường mòn khác, nàng có tìm lại địa điểm cũ ấy nhưng không sao tìm được.
Đột nhiên, khi băng qua một con đường dài, nàng nhìn thấy ở tận phía cuối đường có hai con ngựa đang buộc vào một thân cây. Lập tức nàng nhận ra ngay đó là ngựa của Gilberte và Julien. Đó chính là lúc Jeanne vừa bắt đầu cảm thấy đi mãi một mình như vậy cũng buồn, nên nàng coi việc gặp bất ngờ này là điều đáng mừng và nàng thúc ngựa cho phi nước kiệu tiến đến.
Hai con ngựa đang kiên nhẫn đứng đó với dáng điệu như thể chứng đã quen thuộc từ lâu cảnh chờ đợi này. Tới chỗ đó, Jeanne lên tiếng gọi. Không có ai trả lời.
Một găng tay nữ và hai cái roi ngựa nằm vương vãi trên một bãi cỏ có dấu vết bị chà xát. Như vậy tức là họ đã ngồi ở đây, sau đó, bỏ ngựa lại, họ cùng đi với nhau đến một chỗ khác xa hơn.
Đứng đợi mười lăm phút, rồi hai mươi phút, nàng ngạc nhiên, không hiểu họ bận gì mà lâu đến thế. Lúc đó, nàng xuống ngựa, im lặng dựa lưng vào một thân cây, người không động đậy, cho nên có hai con chim nhỏ không nhìn thấy nàng đã sà xuống bãi cỏ kề bên. Một con rối rít nhảy nhót quanh con kia, đôi cánh giương cao, chấp chới, đầu gật gật chào mời, miệng ríu ra ríu rít, rồi bất thình lình, chúng giao hợp nhau.
Jeanne kinh ngạc, cứ như là nàng chưa từng bao giờ biết qua điều đó vậy. Nàng tự nhủ: "Đúng rồi, mùa xuân đến rồi đây mà!". Liền sau đó, một ý nghĩ khác, một điều ngờ vực, đã nảy ra. Nàng nhìn lại một lần nữa chiếc găng tay, đôi roi, hai con ngựa bị bỏ mặc; và đột nhiên, nàng vội lên yên, lòng bỗng trào lên một ý muốn không sao kìm chế nổi là phải bỏ chạy đi ngay cho xa.
Nàng cho ngựa phi nước đại trở về Bạch Dương. Đầu óc nàng làm việc; nó lý giải, tập hợp các sự việc và liên kết các cảnh tượng. Sao nàng lại không đoán ra điều đó sớm hơn được nhỉ. Sao nàng lại không thấy gì hết? Sao nàng lại không hiểu được nguyên nhân những lần vắng mặt của Julien, việc anh khôi phục vẻ duyên dáng đã qua và giảm bớt đi cái thái độ cáu gắt của mình? Nàng cũng nhớ lại những cơn kích động thần kinh đột ngột, những sự vuốt ve vồn vã thái quá của Gilberte và thái độ tràn đầy hạnh phúc tuyệt vời gần đây của cô ta, từng làm cho ông bá tước vui sướng trong lòng đó.
Vì thấy cần phải suy nghĩ một cách nghiêm túc, nếu cho ngựa chạy nhanh thì dễ rồi, nàng thả lỏng dây cương để ngựa đi bước một.
Lúc này, niềm xúc động đầu tiên đã qua đi, và lòng nàng đã trở lại gần như bình thản, không ghen tuông, không thù ghét, nhưng cuồn cuộn một mối khinh bỉ, nàng chẳng hề nghĩ đến Julien. Về con người anh, còn cái gì có thể làm cho nàng ngạc nhiên được nữa? Những sự phản bội hai chiều của vợ ông bá tước, của người bạn làm cho nàng phẫn uất. Vậy ra mọi người đều bất lương, dối trá và giả tạo! Nàng ứa nước mắt. Đôi khi người ta khóc thương những ảo tưởng vói bao nỗi đau buồn như khóc thương những người đã chết.
Tuy vậy, nàng quyết định giả như không hay không biết gì hết, quyết tâm khép kín tâm hồn mình lại trước những tình thân ái thông thường, chỉ thương yêu có Paul cùng bố mẹ, còn với những kẻ khác nàng sẽ chịu đựng với một thái độ bình thản.
Vừa về đến nhà, nàng đã lao vào ôm lấy con, bế nó về phòng riêng và hôn như điên, như dại suốt một giờ liền không ngớt.
Đến giơ ăn tối, Julien mới về nhà, lộ rõ vẻ dễ thương, miệng cười tươi, lòng tràn đầy những thiện ý. Anh hỏi: "Vậy ra năm nay bố mẹ em không về ư?”.
Nàng thấy rất hài lòng với anh về tính dễ mến ấy, đến nỗi gần như nàng đã tha thứ cho anh về sự việc phát hiện ở cánh rừng kia, và lòng nàng bỗng tràn ngập một ước muốn mãnh liệt là được gặp lại thật sớm hai người mà nàng thương yêu nhất, sau Paul. Nàng dành cả một buổi tối để viết thư cho bố mẹ, giục ông bà đến sớm với nàng.
Ông bà nam tước trả lời là sẽ về đến nhà ngày hai mươi tháng năm. Lúc này, mới chỉ là mùng bảy.
Nàng ngày càng nóng ruột trông chờ bố mẹ nhiều hơn, như thể ngoài tình thương yêu của con cái đối với cha mẹ, còn có một nhu cầu, mới mẻ nữa là được sưởi ấm lòng nàng bằng những tấm lòng trung hậu, được mở rộng tâm hồn ra trò chuyện với những con người trong sạch, không chút vẩn đục xấu xa, ti tiện, những con người mà cả cuộc đời, mọi hành động, mọi suy nghĩ, mọi ước vọng của họ đều luôn luôn chính đại, quang minh.
Nàng cảm thấy tâm hồn mình cô đơn ở giữa tất cả những con người thiếu lương tâm tại chốn này. Mặc dù nàng cũng đã bỗng nhiên học đòi lấy thói dấu diếm, tiếp đón vợ ông bá tước bằng lối tay bắt mặt mừng, nàng vẫn nhận thấy cái cảm giác trống rỗng và khinh người đó đang phát triển lên và tràn ngập cả tâm hồn nàng. Mỗi ngày qua đi, những tin tức nhỏ nhặt trong vùng lại gieo vào tâm hồn nàng một sự chán ngấy nặng nề hơn, một sự miệt thị sâu sắc hơn đối với con người: Con gái nhà Couillard vừa có con lại sắp cưới chồng cô đầy tớ nhà Martin, một cô bé mồ côi, đã có chửa; một có bé hàng xóm mới mười lăm tuổi đã mang thai; một chị góa chồng, vốn là một người đàn bà khốn khổ, chân què, xấu xí kinh người, ăn ở bẩn thỉu ghê gớm đến nỗi bà con phải gọi là "con Cứt lợn", cũng có chửa.
Bất cứ lúc nào cũng có tin một vụ mang thai mới, nếu không phải tin về vụ tình ái lăng nhăng nào đó của một cô gái hay một chị nông dân đã có chồng con, thì cũng là của một vị điền chủ giàu có vẫn thường được kính trọng.
Hình như mùa xuân hừng hực năm nay đã khơi động nhựa sống trong con người và cây cỏ vậy.
Tuy nhiên, đối với Jeanne, dục tình đã tàn lụi không còn khuấy động có lẽ chỉ trái tim bầm tím đau thương và tâm hồn đa cảm của nàng là còn xao xuyến trước ngọn gió xuân ấm áp và đầy sức sinh sôi kia. Nàng vẫn mơ mộng, vẫn say sưa nhưng không thèm muốn; không còn thấy gợn lên một chút đòi hỏi nào về xác thịt. Vì vậy, Jeanne kinh ngạc thấy lòng mình tràn ngập một sự ghê tởm đến thành thù ghét tất cả sự bẩn thỉu thú vật trên kia.
Giờ đây, nàng bất bình cả với việc giao hợp của con người, coi đó như là một cái gì trái tự nhiên; và, nếu như nàng có ác cảm vói Gilberte thì hoàn toàn không phải ở chỗ cô ta đã cướp mất chồng mình, mà chính vì lẽ cô ta cũng đã sa vào cái vũng bùn phổ biến đó. Cô ta đâu có thuộc loại người thô bỉ vốn bị những bản năng thấp hèn thống trị. Vậy sao cô ta lại có thể buông thả thân mình như bọn người súc vật đó được?
Ngay đúng hôm bố mẹ Jeanne sắp đến, Julien đã làm tăng thêm sự ghê tởm ấy của nàng khi anh vui nhộn kể lại một câu chuyện mà anh coi là một cái gì hoàn toàn tự nhiên và ngộ nghĩnh: "Tối hôm trước, có một ông thợ làm bánh mì bỗng nghe thấy có tiếng động trong lò bỏ không vì chẳng phải ngày nướng, ông ta vội mở ra xem, đinh ninh sẽ tóm được một chú mèo hoang nào đó, ai ngờ lại thấy chính bà vợ ông ta đang "cho bánh vào lò", có điều bánh đây lại không phải là bánh mì".
Anh kể tiếp: "Ông ta đã bịt chặt cửa lò bánh lại, làm cho cặp trai gái xuýt chết ngạt. May nhờ có cậu con nhỏ của ông ta trước đấy đã nhìn thấy mẹ nó cùng với bác thợ rèn chui vào trong lò nên đã đi báo cho hàng xóm láng giềng biết mà chạy đến cứu họ ra".
Julien cười, nhắc đi nhắc lại: "Té ra bánh mì mà bọn khỉ gió đó thường cho chúng ta ăn lại là những thỏi bánh mì trai gái. Thật cứ y như một truyện ngụ ngôn của La Fôngten (La Fontaine) vậy!".
Thế là Jeanne không dám đụng đến mẩu bánh mì nữa.
Khi cỗ xe tram dừng lại trước bậc tam cấp và khuôn mặt vui sướng của ông nam tước hiện ra bên trong ô cửa kính, tâm hồn và trái tim Jeanne bỗng tràn ngập một niềm xúc động sâu sắc và bừng lên một niềm yêu thương dào dạt chưa từng thấy.
Nhưng khi nhìn thấy mẹ, nàng bỗng lặng người đi và gần như sắp khuỵu xuống. Qua sáu tháng mùa đông, bà nam tước đã già đi mười tuổi. Hai má to thô, mềm nhão và xề xệ của bà đã đỏ tía lên như nhồi máu; mắt nhìn đã như mất sinh khí. Bà chỉ cử động được khi có người xốc nách; hơi thở, vốn đã nặng nhọc, nay cứ rít lên, khó khăn đến nỗi chỉ cần đứng bên bà là đã cảm thấy bứt rứt, đau đớn trong người rồi.
Vì ở bên cạnh bà hàng ngày, ông nam tước không nhận ra được sự suy sụp ấy. Mỗi khi bà kêu bị nghẹt thở liên tục và thấy người bà ngày càng nặng nề thêm, ông lại đáp: "Không phải đâu mình ạ, tôi vẫn thường thấy mình như vậy mà".
Sau khi đưa bố mẹ lên phòng riêng, Jeanne về phòng mình ngồi khóc, lòng nàng bàng hoàng và rối loạn. Nàng bèn đi tìm bố rồi gục đầu vào ngực ông, mắt vẫn còn đẫm lệ: "Ôi! mẹ con đã thay đổi biết chừng nào! Bố cho con biết đi, mẹ đau gì thế? mẹ làm sao thế?”. Rất ngạc nhiên, ông trả lời: "Con nghĩ gì mà lạ vậy? Có gì đâu! Bố là người không rời mẹ con nửa bước, bố đảm bảo với con rằng mẹ con không ốm đau gì, mẹ con vẫn như mọi khi thôi!".
Tối đó, Julien bảo vợ: "Sức khỏe của mẹ em gay go rồi đấy. Anh tin là bà cụ lâm bệnh nặng rồi!” Thấy Jeanne khóc nấc lên, anh gắt: "Ô kìa, anh có nói là mẹ sắp chết đâu! Em bao giờ cũng cái xảy nảy cái ung đến điên cả người lên! Bà cụ đã có khác thế thôi. Tuổi tác như vậy rồi, còn gì!".
Tám ngày sau, nàng không còn nghĩ đến chuyện đó nữa vì đã quen với sắc diện mới của mẹ và có lẽ cũng còn vì nàng đã tự gác bỏ đi những điều lo sợ đó, như người ta thường dẹp đi, bỏ đi những mối lo ngại và ưu tư đe dọa mình, theo một thứ bản năng vị kỷ, một nhu cầu tự nhiên của tâm hồn thanh thản.
Bà nam tước không còn đủ sức để đi bộ nhiều nữa, mỗi ngày chỉ ra ngoài có nửa giờ. Mới đi trọn có một lần con đường "của mình", bà đã chịu, không sao cử động thêm được nữa và yêu cầu cho được ngồi nghỉ trên chiếc "ghế của mình", Và lúc cảm thấy ngay việc đi cho hết quãng đường dó cũng không còn đủ sức, bà bảo: "Ta dừng lại thôi! Hôm nay, cái chứng phù tim này đã bẻ gãy cẳng tôi mất rồi!".
Bà không cười được mấy nữa. Với những chuyện vui, nếu gặp vào năm trước, hẳn bà phải cưỡi đến rung cả người, thế mà nay bà chỉ còn đủ sức để tủm tỉm thôi. Nhưng vì mắt nhìn còn rất tỏ, bà vẫn để cả ngày ngồi đọc lại truyện Côrinnơ (Corinne) hay tập thơ Trầm tư (les Mesditations) của Lamactin (Lamartine). Rồi bà yêu cầu đem đến cho mình cái ô kéo "vật kỷ niệm" của bà. Bà trút lên lòng bà những bức thư thân thương cũ và đặt chiếc ngăn kéo xuống cái ghế bên cạnh, rồi, sau khi đã chậm rãi đọc lại các "vật thánh" đó, bà lần lượt bỏ từng lá một vào ngăn kéo. Khi chỉ còn có một mình, thực sự một mình, bà hôn lên một vài bức thư, như người ta thường kín đáo hôn lên nạm tóc còn giữ lại được của những người yêu thương đã mất.
Đôi lúc, bước vào đột ngột, Jeanne chợt bắt gặp mẹ khóc và thấy rõ những giọt nước mắt u sầu của mẹ. Nàng kêu lên: "Mẹ thân yêu, mẹ làm sao thế?" Sau một tiếng thở dài lê thê, bà đáp: "chính những vật thánh này đã làm cho mẹ khóc. Những sự việc được khơi động lại ấy xưa kia tốt đẹp là thế mà nay đã hết cả rồi. Có những người, mẹ đã hoàn toàn không còn nghĩ đến nữa, thì nay đột nhiên lại thấy lại. Cứ như là mẹ trông thấy họ và nghe họ nói ấy thôi. Điều đó gây nên một tác động quả là ghê gớm, Sau này con sẽ biết!",
Khi ông nam tước bất chợt gặp đúng những phút vẩn vơ buồn bã đó, ông thì thầm: "Jeanne yêu quý, nên tin lời bố nói con hãy đem đốt những thư từ đó đi, thư của mẹ, của bố, đốt tất! Thật chẳng có gì khủng khiếp hơn là khi đã về già lại còn cứ khuấy động trở lại những chuyện của tuổi thanh xuân như thế!". Nhưng chính ngay Jeanne, mặc dù khác mẹ về mọi mặt, nhưng tuân theo một thứ bản năng đa sầu đa cảm, mơ mộng vơ vẩn có tính di truyền, nàng cũng đang giữ lại thư từ, chuẩn bị một hộp "vật thánh" của mình.
Một vài ngày sau, ông nam tước có việc cần phải vắng mặt, đã đi khỏi nhà. Lúc đó, thời tiết đang độ tuyệt vời. Những đêm ấm áp đầy sao, những buổi chiều êm ả và trong sáng, những ngày xán lạng, những bình minh rực rỡ lần lượt nối tiếp nhau. Chẳng mấy chốc, bà mẹ đã cảm thấy mình như khỏe ra. Quên bẵng đi những chuyện tình ái lăng nhăng của Julien và thói xảo trá bất nhân của Gilberte, Jeanne cảm thấy gần như hoàn toàn vui sướng. Khắp cánh đồng, hoa nở đầy và ngào ngạt hương thơm. Biển rộng, lặng sóng, chói lọi dưới ánh mặt trời suổt từ sáng đến tối.
Một buổi chiều, Jeanne ẵm con đi dạo trên đồng ruộng. Dạt dào xúc động trước một niềm hạnh phúc vô biên, nàng hết nhìn con lại ngắm đám cò lốm đốm điểm hoa ven đường. Cứ mỗi phút nàng lại hôn con một cái, lại say sưa ghì nó vào ngực. Hương vị ngọt ngào của đồng quê lướt nhẹ bên mình, nàng thấy người như rã rời ra, như tan biến đi trong một niềm hân hoan không bờ bến. Rồi nàng mơ ước về tương lai của con. Nó sẽ là người như thế nào? Lúc thì nàng mong nó sẽ thành một bậc vĩ nhân, một người lừng lẫy có quyền thế; lúc thì nàng lại muốn nó chỉ là một người không tên tuổi, sẽ ở lại mãi bên nàng, sẽ trung thành, âu yếm và luôn luôn rộng mởcánh tay vói mẹ. Khi yêu con với trái tim vị kỷ của người mẹ, nàng mong muốn nó sẽ mãi mãi là con nàng và chỉ có là con nàng thôi; nhưng khi yêu con bằng một lý trí say mê, nàng lại có cao vọng nó sẽ trở thành một kẻ có danh vị trong xã hội.
Nàng ngồi xuống một bờ hồ và ngắm nhìn con. Nàng có cảm giác như chưa thấy nó bao giờ. Và nàng đột nhiên kinh ngạc khi hình dung rằng chú bé tý hon này sẽ có ngày trở thành một người lớn với bước đi vững chãi, cằm, má đầy râu và tiếng nói âm vang.
Xa xa, có tiếng ai gọi nàng. Nàng ngẩng đầu lên. Marius đang chạy tới. Nàng nghĩ chắc có ai đến thăm đang chờ mình ở nhà; nàng đứng dậy, lộ vẻ khó chịu vì bị quấy rầy.
Chú bé chạy tới như bay và, khi đã đến khá gần, chú kêu to lên: "Cô ơi, bà nam tước nguy rồi!".
Jeanne cảm thấy như có một giọt nước lạnh chạy suốt sống lưng. Nàng lật đật trở về, đầu óc rối bời.
Từ xa, nàng đã thấy người đứng xúm đen, xúm đỏ dưới gốc cây ngô đồng. Nàng nhào tới. Đám đông giãn ra và nàng thấy mẹ đang nằm dài trên mặt đất, đầu đặt trên hai cái gối. Mặt bà đen xì, mắt nhắm lại và lòng ngực kia, hổn hển suốt hai chục năm, bây giờ đã không còn thoi thóp nữa. Chị vú đỡ lấy đứa bé từ tay Jeanne và bế nó đi.
Jeanne hỏi như điên, như dại: "Chuyện gì đã xảy ra thế? Làm sao mà bà ngã ra như vậy? Đi tìm thầy thuốc mau lên!" Khi quay lại, nàng thấy ông linh mục không hiểu bằng cách nào đã biết chuyện và đứng đó. Ông vội vã sắn tay bộ áo thầy tu lên tìm cách cấp cứu bà mẹ. Nhưng cả dấm, cả rượu cồn Côlônhơ (Cologne), mọi thứ xoa bóp đều vô hiệu.
Ông linh mục bảo: "Phải cởi bớt quần áo bà ra và đưa bà vào giường trong nhà ngay". Lúc ấy, bác tá điền Joseph Couillard cùng với lão Simon và Ludivine đều đã đến cả, Có linh mục Picot giúp sức, họ định khiêng bà nam tước đi, nhưng khi họ vừa nâng được bà lên thì, vì cơ thể đẩy đà của bà quá nặng, khó xê dịch, nên đầu bà bỗng lật về phía sau, và tấm áo họ nắm vào bỗng rách toạc. Thế là lại phải đặt cái cơ thể khổng lồ và mềm nhũn ấy xuống đất.
Phải lấy ra một cái ghế bành của phòng khách, và sau khi đã đặt được bà ngồi vào đó, họ mới nâng bổng được bà lên. Ho leo từng bước một lên bậc tam cấp, rồi lên cầu thang và, khi vào đến phòng, họ đặt bà nằm lên giường.
Cô đầu bếp chưa cởi bớt được áo quần bà nam tước ra thì bà góa Dentu đã đến, đến cũng đúng lúc và bất chợt như ông linh mục cứ như là họ đã "đánh hơi thấy mùi thần chết" vậy, theo cách nói của đám đầy tớ trong nhà.
Bác Joseph Couillard vội phóng ngựa đi tìm bác sĩ. Thấy ông linh mục sắp sửa đi kiếm thêm các thứ dầu thánh, bà Dentu bèn nói nhỏ vào tai ông: "Thưa linh mục, xin ông đừng mất công làm gì nữa. Chuyện gì chứ chuyện này thì tôi biết lắm. Bà ấy đã qua đời rồi!".
Jeanne cuống cuồng cầu cứu mọi người; nàng chẳng còn biết phải làm gì, thử cách nào và dùng thuốc gì được nữa. Mặc dù sự thể sẽ ra sao, ông linh mục cũng đã bắt đầu đọc kinh xá tội.
Chú thích:
(1) Amazone: theo thần thoại Hy Lạp, tập thể cư dân ở một vùng thuộc vương quốc cổ Pông, Đông Bắc Tiểu Á, gồm toàn nữ chiến binh tài giỏi. Một nữ hoàng Amazone đã đánh nhau với thần Hêracoiex, một nữ hoàng khác thần Akhin, cả hai đều bị hai thần giết chết.
(2). Thứ rượu vang nổi tiếng, đặc sản của đảo Mađe (Madère); thuộc địa Bồ Đào Nha, nằm ở phía tây Marốc (Maroc) trên Đại Tây Dương.
(3) Xevorơ (Sèvres) Thị trấn trên sông Seine, nổi tiếng về đồ gốm và đồ thủy tinh.