Suốt hai tiếng đồng hồ, mọi người chờ đợi xung quanh cái cơ thể tím ngắt và không còn sinh khí. Lúc này, Jeanne đã quỳ gối xuống, lòng vò xé những nỗi lo âu và đau đớn.
Khi cánh cửa mở ra và ông thầy thuốc xuất hiện, Jeanne cảm thấy như là sự cứu nguy, điều an ủi và niềm hy vọng đã cùng một lúc bước vào phòng. Nàng lao đến người thầy thuốc, lắp bắp kể tất cả những gì nàng đã biết được về tai biến này: "Mẹ tôi vẫn đi dạo chơi như mọi ngày... mẹ tôi vẫn khỏe... rất khỏe nữa... bữa trưa, đã ăn được hết bát súp và hai quả trứng... Mẹ tôi bỗng bất thình lình ngã xuống... Người đen kịt lại như ông thấy đấy... rồi không động đậy nữa... Chúng tôi đã tìm mọi cách...". Nàng bỗng im bặt và lặng người đi khi nhìn thấy một cử chỉ kín đáo của bà Dentu ra hiệu cho người thầy thuốc biết là đã hết, hết hẳn hy vọng rồi. Hầu như vẫn chưa chịu hiểu ra sự thật, nàng lo lắng hỏi đi, hỏi lại: "Có nặng không? Ông có nghĩ là nặng lắm không?".
Cuối cùng, ông thầy thuốc nói: "Tôi e rằng... e rằng... đã hết hy vọng rồi! Cô hãy can đảm, thật can đảm lên!".
Jeanne mở rộng cánh tay, nhào tới, ôm choàng lấy mẹ.
Julien đã về. Anh đứng sững ra vì kinh ngạc, mặt lộ rõ vẻ khó chịu. Không một tiếng kêu thương, không một biểu hiệu tuyệt vọng, anh bị quá bất ngờ đến nỗi không còn kịp tạo ra được nét mặt và thái độ cần phải có. Anh thì thầm: "Tôi đã chờ đón trước chuyện này, tôi biết rõ thế là đã hết!". Sau đó, anh rút mù-soa làm như lau nước mắt. Anh quỳ xuống, làm dấu chữ thập, lẩm bẩm nói điều gì đó và khi đứng lên, anh định vực cả vợ dậy. Nhưng gần như nằm đè lên xác mẹ, nàng vẫn ôm chặt cứng và hôn lên cái xác đó. Phải kéo nàng ra ngoài. Nàng đã như phát điên lên.
Một tiếng đồng hồ sau, nàng mới được vào lại. Không còn chút hy vọng nào nữa. Căn buồng đã được sắp xếp thành phòng tang lễ. Julien và ông linh mục đứng nói chuyện lầm rầm với nhau bên một khung cửa sổ. Bà góa Dentu hình như đã ngủ thiếp đi. Bà ngồi im trong một chiếc ghế bành, đúng tư thế của một người đã quen với việc canh giữ người chết, quen cảm thấy nhà người khác như nhà của mình ngay sau khi thần chết vừa đặt chân đến đó.
Đêm xuống. Ông linh mục bước lại, cầm lấy tay Jeanne khích lệ nàng và rót lên trái tim đau thương vô hạn ấy dòng nước thánh bằng những lời an ủi vỗ về của nhà thờ. Ông nói về người đã mất, tán tụng bà bằng ngôn từ của giới thầy tu và tỏ ra đau buồn, cái đau buồn giả tạo của giới đó, những người vốn coi xác chết như một điều gì tốt lành. Ông tình nguyện ở lại cầu nguyện suốt đêm bên thi hài bà nam tước.
Nhưng Jeanne đã từ chối qua những tiếng nức nở thê thảm. Nàng muốn được ở lại một mình, hoàn toàn một mình với mẹ trong đêm vĩnh biệt này. Julien bước tới: "Không thể như thế được! cả hai chúng mình sẽ cùng ở lại chứ!". Không nói thêm được một lời nào nữa, nàng chỉ còn biết lắc đầu ra hiệu "không đồng ý. Cuối cùng, nàng cũng bật ra được: "Đó là mẹ tôi, mẹ tôi. Tôi muốn một mình trông mẹ thôi!". Ông thầy thuốc thì thầm: "Xin để cho cô ấy tùy ý. Đã có bà Dentu, bà ấy ngồi trông ở buồng bên cạnh rồi!".
Cùng nghĩ đến chiếc giường ngủ của mình, ông linh mục và Julien đồng ý ngay. Ông linh mục quỳ xuống cầu nguyện rồi đứng dậy đi ra, vừa đi vừa bảo: "Bà ta đúng là một vị thánh!" với cái giọng giống như khi ông nói câu "Cầu Chúa ban phước lành cho các người".
Rồi đến chàng tử tước, với giọng nói bình thản thường ngày hỏi: "Em có định dùng chút gì không?". Jeanne không đáp, vì không biết là anh nói gì với nàng. Anh nhắc lại: "Có lẽ em nên ăn một tý cho có sức". Nàng đáp lại, vẻ ngẩn ngơ "Anh cho mời bố về ngay đi". Anh ra ngoài, cho một người cưỡi ngựa đi Rouen ngay.
Ngồi lại một mình, Jeanne chìm sâu vào một nỗi đau thương lặng lẽ, như thế nàng ngồi đó để chờ đón giờ phút của cuộc gặp mặt mẹ lần cuối cùng và để buông mình trôi theo làn sóng trào dâng lên những tiếc thương tuyệt vọng,
Bóng tối đã tràn ngập gian phòng và bao phủ lên người đã chết. Bà góa Dentu nhẹ nhàng lượn qua, lượn lại. Với những động tác lặng lẽ của một người chuyên nghề hộ lý, bà tìm kiếm và xếp đặt những đồ vật mà ta không thể thấy được. Rồi bà thắp hai cây nến, đặt nhẹ lên trên mặt chiếc tủ đầu giường lúc đó đã phủ một tấm khăn trắng.
Jeanne dường như không còn nhìn, không còn thấy, không còn hiểu gì nữa hết. Nàng mong được ở lại một mình, Julien trở vào. Anh đã ăn tối. Một lần nữa, anh hỏi; "Em không muốn ăn gì ư?”. Jeanne lắc đầu.
Anh ngồi xuống, có vẻ cam chịu nhiều hơn là buồn bã và chẳng nói một lời.
Cả ba người ngồi im như tượng trên ba cái ghế đặt cách xa nhau.
Bà Dentu dã thiu thiu ngủ: đôi lúc bà ngáy khẽ một tiếng, thế là lại bất thần tỉnh giấc.
Cuối cùng, Julien đứng dậy, bước lại gần Jeanne: "Bây giờ em đã muốn ở lại một mình chưa?". Nàng cầm lấy tay anh tuy không muốn, nàng nói: "Ô, vâng, xin hãy để tôi ở lại".
Anh vừa hôn lên trán vợ vừa thì thầm: "Thỉnh thoảng, anh sẽ vào với em". Rồi, cùng với bà góa Dentu, anh đi ra. Bà Dentu đem theo một chiếc ghế bành sang phòng bên cạnh.
Jeanne đóng cửa ra vào, rồi mở toang cả hai cửa sổ. Mùi thơm ấm áp của cỏ mới cắt ngoài trời đêm ve vuốt khắp khuôn mặt nàng. Những đám cỏ khô cắt từ đêm hôm trước đang phơi mình dưới ánh trăng.
Cảm giác êm dịu ấy càng làm cho nàng đau đớn và não lòng như một lời mai mỉa.
Nàng trở lại bên giường, cầm lấy bàn tay không sinh khí và lạnh ngắt của mẹ, rồi ngắm nhìn mẹ. Bà không còn béo phì như lúc con bệnh kịch phát nữa; bây giờ bà như đang ngủ, ngủ yên hơn bao giờ hết và ngọn lửa yếu ớt của cây nến leo lét trước gió không ngừng lay động những mảng bóng trên khuôn mặt bà, khiến cho khuôn mặt đó như đang sống và động đậy.
Jeanne nhìn mẹ và từ nơi cùng thẳm xa xôi của thời thơ ấu, hàng loạt kỷ niệm đã ào ạt trở về.
Nàng nhớ lại những lần mẹ đến thăm và gặp nàng trong phòng tiếp phụ huynh của trường dòng, nhớ lại cái dáng mẹ đưa gói giấy đựng đầy bánh ngọt, nhớ lại vô vàn những chi tiết nhỏ, những sự việc nhỏ, những âu yếm nhỏ của mẹ, những lời, những giọng, những cử chỉ thân thuộc, những nếp nhăn trên mắt lúc mẹ cười, tiếng thở dài vang to tưởng như đứt hơi của mẹ mỗi khi mẹ ngồi xuống.
Và bây giờ, nàng đứng dậy, lặng nhìn mẹ, nàng như ngây, như dại tự nhủ: "Mẹ chết rồi!" tất nỗi khủng khiếp của câu nói đó hiện ra trong tâm trí nàng.
Con người nằm đây - mẹ - mẹ thân yêu - bà Adelaide - đã chết rồi ư? Mẹ không cử động nữa, không nói năng nữa, không cười cợt nữa, không bao giờ còn ngồi ăn tối trước mặt bố thân yêu và không còn nói: "Chào con, Jeanne của mẹ" nữa. Mẹ đã chết rồi!
Người ta sẽ bỏ mẹ vào một cái áo quan, đóng đinh lại, đem chôn vùi, và thế là hết. Sẽ không còn thấy được mẹ nữa. Có thể như vậy được ư? Gương mặt thương yêu và biết bao thân thiết kia, mà ta nhìn thấy từ phút mới mở mắt chào đời, mến yêu từ lúc ta mới biết mở rộng đôi tay, cái nguồn trìu mến vĩ đại kia, - người mẹ -, con người duy nhất quan trọng đối với trái tim ta, hơn ai hết thảy đã khuất bóng đi rồi! Nàng chỉ còn có vài tiếng đồng hồ nữa để ngắm nhìn khuôn mặt kia của mẹ, khuôn mặt im lìm và vô tri. Thế rồi không còn gì, không còn gì nữa, tất cả chỉ là một kỷ niệm mà thôi.
Trong cơn kịch biến khủng khiếp của tuyệt vọng, nàng khuỵu xuống. Và, đôi bàn tay nàng co quắp vặn xoắn mãi tấm vải giường, nàng úp mặt xuống, kêu lên một tiếng xé ruột, tắt nghẹn trong đám chăn đắp, vải nằm kia: "Ôi! Mẹ! Mẹ tội nghiệp của con ơi! Mẹ ơi!".
Cảm thấy sắp lên cơn điên dại, điên đại như trong đêm nào nàng đã bỏ chạy ra ngoài trời tuyết, Jeanne vội đứng dậy và chạy đến bên cửa sổ để cho người dịu bớt, uống vào người chút không khí mới, hoàn toàn khác hẳn cái bầu không khí của người đã chết nằm kia.
Những đám cỏ đã cắt, cây cối, cánh đồng hoang và biển cả ngoài kia, tất cả đều đang yên nghỉ trong sự thanh bình lặng lẽ, đều đang ngủ say dưới vẻ đẹp mềm mại của vầng trăng, cảnh êm đềm dịu mát lòng người ấy thắm đượm vào tâm hồn Jeanne. Nước mắt nàng ứa ra từ từ, lặng lẽ.
Nàng trở lại bên giường, ngồi xuống và nắm trong tay mình bàn tay của mẹ thân yêu, như là mẹ đang bị ốm và nàng thì ngồi bên để canh sóc.
Một con côn trùng to, bị ngọn nến thu hút, đã bay vào trong phòng. Nó bay ngang dọc khắp nơi và đập chan chát vào tường như một viên đạn. Khuây khỏa với tiếng bay vo vo của nó, Jeanne ngước mắt nhìn theo, như chỉ thấy được cái bóng của nó đảo qua đảo lại trên nền trắng của trần nhà thôi.
Rồi nàng không nghe thấy tiếng kêu của nó nữa mà chỉ còn có tiếng tích tắc nhẹ nhàng của chiếc đồng hồ quả lắc và một tiếng khác nhỏ hơn, hay nói cho đúng, một tiếng xào xạc rất nhẹ, gần như không thể nhận ra. Đó là tiếng chiếc đồng hồ bỏ túi của mẹ, để quên trong chiếc áo dài đang vắt trên cái ghế đặt ở chân giường, nó vẫn còn đang chạy. Đột nhiên, Jeanne bỗng mơ hồ so sánh người đã chết với chiếc máy nhỏ không hề ngừng chạy này, làm cho nỗi đau càng thêm nhức nhối ở trong lòng nàng.
Nàng nhìn đồng hồ. Mới độ mười giờ rưỡi đêm. Nàng bỗng thấy sợ, sợ ghê gớm sẽ phải ở đây suốt cả đêm nay.
Nhiều kỷ niệm khác hiện ra trước mắt nàng: những kỷ niệm của chính cuộc đời khổng lồ, - Rosalie, Gilberte, - những sự thức tỉnh cay đắng của lòng nàng. Vậy ra tất cả chỉ là đau khổ, buồn phiền, tai biến và chết chóc. Tất cả đều là lừa bịp, tất cả đều là dối trá, tất cả đều làm cho ta đau đớn khóc lóc. Tìm đâu cho ra một chút thanh thản và niềm vui? Có lẽ phải chờ đến lúc sang thế giới bên kia! Khi linh hồn ta đã được giải thoát khỏi cơn thử thách của thế gian này. Linh hồn! Nàng mơ màng nghĩ đến cái điều bí ẩn không thể nào khám phá được ấy. Nàng lao vào những khái niệm thơ mộng đã được khẳng định về hai tiếng "linh hồn", nhưng những cái đó lại bị lật nhào ngay tức khắc bởi những giả thuyết cũng không kém phần mơ hồ khác. Vậy giờ đây, linh hồn của mẹ, linh hồn của cái thi thể im lìm và lạnh giá này đang ở đâu? Ở xa lắm, một nơi nào đó trong không gian, có lẽ? Nhưng mà ở đâu? Như một cánh chim vô hình đã được sổ lồng, nó đã tan thành mây khói ư? Nó đã được triệu về với Chúa? Hay, theo vận mệnh phải phân tán vào những sinh vật mới ra đời hay quyện chặt vào các mầm non sắp nảy nở?
Hay nó ở rất gần đây, có lẽ? Trong gian phòng này, quanh quẩn ngay bên khối thịt xương bất động mà nó vừa lìa bỏ kia? Và Jeanne bỗng cảm thấy như có một hơi thở lướt qua mình, giống như sự tiếp xúc với một hồn ma. Thế là nàng sợ, một nỗi sợ ghê gớm và mãnh liệt đến nỗi nàng chẳng còn dám động đậy, dám thở, dám quay đầu nhìn lại đằng sau nữa. Tim nàng đập như đập trong những cơn kinh hãi đến cực điểm.
Và bất ngờ, con côn trùng vô hình kia bỗng tiếp tục bay trở lại; nó tiếp tục lượn lên lượn xuống và đụng đầu vào các bức tường. Nàng rùng mình từ đầu đến chân nhưng nàng lại yên tâm ngay khi đã nhận ra tiếng bay vo vo của nó. Nàng đứng dậy và quay mình lại. Mắt nàng ngẫu nhiên nhìn đúng vào cái tủ kiêm bàn viết có trang trí những tượng đầu người mình sư tử, cái tủ đựng những "vật thánh" của mẹ.
Một ý nghĩ thân thương và khác thường bỗng tràn ngập tâm trí nàng: Trong đêm thức với mẹ lần cuối cùng này, nàng phải đem ra đọc, như đọc một kinh thánh, những thư từ yêu quý cũ của mẹ. Nàng cho rằng như thế là nàng sẽ làm tròn một nghĩa vụ tinh tế và thiêng liêng, một cái gì đó thật sự hiếu thảo, chắc chắn nó sẽ làm cho mẹ ở thế giới bên kia được vui lòng.
Đó là những thư từ cũ của ông bà ngoại, hai người thân mà nàng chưa từng biết mặt bao giờ. Nàng muốn dang rộng đôi tay trên thi hài người con gái của ông bà đây mà đi đến với ông bà trong đêm tang tóc này, như thế chính ông bà cũng đang cùng đau đớn với cô cháu ngoại này vậy. Nàng muốn tạo nên một sợi dây huyền bí của tình thương, ông bà đã mất tự ngày xưa đó với con người vừa mới qua đơi đây và với bản thân nàng đương còn ở lại trên trái đất này.
Thế là nàng đứng dậy, hạ cái bàn viết trên tủ xuống và rút từ ô kéo bên dưới ra khoảng mười gói nhỏ bọc những tờ giấy màu vàng, xếp cạnh nhau và có dây buộc ngăn nắp.
Với một tình cảm hết sức tinh tế, nàng đặt tất cả những tờ giấy đó lên giường, giữa hai cánh tay bà nam tước, và bắt đầu đọc.
Đây là loại thư từ cũ kỹ mà người ta thường thấy trong những tủ kiêm bàn viết cổ lỗ của gia đình, loại thư từ mang màu sắc và hương vị của thế kỷ trước.
Lá thứ nhất bắt đầu bằng chữ: "Con gái yêu quý của mẹ". Lá thư khác bắt đầu bằng chữ: "Cháu gái yêu quý", rồi thì "Con gái thương yêu và bé bỏng" - "Con gái xinh đẹp và yêu mến" - "Con gái vô cùng yêu dấu" - "Con thân yêu" - "Adelaide yêu quý" - "Gửi con gái thương yêu"..., tùy theo thời gian gửi cho bà nam tước lúc còn là một cô bé, khi ở tuổi thanh niên, hay sau này, đã thành một thiếu phụ.
Tất cả các trang thư đều tràn ngập những tình cảm âu yếm say sưa và thơ trẻ, những chi tiết nhỏ nhặt và thân thương bên cạnh những sự việc lớn lao và đơn giản của gia đình, nhưng đối với người không có liên quan thì lại quá vụn vặt: "Bố bị cúm; ngón tay cô hầu Hooctăngxơ (Hortense) bị bỏng; con mèo "Thần nhai chuột" đã chết; nhà đã chặt bỏ cây tùng bên phải cái chắn đường; mẹ làm mất cuốn kinh thánh lúc ở nhà thờ về và cho là có kẻ lấy cắp của mẹ’’...
Những thư từ ấy cũng còn nói về những người mà Jeanne không biết mặt nhưng tên thì nàng vẫn mang máng nhớ xưa kia khi còn nhỏ, nàng đã có lần được nghe nói đến.
Nàng xúc động với các chi tiết đó mà nàng coi là những điều bí mật được tiết lộ. Nàng cảm thấy nàng bất thình lình bước vào cuộc sống thầm kín đã qua, cuộc sống cực kỳ thân thiết của mẹ thân yêu. Nàng nhìn cái thi hài nằm đó, và đột nhiên, nàng bỗng đọc thư to lên, đọc cho người đã khuất, như để an ủi bà và giải sầu cho bà. Dường như cái xác chết im lìm kia tỏ ra vui sướng.
Đọc xong thư nào, nàng lại bỏ thư ấy xuống chân giường; và nàng nghĩ là sẽ phải đem đặt chúng vào trong quan tài, như đặt hoa cho mẹ vậy.
Nàng mở một gói thư khác. Đây là một nét chữ mới. Nàng bắt đầu đọc: "Anh không thể sống nếu thiếu sự âu yếm của em. Anh yêu em đến phát điên lên mất".
Chỉ có thế. Không thấy ký tên.
Nàng lật trang giấy, chắng hiểu gì hết. Địa chỉ đề rõ: "Bà nam tước Le Perthuis de Vauds".
Nàng mở lá thứ hai: "Em hãy đến đây tối nay, ngay sau khi hắn ta đi khỏi. Chúng ta sẽ có một giờ để sống bên nhau. Anh rất yêu em".
Và trong một thư khác: "Anh đã qua một đêm mê sảng và mong mỏi em một cách vô ích. Anh mơ thấy thân hình em trong vòng tay anh, môi anh trên môi em, mắt em dưới mắt anh. Tỉnh dậy, anh chỉ những muốn điên dại gieo mình qua cửa sổ khi nghĩ rằng, chính trong giờ phút đó, em đang nằm ngủ cạnh hắn ta, rằng hắn ta tha hồ chiếm hữu em, tùy thích...".
Jeanne sững sờ, chẳng hiểu ra sao cả.
Đây là cái gì nhỉ? Những lời lẽ tình tứ này là của ai? Viết cho ai? Và nói về ai?
Nàng tiếp tục đọc. Thư nào cũng lặp lại những lời lẽ say đắm mãnh liệt, những sự hẹn hò gặp gỡ kèm theo những lời dặn dò đề phòng thận trọng và bao giờ cũng kết thúc bằng bảy chữ: "Trước hết nhớ đốt thơ này đi!".
Cuối cùng, nàng mở một lá thư thường, chỉ có đơn giản ghi lời nhận đến ăn cơm tối với gia đình. Thư ấy viết một nét chữ cùng với những thư kia, dưới ký tên: "Pôn d"Ennoma" (Paul d’Ennemare) một người cho đến nay, mỗi khi nhắc đến, ông nam tước vẫn còn thường gọi là "ông bạn già Paul tội nghiệp của tôi", một người mà vợ đã từng là bạn bè thân thiết nhất của bà nam tước.
Đột nhiên, một mối nghi ngờ bỗng thoáng qua đầu óc Jeanne và lập tức trở thành một điều khẳng định; Ông ta là một người tình của mẹ.
Như điên lên, nàng bỗng vứt mạnh tất cả những thư từ ô nhục đó xuống, như vứt bỏ một con rắn độc đang bò lên người nàng. Chạy đến bên cửa sổ, nàng khóc òa lên và, mặc dù cố nén, vẫn bật ra những tiếng kêu than xé cổ. Lòng nàng tan nát: nàng gục xuống, úp mặt vào tường để dập tắt những tiếng kêu rên, và trong vực thẳm của một nỗi tuyệt vọng không cùng, nàng tiếp tục nức nở khóc.
Có lẽ nàng sẽ ngồi sụp như thế đến suốt đêm, nếu không chợt nghe thấy tiếng chân người trong gian phòng bên cạnh. Nàng đứng phắt dậy. Có thể đó là bố? Và những lá thư- trên giường, trên sàn kia! Chỉ cần mở xem một lá thôi, bố, bố sẽ biết rõ tất cả câu chuyện!
Thế lầ nàng lao tới, quơ thành một đống tất cả những lá thơ vàng úa kia: thư của ông bà, thư của ông tình nhân mẹ, và cả những lá thư nàng chưa mở đọc, lẫn những lá thư còn buộc xếp trong ngăn kéo tủ, rồi nàng ném vào trong lò sưởi, và cầm cây nến đang cháy trên chiếc tủ đầu giường đốt ngay. Một ngọn lửa lớn bùng lên soi sáng cả gian phòng, chiếc giường và cái xác. Ánh lửa rực rỡ, nhảy nhót vẽ lên trên nền tâm riđô trắng trẻo ở cuối giường cái bóng đen run rẩy của khuôn mặt cứng đờ nhìn nghiêng và những đường nét của cái thân hình đồ sộ nằm dưới tấm chăn đắp.
Khi tất cả giấy tờ đó chỉ còn là đống tro tàn trong đáy lò sưởi. Nàng như chẳng còn dám ngồi cạnh người đã chết nữa, nàng quay lại ngồi bên khung cửa sổ mở toang; rồi úp mặt vào hai bàn tay, nàng tiếp tục khóc lóc, rên rỉ với cái giọng than van não nuột: "Ôi, mẹ tội nghiệp của con! Mẹ tội nghiệp của con!".
Một ý nghĩ tàn nhẫn bỗng nảy ra: Giả thử ngẫu nhiên mẹ chưa chết mà mới chỉ là ngủ thiếp đi trong một cơn hôn mê để rồi bất thần ngồi dậy, nói năng như thường thì sao? Liệu việc đã biết rõ điều bí ẩn xâu xa kia có làm giảm sút tình thương yêu và hiếu thảo ở lòng nàng chăng? Liệu nàng có còn yêu mẹ với một tình cảm thiêng liêng như trước nữa không? Không! Không thể được. Và ý nghĩ đó lại vò xé lòng nàng.
Đêm sắp tàn, sao đã nhạt. Đây là khoảnh khắc trời mát lạnh trước khi rạng sáng, sắp sửa lặn xuống nước, vầng trăng tà vẫn khảm xà cừ lộng lẫy lên khắp mặt biển mông mênh.
Jeanne chợt nhớ lại đêm đầu tiên ngồi khóc bên cửa sổ, hồi nàng mới về đến Bạch Dương. Thật đã xa biết mấy! Tất cả đã đổi thay xiết bao! Và bây giờ nàng hình dung thấy tương lai khác trước đến dường nào! Kìa, trời đã nhuốm hồng, một màu hồng duyên dáng, tình tứ, vui tươi. Jeanne kinh ngạc ngắm nhìn cảnh bình minh rạng rỡ ấy như đứng trước một hiện tượng diệu kỳ. Nàng tự hỏi có thể nào trên trái đất này còn có được những cảnh rạng đông như thế, mà con người lại không có được một chút niềm vui, một chút hạnh phúc.
Một tiếng động cửa làm nàng giật nảy mình. Julien bước vào. Anh hỏi: "Thế nào? Em không quá mệt chứ?".
Vui mừng thấy không còn bị lẻ loi một mình trong phòng nữa, nàng ấp úng: "Không!". Anh nói: "Bây giờ, em đi nghỉ đi!". Nàng hôn mẹ từ từ, một cái hôn chậm rãi, xót xa, sầu não, rồi về phòng riêng.
Ngày hôm đó trôi qua với những công việc buồn thảm cần thiết cho một người chết. Buổi tối, ông nam tước về đến nhà. Ông khóc rất nhiều.
Việc chôn cất tiến hành vào ngày hôm sau.
Sau khi đặt môi lần chót lên vầng trán giá lạnh của mẹ, thay quần áo cho mẹ lần cuối, theo dõi việc đặt thi hài mẹ vào áo quan và việc đóng đinh, Jeanne rút ra ngoài. Khách khứa sắp đến.
Gilterte bước vào đầu tiên. Cô ôm chầm lấy Jeanne và khóc nức nở trên ngực bạn.
Qua cửa sổ nhìn ra, người ta thấy các cỗ xe chạy nước kiệu lượn vòng ở chỗ hàng rào song sắt. Có tiếng nhiều người vang bên ngoài phòng chờ. Nhiều bà mặc đồ đen mà Jeanne chưa từng quen biết lần lượt bước vào. Bà hầu tước De Courtilier và bà tử tước Briseville ôm hôn nàng.
Nàng bỗng chợt nhận ra dì Lison đã lướt đến sau lưng mình. Nàng âu yếm ôm hôn làm cho bà dì muộn chồng vô cùng cảm động.
Mình mặc lễ phục đen, Julien bước vào. Trông anh trang nhã, bận rộn và tỏ vẻ hài lòng với đám khách đến viếng. Anh hỏi nhỏ vợ về một vấn đề cần được nàng góp ý. Với giọng tâm tình, anh nói thêm: "Toàn bộ giới quý tộc đều đến cả. Điều đó sẽ rất tốt!". Anh trịnh trọng chào các vị phu nhân rồi đi ra.
Chỉ có dì Lison và Gilberte, vợ ông bá tước, là ở lại với Jeanne trong lúc tang lễ cử hành. Gilberte không ngớt ôm hôn nàng, miệng nhắc đi nhắc lại mãi: "Bạn thân yêu tội nghiệp của tôi! Bạn thân yêu tội nghiệp của tôi!".
Khi ông bá tước De Fourville bước vào phòng đón vợ ra, ông cũng khóc như thể chính mẹ ông chết vậy.