Một Cuộc Đời

Lượt đọc: 2081 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG X

Những ngày tiếp theo là những ngày buồn bã và ảm đạm trong một gia đình đã trở nên trống rỗng do sự vắng mặt của một người thân ra đi mãi mãi, những ngày và mỗi lần đụng đến bất cứ đồ dùng cũ nào của người đã mất lại như bị một vết đạn đau thương lỗ chỗ bắn vào. Lúc này qua lúc khác, từng kỷ niệm lại nhói lên trong lòng Jeanne và làm nàng đau xót, Đây, chiếc ghế bành mẹ vẫn thường ngồi; đây, cái dù mẹ còn để lại ngoài phòng chờ; đây, cái cốc mẹ uống mà cô hầu vẫn chưa cất dọn! Và trong phòng nào cũng vậy, ở đâu cũng gặp những vật còn vương vất trên sàn: cái kéo, chiếc găng của mẹ, cuốn sách mà những ngón tay nặng nhọc của mẹ đã làm sờn mòn từng trang giấy, hàng nghìn thứ vụn vặt khác nữa, cái nào cũng mang một ý nghĩa đau thương bởi vì chúng gợi nhớ đến hàng nghìn sự việc.

Và tiếng nói của mẹ vẫn còn văng vẳng đâu đây, tưởng như Jeanne vẫn còn nghe thấy. Nàng muốn bỏ chạy đi tới bất cứ nơi nào, cốt sao thoát khỏi nỗi ám ảnh của

căn nhà này. Nhưng nàng vẫn phải ở lại vì ở đây vẫn còn những người thân khác cũng đang đau khổ như nàng.

Ngoài ra, kỷ niệm về sự việc Jeanne đã phát hiện vẫn còn làm cho nàng vô cùng u uất. Ý nghĩ đó đè nặng lên nàng. Trái tim đã bị nghiền nát của nàng không thể nào lành trở lại được nữa rồi. Giờ đây, điều bí ẩn khủng khiếp đó càng làm tăng thêm nỗi cô đơn ở lòng nàng. Niềm hy vọng cuối cùng đã tan vỡ theo niềm tin tưởng cuối cùng.

Sau một thời gian, ông bố bỏ ra đi vì thấy mình cần phải xê dịch, phải thay đổi không khí, phải thoát ra khỏi nỗi ưu phiền đen tối ngày càng nhận chìm ông xuống sâu hơn. Cứ như thế, tòa nhà to, rộng ấy thỉnh thoảng lại mất dần đi thêm một người chủ. Cuộc sống trong nhà trở lại bình thản và đều đặn.

Rồi Paul bị ốm, Jeanne như hóa dại; suốt mười hai ngày đêm, nàng không ngủ và gần như chẳng ăn uống gì.

Sau đó, tuy Paul đã khỏi bệnh, Jeanne vẫn còn khủng khiếp với ý nghĩ là nó có thể chết - và nếu như thế thì nàng sẽ làm gì? Nàng sẽ ra sao? Rất nhẹ nhàng, một ý nghĩ mơ hồ đã len vào trong nàng là cần phải có thêm một đứa con nữa. Niềm mong mỏi từ xưa là sẽ được sống với hai đứa con, một trai, một gái lại lôi cuốn toàn bộ tâm trí nàng. Chẳng mấy chốc, niềm mong mỏi ấy đã thành một ước mơ, một điều ám ảnh.

Nhưng từ khi xảy ra câu chuyện với Rosalie, nàng đã sống cách biệt với Julien. Trong tình hình hiện nay, ngay một sự gần gũi trở lại với hai người cũng là điều không thể có được, Julien đã có chốn yêu thương khác, điều ấy, nàng đã rõ rồi. Chỉ nghĩ đến việc bị anh ta âu yếm trở lại cũng đủ làm nàng rùng mình ghê tởm.

Tuy vậy, lòng thèm khát được làm mẹ thêm một lần nữa vẫn đeo đuổi nàng mạnh đến nỗi nàng thấy mình có thể sẵn sàng cam chịu điều ghê tởm đó. Nhưng nàng tự hỏi làm thế nào mà hai người có thể trở lại ôm hôn nhau được? Nàng thà chịu chết nhục, chết nhã còn hơn để anh ấy đoán được ý muốn của mình. Vả lại, anh ấy có vẻ như chẳng còn nghĩ gì đến nàng nữa cơ mà.

Có lẽ đến phải từ bỏ ý định ấy mất thôi; nhưng kìa, chẳng có đêm nào là chẳng mơ thấy mình có một đứa con gái, mơ thấy nó chơi đùa với Paul dưới bóng cây ngô đồng; và có lúc nàng chỉ những muốn, muốn mãnh liệt, đứng ngay dậy và không nói một lời, đi tìm ngay chồng mình trong phòng của anh. Đã hai lần nàng rón rén đến tận cửa phòng anh, nhưng rồi nàng lại bỏ về ngay, tim đập liên hồi vì hổ thẹn,

Ông nam tước đã ra đi, mẹ đã chết, Jeanne biết còn ai để tham khảo ý kiến để trao gửi những niềm bí ẩn thầm kín của lòng mình.

Thế là nàng quyết định đi tìm cha xứ Picot để bộc lộ với ông những dự kiến khó khăn mà nàng đang ấp ủ, với điều kiện là ông phải giữ kín cho nàng như giữ kín một điều xưng tội.

Nàng đến đúng vào lúc ông đang đọc sách kinh trong một vườn nhỏ trồng cây ăn quả.

Sau vài phút nói hết chuyện này qua chuyện kia, nàng đỏ mặt ấp úng nói: "Thưa cha con muốn xưng tội

Ông kinh ngạc, bỏ kính xuống để nhìn nàng cho đuợc rõ hơn rồi phá ra cười: "Nhưng lương tâm cô như thế thì làm sao mà cô có thể phạm trọng tội được?". 

Hết sức bối rối, nàng nói tiếp: "Không, nhưng con muốn xin cha cho con một lời khuyên, một lời khuyên... Khó... khăn đến nỗi lẽ ra con chẳng dám nói với cha như thế này".

Đến đây, ông lập tức chấm dứt vẻ hiền lành chất phác và chuyển sang giọng nói của một vị cha cố: "Con ạ, vậy thì cha sẽ nghe con ở trong phòng xưng tội nhé".

Nàng bỗng cảm thấy áy náy vì sẽ phải nói những chuyện đáng xấu hổ như thế trong khung cảnh trang nghiêm trầm mặc của một nhà thờ vắng vẻ; nàng giữ ông lại, ngập ngừng;

-Thưa cha..., hay là, không... nếu được cha đồng ý... con có thể... có thể nói với cha điều con muốn nói ngay tại đây thôi. Xin cha cho phép được ngồi ở kia, dưới vòm cây đó.

Họ chầm chậm bước đi. Nàng suy nghĩ tìm cách xem nên diễn tả thế nào, mở đầu ra làm sao. Họ cùng ngồi xuống.

Thế rồi, giống như khi xưng tội thật vậy, nàng bắt đầu: "Thưa cha..." rồi do dự, lắp lại "Thưa cha..." và im bặt, hết sức bối rối.

Hai bàn tay bắt chéo trên bụng, ông cố đạo chờ đợi.

Thấy nàng lúng túng, ông khích lệ: "Thế nào, con gái của cha, có lẽ con không dám nói chăng? Nào, hãy dũng cảm lên, nào!",

Giống như một anh chàng nhát gan đành liều nhắm mắt đưa chân, nàng đánh bạo nói: "Thưa cha, con muốn có thêm một cháu nữa". Ông không trả lời gì hết vì chẳng hiểu ra sao cả. Thế là với một vẻ kinh hãi, nàng giải thích câu được, câu chăng:

-Hiện nay, con sống cô đơn quá. Bố con và chồng con không hòa thuận với nhau; mẹ con thì mất rồi, và... và... Nàng rùng mình nói rất khẽ: "Hôm nọ suýt nữa thì con mất mất thằng cu cháu! Nếu mất nó, đời con sẽ ra sao?...".

Nàng im bặt. Ông cố đạo nhìn cô, sốt ruột: "Nào, đi vào sự việc đi chứ con!".

Nàng nhắc lại: "Con muốn có thêm một đứa con khác nữa".

Đã quen với những câu bông phèng táo tợn của các bác nông dân thường chẳng giữ ý, giữ tứ gì với ông cho lắm, ông mỉm cười, lắc đầu hóm hỉnh trả lời: "Ồ cha nghĩ rằng điều ấy chỉ tùy thuộc vào con thôi chứ!".

Nàng ngước đôi mắt ngây thơ, chân thật lên nhìn ông, bối rối nói: "Nhưng... cha biết đấy, từ khi xảy ra cái... việc... về cô hầu mà cha đã biết, vợ chồng con sống... sống cách biệt hẳn nhau rồi!".

Đã quá quen với tình trạng quan hệ nam nữ hỗn tạp và những tập tục bừa bãi ở nông thôn, ông ngạc nhiên về điều tiết lộ này: Rồi đột nhiên ông cho là mình đã đoán đúng được niềm mong ước thật của người thiếu phụ. Ông liếc mắt nhìn Jeanne, đầy vẻ thiện chí và thông cảm với nỗi phiền muộn của cô: "Ừ, cha hiểu hết ngọn ngành rồi. Cha hiểu là tình trạng sống như... người góa bụa ấy đã đè nặng lên con. Con còn trẻ, lại khỏe mạnh. Tóm lại, điều đó cũng là tự nhiên, quá tự nhiên mà thôi!”.

Ông mỉm cười; rồi cởi mở quá trớn theo bản chất thô tục của những người cố đạo nông thôn, ông vỗ nhè nhẹ lên tay Jeanne: "Con được luật giới của giáo hội cho phép làm như thế, rất được phép nữa là khác. - Chỉ có vì sự nghiệp của tình dục, con người ta mới nên vợ nên chồng chứ! - Con đã kết hôn, phải không? Lấy chồng đâu có phải để ngồi mà nhá củ cải suông trừ bữa”.

Lúc đầu, Jeanne chẳng hiểu nổi những lời bóng gió ấy, nhưng khi vừa chợt hiểu ra, nàng đỏ bừng mặt, rồi hết sức đau đớn, nước mắt lưng tròng, nàng nói: "Ôi, thưa cha, cha nói gì vậy? Cha nghĩ gì vậy? Con xin thề với cha... Con xin thề với cha...”. Rồi nàng nức nở khóc, không nói nên lời nữa.

Ông cố đạo kinh ngạc; và ông dỗ: "Thôi, cha nào có muốn làm cho con phải buồn phiền. Cha nói giỡn một tý đó thôi. Khi lòng ta trung thực thì nào ai có cấm đùa chơi chút ít. Nhưng con hãy tin vào cha, hãy tin vào cha. Cha sẽ gặp Julien cho con”.

Nàng chẳng biết gì thêm nữa. Lúc này nàng lại muốn khước từ sự can thiệp của linh mục, vì e rằng việc đó có thể sẽ vụng về và nguy hiểm, nhưng nàng chẳng dám từ chối. Sau khi ấp úng nói: "Con xin cảm ơn cha, cha xứ ạ", nàng lật đật ra về.

Tám ngày đã trôi qua. Nàng sống trong một tâm trạng buồn phiền đầy lo lắng.

Một buổi tối, cơm nước xong, Julien nhìn nàng với đôi mắt khác thường, và trên môi anh thoáng một nét cười nàng đã từng biết rõ mỗi khi anh muốn giở thói bờm xòm. Thậm chí, anh còn tỏ ra với vợ một thái độ lẳng lơ có pha chút diễu cợt mà tinh ý lắm mới thấy. Sau đó, trong lúc hai vợ chồng đi dạo trên con đường lớn của mẹ trước kia, anh thì thầm vào tai vợ: "Có vẻ như bọn mình đã làm lành với nhau rồi nhỉ?".

Nàng không trả lời, mắt cứ nhìn mãi xuống một vệt thẳng dưới đất mà cỏ mọc dày đã gần như xóa mờ hẳn. Đó là vết chân của bà nam tước. Nó đang phai nhạt dần đi như một kỷ niệm. Lòng Jeanne đau thắt, tràn ngập buồn thương. Nàng cảm thấy mình bơ vơ, lạc lõng trong cuộc đời và quá xa cách mọi người.

Julien nói tiếp: "Phần anh, anh chẳng mong gì hơn. Anh sợ em chẳng còn thương anh nữa!".

Mặt trời đã lặn, không khí mát dịu. Jeanne bỗng thấy mình muốn khóc lên, và nhu cầu đó vừa đè nặng lòng nàng, vừa thúc đẩy nàng cần phải tỏ bày tâm sự với một người bạn lòng, ôm chặt lấy người đó và thì thầm vào tai người đó những tâm tư u uất của mình. Môt tiếng nức nở dâng lên từ trong cổ Jeanne. Nàng dang tay và ngã vào ngực Julien.

Nàng khóc. Julien kinh ngạc nhìn xuống mái tóc nàng; anh không nhìn thấy rõ khuôn mặt đang úp trên ngực mình. Cho rằng nàng vẫn còn yêu mình, anh đặt xuống búi tóc nàng một cái hôn niềm nở.

Hai người vào nhà, chẳng ai nói với ai một lời nào nữa. Anh theo nàng lên phòng và ở lại với nàng đêm đó.

Hai vợ chồng nối lại các mối quan hệ trước kia. Julien thực hiện các quan hệ ấy như một nghĩa vụ tuy anh lúc đó không phải không thích. Còn Jeanne thì chịu đựng chúng như một sự cần thiết ghê tởm và đau buồn, với quyết tâm sẽ chấm dứt chúng ngay và sẽ chấm dứt mãi mãi khi nào nàng thấy mình đã lại có thai.

Nhưng chẳng bao lâu, nàng nhận thấy những âu yếm có lẽ tinh vi hơn nhưng không trọn vẹn bằng. Anh tiếp xúc với nàng theo kiểu một người tình vụng trộm, không phải là một người chồng thanh thản.

Nàng ngạc nhiên, chú ý quan sát và chẳng mấy chốc đã nhận thấy rõ là, mỗi lần gần gũi, anh chủ động ngừng lại trước khi có thể đi đến thụ thai.

Một đêm, miệng ghé miệng, nàng thầm thì với chồng: "Vì sao anh chẳng còn yêu đến đầu đến đũa như trước kia nữa?".

Anh nhăn nhó: "Ôi chao! Để em khỏi có chửa, chứ còn sao nữa".

Nàng giật mình: "Thế tại sao anh không muốn có con thêm?".

Anh ngớ ra vì kinh ngạc: "Sao? Em nói gì? Em điên à? Một đứa con nữa ư? Ồ, Không đâu! Một đứa kia cũng đã quá đủ để đinh tai, nhức óc, quá đủ để làm cho cả nhà phải bấn lên, quá đủ để tốn tiền rồi! Một đứa con nữa? Cảm ơn!".

Nàng ôm chặt lấy anh, hôn anh, âu yếm anh hết mức và thì thầm: "Ôi! Em van anh, anh hăy cho em được làm mẹ một lần nữa đi!".

Nhưng anh đã nổi cáu lên như bị nàng xúc phạm: "Em mất trí thật rồi! Thôi đi, xin hãy tha cho anh, đừng bắt anh phải làm theo những điều ngu xuẩn ấy của em!".

Nàng nín lặng và tự hứa quyết sẽ dùng mẹo buộc anh phải tạo cho nàng niềm hạnh phúc mà nàng mơ ước.

Thế rồi nàng cố gắng kéo dài những cái hôn, cố gắng đóng kịch với một nhiệt tình mãnh liệt đến thành mê mẩn, xiết chặt anh bằng đôi tay co quắp trong những giây phút bay bổng say mê mà nàng tạo ra. Nàng đã giở hết mọi mánh khóe, nhưng anh vẫn làm chủ được mình, không hề một lần nào lầm lỡ.

Niềm mong ước kia ngày càng nung nấu, nàng chẳng còn kiên trì được nữa; nàng sẵn sàng liều mạng với mọi thứ và dám làm bất cứ việc gì: nàng lại tìm đến nhà cha xứ Picot.

Ông vừa ăn trưa xong, vốn mắc chứng hồi hộp sau bữa ăn, người ông đỏ gay. Ông nôn nóng muốn biết kết 

quả việc ông thương lượng với Julien. Vừa thấy nàng bước vào, ông đã kêu ngay: "Thế nào, con?".

Đã quyết tâm và không còn rụt rè e thẹn nữa, nàng trả lời luôn: "Nhà con, anh ấy không muốn có thêm con nữa!”. Ông quay lại nàng với một vẻ hết sức quan tâm. Với lòng háo hức tò mò của người cố đạo sẵn sàng moi cho ra những điều bí mật trong quan hệ vợ chồng, những bí mật đã làm ông thích thú với gian phòng xưng tội của mình, ông hỏi: "Sao lại thế được?". Dù đã quyết tâm, Jeanne vẫn bối rối khi giải thích: "Anh ấy... anh ấy từ chối không chịu cho con được làm mẹ một lần nữa ạ".

Vốn là người am tường những chuyện loại này, Ông cha xứ hiểu rõ ngay. Ông hỏi sâu vào từng chi tiết cụ thể và tỷ mỷ với vẻ háu ăn của một anh nhịn đói lâu ngày.

Ông suy nghĩ một lát, rồi, bằng một giọng bình thản y như khi kể về chuyện mùa màng đang ngày gặt rộ, ông vạch cho nàng một mưu kế đối xử khôn khéo và xác định rõ từng điểm một: "Con thương mến ạ, con chỉ cần có một cách là phải làm sao cho anh ấy lầm tưởng rằng con đã có thai. Thế là anh ấy sẽ không còn giữ gìn gì nữa, và rồi con sẽ có thai thật cho mà xem".

Nàng đỏ mặt tía tai, nhưng đã quyết tâm đến cùng nên nàng vẫn gặng hỏi thêm: "Vậy... nếu anh ấy, vẫn không tin thì sao?''.

Vốn biết tường tận các bí quyết để hướng dẫn và điều khiển cánh đàn ông, ông cố đạo chỉ bảo tiếp: "Con cứ rêu rao cho tất cả mọi người biết tin con đã có thai, cứ nói khắp nơi như vậy. Cuối cùng, anh ấy sẽ phải tin thôi!".

Như để biện bạch cho mưu kế đó, ông nói thêm: "Con có quyền được làm như vậy. Chỉ vì mục đích tái tạo ra con người, giáo hội mới tha thứ cho mối quan hệ giữa nam và nữ đây chứ".

Nàng làm đúng theo lời khuyên tinh quái đó. Mười lăm ngày sau, nàng báo cho Julien biết rằng, nàng e mình đã có thai. Anh giật bắn người: "Không thể như vậy được! Điều ấy không đúng".

Nàng nói rõ ngay vì sao nàng lại nghi ngờ như vậy. Nhưng anh đã tĩnh trí lại: "Được! cứ đợi ít lâu xem sao đã".

Mỗi buổi sáng, anh lại hỏi: "Thế nào?", và bao giờ nàng cũng đáp: "Không, chưa thấy gì khác cả. Nếu phen này không chửa thì quả là tôi đã lầm to!"

Anh lo ngại, cáu kỉnh, buồn phiền và kinh ngạc. Anh nhắc đi nhắc lại mãi: "Thật anh chẳng còn hiểu gì hết, chẳng còn hiểu gì hết. Giá anh biết được vì sao mà xảy ra cố sự này, anh cam chịu treo quách cổ mình lên cho rồi!"

Trong vòng một tháng, nàng loan báo tin đó đi khắp nơi, trừ bà bá tước Gilberte, bởi lòng e thẹn của nàng phức tạp và tế nhị.

Ngay hôm đầu tiên được biết cái tin đáng lo ngại đó, Julien liền thôi không dám gần vợ nữa. Nhưng rồi anh cũng đành cam chịu và điên tiết tuyên bố: "Đây là một đứa con do bất hạnh mà có." Và anh lại tiếp tục ra vào phòng vợ.

Điều dự kiến của ông cố đạo thế là đã hoàn toàn trở thành sự thật. Jeanne đã có mang.

Lòng nàng tràn ngập một niềm vui sướng điên người và dạt dào một niềm biết ơn nồng nhiệt đối với đấng thần linh mơ hồ nàng hằng sùng kính. Tối nào cũng vậy, nàng khóa chặt cửa, quyết tâm giữ thân mình cho được mãi mãi thanh khiết từ nay.

Nàng cảm thấy mình sung sướng trở lại. Nàng ngạc nhiên nhận thấy nỗi đau mất mẹ đã mau chóng dịu bớt ở lòng nàng. Nàng những tưởng là không còn gì có thể an ủi, dỗ dành nàng được nữa, vậy mà chỉ chưa đầy hai tháng sau, vết thương lòng dữ dội ấy đã khép kín miệng. Chỉ còn đọng lại ở lòng nàng một nỗi buồn, một niềm xúc động bâng khuâng như tấm khăn voan phiền muộn phủ nhẹ lên cuộc đời nàng. Cuộc đời ấy thế là không thể còn có bất cứ một biến cố nào nữa. Hai con nàng sẽ khôn lớn, sẽ yêu thương mẹ chúng. Nàng sẽ sống êm ả và hài lòng trong tuổi già, không còn phải bận tâm gì về người chồng kia nữa.

Vào khoảng cuối tháng chín, cha xứ Picot lại đến thăm gia đình. Một cuộc viếng thăm nghi lễ. Ông mặc một bộ áo thầy tu mới chỉ được đem ra dùng vỏn vẹn có tám ngày. Ông giới thiệu người đến thay mình, cha xứ Tônbiãc ( Tolbiac), một cố đạo còn rất trẻ, người thấp bé, gầy gò, có giọng nói khoa trương, đôi mắt trũng sâu và thâm quầng, dấu hiệu của một tâm hồn quá khích. Ông linh mục già đã được bổ nhiệm làm tu viện trưởng, một cấp cha bề trên ở Gôđecvin (Goderville).

Jeanne cảm thấy buồn thật sự trước việc ra đi. Khuôn mặt đó đã gắn liền với mọi kỷ niệm quãng đời thiếu phụ của nàng. Ông đã làm kết hôn cho nàng, đã đặt tên thánh cho Paul, đã làm tang lễ cho bà nam tước. Nàng không thể hình dung nổi xứ Ẻtuvăng (Etouvent) này mà lại thiếu hình ảnh cái bụng phệ của ông cha xứ già thường qua lại dọc theo sân các trại ấp ấy. Nàng mến ông vì tính ông vui vẻ, tự nhiên.

Phần ông, tuy được thăng chức, ông vẫn có vẻ không vui. Ông nói: "Thưa tử tước phu nhân, thật rõ đau cho tôi! Tôi ở xứ này đã mười tám năm rồi. Ôi, cái xã này chẳng có gì đáng giá cho lắm, lợi lộc cũng ít thôi. Đàn ông chỉ ngoan đạo ở mức cần thiết, còn đàn bà... đàn bà... phu nhân thấy không, tư cách họ nào có ra quái gì. Họ đến nhà thờ làm lễ cưới chỉ sau khi đã đi hành hương tại nhà thờ Đức bà "Bụng Phưỡn" ( Notre Dame du Gros Ventre)  kia rồi, cái chữ trinh nào có đáng bao tiền ở xứ mình đây. Mặc dù vậy, tôi, tôi vẫn yêu nó".

Ông linh mục mới có vẻ sốt ruột, mặt ông đỏ lên. Ông đột nhiên nói: "Với tôi ấy à, tất cả những cái đó sẽ phải thay đổi tuốt!". Trông ông giống một đứa trẻ lúc đang cáu, người ông quá đỗi gầy gò và mảnh dẻ trong cái áo choàng thầy tu cũ kỹ và sạch sẽ.

Theo thói quen của mình mỗi lúc có gì vui nhộn, linh mục Picot, liếc nhìn ông cố đạo mới, nói tiếp: "Cha xứ ạ, ông thấy không, muốn ngăn chặn những chuyện đó chỉ còn có một cách là đem chân cẳng giáo dân trong cả cái xứ đạo này ra mà xích lại tuốt. Và ngay cả làm thế thì cũng sẽ vô ích thôi!"

Ông cố đạo bé nhỏ đáp lại, giọng quả quyết: "Được, rồi chúng ta sẽ thấy!". Ông linh mục già rít một hơi thuốc, mỉm cười, nói tiếp: "Thưa cha xứ, tuổi tác, và cả kinh nghiệm nữa, sẽ làm cho ông bớt nôn nóng đi. Ông sẽ chỉ làm cho những con chiên cuối cùng xa lánh nhà thờ đi, có thế thôi. Trong xứ này ấy à, dân có tin ở Chúa thật đấy, nhưng đầu óc thì phải nói là chó má; ông hãy cẩn thận! Của đáng tội, mỗi lần lên giảng đạo, hễ thấy một cô gái nào đến dự lễ mà người đã hơi phị ra, là lòng tôi lại tự bảo: Cô ta lại dẫn đến thêm một con chiên cho xứ đạo rồi đây. Và tôi cố tìm cách làm sao cho cô ta kết hôn bằng được. Ông thấy không, đừng có mất công vô ích ngăn cản người ta phạm lỗi làm gì. Điều ta có thể làm là hãy đi tìm cho ra chàng trai kia và ngăn cản anh ta thế nào đó, để cho người sắp làm mẹ khỏi bị bỏ rơi. Hãy làm lễ thành hôn cho họ, thưa cha xứ, hãy làm lễ thành hôn cho họ và xin đừng có bận tâm vào việc khác.

Giọng đanh lại, ông linh mục đáp: "Chúng tôi ấy à? chúng tôi nghĩ khác. Xin đừng nhấn mạnh thêm nữa vô ích!"

Cha xứ Picot lại thấy luyến tiếc làng xóm này, luyến tiếc cảnh mặt biển từ căn nhà ông ở nhìn ra, luyến tiếc những thung lũng trông giống như miệng phễu, nơi ông thường đến, miệng đọc kinh cầu nguyện mà mắt ngắm nhìn các con tàu qua lại ngoài xa.

Hai ông cố đạo xin phép ra về. Ông già ôm hôn Jeanne. Nàng gần như phát khóc.

Tám ngày sau, cha xứ Tolbiac trở lại. Cứ như một ông hoàng tung hoành ở một vương quốc vừa đánh chiếm được, ông nói về những cải cách mà ông định tiến hành. Rồi ông yêu cầu Jeanne đừng vắng mặt ngày chủ nhật ở nhà thờ và, bất kỳ ngày lễ nào, cũng phải đến chịu phép thông công. Ông nói: "Bà và tôi, chúng ta những người cầm đầu cái xứ này. Chúng ta phải cai quản nó và phải luôn luôn tỏ ra gương mẫu. Để có quyền lực và được kính nể, chúng ta phải đoàn kết lại. Nhà thờ và lâu đài mà bắt tay nhau thì túp lều tranh kia sẽ e sợ và phục tùng chúng ta!"

Đối với Jeanne, tôn giáo chỉ là một cái gì hết sức tình cảm; nàng mang một niềm tin đạo đầy mơ mộng mà mỗi người phụ nữ thường luôn luôn ấp ủ. Nếu như nàng vẫn thực hiện gần như trọn vẹn các nghĩa vụ giáo dân thì trước hết chỉ là do thói quen còn giữ được từ thuở ở trường dòng. Cho nên, tư tưởng triết học đầy tính phê phán của cha nàng, ông nam tước, đã làm cho nàng vứt bỏ lòng tin đạo đi từ lâu rồi.

Trước đây, cha xứ Picot vẫn đành phải bằng lòng với sự hưởng ứng ít ỏi của nàng và không hề rầy la nàng chút nào về chuyện đó. Nhưng bây giờ, người kế tục ông, vừa mới không thấy mặt nàng ở buổi lễ chủ nhật trước, đã lo lắng và nghiêm khắc chạy đến hỏi nàng ngay.

Dù sao, nàng cũng chẳng muốn đoạn tuyệt với cha xứ mới. Nàng hứa sẽ làm theo lời ông và dự định sẽ chỉ tỏ ra cần mẫn trong vài tuần lễ đầu để ông được vui lòng thôi.

Nhưng sau đó, việc đi lễ đã dần dần trở thành một thói quen, và nàng đã từng buớc một tiếp thu ảnh hưởng của cha xứ mảnh dẻ, thanh liêm và nặng đầu óc thống trị. Nàng thấy mến ông, người tu sĩ thần bí, sôi nổi và nhiệt tình ấy. Ông đã làm rung lên trong lòng nàng sợi dây đàn của thi ca tôn giáo vốn sẵn có trong tâm hồn mọi người phụ nữ. Khắc khổ một cách cố chấp, khinh bỉ hạ giới và dục vọng, ghê tởm những lo toan tầm thường của chúng sinh, yêu mến thượng đế, không có kinh nghiệm ấu trĩ và nông cạn nói năng rắn rỏi, quyết tâm sắt đá, tất cả những đặc tính ấy của ông đã gây cho Jeanne một ấn tượng về phong cách cần phải có của những con người tử vì đạo. Là một người chịu nhiều đau khổ giờ đây đã tỉnh ngộ, nàng bị chinh phục bởi tính cuồng tín cứng nhắc của con người bé nhỏ, sứ giả của Thượng đế này.

Ông đã đưa nàng đến với Chúa trời đầy sức an ủi, đã chỉ cho nàng thấy rằng, với những niềm vui thành kính của tôn giáo, những nỗi đau khổ của nàng sẽ dịu bớt đi. Và thế là nàng đã quỳ xuống xưng tội, nàng tự hạ mình, tự cảm thấy mình bé nhỏ và yếu đuối trước mặt người cố đạo trông chỉ bằng đứa bé mười lăm tuổi ấy.

Nhưng chẳng bao lâu, ông ta đã bị bà con nông dân khắp vùng oán ghét.

Hết sức khắc khe với bản thân, ông đồng thời tỏ ra vô cùng nghiệt ngã với người khác. Có một thứ đặc biệt làm cho ông phẫn nộ và bất bình nhiều nhất, đó là tình yêu. Trong những giờ giảng đạo, bằng những lời lẽ sống sượng, theo cung cách riêng của các cha cố, ông say sưa nói về vấn đề này và, ầm ầm như sấm, dội xuống đầu các vị thính giả quê kệch của mình từng tràng những câu thao thao bất tuyệt lên án thói tà dâm. Những hình ảnh ông nhắc đến trong những lúc giận dữ đó cứ ám ảnh tâm trí ông như ma ám khiến ông phải cáu kỉnh dậm chân và run bắn cả người lên.

Con trai, con gái lén đưa mắt nhìn nhau ngang dọc khắp nhà thờ. Sau buổi lễ, trên đường về nhà, các bác nông dân già vốn có tính thích cợt nhả bông phèng với những chuyện đó, tỏ ra không tán thành thái độ khe khắt của ông thầy tu nhỏ bé kia bằng cách kéo nhau đi sát cạnh chàng trai khoác áo choàng xanh và cô gái mặc áo dài đen. Thế là cả xứ đạo xôn xao hẳn lên.

Người ta xì xào kể cho nhau nghe về cái vẻ nghiêm khắc của ông cố đạo ở phòng xưng tội, về những hình phạt nặng nề ông ban ra. Bà con chế nhạo thái độ khăng khăng của cha xứ một mực không chịu xá tội cho những cô gái không còn trinh tiết. Và, trong những buổi lễ mi-xa ở nhà thơ, mỗi khi thấy những cô cậu nào, cứ ngồi ỳ ra trên ghế, không dám đi theo những người khác đến chịu phép thông công của cha, ai nấy đều không nhịn được cười.

Chẳng bao lâu, giống như một anh gác rừng theo dõi những chàng săn bắn trộm, ông cố đạo bắt đầu rình mò các cặp tình nhân, hòng ngăn cản họ hẹn hò gặp gỡ nhau. Những đêm sáng trăng, ông đuổi theo họ dọc theo các mương, hố, sau các ụ rom, ụ cỏ và trong những bãi lác trên triền dốc ven biển.

Một lần, ông phát hiện được một cặp trai gái đang tình tự. Thấy ông, họ vẫn không chịu rời nhau ra, vẫn cứ vai khoác vai, vừa đi vừa hôn nhau trên một cái rãnh đã lấp đầy đá.

Ông cố đạo bèn hét lên: "Này bọn đê tiện kia! Chúng bay có chấm dứt ngay cái trò khỉ đó đi không?".

Chàng trai quay lại trả lời:

"Thưa ngài cố đạo, ngài hãy lo đến việc của ngài, còn việc này, nó chẳng quan hệ gì tới ngài hết!"

Thế là ông cố đạo nhặt đá ném theo họ như người ta ném chó. Cặp trai gái phá ra cười và bỏ chạy. Ngày chủ nhật tuần đó, giữa nhà thờ, ông đã tố cáo đích danh tên tuổi họ.

Toàn thể trai tráng trong xứ đạo thôi không đi lễ nữa.

Tuần nào cũng vậy, cứ tối thứ năm, ông cố đạo lại đến ăn cơm tối ở lâu đài Bạch Dương, ngoài ra, còn thường lui tới trò chuyện với Jeanne vào những ngày khác trong tuần. Cũng sôi nổi không kém, nàng thảo luận với ông về các vấn đề thần linh, nàng moi ra đủ thứ lập luận cổ lổ và rối như tơ vò của các cuộc tranh cãi về tôn giáo.

Họ vừa dạo trên con đường lớn của bà nam tước trước kia, vừa nói về Chúa Giêsu và mười hai vị sứ đồ truyền đạo của Chúa, và Đức Mẹ Đồng trinh và các cha Giáo phụ, cứ như là hai người đã có dịp trực tiếp quen biết những vị đó vậy. Đôi khi họ lại dừng bước, nêu ra cho nhau những vấn đề thâm thúy khiến họ phải xổ ra từng tràng những lời lẽ dông dài và thần bí, nàng thì sa vào những luận điệu thơ mộng bay bổng lên trời như pháo thăng thiên, còn ông nói năng rành rọt, chính xác hơn, lập luận cứ như một anh thầy cãi, trước tòa án, đã điên cuồng đến mức chứng minh bằng toán học cả phép tính diện tích hình tròn qua diện tích hình vuông.

Julien rất kính nể ông linh mục. Anh luôn mồm nói: "Ông cố đạo này hợp với anh, không biết khoan nhượng là gì!". Anh đi xưng tội và tự nguyện chịu phép thông công, tỏ ra hết sức gương mẫu về mặt đó.

« Lùi
Tiến »