Lúc này, anh đã đến nhà vợ chồng ông Fourville hầu như hàng ngày, hết đi săn với ông bá tước rất gắn bó với y, lại cưỡi ngựa đi du ngoạn với vợ ông, bất chấp cả mưa bão. Ông bá tước bảo: "Ôi, họ đến phát cuồng lên với cái trò cưỡi ngựa ấy mất, nhưng mà việc đó cũng có lợi cho sức khỏe của nhà tôi".
Khoảng giữa tháng mười một, ông nam tước trở về, người đã thay đổi rõ. Ông già xọm đi, da sạm hẳn lại, tâm hồn chìm đắm trong một nỗi buồn đen tối và tràn ngập. Do đó, mối tình phụ tử, trước kia đã gắn bó ông với cô con gái, nay còn có vẻ tha thiết hơn, tưởng chừng như mấy tháng cô đơn rầu rĩ vừa qua đã làm cho lòng ông đòi hỏi mãnh liệt thêm về mặt tình cảm, tin tưởng và trìu mến.
Jeanne, không chút tâm tình, giãi bày cho bố biết những ý tưởng mới, lòng tín ngưỡng nhiệt thành và quan hệ thân thiết của nàng đối với cha xứ Tolbiac. Nhưng ngay lần đầu gặp ông cố đạo, ông nam tước đã thấy cuộn lên trong lòng một mối ác cảm đối với ông ta rồi.
Buổi tối hôm đó, khi con gái ông hỏi: “Bố thấy ông ta thế nào”, ông đáp: “Lão ấy ư? Hắn là một tên pháp quan ở tòa án giáo hội (1) rất nguy hiểm!”
Đến khi ông được bà con nông dân, bạn bè thân thuộc cho biết về tính nghiệt ngã và thái độ thô bạo của ông cố đạo trẻ kia, về sự ngược đãi bất công và truy nã tàn nhẫn của ông ta chống lại các quy luật và bản năng bẩm sinh của con người, thì trong lòng ông nam tước đã bùng nổ ra cả một sự căm ghét đối với ông cố đạo.
Ông nam tước vốn là một người thuộc loại các nhà triết học già yêu mến thiên nhiên một cách say đắm, vừa chợt thấy cảnh giao hợp của các vật đã mềm lòng xúc động, thường quỳ gối trước một thứ Thượng Đế theo thuyết phiếm thần và kịch liệt chống lại quan niệm thiên chúa giáo về một thứ Thượng Đế mang nặng những ý đồ tư sản, giả nhân giả nghĩa, hay giận dữ và trả thù như một tên bạo chúa, một thứ Thượng Đế vừa hé mở cho ông thấy thoáng qua sự sáng thế đã hạn chế nó, sự sáng thế do định mệnh, sự sáng thế vô biên có sức mạnh vạn năng, là nguồn gốc của sự sống, ánh sáng, ruộng đất tư duy, cây cỏ, sỏi đá, con người, không khí, súc vật, vì sao, Thượng Đế lẫn côn trùng. Nó sáng tạo ra thế giới bởi chính nó là sức sáng tạo; nó mạnh hơn ý chí và rộng hơn suy lý; nó sản sinh không mục đích, không lý lẽ, không giới hạn, theo mọi hướng, dưới mọi hình thức trong không gian bao la, tùy theo những sự cần thiết tuyệt đối của ngẫu nhiên và tùy theo vị trí ở gần các mặt trời sưởi ấm vũ trụ.
Sự sáng thế chứa đựng mọi mầm mống. Tư duy và sự sống phát triển trong sự sáng thế như hoa quả ở trên cành.
Vì vậy, đối với ông nam tước, sự tái tạo là quy luật chung vĩ đại, là hành động thiêng liêng và đáng kính hành động thần thánh, thực hiện ý chí huyền bí và thường xuyên của Đấng Cứu Thế. Và thế là từ trại này qua ấp khác, ông bắt đầu tiến hành một chiến dịch mạnh mẽ chống lại tên cha cố ác nghiệt, kẻ quấy nhiễu sự sống kia.
Jeanne buồn phiền, hết cầu Chúa lại van bố, nhưng ông nhất mục trả lời; "Đối với những hạng người ấy, cần phải tranh đấu! Đó là quyền hạn, là nghĩa vụ của chúng ta. Họ chẳng có chút gì là nhân đạo”. Rung mái tóc dài bạc phơ, ông nhắc lại: “Họ không nhân đạo. Họ chẳng hiểu gì hết, gì hết, gì hết! Họ hành động trong một giấc chiêm bao bất hạnh. Họ là những kẻ chống lại thực thể vật chất!” Ông hét lên mấy tiếng “chống lại thực thể vật chất!” như tung ra một lời nguyền rủa.
Cha cố biết rất rõ kẻ thù của mình nhưng vì quyết tâm giữ quyền làm chủ tòa lâu đài và người thiếu phụ, ông chờ cơ hội, vững tin ở thắng lợi cuối cùng.
Một ý nghĩ cố định ám ảnh ông như ma ám: Ông đã tình cờ phát hiện ra quan hệ yêu đương giữa Julien và Gilberte; ông quyết cắt đứt quan hệ ấy bằng bất cứ giá nào.
Một hôm, ông đến tìm Jeanne và, sau khi đã nói một câu chuyện thần bí dài dằng dặc, ông yêu cầu nàng phối hợp với ông để chống lại, để hủy diệt một tai biến trong chính ngay gia đình nàng, để cứu vớt hai linh hồn đang nguy khốn.
Nàng không hiểu, nàng muốn biết rõ thâm ý ông. Ông trả lời: "Hiện nay chưa đến lúc. Tôi sẽ sớm gặp lại bà", rồi đùng đùng bỏ đi.
Lúc đó đã gần hết mùa đông, một mùa đông "thối rữa" như ở nông thôn người ta thường gọi, một mùa đông ướt át và ấm áp.
Mấy hôm sau, cha xứ trở lại. Bằng những lời úp úp mở mở, ông nói về một trường hợp quan hệ bất chính nào đó giữa những con người lẽ ra không ai có thể chê trách được về đạo đức. Nhiệm vụ của những người biết rõ sự việc là phải tìm mọi cách ngăn chặn quan hệ đó. Ông đi vào những ý kiến phân tích, nhận định cao xa rồi, cầm lấy tay Jeanne, ông nhân danh Chúa khẩn cầu nàng hãy mở mắt ra, hãy hiểu biết và giúp đỡ ông.
Lần này, nàng đã hiểu rõ, nhưng nàng nín lặng; nàng sợ hãi khi nghĩ đến tất cả những chuyện buồn phiền có thể xảy ra trong gia đình nàng lúc này đang êm thấm. Nàng giả vờ như vẫn chưa rõ điều cha xứ muốn nói. Thế rồi ông không ngần ngại nữa, ông nói toạc ra:
- Thưa bà tử tước, nói với bà chuyện này là tôi sắp phải thực hiện một nghĩa vụ nặng nhọc, nhưng tôi không thể làm khác được. Sứ mệnh mà tôi phải hoàn thành chỉ thị cho tôi không được để cho bà không hay biết gì về việc mà bà có thể ngăn cản. Vậy thì, xin bà hãy biết cho rằng ông nhà ta đang duy trì một tình bạn tội ác với bà Fourville.
Nàng cúi đầu xuống, vẻ cam chịu và bất lực.
Ông cố đạo nói tiếp: "Bây giờ bà định liệu ra sao?".
Nàng ấp úng: "Cha muốn tôi phải làm gì, thưa linh mục?".
Ông hung hăng trả lời: "Lao mình ra cắt ngang sự say mê tội lỗi đó!".
Nàng khóc rồi nàng rầu rĩ nói:
“Nhưng anh ấy đã có lần lừa dối tôi để dan díu với một cô hầu. Anh ấy có nghe tôi đâu, có yêu tôi nữa đâu! Chỉ cần tôi tỏ ra một ý muốn gì không hạp với điều anh ấy nghĩ là lập tức anh ấy hành hạ tôi ngay. Tôi có thể làm gì được cơ chứ?".
Không trả lời trực tiếp vào câu hỏi, ông cố đạo hét lên:
“Vậy ra bà đành cúi mình khuất phục ư! Bà cam chịu, bà đồng tình ư! Tội gian dâm ẩn nấp dưới cái mái nhà này, thế mà bà lại dung dưỡng nó! Tội ác diễn ra ngay dưới mắt bà, thế mà bà lại quay mặt làm ngơ! Bà có phải là một người vợ, một tín đồ Thiên chúa giáo, một người mẹ nữa hay không?”.
Nàng nức nở: “Vậy cha bảo tôi phải làm gì cơ chứ?”.
Ông đáp: “Làm tất cả còn hơn là dung thứ cái chuyện xấu xa, ô nhục đó. Làm tất cả, xin nói với bà như vậy. Hãy lìa bỏ ông ấy, chạy thoát khỏi cái nhà nhơ bẩn này!”
Nàng nói: “Nhưng thưa cha xứ, tôi có chút tiền nong nào đâu. Vả lại, bây giờ tôi cũng không còn đủ can đảm để ra đi nữa. Mà tôi ra đi làm sao được khi chẳng có bằng chứng gì? Ngay cái quyền ra đi ấy, tôi cũng không có nữa!".
Ông cố đạo đứng dậy, người run lên: “Chính cái bệnh hèn nhát nó đang khuyên bảo bà như thế đó. Thưa bà, tôi cứ tưởng bà là một con người khác cơ. Bà chẳng xứng đáng chút nào với lòng lành của Chúa!”.
Nàng quỳ xuống: “Ôi, tôi van cha, xin đừng ruồng bỏ tôi, xin hãy khuyên bảo tôi nữa đi!”,
Ông nói cụt lủn: "Bà hãy mở mắt ông De Fourville ra. Ông ta là người có nhiệm vụ chặt đứt mối quan hệ kia",
Ý nghĩ này làm cho Jeanne khủng khiếp đến lịm người đi: "Nhưng thưa cha xứ, thế thì ông ta sẽ giết chết hai người đó mất! Và tôi, tôi sẽ phạm cái tội của một kẻ đi tố giác. Ôi, gì thì gì, chứ cái đó thì không, không bao giờ hết!”.
Ông cố đạo bừng bừng nổi giận, giơ tay lên như để làm dấu một lời nguyền rủa: "Vậy thì xin bà hãy cứ ở lại đó với sự nhục nhã và với tội ác của bà, bởi vì chính bà sẽ có tội nặng hơn bản thân họ. Bà là một người đồng lõa với tội ác của chồng! Thôi, tôi chẳng còn gì để làm ở đây nữa cả!”.
Rồi ông bỏ đi, giận dữ đến nổi toàn thân run bắn lên.
Nàng hoảng loạn chạy đuổi theo, sẵn sàng nhượng bộ và bắt đầu hứa sẽ làm theo lời ông. Nhưng ông vẫn giận tái người, vẫn cắm đầu cắm cổ bước đi thật nhanh, tay run như điên như dại cái ô xanh, dài chẳng kém chiều cao của thân người ông là mấy.
Chợt trông thấy Julien đang đứng điều khiển công việc cắt tỉa cành lá ở mấy cái cây gần chỗ chắn đường, ông liền rẽ quặt sang trái, đi tắt ngang nhà bác Couillard, miệng cứ nhắc đi nhắc lại mãi: "Thôi đi, thưa bà, tôi chẳng còn gì để nói với bà nữa đâu!".
Ngay trên đường ông đi, ở giữa sân, một đám trẻ, con cái gia đình Couillard và hàng xóm đang xúm xít xung quanh chuồng con chó cái Miêcza (Mirza), tò mò, lặng lẽ và hết sức chăm chú xem ngắm một cái gì. Đứng giữa bọn trẻ, ông nam tước, tay chắp sau lưng cũng đang tò mò nhìn xem. Trong cảnh ấy, trông ông chẳng khác một ông giáo. Nhưng mới thấy ông cố đạo từ xa, ông đã bỏ đi ra để khỏi phải gặp mặt, chào hỏi và nói năng với ông ta.
Jeanne nói với ông cố đạo, giọng van lơn: “Thưa cha xứ, xin cha hãy thư thả cho tôi vài ngày nữa, rồi mời cha trở lại. Tôi sẽ kể cha nghe những việc tôi tự thấy mình đủ sức làm và những điều tôi sẽ chuẩn bị. Lúc đó ta sẽ cùng tính với nhau”.
Khi ấy, hai người đã đi ngang đến chỗ đám trẻ. Ông linh mục bước gần lại xem thử cái gì đã làm cho bọn trẻ chú ý đến như vậy. Thì ra con chó cái đang đẻ. Trước cửa chuồng, năm con chó bé tý đã lúc nhúc ngọ nguậy xung quanh con chó mẹ và được chó mẹ, mình nằm nghiêng, vẻ vẫn còn đau đớn, đang âu yếm thè lưỡi liếm con. Vừa lúc đó ông cố đạo cúi mình nhìn xuống thì chó mẹ quằn quại, ưỡn mình một cái và con chó tý hon thứ sáu đã thòi ra. Hết sức vui thú, tất cả bọn trẻ con cùng vỗ tay reo ầm lên: "A! Thêm một con nữa rồi! Thêm một con nữa rồi!". Đối với bọn trẻ, đấy là một thú chơi, một thú chơi tự nhiên, không gợn bất cứ một vết nhơ nào. Chúng ngắm xem cảnh sinh đẻ này cũng chẳng khác gì ngắm nhìn cảnh táo rụng ngoài vườn.
Đầu tiên, ông cố đạo Tolbiac còn đứng sững người ra, kinh ngạc, nhưng rồi, bị lôi cuốn theo một cơn giận không sao cưỡng nổi, ông giương cao cái ô to tướng và thẳng cánh nện xuống đầu đám trẻ. Hoảng sợ, các chú bé vắt chân lên cổ chạy mất, chỉ còn lại viên cố đạo đột nhiên đứng đối mặt với con chó mẹ đang sinh nở và đang gắng sức đứng dậy. Nhưng, không đợi đến lúc nó đứng thẳng dậy được, ông đã điên tiết vung tay, bắt đầu đem hết sức đánh xuống. Chân bị xích chặt vào chuồng, chó mẹ bỏ chạy không được, chỉ rên rỉ và dãy dụa một cách đáng sợ dưới những đòn tới tấp của viên cố đạo. Cái ô gãy làm đôi. Thế là hai bàn tay không, ông nhảy bừa lên mình con chó, dùng đôi cẳng chân điên cuồng đạp xuống như giã giò, quyết làm cho nó phải chết bẹp mới thôi. Sức nặng của thân hình ông đã làm phọt ra một con chó con nữa: đó là con chó cuối cùng của nó. Như điên, như dại, viên cố đạo dùng gót chân mình dẫm đạp cái thân hình nhầy nhụa những máu của con chó mẹ hãy còn động đậy giữa bầy chó con mới đẻ, mắt nhắm tít, miệng kêu lý nhí, đang nặng nề ngọ nguậy tìm vú mẹ.
Jeanne đã bỏ chạy. Nhưng viên cố đạo bỗng thấy có người nắm chặt lấy cổ mình. Một cái tát tai giáng xuống; cái mũ ba sừng của ông bay xuống đất. Giận dữ đến cực độ, ông nam tước lôi xềnh xệch viên cố đạo ra đến tận cái chắn đường và ném cổ ra ngoài mặt đường.
Khi quay trở lại, ông nam tước Le Perthuis thấy con gái đang quỳ gối khóc nức nở giữa bầy chó con và lượm lặt từng con một bỏ vào tà váy. Ông rảo bước đến gần, hoa chân múa tay, hét lên: “Cái thằng khoát áo nhà tu, như thế đấy, nó như thế đấy! Bây giờ con đã thấy rõ nó thế nào chưa?".
Bà con tá điền chạy đến. Mọi người nhìn con vật lòi ruột nằm đó. Bác Couillard gái hét lên: “Ôi! Có thể có thứ người dã man đến thế này sao?"
Jeanne đã nhặt đủ bảy con chó tý hon, định bụng sẽ nuôi chúng cho đến lớn.
Nàng thử cho chúng bú sữa bò. Chỉ ngày hôm sau đã chết mất ba con. Thế là lão Simon chạy bổ đi khắp xứ để kiếm cho ra một con chó mẹ đang cho con bú. Nhưng xoay không ra chó, lão đem về một con mèo mẹ, khăng khăng nói là nó sẽ đảm đương được công việc đó. Vậy là phải bỏ chết thêm ba chú chó nữa, để rồi giao chú cuối cùng cho mèo mẹ, bà vú nuôi thuộc giống khác. Mèo mẹ nhận ngay đứa con nuôi, nghiêng mình nằm, chìa vú cho con bú.
Để tránh làm kiệt sức mẹ nuôi nó, mười lăm ngày sau, chú chó con đã phải cai sữa và Jeanne phải tự tay nuôi nó bằng chai sữa bò. Nàng đặt tên nó là Tôtô. Chẳng cần hỏi ý kiến ai, ông nam tước quyết định đổi lại tên nó thành “Thảm sát”.
Viên cố đạo không đến nhà nữa. Chủ nhật tuần sau, từ bục giảng đạo trên cao, ông tung ra những lời thóa mạ, nguyền rủa và đe dọa chống lại gia đình ông nam tước. Nói rằng cần phải dí sắt nung đỏ vào vết thương thôi, ông quyết định rút phép thông công của ông nam tước - điều này chỉ làm ông nam tước thêm khoái chí mà thôi - và bắt đầu nói bóng nói gió một cách hãy còn dè dặt về chuyện tình ái lăng nhăng của Julien. Chàng tử tước đã điên tiết lên, nhưng rồi nỗi sợ gây ra một vụ tai tiếng dữ dội đã dập tắt cơn giận của anh.
Thế rồi, từng chủ nhật một, hết buổi giảng đạo này đến buổi giảng đạo khác, viên cố đạo tiếp tục đe dọa trả thù và kháo trước rằng giờ của Chúa đang đến gần, rằng những kẻ thù của ông sẽ bị trừng phạt.
Julien bèn viết cho Tổng giám mục tỉnh một lá thư với lời lẽ tôn kính nhưng kiên quyết. Cha xứ Tolbiac bị cấp trên đe không trọng dụng nữa. Thế là ông ta câm lặng.
Bây giờ chỉ còn thấy ông ta hay một mình đi dạo xa, đến nhiều nơi, chân bước rảo, vẻ mặt hầm hầm, đầy kích động. Trong các cuộc cưỡi ngựa đi du ngoạn, Gilberte và Julien lần nào cũng thấy ông ta, lúc thì như một chấm đen bên bìa rừng một khoảng bình nguyên hoặc trên bìa một vách đá dựng, lúc thì ngồi đọc kinh thánh trong một thung lũng nhỏ, nơi hai người sắp sửa tiến vào. Họ liền ngoắt dây cương, quay ngay ngựa lại để tránh phải đi lướt gần ông ta.
Mùa xuân lại đến, khai động cho tình yêu của họ càng thêm mãnh liệt, khiến họ không thể rời ôm nhau lấy một ngày, nay chỗ này, mai chỗ khác, trong bất cứ xó xỉnh kín đáo nào mà họ tìm ra được trong các cuộc dạo chơi.
Vì lá cây trong rừng hãy còn thưa thớt, vì cỏ còn ẩm ướt nên họ không tiện tiến sâu vào những khoảng cây đốn trong rừng như hồi giữa mùa hè, cho nên để che dấu cảnh ôm nhau tình tự, hai người vẫn thường chọn cái nhà xe của bác chăn cừu, bị bỏ mặc từ mùa thu năm trước trên một điểm cao ven bờ biển Vôcôt (Vaucottes).
Căn nhà thô sơ đó, lẻ loi, cao lênh khênh trên bốn bánh xe, cách vách đá dựng đứng ven biển năm trăm mét, đúng vào chỗ thung lũng bắt đầu đổ dốc gần như thẳng đứng xuống. Núp trong ấy, hai người không sợ bị bắt gặp bất ngờ vì mắt nhìn của họ có thể khống chế khắp cả khoảng bình nguyên. Hai con ngựa được buộc vào càng nhà xe, cứ việc chờ ở đó, cho đến khi hai người đã thỏa sức hôn nhau phát chán lên rồi mới thôi,
Nhưng rồi một hôm, vào lúc hai người vừa rời khỏi nơi ẩn nấp đó, họ chợt nhìn thấy cha xứ Tolbiac đang ngồi như dấu hẳn mình đi trong đám cỏ lác ven biển. “Thế này thì đến phải để ngựa lại dưới khe thôi - Julien nói - nếu không, từ xa, họ sẽ có thể phát hiện ra chúng ta mất!”, Thế là việc buộc hai con ngựa trong một cái rãnh kín đáo, rậm rịt những cây cỏ dưới thung lũng đã trở thành thói quen của hai người.
Một buổi chiều, khi họ trở về lâu đài La Voriet (La Vrillette), nơi họ sẽ ăn cơm tối với ông bá tước, họ lại sẽ gặp cha xứ từ trong lâu đài đi ra. Ông ta nép sang một bên nhường chỗ cho hai người đi qua, chào họ mà mắt nhìn đi chỗ khác.
Họ giật mình lo ngại nhưng rồi lại yên tâm ngay.
Một buổi chiều lộng gió đầu tháng năm, Jeanne đang ngồi đọc sách bên lò sưởi, chợt nhìn ra thì thấy ông bá tuớc De Fourville hồng hộc chạy bổ đến; ông chạy nhanh đến nổi nàng tưởng rằng một tai họa đã xảy ra.
Nàng vội chạy xuống đón ông. Khi ông đến trước mặt, nàng tưởng là ông đã phát điên. Đầu ông đội cái mũ lông to thường chỉ đội ở nhà, người mặc bộ áo quần đi săn, mặt ông tái mét, tái đến nỗi bộ ria mép hung đỏ của ông, vốn không có gì nổi bật cho lắm trên sắc da hồng hào, thì nay đã rực lên như một ngọn lửa. Đôi mắt của ông hung tợn, tròn xoe, như trống rỗng không còn chút trí khôn và suy nghĩ nào nữa.
Ông lắp bắp hỏi: “Vợ tôi đang ở đây, phải không?”, Jeanne hoảng lên, trả lời: "Không ạ, ngày hôm nay em chưa gặp bác gái ở đâu cả”.
Thế là ông ngồi phịch xuống, tựa hồ đôi chân ông đã bị gãy. Như một cái máy, ông bỏ mũ, rút mù soa lau trán nhiều lần. Rồi ông bật đứng dậy, bước đến gần Jeanne, tay chìa ra, miệng há, đủ biết ông đã sẵn sàng nói, sẵn sàng bộc lộ với Jeanne một nỗi đau ghê gớm nào đó. Nhưng ông bỗng dừng lại, nhìn chằm chằm vào nàng rồi bật nói như mê sảng: "Nhưng chính là chồng bà... cả bà nữa…”. Và ông vùng bỏ chạy về phía biển.
Jeanne đuổi theo, định ngăn ông lại; nàng gọi ông, van xin ông, lòng đau thắt vì khủng khiếp với ý nghĩ: "Ông ta biết hết rồi! Ông ta sẽ làm gì đây? Ôi, cốt sao cho ông ta đừng tìm thấy hai người đó!”.
Nhưng nàng không tài nào đuổi kịp ông, và ông cũng chẳng còn buồn nghe lời nàng nói nữa. Ông tiến thẳng về phía trước, không chút do dự, nắm chắc mục tiêu của mình. Bằng những bước chân của người khổng lồ ông vượt qua cái hố dài, qua bãi lác và đã đến được vách đá dựng bên ven biển.
Đứng trên bờ dốc có trồng cây, Jeanne nhìn theo ông mãi cho đến khi mất hút bóng ông mới trở về, lòng quằn quại lo âu đến cực điểm.
Ông bá tước rẽ sang phải và bắt đầu chạy. Biển động, sóng nổi cuồn cuộn. Những đám mây to, đen kịt vùn vụt, điên cuồng kéo đến, hết lớp này đến lớp khác, mỗi lớp mây bay qua lại giận dữ trút xuống bờ biển một trận mưa rào rào như xối đạn. Gió rít, gió than, gió phạt ngang ngọn cỏ, quật ngã những cây lúa mới và thổi bạt sâu vào trong đất liền những cánh chim biển trắng, trông như những bông hoa bọt sóng.
Những hạt mưa nối tiếp nhau vun vút quất vào mặt ông bá tước, làm cho gò má và bộ ria của ông ướt sũng, dội vào trong tai ông những tiếng ầm ầm. Trái tim ông náo động.
Dưới kia, phía trước mặt ông, thung lũng Vaucottes) mở ra như một cái họng sâu thẳm. Từ đây đến đó chỉ thấy có túp nhà xe của người chăn cừu cạnh một bãi chăn bỏ trống, ngoài ra không còn bất cứ vật gì khác nữa. Ở càng túp nhà xe có buộc hai con ngựa. - Trời mưa bão thế này thì còn sợ gì cơ chứ?
Vừa thoáng thấy hai con ngựa, ông bá tước đã nằm mọp xuống đất, rồi ông cứ thế trườn đi, trườn trên đôi tay và đôi đầu gối của ông. Với thân hình to lớn bê bết những bùn và chiếc mũ lông thú vẫn bám chặt trên đầu, trông ông lúc này chẳng khác một con quái vật. Ông bò mãi như vậy cho tới tận sát bên túp nhà xe đơn độc, rồi ông nấp dưới đó để khỏi bị từ trong nhìn ra thấy mình qua những kẻ hở của vách gỗ.
Trông thấy ông, hai con ngựa nhớn nhác. Bằng con dao đã mở sẵn cầm tay, ông chầm chậm cắt đứt dây cương. Một cơn gió lốc bỗng ập đến quất vun vút những hạt mưa đá rơi rào rào xuống cái mái nghiêng nghiêng của túp nhà gỗ, làm cho nó rung lên bần bật trên đôi bánh xe và làm cho hai con ngựa hoảng sợ chạy đi.
Lúc đó, ông bá tước mới quỳ nhổm người lên, dán mắt vào khe dưới cánh cửa và nhìn vào trong.
Ông cứ quỳ như thế, không cựa quậy, như thể chờ đợi một cái gì. Bất thình lình, ông bỗng đứng vụt dậy, cả thân hình ông từ đầu đến chân bê bết những bùn. Bằng một cử chỉ như điên dại, ông đẩy cái then ngang, khóa trái phía ngoài cửa lại, rồi, nắm lấy đôi càng ông bắt đầu lay chuyển cái thùng xe, dữ dội đến mức tưởng như ông muốn đập vỡ nó ra thành từng mảnh vậy. Rồi đột nhiên, ông thắng mình vào giữa đôi càng và cúi gập thân hình to lớn của mình xuống, trong một cố gắng đến tuyệt vọng, miệng thở hổn hà hổn hển, ông kéo túp nhà xe đi như một con bò kéo: Ông lôi túp nhà xe, lẫn cả những người đang nấp trong đó về phía bờ dốc cao.
Không hiểu điều gì xảy ra với họ, hai người trong xe la hét inh ỏi và đâm ầm ầm vào vách gỗ.
Khi đã đến đỉnh dốc, ông bá tước bèn thả túp nhà xe ra. Nó bắt đầu lăn bánh chạy xuống dốc.
Nó lao xuống mỗi lúc mỗi nhanh, chạy băng băng như một kẻ hóa dại, nhảy lên chồm chồm, vấp ngã như một con thú, đập đôi càng xe xuống đất rầm rầm.
Một ông lão ăn mày nấp mình trong một hố dài thấy túp nhà xe lăn vụt qua đánh vù một cái trên đầu mình và nghe thấy những tiếng kêu thét khủng khiếp từ trong xe thùng vang ra.
Đột nhiên, một bánh xe va vào đá, văng ra mất; cỗ xe lật nghiêng và cứ thế, nó lao xuống như một quả bóng, như một căn nhà bật móng lăn nhào từ trên đỉnh núi xuống vậy. Khi lăn đến mép cửa bờ vực cuối cùng, nó chồm lên một cái, vẽ một đường vòng rồi lao xuống đáy vỡ tan ra như một quả trứng.
Khi túp nhà xe đã nát thành từng mảnh trên đất đá, ông lão ăn mày mới rón rén lách qua gai góc mò xuống từng bước ngắn, nhưng do tính cẩn thận của người nông dân, ông chẳng dám đến gần chiếc thùng xe vỡ vụn mà lại đi đến một cái ấp gần đó để báo tin về tai nạn.
Bà con chạy vội đến, gỡ những mảnh gỗ nát vụn ra và thấy hai cái xác người, cả hai đều bị nghiền nát, đẫm máu, tím bầm. Trán người đàn ông vỡ toác, cả khuôn mặt bẹp dúm. Cái hàm của người đàn bà, bị rời ra do một chấn động mạnh, treo lủng lẳng. Chân tay họ vỡ nát, mềm nhũn như không còn một mẫu xương nào dưới da thịt nữa.
Tuy vậy, bà con vẫn nhận ra họ là ai và bàn tán mãi về nguồn gốc của tai biến này.
“Họ có việc gì mà lại chui vào cái lều thổ tả đó nhỉ?”, một bà nông dân hỏi. Ông già nghèo khổ kia bèn nói chắc họ nấp trong đó để tránh cơn lốc mưa đá và chắc rằng trận cuồng phong kia đã làm nghiêng ngả và xô túp nhà xe xuống vực. Ông lão còn bảo bản thân ông cũng đã định chui vào nấp trong đó, nhưng thấy có đôi ngựa buộc ở càng xe, biết rằng bên trong đã có người nên mới thôi.
Vẻ hài lòng, ông lão nói thêm: "Nếu không thì tôi cũng đã chết rồi!". Một tiếng người nói: “Như thế chẳng hay hơn sao?”. Thế là ông già chất phác bỗng điên tiết lên, dữ dội: “Tại sao như thế lại là hay hơn? Bởi vì tôi nghèo khổ mà họ thì giàu sang, phải không? Bây giờ thì... xin hãy cứ chờ đó mà xin xỏ họ!”. Áo quần rách tả, rách tơi sũng nước mưa, mặt mũi gớm ghiếc với bộ râu rối tinh và mái tóc dài lê thê thò ra dưới cái mũ thủng, ông già giơ chiếc gậy khoằm đầu chỉ vào hai cái xác và tuyên bố: “Trước cái chết, tất cả chúng ta đều bình đẳng!”.
Nhưng nhiều bác nông dân khác cũng chạy đến. Họ ghé mắt nhìn, lộ vẻ lo âu, lén lút, sợ hãi, ích kỷ và nhát gan. Bàn tán một lúc xem bây giờ cần phải làm gì, cuối cùng họ đi đến quyết định phải chở hai cái xác ấy đem trả lại cho hai lâu đài với hy vọng sẽ được lĩnh một món tiền thưởng. Thế là hai cỗ xe bò liền được đem ra thắng. Nhưng một khó khăn mới lại xuất hiện: người thì chỉ đơn giản muốn lót rơm xuống sàn xe; kẻ lại cho rằng nên đặt một tấm đệm vào cho được dễ coi hơn.
Bà nông dân, đã lên tiếng hồi nãy, bây giờ lại hét to: “Thế thì tấm đệm ấy sẽ đến đầy máu mất thôi; có lẽ sẽ phải lấy nước Javen ra mà giặt nó mới được chắc!”.
Một bác tá điền to lớn, mặt mũi tươi tắn đáp: "Họ sẽ trả tiền tất! Làm càng đáng giá bao nhiêu sẽ càng được trả tiền bấy nhiêu, lo gì!". Lý lẽ đó đã được mọi người hưởng ứng.
Hai cái xe bò, ngất nga ngất ngưởng trên những chiếc bánh không lò xo, ra đi không nhanh mà cũng không chậm cặp kề bên nhau, mỗi khi đi vào những vệt bánh xe lớn trên đường lại làm tung lên, dập xuống những mảnh thi hài còn lại của hai con người vẫn thường ôm ấp nhau kia nay không bao giờ còn gặp nhau được nữa.
Sau khi đã nhìn theo túp nhà xe vùn vụt lao xuống, ông bá tước hộc tốc vắt chân lên cổ, băng qua mưa rào gió lốc mà chạy, cắt ngang những con đường, nhảy qua nhiều bờ dốc, xé rách nhiều hàng rào, ông cứ chạy như thế trong nhiều giờ rồng rã, và, chẳng hiểu vì sao, ông đã về kịp đến nhà trước khi trời tối.
Kẻ hầu người hạ đang hoảng sợ chờ ông, vội báo cho ông biết là hai con ngựa không người cưỡi vừa mới trở về, con của Julien vẫn chạy theo sau con kia.
Ông De Fourville lảo đảo và, bằng một giọng đứt quãng, ông nói: “Với thời tiết ghê gớm thế này, chắc họ có thể gặp tai nạn gì đó rồi! Tất cả mọi người hãy đi tìm họ, mau!”.
Bản thân ông cũng chạy đi. Nhưng vừa thoát khỏi tầm nhìn của mọi người, ông đã nấp ngay vào một bụi cây gai góc, rình bên con đường sắp đưa về đây một con người mà ông không biết là đã chết hay đang còn hấp hối, hay có lẽ què cụt và biến dạng đi mãi mãi, con người mà ông vẫn còn yêu, yêu say đắm, yêu man rợ.
Chẳng mấy chốc, một chiếc xe bò chở một thứ gì kỳ lạ đã lăn bánh qua trước mặt ông. Nó dừng lại trước lâu đài, rồi đi vào.
Chính cái đó đây, phải rồi, chính cô ta đấy! Nhưng một nỗi lo âu đáng sợ đã làm ông đứng lì tại chỗ: mối lo khủng khiếp về cái biết, nỗi sợ kinh hoàng về sự thật. Và ông cứ nép mình không cựa quậy như vậy, giống hệt một chú thỏ rừng, hơi chút tiếng động cũng đủ làm cho giật bắn người lên.
Ông đợi một tiếng, có lẽ đã hai tiếng, vẫn chưa thấy chiếc xe bò đi ra. Ông tự bảo chắc vợ ông đang hấp hối, và, mới nghĩ đến việc phải thấy lại cô ta, phải bắt gặp cái nhìn của cô ta, lòng ông đã tràn ngập một nỗi hoảng sợ ghê gớm đến mức ông nghĩ rằng chỗ ẩn nấp này có thể bị phát hiện, ông có thể bị cưỡng bức trở về để chứng kiến cảnh hấp hối kia và sau đó, sẽ lại phải chạy trốn vào tận giữa rừng sâu.
Đột nhiên, ông lại nghĩ có lẽ vợ ông đang cần được cấp cứu và chắc chẳng ai có thể chăm sóc cho cô, thế là ông liền cuống cuồng lên, vọt ra, chạy về nhà.
Vừa về đến nơi, gặp ngay bác làm vườn, ông hét lên hỏi: “Thế nào?”. Bác kia không dám trả lời. Tức thì ông De Fourville gần như gầm rú lên: “Bà chết rồi ư?". Người hầu ấp úng: "Vâng, thưa ngài bá tước".
Ông bỗng thấy lòng như trút được một gánh nặng, nặng vô cùng. Một sự trấn tĩnh đột ngột đã lọt vào từng mạch máu, từng thớ thịt đang còn rung động của ông. Và ông bước lên mấy bậc tam cấp rộng lớn của nhà ông bằng những bước chân vững chắc.
Lúc đó, chiếc xe bò kia cũng đã về đến lâu đài Bạch Dương.
Từ xa, Jeanne đã nhận ra nó, đã nhìn thấy tấm đệm, đã đoán ra cái thi thể đặt nằm trên đó là ai và đã hiểu hết. Nàng xúc động mãnh liệt đến nỗi khuỵu hẳn xuống và ngất đi.
Khi tỉnh lại, nàng đã thấy bố nàng đang nâng đầu và xoa dấm vào hai bên thái dương nàng. Bố nàng ngập ngừng hỏi. "Con đã biết rồi chứ". Nàng thì thầm: "Thưa bố vâng ạ!”. Nàng muốn ngồi dậy mà không nỗi. Nàng đã lâm bệnh nặng.
Ngay chiều tối đó, nàng sinh một đứa con chết từ trong bụng mẹ: một đứa con gái.
Nàng không thấy gì hết về lễ chôn cất Julien; nàng chẳng còn hay biết gì nữa. nàng chỉ nhận ra là, một hay hai hôm sau, dì Lison đã lại trở về, và, qua những cơn ác mộng cứ ám ảnh mãi trong những lúc sốt mê man, nàng vẫn bướng bỉnh cố nhớ cho kỳ được xem bà dì muộn chồng của mình rời Bạch Dương ra đi đã bao lâu rồi, ra đi vào lúc nào và trong hoàn cảnh ra sao?
Nhưng nàng chịu không sao nhớ nổi, ngay cả trong những giờ đầu óc nàng tỉnh táo. Nàng chỉ biết chắc một điều là đã có gặp dì, sau khi mẹ mất, thế thôi.
Chú thích:
(1) Pháp quan: Người xét xử ở những tòa án khét tiếng tàn bạo và độc đoán của Giáo hội thời Trung cổ được lập ra để đàn áp những người dị giáo.