Jeanne nằm liệt ba tháng trong phòng, yếu và xanh đến nỗi ai cũng tin, cũng nói là nàng sẽ chết. Nhưng nàng đã hồi phục dần dần. Bố nàng và dì Lison không rời nàng nữa, cả hai đã về ở hẳn Bạch Dương. Cơn chấn động vừa qua đã để lại cho nàng một chứng bệnh thần kinh: một tiếng động rất nhỏ cũng làm cho nàng thất thần, và một nguyên nhân không chút đáng kể cũng có thể làm cho nàng ngã ra, bất tỉnh nhân sự một hồi lâu.
Nàng không hề hỏi han cụ thể gì về cái chết của Julien. Đối với nàng, chuyện đó có gì quan trọng? Nàng đã chẳng biết quá đủ về nó rồi sao? Mọi người đều cho rằng đó là một tai nạn, nhưng nàng thì nàng không lầm, và nàng giữ kín điều bí ẩn đã dày vò lòng nàng: nàng đã biết rõ vụ gian dâm; nàng cũng còn nhớ chuyến đến thăm đột ngột và khủng khiếp của ông bá tước đúng vào ngày xảy ra thảm họa kia.
Bây giờ lại đến lúc tâm hồn nàng thấm sâu những kỷ niệm êm đềm, cảm động và man mác, những niềm vui ngắn ngủi về tình yêu mà xưa kia nàng đã được chồng trao tặng. Bất cứ lúc nào, nàng cũng có thể giật nẩy mình vì những cơn hồi tỉnh bất ngờ của trí nhớ; và nàng thấy lại chồng mình giống như những ngày anh ấy còn là người chồng chưa cưới, như lúc nàng đã yêu trong những giờ phút đắm say duy nhất bùng nổ dưới ánh mặt trời rực rỡ của đảo Corse. Mọi khuyết điểm đều giảm nhẹ đi, mọi sự hung bạo đều biến mất và ngay cả những vụ ngoại tình nay cũng mờ nhạt đi trong khoảng cách ngày càng xa thêm của nấm mồ đóng kín.
Tràn ngập một lòng biết ơn mơ hồ đối với người đàn ông đã từng ôm ấp mình trong tay, một lòng biết ơn giữa kẻ đương còn với người đã khuất, Jeanne tha thứ cho chồng những nỗi đau đã đi vào quá khứ để chỉ còn suy nghĩ về những tháng ngày hạnh phúc đã qua. Và thời gian vẫn trôi đi, tháng này đè lên tháng khác, dần dần rắc bụi lãng quên lên mọi sự hồi tưởng và mọi nỗi buồn thương ở lòng nàng.
Nàng dành tất cả đời mình cho đứa con trai.
Nó trở thành thần tượng, thành ý nghĩ duy nhất của ba mạng người quây quần xung quanh. Nó trị vì như một tên bạo chúa, thậm chí giữa ba người nô lệ dưới quyền sở hữu của nó đã hình thành công khai một sự ghen tuông nhất định: Jeanne cay cú nhìn con ôm hôn ông ngoại chun chút sau một cuộc đua ngựa trên đầu gối ông. Và bà dì Lison bị nó rẻ rúng như bà vốn bị mọi người rẻ rúng xưa nay, đôi khi bà còn bị ông chủ tí hon chưa biết nói đó đối xử như một người đầy tớ, bà đã về phòng riêng, vừa nằm khóc, vừa so sánh những âu yếm chẳng nghĩa lý gì mà bà phải xin xỏ vất vả lắm mới giành được, với những cái ôm hôn nó chỉ dành cho mẹ và ông ngoại mà thôi.
Hai năm trôi êm ả, không chút biến cố trôi qua trong sự chăm sóc bận rộn thường xuyên đứa trẻ. Đến đầu mùa đông thứ ba, gia đình quyết định rồi về Rouen và sẽ ở đó cho đến mùa xuân sang năm. Nhưng vừa về đến căn nhà cũ bị bỏ rơi và ẩm thấp đó, Paul đã mắc ngay một cơn viêm khí quản nặng đến mức ai cũng sợ sẽ đưa đến một cơn viêm màng phổi. Thế là cả ba người cùng hoảng loạn lên và tuyên bố rằng chú bé không thể sống thiếu không khí của lâu đài Bạch Dương được. Vừa mới khỏi bệnh, nó đã được đưa ngay về lại đó.
Thế rồi bắt đầu một chuỗi liên tục những năm tháng đơn điệu và êm đẹp.
Luôn luôn quây quần bên Paul, lúc ở trong phòng nó hay ở phòng khách lớn, khi ở ngoài vườn, cả ba cùng ngẩn người, sung sướng chiêm ngưỡng những lời nói bi bô, những cử chỉ ngộ nghĩnh của đứa trẻ.
Người mẹ đã nựng con, gọi chệch tên nó thành Pôlê (1), nhưng nó không nói được chữ đó mà lại nói ngọng thành Pulê (2), làm cho cả nhà cười lăn, tưởng như không bao giờ chấm dứt. Từ đó biệt danh "Gà con" đã gắn chặt với Paul. Không ai gọi nó bằng một tên nào khác nữa.
Vì Paul hay ăn, chóng lớn, nên "ba bà mẹ" - theo cách ông nam tước gọi Jeanne, bà dì Lison và chính bản thân ông - thường say mê, bận rộn với việc đo chiều cao của nó. Họ dùng dao vạch trên tấm gỗ ốp tường cạnh cửa ra vào phòng khách một loạt những nét ngang chỉ rõ mức độ lớn lên từng tháng một Paul. Cái bảng đo chiều cao được gọi là "bậc thang của Gà con" đó là giữ một vị trí trọng đại trong cuộc sống của gia đình.
Một thành viên mới nữa cũng có vai trò quan trọng trong nhà. Đó là con chó "Thảm sát" mà Jeanne đã hờ hững bỏ qua một bên vì nàng chỉ còn biết lo cho đứa con trai. Được cô đầu bếp Ludivine nuôi trong một vỏ thùng rượu cũ đặt trước chuồng ngựa, "Thảm sát" (Thảm sát= Masacre) sống cô đơn một mình và luôn luôn bị xích.
Một buổi sáng, Paul trông thấy nó, hét ầm lên đòi hôn nó bằng được. "Ba bà mẹ" lo sợ đến tái cả người nhưng vẫn phải dẫn Paul đến. Con chó vồ vập hoan nghênh chú bé, và khi "Ba bà mẹ" định tách chúng ra thì chú bé gào lên phản đối dữ dội. Thế là "Thảm sát" ta bèn được thả ra và đưa vào sống ở trong nhà.
Nó trở thành người bạn chí thiết không rời một phút của Paul. Chúng cùng lê la với nhau, cùng ngũ bên nhau trên mặt thảm. Chẳng bao lâu "Thảm sát" chui luôn vào giường, ngủ chung với Paul vì chú bé không chịu ngủ xa con chó nữa. Đôi khi Jeanne cũng thấy buồn phiền vì chuyện chấy rận của con chó, còn bà dì Lison thì ấm ức về việc con chó đã giành mất phần tình thương yêu to lớn của thằng cháu, tình thương yêu bà hằng luôn mong ước.
Hiếm hoi lắm mới có cuộc qua lại thăm hỏi giữa gia đình Jeanne với gia đình Briseville và Coutelier. Chỉ có ông xã trưởng và ông thầy thuốc là hay đến thăm và khuấy động cuộc sống cô đơn của cái tòa lâu đài cũ kỹ ấy. Từ khi được mục kích việc ông cố đạo đập chết con chó cái và nảy ra những nghi ngờ đối với ông ta xung quanh cái chết của vợ ông bá tước và chồng mình, Jeanne không đi lễ nhà thờ nữa. Nàng tức giận cả với Thượng đế, không hiểu sao Thượng đế lại có thể để cho những kẻ như lão cố đạo ấy đại diện cho mình được.
Cha xứ Tolbiac thỉnh thoảng lại bóng gió nguyền rủa tòa lâu đài bị đủ thứ ma quái ám ảnh, hết ma "Tai họa", ma "Vĩnh viễn làm loạn", ma "Lầm lạc", ma "Dối trá’, lại đến ma "Bất chính", ma "Sa đọa", ma "Nhơ bẩn", những cái tên mà ông cố đạo dùng để ám chỉ ông nam tước.
Nhà thờ ông ta vắng tanh, chẳng còn ai đến lễ nữa. Mỗi khi thấy ông ta đi dạo ngoài đồng, bà con nông dân cứ phớt lơ, vẫn cặm cụi kéo cày, chẳng ai chịu dừng tay trò chuyện với ông đôi lời, cũng chẳng ai buồn quay đầu lại để chào ông lấy một tiếng. Ông còn nổi danh là một tay phù thủy nữa vì ông đã khử được con ma ám ảnh một phụ nữ trong xứ đạo. Bà con đồn rằng ông ta biết cả những câu thần chú hễ đọc lên là có thể loại trừ được các loại phép thuật của yêu ma và theo lời ông ta thì những câu thần chú đó chỉ là những câu bông phèng của quỷ xa tăng mà thôi; sờ mó vào một con bò cái, ông ta có thể biến màu trắng của sữa nó thành màu xanh và khiến cái đuôi của nó cuộn lại thành một vòng tròn. Chỉ cần vài thần chú khác, ông có thể chỉ chỗ tìm lại được các đồ vật bị mất.
Với đầu óc chật hẹp và cuồng tín, ông lao vào nghiên cứu say mê các sách mê tín nói về lịch sử những cuộc xuất hiện của ma quỷ trên mặt đất này, về những biểu hiện quyền lực, những ảnh hưởng thần bí và đa dạng, về tất cả những phép thần cùng những ma thuật thông thương của chúng. Tự cho mình có sứ mệnh đặc biệt trừ khử cái ma lực thần bí và có tính định mệnh đó, ông cố đạo đã học thuộc lòng những câu phù chú ghi trong các sách thánh.
Ông thường xuyên tin là mình đang cảm thấy Ác Quỷ lang thang đâu đó trong bóng tối và không ngớt miệng lầm bầm bằng tiếng Latinh câu nói sau đây; Sicut leo rugiens circuit quoerens quem devoret (3).
Thế la một nổi lo sợ, một nỗi kinh hoàng về sức mạnh thần bí của ông đã được lan truyền ra. Ngay cả các bạn đồng nghiệp của ông, những cha cố dốt nát ở nông thôn, thường lấy Benzêhuyt (Béelzébuth) (4) làm điểm tựa của lòng tin, vốn lại bị rối tinh lên với hàng trăm điều răn trước ngừa sau tủn mủn của tục lệ tôn giáo mỗi khi thấy có biểu hiện là ma quỷ ra oai, tác quái, cuối cùng đã đi đến chỗ nhập luôn thành một cục tôn giáo với ảo thuật, các vị đồng nghiệp ấy cũng đã coi Tolbiac như có phần nào là phù thủy. Họ kính trọng ông ta vì cái quyền lực đen tối mà họ cho rằng ông ta nắm được, đồng thời cũng còn do nếp sống khắc khổ không chê trách vào đâu được của ông ta.
Khi gặp Jeanne, ông ta không chào hỏi gì.
Tình hình đó làm bà dì Lison lo ngại và buồn phiền. Tâm hồn sợ sệt của người phụ nữ muộn chồng đó không tài nào hiểu nổi việc bỏ đi lễ ở nhà thờ. Đương nhiên bà là một người ngoan đạo và cũng đương nhiên, bà vẫn đi xưng tội, vẫn đi lễ thánh, nhưng bà dấu kín không cho một ai biết và cũng chẳng ai tìm hiểu chuyện đó làm gì.
Khi chỉ có một mình, thật sự một mình ngồi với Paul, bà mới thủ thỉ nói nhỏ, rất nhỏ với cháu về Đức Chúa lòng lành. Nó có vẻ lắng nghe những chuyện kỳ diệu về thời kỳ mới khai thiên lập địa, nhưng khi bà bảo nó là phải yêu, rất, rất yêu Đức Chúa lòng lành thì thỉnh thoảng nó lại hỏi: "Thế Đức Chúa ở đâu hở bà?". Bà chỉ ngón tay lên trời: "Ở trên kia, Gà con ạ, nhưng chớ có nói ra với ai, cháu nhé!" Bà sợ ông nam tước.
Nhưng một hôm, Gà con bảo bà: "Đức Chúa lòng lành, Người ở khắp mọi nơi, chỉ có không ở trong nhà thờ kia thôi". Thì ra nó đã mách với ông ngoại những điều phát hiện thần bí của bà dì.
Nó đã được mười tuổi. Mẹ nó trông như đã vào khoảng bốn mươi. Nó khỏe mạnh, nghịch ngợm và đủ gan dạ để trèo cây, nhưng hiểu biết thì chẳng được bao nhiêu. Đang học mà cảm thấy chán là nó ngừng luôn. Mỗi lần ông nam tước buộc nó phải ngồi lại lâu lâu trước quyển sách một tý, thì Jeanne đã đến nói ngay: "Bây giờ cho cháu ra chơi được rồi đấy. Chẳng nên làm cho nó mệt, bố ạ. Cháu còn bé thế cơ mà!". Đối với nàng, bao giờ nó cũng chỉ mới được chừng sáu tháng hay một năm thôi. Nàng gần như không hay, không biết là nó đã đi, đã chạy, đã nói năng như một chú thiếu niên; nàng sống trong một tâm trạng lo sợ thường xuyên: lo nó ngã, lo nó bị lạnh, lo nó nghịch quá hóa nóng, lo nó ăn quá nhiều sẽ hại dạ dày, lo nó ăn quá ít sẽ không đủ lớn…
Năm nó mười hai tuổi, một khó khăn lớn xuất hiện: phải làm lễ ban mình thánh lần đầu cho nó.
Một buổi sáng, dì Lison đến tìm Jeanne, giải thích để nàng hiểu là không thể kéo dài thêm nữa tình trạng cứ để mặc thằng bé không được giáo dục gì cả về tôn giáo và chẳng làm chút nghĩa vụ con chiên đầu tiên nào của nó như vậy. Bà đem ra đủ thứ lập luận, viện đến hàng nghìn lý do và, trước hết, nói đến dư luận của những người mà gia đình thường tiếp xúc. Người mẹ bối rối, cứ phân vân, ngập ngừng mãi, nhưng rồi lại khẳng định là còn có thể chờ thêm một thời gian nữa.
Nhưng một tháng sau, khi nàng đến thăm vợ ông tử tước De Briseville, bà này bỗng ngẫu nhiên hỏi: "Chắc hẳn năm nay, bà sẽ làm lễ ban mình thánh lần đầu cho thằng cháu Paul nhà bà đấy chứ?". Bị hỏi bất ngờ, Jeanne đáp: "Thưa bà, vâng ạ!".
Câu hỏi giản đơn đó làm cho nàng có thái độ dứt khoát. Không thổ lộ chút gì cho bố biết, nàng nhờ bà Lison dẫn cháu đến nhà thờ để học lớp Giáo lý sơ yếu.
Trong tháng đầu mọi việc đều trôi chảy; nhưng một buổi chiều, khi Gà con về đến nhà, giọng nó khàn đặc lại và đến hôm sau nó ho. Bà mẹ phát hoảng lên hỏi con, mới biết vì cu cậu nghịch, nên ông cố đạo phạt, không cho học đến hết bài, bắt ra đứng chờ ngoài cửa nhà thờ, ngay đúng chỗ có luồng gió lùa ở hành lang trước cổng.
Thế là nàng giữ tịt con ở nhà và tự mình dạy con bài học a, b, c đó của tôn giáo. Mặc cho bà dì Lison van xin đến mấy, cha xứ Tolbiac vẫn nhất mực không chịu coi Paul như đã chịu phép thông công, viện lẽ là nó chưa được giáo dục đến nơi, đến chốn.
Qua năm sau nữa, tình hình cũng vẫn như vậy. Thế là ông nam tước điên tiết lên, chửi đổng rằng thằng bé cần cóc gì mà phải tin vào cái thứ ngốc nghếch vớ vẩn ấy, vào cái trò biểu tượng trẻ con ấy của sự hóa thể, mới trở nên người lương thiện được. Gia đình quyết định sẽ nuôi dạy nó thành một người thiên chúa giáo, nhưng không phải một người Công giáo thực hành (5), và khi đến tuổi trưởng thành, nó sẽ được tự do, tùy theo ý thích mà tự quyết định mình trở nên một người như thế nào.
Một thời gian sau, Jeanne ngạc nhiên nhận thấy nàng đã đến thăm ông bà Briseville mà không được đáp lễ, trong khi nàng biết rõ ông bà láng giềng đó vốn người rất coi trọng từng chi tiết xã giao. Nhưng rồi chính bà hầu tước Le Coutelier , với một thái độ khinh khỉnh, đã chỉ cho nàng thấy lý do sự "khiếm khuyết" đó của ông bà Briseville.
Do địa vị của chồng, do tài sản kếch sù và chức tước chính thức của bản thân, bà hầu tước này thường tự coi mình như kiểu mốt bà chúa của giới quý tộc xứ Normande, và thực tế cũng đã xử sự như vậy: bà nói năng tự do, thoải mái, lúc mềm, lúc xẳng, luôn miệng hết mắng mỏ, uốn nắn lại khen ngợi, tùy theo trường hợp. Vì vậy, khi thấy Jeanne đến chơi, sau vài lời chào hỏi lạnh như nước đá, bà hầu tước độp luôn một câu: "Xã hội phân chia làm hai loại người: loại tin Chúa và loại không tin Chúa. Những người tin Chúa thì dù nghèo hèn đến mấy cùng là bè bạn và bình đẳng với chúng ta. Còn những kẻ kia thì chẳng đáng một xu".
Cảm thấy mình bị ám chỉ, Jeanne đáp lại: "Nhưng ta vẫn có thể tin Chúa mà không cần đến nhà thờ được chứ!".
Bà hầu tước tiếp lời: "Không đâu, thưa bà. Tín đồ phải cầu Chúa tại nhà thờ như chúng ta đi tìm nhau tại nhà ở của mỗi người vậy”.
Tự ái, Jeanne trả miếng: "Thưa bà, Chúa ở khắp mọi nơi chứ. Riêng trường hợp tôi, tự đáy trái tim mình, tôi tin ở đức lòng lành của Chúa, nhưng thật có lúc tôi thấy như Chúa chẳng còn tồn tại nữa, khi tôi phải tiếp xúc với một số vị linh mục nào đó, làm trung gian giữa Chúa và tôi’'.
Bà hầu tước đứng dậy: "Thưa bà, linh mục là người giương lá cờ của Giáo hội. Kẻ nào chống lại tức là không theo ngọn cờ của Chúa, tức là chống lại chúng tôi".
Jeanne cũng đứng dậy, giọng run lên: "Thưa bà, bà tin ở Chúa của một phe phái, còn tôi, tôi tin ở Chúa của những người trung thực".
Nàng chào rồi đi ra.
Bà con nông dân xì xào sau lưng, chê trách nàng về việc không chịu làm lễ ban mình thánh lần đầu cho Gà con. Tuy họ không di lễ xưng tội đều đặn nữa, mà chỉ còn giữ lệ mỗi năm một lần đến nhà thờ vào dịp lễ phục sinh, theo đúng quy định dứt khoát của Giáo hội; nhưng đó là chuyện của người lớn, còn trẻ con thì khác. Chẳng ai dám liều lĩnh nuôi dạy một đứa trẻ bên ngoài khuôn khổ của luật lệ chung như vậy, bởi vì Tôn giáo vẫn là Tôn giáo.
Jeanne thấy rõ sự tán đồng đó và lòng nàng cảm thấy bất bình đối với tất cả những sự nhân nhượng, thỏa hiệp về lương tâm ấy, đối với cái thói sợ hãi đủ mọi thứ trên đời, cái bệnh hèn nhát to tướng nằm lù lù ở đáy tim người, mỗi khi bị lôi ra thì lại được che đậy bằng bao nhiêu thứ mặt nạ ra vẻ đáng kính, đáng trọng lắm.
Ông nam tước tự mình điều khiển lấy việc học hành của Paul và dạy cháu học tiếng Latinh. Người mẹ chỉ còn biết dặn dò: "Cốt nhất là ông đừng làm mệt cháu nhé”, Vì nàng cứ luôn luôn cắt ngang bài học bằng những câu hỏi như: "Có lạnh chân không, Gà con?" hoặc "Gà con, đau đầu rồi phải không con?" hoặc để ngăn bớt đà cụ giáo lại: "Xin ông đừng bắt cháu nói nhiều đến thế, cháu sẽ viêm họng đến nơi rồi đấy!", nên ông nam tước đã phải cấm, không cho con gái mình bước vào phòng học của Gà con nữa. Và thế là nàng cứ lo lắng lượn ra, lượn vào, quanh quẩn ở nơi đó suốt.
Có ít phút rảnh rang nào sau giờ học, Gà con liền chạy xuống cùng làm vườn ngay với mẹ và bà. Lúc này, cả ba rất say mê với việc trồng trọt. Mùa xuân, họ trồng cây con và gieo hạt; họ thích thú theo dõi việc hạt nảy mầm và mọc thành cây; họ hăng hái tỉa lá, chiết cành ngắt hoa, bó thành từng bó…
Gà con quan tâm nhiều nhất đến việc trồng rau sà lách. Chú bé hết sức chăm bón bốn luống rau to do chú quản lý trồng gồm có diếp búp, diếp lá, diếp xoan, cải quăn, cải ngự..., đủ mặt họ hàng gần xa các loại sà-lách mà ta có thể biết được. Chú luôn tay xới đất, tưới rau, dãy cỏ, nhổ đi, trồng lại và thúc "hai bà mẹ" cùng làm với mình kịch liệt chẳng kém gì thúc hai người làm thuê công nhật.
Có buổi, "hai bà mẹ" quỳ gối suốt mấy giờ liền trên những luống rau, áo váy lấm bê lấm bết, mê mải dùng ngón tay, - chỉ một ngón tay thôi -, chọc thẳng xuốngđất mịn, moi thành từng lỗ, rồi đặt những cây non vào đó.
Gà con đã lớn, nó sắp được mười lăm tuổi. Cái “bậc thang" cạnh cửa phòng khách đã chỉ một mét năm mươi tám. Nhưng Gà con, về trí tuệ, vẫn là một đứa trẻ, một đứa trẻ dốt nát và khờ khạo, bị giam hãm đến ngạt thở giữa hai tà váy kia và cụ già đáng yêu ấy, một cụ già đã thuộc về thế kỷ trước mất rồi.
Cuối cùng, một buổi tối, ông nam tước đã nhắc đến trường trung học, và thế là Jeanne nức nở khóc ngay tức khắc. Bà dì Lison thì hoảng sợ, đứng lặng trong một góc tối.
Người mẹ đáp lại lời ông ngoại: "Cháu nó cần gì phải hiểu biết cho nhiều, hở ông! Nó sẽ được đào tạo thành một người của đồng ruộng, một nhà quý tộc nông thôn. Giống như nhiều nhà quý phái khác, cháu cũng sẽ tự mình canh tác lấy ruộng đất của mình. Cháu sẽ sống hạnh phúc cho đến tuổi già trong ngôi nhà này, nơi chúng ta đã sống trước cháu và sẽ bước vào cõi chết. Ta còn có thể đòi hỏi gì hơn thế nữa?".
Nhưng ông nam tước lắc đầu: "Con sẽ trả lời nó - ra sao đây, một khi nó ở lứa tuổi hai mươi lăm . Nó sẽ nói với mẹ nó như thế này: Con chẳng ra cái quái gì, con chẳng hiểu biết gì hết và đó là do lỗi của mẹ, do lỗi của bệnh ích kỷ xuất phát từ tình mẫu tử của mẹ. Hiện nay, con không đủ năng lực để làm việc, để trở thành ông này, ông nọ; mẹ sinh con ra đâu phải để con sống một cuộc đời tăm tối, hèn mọn và buồn nản đến chết người. Tình thương con không biết lo xa của mẹ đã buộc con phải sống một cuộc đời như thế đấy”.
Jeanne vẫn khóc và quay ra van nài con:
"Con nói đi, Gà con, con sẽ không bao giờ oán trách mẹ là đã quá thương con, phải không?".
Thằng bé con to xác bị hỏi bất ngờ, hứa luôn: "Thưa mẹ, không ạ".
- Con thề với mẹ như vậy chứ?
- Vâng, thưa mẹ, con xin thề.
- Con muốn ở lại đây, phải không?
- Thưa mẹ, vâng ạ.
Ông nam tước bèn nói to lên, giọng kiên quyết: "Jeanne, con không có quyền sở hữu và sử dụng tùy tiện cuộc đời này đâu. Việc con đang làm đó là hèn nhát và gần như một tội ác. Con hy sinh đứa con vì hạnh phúc của riêng mình đấy",
Jeanne úp mặt vào bàn tay, nức nở dồn dập thêm và nghẹn ngào nói qua dòng nước mắt: "Con đã đau khổ đến thế... đau khổ đến thế! Bây giờ, con đang sống êm đềm với cháu thì người ta lại tính chuyện cướp nó đi... Rồi đây... một thân một mình... con sẽ ra sao?...”.
Bố nang liền đứng dậy, đến ngồi bên cạnh nàng, ôm lấy nàng, rồi nói: "Thế bố đây thì sao, Jeanne?".
Thế là nàng bỗng bá vào cổ bố, hôn ông tới tấp rồi, vẫn còn hết sức nghẹn ngào, nàng lắp bắp nói qua từng tiếng nấc: "Vâng, bố thân yêu ạ... có lẽ... bố có lý đấy. Con điên mất rồi, nhưng con đã đau khổ quá. Con bằng lòng gửi cháu đến trường học, bố ạ!".
Đến lượt mình, Gà con bắt đầu khóc, mặc dù không hiểu rõ lắm người ta định làm gì nó.
Thế là cả "ba bà mẹ" bèn xúm lại ôm hôn, nói năng và khích lệ nó. Đêm đó, khi mọi người đi ngủ, ai nấy đều thấy lòng đau thắt lại và đều lặng lẽ khóc trên giường, ngay cả ông nam tước là người đã tự kiềm chế mình, cũng vậy.
Gia đình quyết định là vào năm học mới sẽ gửi cậu thanh thiếu niên đó lên học ở trường trung học Lơ Havorơ (Le Havre). Suốt cả mùa hè, cậu ta được cưng chiều hơn bao giờ hết!
Bà mẹ thường rên rỉ mỗi khi nghĩ đến chuyện phải xa con. Nàng sửa soạn áo quần và vật dụng cho nó cứ như là sửa soạn cho một chuyến đi dài tới mười năm. Rồi, một buổi sáng tháng mười, sau một đêm trắng, hai dì cháu và ông nam tước cùng leo lên xe ngựa với Paul. Xe chạy nước kiệu ra đi.
Trong một chuyến đi khác, trước đó, Jeanne và dì Lison đã chọn lựa xong giường ngủ và chỗ ngồi ở lớp cho Gà con. Lần này hai dì cháu dành cả một ngày để xếp áo quần của nó vào một cái tủ có nhiều ngăn kéo. Vì tủ đựng chưa hết một phần tư số áo quần đem đến, Jeanne phải lên gặp ông hiệu trưởng để xin thêm một tủ nữa. Được mời đến, ông quản trị trường bèn giải thích là nhiều áo quần và đồ dùng đến thế thì chỉ gây trở ngại thôi vì chẳng bao giờ sử dụng hết. Nhân danh nội quy của nhà trường, ông từ chối không cấp thêm một tủ nào nữa hết.
Bà mẹ đành phải rầu rĩ thuê thêm một phòng ở một khách sạn nhỏ gần đó và căn dặn ông chủ khách sạn phải đích thân đem đến cho Gà con những thứ nó cần dùng, ngay lần đầu tiên nó yêu cầu.
Xong xuôi mọi thứ, cả nhà cùng đi dạo một vòng trên quãng đê bảo vệ cảng để ngắm cảnh tàu thủy ra vào.
Đêm buồn bã buông xuống thành phố đang từng bước một lên đèn. Cả nhà vào ăn tối trong một quán ăn. Không người nào biết đói bụng là gì; ai nấy chỉ nhìn nhau bằng cặp mắt ươn ướt, trong khi hết đĩa thức ăn này đến đĩa thức ăn khác lần lượt diễu qua và về lại nhà bếp, vẫn còn gần đầy nguyên.
Sau đó, cả nhà chậm rãi bước về phía trường học. Các cậu học trò, lớn bé đủ cỡ, đang kéo đến từ mọi phía ai cũng có người nhà hoặc kẻ hầu đi kèm theo. Nhiều cậu khóc. Ở phía sân trường lớn tối mờ mờ, cũng nghe thấy tiếng ai đó đang sụt sùi.
Hai mẹ con Jeanne ôm nhau, chẳng nỡ rời. Bà Lison bị quên lửng mất, đứng ở phía sau, chiếc khăn mù soa bưng kín mặt. Ông nam tước xúc động kéo Jeanne đi ra, để rút ngắn phút chia tay lại. Xe ngựa đã chờ sẵn ở cổng trường, ba người cùng bước lên và trở về Bạch Dương ngay đêm đó. Thỉnh thoảng, một tiếng nức nở lại vang to trong bóng tối.
Hôm sau, Jeanne khóc suốt một ngày. Qua hôm sau nữa, nàng cho thắng cỗ xe hai chỗ để đi Lơ Havơrơ (Le Havre). Gà con có vẻ như đã chấp nhận chuyện phân ly rồi. Lần đầu tiên trong đời, cậu có bạn; và niềm ao ước được vui chơi làm cậu hồi hộp đến run người ngay khi cậu đang ngồi nói chuyện với mẹ ở phòng khách.
Cứ như vậy, hai ngày một lần, Jeanne trở lại trường, thêm một lần nữa vào ngày chủ nhật để đón con ra chơi. Chẳng biết làm gì trong những lúc con còn lên lớp mà giờ nghỉ thì chưa đến, nàng cứ ngồi lì ở phòng khách, không đủ sức và không đủ nghị lực để rời xa ngôi trường nữa. Ông hiệu trưởng phải mời nàng lên bàn giấy yêu cầu nàng đến thăm con thưa đi một chút. Nàng chẳng đếm xỉa gì đến lời khuyên đó cả.
Thế là ông ta báo cho nàng biết nếu nàng cứ tiếp tục ngăn cản không cho con mình được chơi đùa với bè bạn trong những giờ nghỉ ngơi và cứ quấy rối không cho nó học hành gì cả, ông sẽ buộc lòng phải trả lại nó về cho nàng. Đồng thời, ông nam tước cũng nhận được thư báo cho biết như thế.
Vì vậy, Jeanne đã bị giữ lại ở lâu đài Bạch Dương, và bị kèm riết như một người tù vậy.
Nàng chờ đợi từng dịp trường nghỉ học, lòng nàng còn thao thức hơn cả con.
Và một nỗi lo âu không dứt đã làm tâm hồn nàng kích động. Nàng chỉ đem theo có mỗi con chó "Thảm sát" cùng với nàng đi lang thang khắp vùng hàng ngày trời, vừa đi vừa nghĩ ngợi vẩn vơ. Có lúc nàng ngồi suốt buổi chiều trên đỉnh vách đá để nhìn ra biển. Có lúc nàng băng rừng xuống mãi tận Yport lập lại những chuyến đi dạo trước kia mà kỷ niệm vẫn còn đeo đuổi ở lòng nàng mãi đến ngày nay. Đã xa xôi biết mấy cái thời cô gái Jeanne ngày ấy, lòng ngây ngất những ước mơ, qua lại cũng cái vùng này!
Mỗi lần gặp con, nàng lại cảm thấy dường như hai mẹ con đã xa cách nhau có đến mười năm trời. Cứ mỗi tháng qua đi, con nàng lại trở thành một nguời lớn hơn; cứ mỗi tháng qua đi, nàng lại trở thành một người già hơn. Bố nàng trông chỉ như một người anh lớn, còn dì Lison mà nhan sắc đã phai tàn từ tuổi hai mươi lăm thì lại chẳng khác trước chút nào, trông cứ như một người chị cả.
Gà con rất lười học: Năm lớp bốn, bị lưu ban. Năm lớp ba, học còn tàm tạm, năm lớp nhì, lại bị lưu ban lần nữa. Và đến khi vào lớp nhất, cậu đã tròn hai mươi tuổi.
Cậu đã trở thành một thanh niên cao lớn với mái tóc vàng hai dải tóc mai rậm rịt và thoáng chút ria mép. Bây giờ đến lượt cậu, mỗi tuần lại về lâu đài Bạch Dương một lần, vào ngày chủ nhật. Vì đã tập cưỡi ngựa từ lâu, nên cậu chỉ có việc thuê một con ngựa là hai tiếng đồng hồ đã về đến nhà rồi.
Từ sớm, Jeanne đã ra đi đón con cùng với dì Lison và
bố. Ông nam tước năm nay đã ra dáng một cụ già bé nhỏ, lưng còng dần, chân bước đi mà tay cứ chắp sau lưng như thể để tránh không cho ngã dúi đầu xuống đất.
Rất nhẹ nhàng, ba người đi dọc theo con đường cái, thỉnh thoảng lại ngồi xuống bờ hồ và nhìn ra xem đã thấy bóng dáng chàng kỵ sĩ hay chưa. Khi thấy cậu xuất hiện như một chấm đen trên đường vạch trắng phía chân trời, "ba bà mẹ" liền phất phất mù soa làm hiệu, cậu thúc ngựa phi nước đại vụt đến như một cơn bão lốc, làm cho mẹ và bà phải hồi hộp vì lo sợ và ông ngoại thì khoái chí reo lên "Hoan hô!" với cái nhiệt tình của một người suy yếu.
Mặc dù Paul đã cao hơn nàng một đầu, Jeanne vẫn cứ coi cậu như một đứa bé con, vẫn tiếp tục hỏi: "Con không bị lạnh chân chứ, Gà con?". Và, sau bữa ăn trưa, khi cậu đứng chơi trên bậc tam cấp, miệng hút một điếu thuốc lá, nàng lại mở cửa sổ ra, kêu ầm lên: "Đừng có để đầu trần mà ra ngoài như vậy, con! Mẹ van con, con sẽ bị cảm lạnh ngay bây giờ đấy!".
Nàng lo sợ run cả người, mỗi lần Paul cưỡi ngựa về trường trong đêm: "Nhất là đừng có phóng nhanh, Gà con thương yêu của mẹ nhé! Con hãy cẩn thận, hãy nhìn đến mẹ tội nghiệp của con một chút, nếu có chuyện gì xảy ra cho con, mẹ sẽ chẳng còn hy vọng vào ai nữa đâu, con ạ!".
Nhưng rồi một buổi sáng thứ bảy, nàng nhận được thư Paul báo cậu sẽ không về nhà ngày hôm sau vì cậu bận dự một cuộc vui do bạn bè tổ chức và họ đã mời cậu.
Suốt cả ngày chủ nhật, lòng nàng khắc khoải bồn chồn như bị một tai biến nào đó đe dọa. Đến ngày thứ năm, không chịu nổi nữa, nàng lại đi Le Havre
Dù không biết cụ thể ở điểm nào, nàng vẫn nhận thấy con nàng đã thay đổi. Cậu có vẻ sôi động hơn, giọng nói rắn rỏi hơn. Rồi bất thình lình, cậu nói với mẹ, cứ như một chuyện hết sức tự nhiên; "Mẹ ạ, hôm nay mẹ đã đến đây rồi, nên chủ nhật tới, con sẽ không về Bạch Dương nữa đâu nhé. Chúng con sẽ tổ chức lại cuộc vui của chúng con".
Nàng sững sờ, nghẹn họng, chẳng khác nào cậu báo tin sẽ đi châu Mỹ vậy. Cuối cùng, khi đã nói được nên lời, nàng bảo: "Ôi! Gà con, con làm sao thế? Nói đi con, có chuyện gì vậy?’’. Cậu phá ra cười, ôm hôn mẹ: "Mẹ ơi, chẳng có gì hết, gì hết! Chỉ là chuyện con vui chơi với bé bạn đó thôi. Lứa tuổi chúng con mà!".
Nàng chẳng tìm ra được một lời nào để đáp lại con. Trên đường về, một mình ngồi trên xe, nàng lại xốn xang với bao nhiêu ý nghĩ lạ lùng. Nàng chẳng còn nhận ra nó nữa, thằng Gà con của nàng, thằng Gà con bé bỏng ngày xua. Lần đầu tiên, nàng nhận thấy nó đã lớn và không còn là của nàng nữa. Nó sẽ sống cuộc đời riêng của nó và chẳng còn chăm sóc gì đến những kẻ già nua này đâu. Nàng cảm thấy Gà con như đã biến đổi hẳn trong có một ngày! Sao? Con trai của mẹ đây ư, chú bé dễ thương xưa kia từng bắt mẹ nhổ đi trồng lại mãi rau sà-lách ấy lại là chàng trai cao lớn rậm râu hằn rõ cá tính và ý chí kia ư?
Chú thích:
Pôlê (Paulet) Có nghĩa là “Pône nhỏ)
2. Pulê (Poulet) có nghĩa là “Gà con”
3. Sicut leo rugiens circuit quoerens quem devoret . Câu latinh nguyên bản có nghĩa là : “Như con sư tử gầm rú quanh mối mà nó xâu xé”
4. Trong kinh thánh, vị thần đứng đầu trong loài ma quỷ.
5. Có nghĩa là chịu sự điều khiển của tòa thanh Vatican