Một Cuộc Đời

Lượt đọc: 2085 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XI (tt)

Suốt ba tháng liền, họa hoằn Paul mới về thăm mẹ và ông, và lần nào cũng vậy, cậu đều luôn luôn lộ rõ ý muốn, như có ma ám, là cần phải ra đi ngay, và đi càng sớm càng tốt; lần nào cũng vậy, cậu tìm cách tranh thủ ra đi sao cho sớm được một giờ mới thôi. Jeanne hoảng sợ. Để an ủi nàng, ông nam tước phải nhắc đi nhắc lại mãi: "Cứ để yên nó như vậy, con ạ. Chàng trai đó hai mươi tuổi rồi cơ mà!".

Nhưng rồi một buổi sáng kia, có một ông già ăn mặc xoàng xĩnh đến hỏi thăm bằng một thứ tiếng Pháp của người Đức: "Xin gặp pà tử tước". Sau nhiều lời chào hỏi trịnh trọng, ông rút trong túi ra một cái ví trông rất tởm, miệng nói: "Cháu xin gởi pà tờ giấy này” rồi giở ra đưa cho Jeanne một mảnh giấy hoen ố những vết mỡ. Nàng đọc đi đọc lại, nhìn ông già Do Thái kia, rồi lại đọc và hỏi: "Thế này là thế nào nhỉ?".

Khúm núm, xun xoe, ông già giải thích: "Cháu xin nói pà rõ. Chẳng là cậu nhà ta có cần ít tiền, mà cháu thì piết rõ pà là một người mẹ hiền, nên đã cho cậu nhà ta vay một ít để chi tiêu đó thôi".

Jeanne run rẩy cả người: "Nhưng sao cháu lại không trực tiếp xin tôi?

Người Do Thái giải thích lằng nhằng, nào đây là một món nợ mắc ở giữa một canh bạc, phải trả xong trước buổi trưa ngày hôm sau, nào là Paul chưa đủ tuổi trưởng thành nên chẳng một ai dám cho cậu vay tiền cả, nếu không có "hành động nhân đức nhỏ bé” này của ông ta thì "danh dự cậu nhà đã bị tổn thương rồi".

Jeanne muốn gọi bố xuống, nhưng nàng không đứng dậy nổi. Niềm xúc động quá lớn đã làm cho nàng như bị tê liệt cả người. Cuối cùng, cố gắng lắm, nàng mới nói được với lão già cho vay nặng lãi: "Ông có thể vui lòng giật giúp tôi cái chuông được không?".

Lão ta ngần ngại, sợ mắc phải mưu mẹo gì chăng? Lão ấp úng nói: “Nếu pà thấy có gì phiền thì lần sau tôi sẽ xin trở lại vậy". Nàng lắc đầu, tỏ ý là không. Lão giật chuông rồi hai người lẳng lặng, mặt đối mặt, ngồi chờ.

Khi ông nam tước xuống, ông hiểu rõ tình hình ngay lập tức. Mảnh giấy nợ ghi một nghìn rưởi francs. Ông chỉ trả lão Do Thái có một nghìn, rồi, mắt nhìn chòng chọc vào lão, ông nói: "Trước hết, xin ông đừng có trở lại đây nữa, nghe không?" Lão già cảm ơn, chào rồi biến mất.

Hai bố con thu xếp đi Le Havre ngay. Đến nhà trường hai người được báo là đã một tháng nay, Paul không còn ở trường nữa.

Ông hiệu trưởng nói đã nhận được bốn bức thư, tất cả đều mang chữ ký của Jeanne, lá đầu thì Paul bị ốm, mấy lá thư sau cho biết tin tức về Paul. Mỗi thư đều có kèm theo một giấy chứng nhận của người thầy thuốc. Đương nhiên, tất cả đều giả mạo.

Hai bố con rụng rời, đứng sững ra nhìn nhau.

Vẻ mặt rầu rỉ, ông hiệu trưởng dẫn bố con Jeanne đến chỗ ông cảnh sát trưởng. Hai bố con phải nghỉ lại khách sạn.

Ngày hôm sau, người ta tìm được Paul tại nhà một cô gái do cậu ta bao nuôi trên phố. Suốt dọc đường ông ngoại và mẹ đưa Paul trở lại Bạch Dương, không ai nói với ai một lời nào. Bưng mặt bằng chiếc khăn mù-soa, Jeanne khóc. Paul hờ hững nhìn xem cảnh vật nông thôn.

Tám ngày sau, gia đình tính ra là qua ba tháng, Paul đã mắc nợ tất cả một vạn năm nghìn francs. Các vị chủ nợ chưa vội vàng ra mặt ngay làm gì vì họ thừa biết rằng chẳng bao lâu nữa, Paul sẽ hết tuổi vị thành niên (6)

Không một lời giải thích nào được đưa ra. Gia đinh muốn giành lại Paul bằng tình thương yêu, bằng sự trìu mến ngọt ngào. Cậu được ăn những món ăn nấu rất ngon và tinh xảo; cậu tha hồ được chìu, được cưng. Lúc đó, trời đang tiết xuân. Mặc dù Jeanne sợ đến phát khiếp, gia đình vẫn thuê cho Paul một chiếc thuyền ở Yport để cậu ta có thể tùy thích dạo chơi trên biển.

Để đề phòng cậu lại chuồn đi Le Havre, ngựa được giấu đi sạch.

Vô công rỗi nghề, cậu trở nên hay cáu kỉnh và có lúc còn hung bạo. Ông nam tước ấy náy nhiều về việc học còn dở dang của cháu ngoại. Jeanne, mới nghĩ đến chuyện phải xa con nữa đã phát hoảng lên, nhưng vẫn tự hỏi bây giờ phải làm gì để giữ được cậu.

Một buổi tối, cậu không về nhà. Gia đình được tin là trước đó, cậu đã cùng với hai người thủy thủ xuống thuyền ra khơi. Như người mất hồn, người mẹ để cả đầu trần chạy vội xuống tận Yport ngay trong đêm đó.

Một vài người đang đứng trên bãi biển để chờ con thuyền chở cậu trở lại. Một ánh lửa nhỏ lập lòe ngoài khơi. Con thuyền, đung đưa, tiến gần lại. Paul không còn ở trên thuyền nữa. Cậu đã nhớ đưa mình đến tận Le Havre rồi.

Cảnh sát ra sức tìm cậu, nhưng uổng công. Người con gái chứa chấp cậu lần trước và được cậu bao nuôi cũng đã biến mất, không để lại một dấu vết nào. Đồ đạc đã bán sạch, tiền nhà đã được trả đủ. Trong phòng Paul ở Bạch Dương, gia đình tìm được hai lá thư của cô gái, qua đó, thấy cô có vẻ yêu Paul say đắm. Trong thư cô còn nói đã chuẩn bị đủ tiền cho một chuyến đi sang nước Anh.

Ba người già của lâu đài sống lặng lẽ và u uất. Tâm tư họ đầy rẫy những dằn vặt và ảm đạm như địa ngục. Mái tóc hoa râm của Jeanne đã trở thành bạc trắng. Nàng khờ khạo tự hỏi vì sao số phận lại nghiệt ngã với mình đến thế?

Nàng nhận được một thư của cha xứ Tolbiac: "Thưa bà, bàn tay của Chúa đã đè nặng lên người bà rồi đó. Trước kia, bà đã cự tuyệt không chịu giao đứa con của bà cho Người. Nay Người đã giành lấy nó đem ném cho một con đĩ. Với bài học đó của Thượng Đế, bà đã mở được mắt ra chưa? Nhưng lòng khoan dung, độ lượng của Chúa mênh mông như biển cả. Nếu bà chịu trở lại quỳ gối trước mặt Người, may ra Chúa sẽ có thể tha thứ cho bà. Là người đày tớ hèn mọn của Chúa, tôi sẽ sẵn sàng mở cửa nhà Người để đón bà, nếu bà đến xin vào”.

Nàng đặt bức thư lên đầu gối rồi ngồi thừ ra rất lâu. Điều ông cố đạo này nói có lẽ đúng chăng? Và thế là tất cả những cái gì mập mờ, khó hiểu của tôn giáo lại đến vò xé lương tâm nàng. Chẳng lẽ Thượng Đế cũng biết trả thù và ghen ghét như người hạ giới? Nhưng nếu Người không tỏ ra biết ghen, biết ghét thì hỏi còn có ai sợ hãi, còn có ai tôn thờ Người nữa? Chắc rằng để giúp ta hiểu biết thêm Người, Chúa phải biểu lộ cho ta biết những tình cảm của chính ta đây. Và thế là Jeanne đã sa vào cái tâm trạng nghi nghi hoặc hoặc yếu đuối, nó là động lực thúc đẩy những kẻ còn do dự, những người bị rối loạn trong lòng phải tìm đến nhà thờ. Một tối kia, khi đêm vừa xuống, nàng lén chạy đến tận nhà ở của ông cố đạo gầy còm, quỳ xuống trước mặt ông ta và cầu xin tha tội.

Ông ta chỉ hứa cho nàng có một nửa sự tha tội, vì làm sao Chúa lại có thể trút tất cả phước lành của Người xuống một mái nhà đương còn chứa chấp một người như ông nam tước kia được? Ông ta khẳng định: "Chẳng lâu nữa đâu, chắc bà sẽ được hưởng đức lòng lành của Chúa!"

Quả thật, chỉ hai ngày sau, bà nhận được một bức thư của con trai. Trong con đau buồn vô hạn, bà coi bức thư đó là bước khởi đầu của sự giải trừ oan nghiệt mà cha xứ đã hứa.

Mẹ thương yêu, xin mẹ đừng lo ngại. Con đang ở Luân-đôn, vẫn khỏe mạnh, nhưng rất cần tiền. Chúng con chẳng còn lấy một xu, có ngày chẳng có chút gì đút vào miệng nữa. Để khỏi phải lìa bỏ con, cô gái đang đi với con đây, người mà con yêu với tất cả tâm hồn, đã phải chi tiêu hết số tiền của mình: năm nghìn francs, Mẹ hãy hiểu cho rằng con đă thề danh dự là trước hết phải trả lại cho cô ấy số tiền đó. Vậy xin mẹ hãy vui lòng ứng trước cho con khoản một vạn năm ngàn francs trong gia tài của bố để lại, bởi vì con cũng sắp đến tuổi trưởng thành rồi. Như vậy là mẹ giúp con thoát khỏi được một bước khó khăn, lúng túng lớn đấy.

Tạm biệt mẹ thân yêu, với tất cả tấm lòng, con hôn mẹ, hôn ông ngoại và bà dì Lison. Con hy vọng sẽ sớm được gặp lại mẹ.

Con trai của mẹ

Tử tước Paul De Lamar"

Thế là nó đã viết cho nàng! Vậy tức là nó có quên nàng đâu!

Nàng chẳng hề nghĩ rằng nó viết thư là để xin tiền. Vì nó hết tiền, nàng sẽ gửi cho nó. Tiền thì có gì là quan trọng nó đã viết cho nàng!

Nàng vừa khóc vừa chạy đem bức thư đến cho ông nam tước. Bà dì Lison được mời đến ngay, cả nhà xúm lại đọc từng chữ bức thư viết về chuyện của Paul. Từng lời trong thư được đem ra phân tích.

Nhảy vọt từ tâm trạng hoàn toàn tuyệt vọng sang kiểu hy vọng say sưa, Jeanne bênh vực Paul: "Nó đã viết thư về thì nó sẽ trở về nó sẽ trở về!".

Trầm tĩnh hơn, ông nam tước nói: "Cũng vậy thôi, con ạ. Chính cũng vì con người ấy mà nó đã rời bỏ chúng ta. Nó yêu con bé đó hơn chúng ta vì nó ra đi không chút ngần ngại".

Một nỗi đau đột ngột và đáng sợ bỗng xuyên suốt trái tim Jeanne, thổi bùng lên một lửa căm hờn chống lại con mụ hư đốn, nó đã cướp mất con trai của nàng, một loại căm hờn của người mẹ nổi cơn ghen. Cho đến nay, toàn bộ suy nghĩ của nàng mới chỉ dồn vào Paul. Thật khó có thể tưởng tượng rằng một đứa con gái nhơ bẩn như thế lại có thể là nguyên nhân đưa Paul đến chỗ lầm đường, lạc lối. Nhưng bây giờ, đột nhiên, ý nghĩ kia của ông nam tước đã gợi cho nàng thấy rõ đối thủ của mình, thấy rõ sức mạnh ghê gớm như định mệnh của nó. Nàng cảm thấy giữa mình và người đàn bà kia, một cuộc vật lộn ác liệt đã bắt đầu. Nàng cảm thấy thà rằng nàng chịu mất con, chứ chia sẻ nó với con mụ kia thì không thể được.

Tất cả niềm vui của năng thế là sụp đổ hết.

Năm tháng liền, sau khi gia đình gửi số tiền mười lăm nghìn francs cho Paul, không có một tin tức nào về Paul nữa.

Rồi một hôm, một người kinh doanh đến nhà giải quyết các thủ tục chi tiết về việc Paul kế thừa gia sản của Julien. Jeanne và ông nam tước thanh toán mọi khoản không một lời bàn cãi, thậm chí còn bỏ qua cả khoản lợi tức mà với tư cách là mẹ của Paul, Jeanne có quyền được hưởng. Trở lại Paris, Paul lĩnh được mười hai vạn trancs. Trong khoảng sáu tháng, y viết về bốn bức thư, nói rất ngắn gọn tin tức về y và thư nào cũng kết thúc bằng mấy lời âu yếm lạnh lùng. Trong những thư ấy, y khẳng định: "Con đang làm việc. Con đã kiếm được một việc làm tại sở giao dịch chứng khoán. Con hy vọng một ngày nào đó sẽ về lại Bạch Dương ôm hôn mẹ, ông ngoại và bà dì thân yêu của con".

Y không nói một lời về người tình của y và sự im lặng đó còn có ý nghĩa hơn là nếu y viết liền một mạch bốn trang thư nói về cô ta. Jeanne cảm thấy rất rõ hình ảnh người đàn bà đó đang nấp trong những trang thư lạnh giá kia. Nó là kẻ thù không đội trời chung, kẻ thù vĩnh viễn của các bà mẹ: cô gái, người tình của đứa con trai.

"Ba bà mẹ" bàn tính mãi xem liệu họ có thể làm gì để cứu vớt được Paul không, nhưng họ đành chịu, chẳng tìm ra được cách nào. Một chuyến đi Paris chăng? Để làm gì cơ chứ?

Ông nam tước nói: "Cứ để cho cái bệnh mê gái ấy xói mòn dần đi, rồi Gà con sẽ một mình về lại với chúng ta".

Cuộc sống của người thật là buồn thảm.

Jeanne và dì Lison cả hai cùng đi lễ nhà thờ, nhưng giấu không cho ông nam tước biết.

Một thời gian khá dài trôi qua, không một chút tin tức về Paul, thế rồi một buổi sáng kia, bức thư tuyệt vọng dưới đây đã đến với "ba bà mẹ”, làm cho họ rất đổi kinh hoàng:

"Mẹ tội nghiệp của con ơi, . Sự nghiệp của con thế là tiêu tan mất rồi! Nếu mẹ không đến cứu cho thi con chỉ còn có cách là cho một viên đạn vào đầu mà thôi! Vừa qua, con dồn hết sức lực, đặt hết mọi hy vọng thắng lợi vào một việc đầu cơ trục lợi, nhưng con đã thất bại. Con mắc nợ tám vạn rưởi francs. Nếu không trả được số nợ đó thì danh dự của con sẽ mất, con sẽ bị phá sản và từ nay thế là chịu chết, không còn nói gì đến chuyện làm ăn được nữa. Sự nghiệp của con thế là tan nát. Con xin nhắc lại: Con thà cho một viên đạn vào trong óc còn hơn là sống thừa với mối nhục này.

Có lẽ con đã tự sát rồi, nếu không có những lời an ủi, khích lệ của một người phụ nữ mà con chưa bao giờ nhắc đến trong thư, người đó chính là Thiên mệnh của đời con.

Mẹ thân yêu, tự đáy lòng mình, con xin ôm hôn mẹ, có lẽ đây là lần cuối cùng chăng? Vĩnh biệt!

Paul."

Nhiều tập giấy tờ kinh doanh gửi kèm

 theo bức thư đã giải thích ngọn ngành về thảm họa đó.

Ông nam tước trả lời ngay cho Paul biết là ở nhà đang lo liệu. Rồi ông đi Le Havre thăm thú tình hình, ông đem cầm một số ruộng đất đủ đảm bảo được số tiền Paul cần và gửi tiền đi cho y.

Anh chàng viết về liền một loạt ba bức thư với lời lẽ cảm ơn nhiệt liệt và âu yếm mặn nồng. Y báo tin là sẽ về nhà ngay để ôm hôn ba người thân yêu ruột thịt.

Nhưng y vẫn không về.

Một năm nữa trôi qua.

Jeanne và ông nam tước sắp sửa đi Paris để tìm y, và thử một keo cố gắng cuối cùng nữa xem sao thì bỗng nhận được một bức thư của Paul báo tin y đã trở lại Luân-đôn, gây dựng một xí nghiệp tàu thủy dưới danh hiệu: "Paul De Lamare và Công ty". Y viết: "Đây là thời cơ chắc chắn của đời con. Có thể là sự giàu sang nữa đấy. Con chẳng liều một tí nào đâu. Nếu đến được đây, mẹ và ông sẽ thấy tất cả những thuận lợi của con. Đến ngày con trở về gặp lại mẹ ông và bà dì, con sẽ có được một địa vị tốt đẹp trong xã hội. Thời buổi bây giờ chỉ có kinh doanh mới có thể thoát được cảnh túng thiếu, mới có thể phất được mà thôi!".

Ba tháng sau, công ty tàu thủy đó bị vỡ nợ, giám đốc công ty bị truy tố vì tội giả mạo giấy tờ giao dịch. Jeanne bị một cơn kịch phát thần kinh kéo dài mấy tiếng liền. Sau đó, nàng nằm liệt, không dậy nổi nữa.

Ông nam tước lại đi Le Havre điều tra tin tức, gặp gỡ các nhà kinh doanh, các vị luật sư, biện lý và mõ tào.

Ông nhận thấy Công ty De Lamare bị thâm hụt tổng cộng mất hai mươi ba vạn năm nghìn francs. Ông lại đem gia sản ra cầm cố. Cả tòa lâu đài Bạch Dương lẫn hai trại ấp cùng phải đem đi thế nợ để có được một món tiền lớn.

Một buổi tối, trong lúc đang thanh toán những thủ tục cuối cùng tại văn phòng một nhà kinh doanh, ông bỗng lăn ra mặt sàn vì bị trúng một cơn phong cấp tính.

Jeanne đưa thi hài bố về Bạch Dương. Tâm hồn nàng tan nát, tê dại vì đau đớn, hơn là vì tuyệt vọng.

Cha xứ Tolbiac một mực không chịu cho phép đưa thi hài ông vào nhà thờ, mặc cho hai người van xin đến mấy cũng vô hiệu. Việc chôn cất ông nam tước tiến hành vào lúc trời sẩm tối, không một chút nghi thức tôn giáo nào.

Paul được tin ông ngoại chết qua lời nói lại của một trong những thanh toán viên về các khoản vỡ nợ của y. Lúc đó, y vẫn còn lẩn trốn ở bên Anh. Y viết thư về cho mẹ, xin lỗi là vì được tin tai biến này quá chậm nên không sao về kịp. “Vả lại, mẹ thân yêu ạ, bây giờ mẹ đã cứu con qua con nguy khốn rồi, thì con lại có thể trở về nước Pháp, con sẽ được ôm hôn mẹ của con..."

Tinh thần Jeanne suy sụp đến nỗi nàng hầu như hoàn toàn mất trí.

Vào cuối mùa đông, bà dì Lison, năm đó, sáu mươi tám tuổi, bị một cơn viêm phế quản biến chứng thành bệnh đau màng phổi. Bà nhẹ nhàng thở hơi cuối cùng, trong tiếng nói thì thào: "Cháu Jeanne tội nghiệp của dì ơi, dì sẽ cầu xin đức Chúa lòng lành kia rủ lòng thương đến cháu!..."

Jeanne đi theo xác dì ra tới nghĩa trang, nhìn những nấm đất rơi trên nắp quan tài rồi khụy người xuống, những muốn cùng được chết theo đi cho rảnh để khỏi phải đau buồn thêm nữa, suy nghĩ thêm nữa thì đúng lúc đó, bỗng có một bà nông dân lực lưỡng đến nâng bổng bà lên và bế bà đi, như bế một cháu nhỏ vậy.

Vì đã ngồi thức năm đêm liền bên giường dì Lison, cho nên Jeanne đành chịu, cứ để mặc cho bà nông dân không quen biết kia bế mình về lâu đài, đặt mình lên giường, xoay chuyển thân mình một cách vừa nhẹ nhàng, vừa cương quyết, mà không hề có một cử chỉ cưỡng lại nào hết. Rồi nàng ngủ thiếp đi, một giấc ngủ của người kiệt sức, nặng trĩu những mệt nhọc và đau thương.

Vào khoảng nửa đêm, nàng tỉnh dậy. Một ngọn đèn leo lét trên lò sưởi. Một thiếu phụ đang ngồi trong chiếc ghế bành. Ai thế nhỉ? Jeanne chịu, không nhận ra nổi. Nàng trườn mình ra khỏi mép giường cố nhìn cho rõ nét mặt người đó dưới ánh sáng run rẩy của sợi bấc đặt trong cái cốc đầy dầu.

Nàng cảm thấy như đã có lần gặp khuôn mặt này rồi thì phải. Nhưng lúc nào? Và ở đâu nhỉ? Người thiếu phụ vẫn ngủ yên, đầu nghiêng lệch trên vai, cái mũ rơi xuống đất. Tuổi cô ta khoảng bốn mươi, bốn mươi lăm, người lực lưỡng, to ngang, mạnh khỏe, da dẻ hồng hào.

Hai bàn tay to, rộng buông thòng xuống hai bên thành ghế. Tóc cô ta đã hoa râm. Tâm trí Jeanne còn bàng hoàng sau một giấc ngủ đầy lo lắng, băn khoăn của những người từng gặp nhiều tai biến lớn, Jeanne cố kiên trì ngắm nhìn người thiếu phụ.

Đúng rồi, khuôn mặt này, nàng đã thấy ở đâu đây! Xưa kia? Hay mới rồi? Nàng chịu không sao biết rõ được. Nổi ám ảnh đó làm cho nàng phát bực, nằm không yên. Nàng nhẹ nhàng đứng dậy, rón rén bước lại để nhìn người đang ngủ được gần hơn. Đúng là người thiếu phụ đã nâng nàng dậy ngoài nghĩa địa, rồi đặt nàng nằm vào giường này. Ngay những cái đó, nàng cũng chỉ nhớ được một cách mơ hồ.

Nhưng phải chăng nàng đã gặp người này ở một chỗ nào đó, vào một thời kỳ khác của đời nàng? Hay là chút ký ức mơ hồ của chính ngày hôm đó đã khiến cho nàng lầm tưởng rằng có thể sẽ nhận ra được người thiếu phụ kia? Nhưng thế thì làm sao cô ta lại có thể ngồi đây, ở ngay phòng mình được? Tại sao?

Mở mắt nhìn thấy Jeanne, người thiếu phụ bèn đứng dậy, Hai người đứng đối diện, gần đến nỗi hai lồng ngực chạm cả vào nhau. Người lạ mặt càu nhàu: "Thế nào, bà đã đứng lên rồi đấy ư! Dậy vào giờ này thì đến ốm mất thôi. Bà có lên giường nằm đi không?"

Jeanne hỏi: "Chị là ai?".

Nhưng người thiếu phụ đã dang rộng đôi tay ôm lấy nàng, bế bổng nàng lên giường với sức mạnh như của một người đàn ông. Chị cúi xuống, gần như để hẳn cả người Jeanne, nhẹ nhàng đặt nàng nằm xuống chăn đệm. Chị vừa khóc, vừa tới tấp hôn vào má, vào tóc, vào mắt Jeanne. Nước mắt chị làm ướt cả khuôn mặt Jeanne. Chị lắp bắp nói: "Ôi, bà chủ tội nghiệp của tôi, Jeanne, bà chủ tội nghiệp của tôi! Vậy bà không nhận ra tôi nữa sao?"

Thế là Jeanne kêu thét lên: "Ôi, Rosalie, em của chị!". Hai tay bá cổ Rosalie, Jeanne ôm chặt lấy chị mà hôn. Và cứ như vậy, hai người vừa ôm nhau thật chặt không chịu rời tay, vừa thổn thức khóc, hai dòng nước mắt hòa lẫn vào nhau. Rosalie trấn tĩnh lại trước; "Nào phải khôn ngoan lên mới được và chớ để bị cảm lạnh, nghe không bà?". Rồi chị xếp đặt lại chăn, vuốt lại mép giường, đặt lại gối cho ngay ngắn dưới đầu người chủ cũ của mình, trong khi Jeanne vẫn còn tiếp tục nghẹn ngào, bồi hồi xúc động với những kỷ niệm xa xưa đột nhiên ồ ạt kéo về.

Cuối cùng, Jeanne hỏi: "Làm sao mà em trở lại đây được thế?"

Rosalie đáp: "Ôi chuyện tất nhiên thôi! Bây giờ bà tứ cố vô thân như thế này, đời nào tôi lại để cho bà thui thủi một mình cơ chứ?".

Jeanne tiếp: "Em đốt thêm cho chị một cây nến nữa để chị nhìn em được rõ hơn". Khi cây nến đã được đặt trên chiếc tủ đầu giường, hai người lẳng lặng nhìn nhau một lúc lâu, chẳng thốt nên lời. Chìa tay về phía Rosalie, Jeanne thủ thỉ: "Em biết không, chị không nhận ra em cũng phải thôi. Em đã thay đổi nhiều nhưng so với chị, chắc chẳng thay đổi bằng đâu!"

Rosalie ngắm nhìn người đàn bà, xưa kia, lúc mình ra đi, hãy còn trẻ trung, xinh đẹp và tươi tắn dường ấy mà nay đã bạc trắng mái đầu, gầy yếu và tàn tạ! Chị đáp: "Quả là bà đã thay đổi nhiều thật, bà Jeanne ạ, nhiều hơn cả mức bình thường nữa. Nhưng xin bà hãy nhớ là chúng ta xa nhau thấm thoắt đã hai mươi bốn năm trời rồi, còn gì!”

Hai người lại im lặng và tiếp tục suy nghĩ. Cuối cùng, Jeanne ngập ngừng hỏi: "Ít nhất, chắc là em cũng đã sống hạnh phúc chứ?"

Ngập ngừng vì sợ phải khơi động lại một kỷ niệm quá đau lòng nào đó, Rosalie ấp úng đáp: ”Ồ, có... có chứ... thưa bà. Tôi chẳng có gì đáng phải phàn nàn cho lắm. Chắc chắn là tôi đã được hạnh phúc hơn bà rồi! Chỉ có một điều luôn luôn làm tôi ân hận trong lòng là tôi đã không tiếp tục ở lại nhà này..." Nói đến đó, chị bỗng đột ngột ngừng lại, sững sờ nhận thấy rằng mình đã vô tình khơi động lại câu chuyện kia rồi!

Nhưng Jeanne đã dịu dàng nói tiếp:

- Biết làm sao được, em của chị! Có phải bao giờ ta cũng làm được mọi điều như ý ta mong muốn đâu. Em cũng đã góa chồng, phải không?".

Một nỗi đau quặn khiến cho giọng Jeanne run rẩy: "Em có... sinh thêm... được cháu nào nữa không?"

- Không, bà ạ...

- Thế cháu, thằng... con trai em... cháu ra sao rồi?

Em có được hài lòng về nó không?

- Có chứ, thưa bà. Cháu rất tốt, làm ăn ra trò lắm. Cháu vừa mới cưới vợ, cách đây sáu tháng thôi. Bây giờ, tôi trở lại với bà đây rồi, thì cháu nó sẽ trông nom cái ấp ấy cho tôi.

Cảm động đến run người, Jeanne thì thầm: "Vậy ra em sẽ không còn bỏ chị mà đi nữa ư?"

Rosalie đáp, giọng đanh lại: "Tất nhiên là như vậy, bà ạ. Tôi đã chuẩn bị mọi mặt cả rồi".

Hai người im lặng một lúc.

Dù không muốn, Jeanne vẫn so sánh cuộc đời hai người với nhau, nhưng không phải với nỗi niềm cay đắng, vì bây giờ nàng đã cam chịu với những sự độc ác bất công của số phận mình rồi. Nàng hỏi: "Chồng em, anh ấy đã đối xử với em ra sao?"

Ôi! Thật là một người trung hậu bà ạ. Anh ấy lại chẳng chây lười chút nào. Anh ấy làm ra tiền, ra của lắm đấy. Anh ấy chết vì chứng bệnh đau ngực.

Jeanne bỗng thấy lòng mình tha thiết muốn được biết rõ nhiều thêm. Nàng ngồi dậy, nói: "Nào, em hãy kể cho chị nghe toàn bộ cuộc đời em đi! Giờ đây, biết rõ được điều đó, chắc chị sẽ khỏe ra đấy!"

Rosalie kéo một chiếc ghế, ngồi xuống, rồi bắt đầu nói chuyện về bản thân, về gia đình và thế giới riêng của mình. Chị đi vào những chi tiết nhỏ nhặt thân thiết với người nông dân, mô tả cả đến cái sân nhà mình. Đôi lúc chị lại cười lên, thích thú với những sự việc tuy đã cũ nhưng còn gọi nhớ đến những giờ phút tươi đẹp đã qua. Chị càng kể, giọng nói càng cao thêm, đúng kiểu một tá điền đã quen với việc điều khiển một số người khác. Cuối cùng, chị dõng dạc nói: "A, bây giờ tôi cũng đã có của ăn, của để rồi đấy nhé! Tôi chẳng còn sợ gì nữa hết!" Rồi chị lại nhỏ nhẹ nói tiếp, giọng hơi bối rối: "Dù sao đi nữa, tôi cũng phải mang ơn bà về tất cả những thứ đó. Vì vậy, bà nên nhớ rằng, trở về với bà, tôi sẽ chẳng lấy tiền công của bà đâu, ồ không, không đâu đấy nhé! Nếu bà không chịu, tôi sẽ bỏ đi ngay đấy!”

Jeanne tiếp lời: "Dù sao em cũng không thể phục vụ không công cho chị được cơ mà!".

- À! Thưa bà có chứ. Tiền bạc! Bà sẽ trả tiền cho tôi! Nhưng mà bây giờ tôi cũng đã có nhiều tiền gần ngang với bà rồi cơ mà! Với tất cả đống giấy tờ kia, nào giấy cầm đất, cầm đồ, nào giấy vay nợ, thêm vào đó những khoản tiền lãi chưa trả hết, cứ cuối mỗi thời hạn, lại đẻ số ra, tăng mãi lên như vậy, thì hiện nay bà còn có được bao nhiêu tiền, bà có biết không? À, không chứ gì? Vậy tôi xin nói cho bà biết là bà không còn thu nhập được quá mười nghìn francs đâu nhé. Không còn đến một vạn francs, bà đã nghe rõ chưa? Nhưng thôi, tôi sẽ giải quyết tất cả những cái đó và sẽ giải quyết nhanh cho bà.

Đến đây, Rosalie lại cao giọng lên, có vẻ bực bội và cáu kỉnh vì thấy Jeanne bị phá sản đến nơi mà vẫn coi thường các khoản lợi tức. Chợt thấy một nét cười cảm động thoáng qua trên khuôn mặt Jeanne, Rosalie liền nổi xung kêu lên:

-Bà ơi, bà chớ nên cười về cái đó như vậy. Bởi vì chỉ có loại tiện dân, loại hèn mọn, mới không có đồng xu dính túi mà thôi.

Jeanne nắm lấy và giữ lâu hai bàn tay Rosalie trong tay mình. Rồi, mãi đeo đuổi một ý nghĩ ám ảnh, Jeanne chậm rãi nói: "Ôi chị thật chẳng có gì là may mắn cả. Tất cả đều chẳng ra sao, em ạ. Định mệnh đã quá khắc nghiệt với cuộc đời chị".

Rosale lắc đầu:

- Đừng nói thế, bà đừng nói thế! Bà đã lấy lầm chồng, chỉ có vậy thôi. Đời thuở nhà ai lại lấy chồng như thế, lấy chồng mà chẳng hề biết gì về chồng.

Như hai người bạn tri âm cũ lâu ngày mới gặp lại, hai người tiếp tục kể cho nhau nghe về cuộc đời mình.

Mặt trời đã lên, hai người vẫn còn trò chuyện.

Chú thích:

(6) Ở Pháp, thời bấy giờ tròn 21 tuổi mới được coi là hết tuổi vị thành niên.

« Lùi
Tiến »