Một buổi sáng, ông nam tước vào phòng Jeanne từ lúc nàng còn chưa dậy và ngồi xuống chân giường nàng: "Ông tử tước nói với nhà ta xin dạm hỏi con làm vợ."
Jeanne những muốn rúc đầu vào chăn giấu mặt mình đi.
Bố nàng nói tiếp: "Bố mẹ đã hẹn sẽ trả lời sau". Nàng thở hổn hển, nghẹn ngào vì cảm động. Một phút sau, ông nam tước mỉm cười nói thêm: "Chưa bàn với con thì bố mẹ chẳng muốn làm gì đâu. Bố mẹ không phản đối cuộc hôn nhân này, nhưng cũng chẳng khuyên con nhận lời. Con giàu hơn anh ta nhiều, nhưng trong vấn đề hạnh phúc của một đời người thì chẳng những người bận tâm vì tiền bạc. Anh ta chẳng còn ai là bà con thân thích; nếu con lấy anh ta, gia đình ta sẽ như có một người con trai, con lấy một người khác, con gái của bố mẹ sẽ phải đi sang nhà người. Bố mẹ thấy mến anh ta. Còn con, con có mến anh ta không?".
Nàng ấp úng, mặt mũi đỏ dừ: "Con cũng ưng thôi, bố ạ"
Miệng vẫn mỉm cười, ông lão vừa nhìn sâu vào đáy mắt nàng vừa nghĩ thầm: "Tôi cũng đã ngờ ngợ thế rồi, cô ạ".
Suốt ngày hôm ấy, như một người chuếnh choáng hơi men, nàng chẳng biết mình đang làm gì. Như một cái máy, nàng cầm lẫn hết đồ này đến vật khác. Đôi chân nàng mỏi nhừ mặc dù nàng chẳng đi đâu.
Vào khoảng sáu giờ chiều, khi nàng đang ngồi với mẹ dưới gốc cây ngô đồng, tử tước De Lamare đến,
Tim Jeanne bỗng đập dữ dội. Chàng trai bước tới. Mặt chẳng hề tỏ vẻ xúc động anh hết cầm và hôn tay bà nam tước rồi lại nâng bàn tay run rẩy của cô gái, đặt mạnh lên đó một cái hôn trìu mến và biết ơn.
Thời kỳ đính hôn tươi thắm bắt đầu. Hai người ngồi trò chuyện riêng trong góc phòng khách hay trên bờ dốc ven đường, chỗ tận cùng của mảnh rừng trông ra cánh đồng hoang. Đôi khi, họ đi dạo chơi trên con đường của mẹ, chàng nói về tương lai, nàng nhìn xuống dấu chân in trên bụi đường của bà nam tước.
Một khi sự việc đã được quyết định, ai nấy đều muốn kết thúc cho sớm. Thế là lễ cưới được thỏa thuận sẽ tiến hành trong vòng sáu tuần lễ, vào ngày 15 tháng 8, sau đó, cặp vợ chồng trẻ sẽ đi du lịch ngay. Được hỏi ý kiến về nơi nàng muốn đi thăm, Jeanne quyết định chọn đảo Corse là nơi hai người chắc sẽ được yên tĩnh và tự nhiên hơn các thành phố của nước Ý.
Họ không quá nôn nóng chờ đợi ngay thành vợ thành chồng, họ lao vào cảnh tắm mình trong cái âu yếm ngọt ngào, thưởng thức cái quyến rũ tuyệt vời của những cái vuốt ve vô nghĩa, nào bóp ngón tay, nào nhìn nhau say đắm kéo dài đến mức dường như hai tâm hồn đã hòa làm một, họ bị bứt rứt một cách mơ hồ bởi lòng ham muốn mập mờ được ôm chặt lấy nhau.
Hai bên thống nhất sẽ không mời ai đến dự lễ cưới, trừ dì Lizông (Lison), em gái bà nam tước, đang trọ trong ký túc xá một trường dòng ở Versaille.
Sau ngày ông cụ thân sinh hai chị em bà qua đời, bà nam tước muốn giữ em gái ở lại sống với mình, nhưng bà dì muộn chồng kia bị ám ảnh bởi ý nghĩ cho rằng mình là người vô ích, chỉ quấy rầy và làm phiền hà mọi người, nên đã đến sống ẩn dật tại trường dòng đó, nơi thường nhận làm chỗ dung thân cho những ai có chuyện đau buồn và cô đơn trong cuộc sống.
Thỉnh thoảng, bà em gái đến ở một, hai tháng trong gia đình bà chị.
Nhỏ bé, ít nói, bà luôn lẩn tránh mọi người. Bà thường chỉ xuất hiện vào giờ các bữa ăn rồi lại lên ngay phòng riêng và ở lỳ trong đó.
Bà cỏ vẻ hiền lành và trông đã hơi già, mặc dù mới bốn mươi hai tuổi. Mặt bà dịu dàng và kém vui. Xưa nay, bà chưa từng được chú ý đến trong gia đình. Khi còn bé tý, bà không xinh đẹp, không tinh nghịch, nên chẳng được mấy ai hôn hít; bà chỉ im lặng và hiền lành lỉnh vào ngồi trong các xó nhà. Từ nhỏ, bà luôn luôn bị lãng quên. Đến thời con gái, cũng chẳng có ai đeo đuổi bà.
Bà là loại người giống như một cái bóng hay một đồ vật thân thuộc, một đồ đạc sống, quen thấy hằng ngày, nhưng lại chẳng bao giờ lam cho ta phải bận lòng đến cả.
Theo thói quen sẵn có từ trước, tại gia đình cha mẹ cũ, chị bà vẫn coi bà như một kẻ vắng mặt trong nhà hoàn toàn vô tích sự. Bà được đối xử thân mật nhưng sỗ sàng, tốt đấy, nhưng có phần khinh miệt, vốn tên gọi là Lise, bà có vẻ ngượng với cái tên thanh nhã và trẻ trung ấy. Khi thấy bà không lấy chồng, và chắc hẳn sẽ chẳng bao giờ lấy chồng, gia đình đã gọi chệch tên bà thành Lison. Jeanne ra đời thì bà đã trở thành "dì Lison" rồi, một kẻ tầm thường trong dòng họ, hết sức sạch sẽ, rụt rề đến kinh người, ngay cả đối với bà chị và ông anh rễ cũng vậy, mặc dù anh chị bà vẫn thương yêu bà, một tình thương yêu vừa như hơ hững, vừa có vẻ thương hại một cách không tự giác, vừa có vẻ quan tâm chăm sóc một cách tự nhiên.
Thỉnh thoảng, mỗi khi nhắc lại những chuyện xa xưa từ thời còn trẻ, muốn xác định một thời điểm nào đó, bà nam tước lại nói: "Đó là vào lúc xảy ra chuyện dở chứng của Lison ấy mà!"
Không bao giờ có ai nói gì thêm nữa; và cái chuyện dở chứng ấy cũng mờ mịt như bị một lớp sương mù bao phủ.
Một buổi tối, năm vừa hai mươi tuổi, không rõ nguyên cớ vì sao, Lise đã gieo mình xuống nước. Không hề có một triệu chứng nào trong cuộc sống, trong cách cư xử của cô, báo hiệu trước sự điên rồ ấy. Khi được vớt lên, cô đã gần chết. Bố mẹ cô, lẽ ra phải tìm hiểu nguyên nhân của hành động đó, lại chỉ tức giận, giơ tay lên trời, nói đó là một sự "dở chứng", cứ y như khi các cụ nói về tai nạn của con ngựa "Côcô", trước đó ít lâu, vừa mới bị què vì thụt chân xuống cái rãnh và, do đó, đã bị buộc phải đem ra giết thịt.
Từ đó Lise, sau là Lison, bị coi như một tâm hồn rất nhu nhược. Niềm khinh bỉ nhẹ nhàng của bố mẹ, chị em đối với cô đã dần dần thấm vào lòng mọi người xung quanh. Ngay cả bé Jeanne, với cái tài đoán biết tự nhiên của con trẻ, cũng không buồn ngó ngàng đến dì, không hề lên gác, vào buồng và hôn dì trên giường bao giờ cả. Chỉ có cô hầu Rosalie, thường chăm nom dọn dẹp chút ít căn buồng bà nằm, mới hình như là người duy nhất biết rõ buồng đó ở chỗ nào.
Khi đến bữa, dì Lison bước vào phòng ăn, "cô bé", theo thói quen, chạy lại, chìa trán ra cho dì hôn; rồi thế là hết.
Nếu ai có muốn nói gì với bà thì cho người hầu đi gọi. Khi bà đi vắng, chẳng hề có ai quan tâm hoặc nghĩ đến bà. Có lẽ cũng chẳng bao giờ một ai tỏ ý nghĩ lo lắng hỏi: "Này, sáng nay, tôi không thấy Lison đâu cả".
Bà không có vị trí nào trong gia đình. Bà là một kẻ xa lạ ngay cả với bà con ruột thịt, sống như một mảnh đất chưa có dấu chân người, những kẻ khi chết đi không hề để lại một lỗ hổng, một chỗ trống trong nhà, những kẻ không biết cách thâm nhập vào cuộc sống, thói quen, tình thương yêu của những ai sống quanh mình.
Vì thế, khi có người nhắc đến "dì Lison" thì hai tiếng đó chẳng hề khêu gợi một chút tình cảm nào trong lòng bất cứ ai trong gia đình hết. Thật chẳng khác gì khi họ nói đến "bình cà-phê" hay "lọ đựng đường" vậy.
Bước chân bà luôn luôn vội vã và im phăng phắc. Không bao giờ làm ồn, không bao giờ vấp váp, bà hình như biết cách truyền cho mọi vật cái thuộc tính không phát ra bất cứ một tiếng động nào. Bà sử dụng nhẹ nhàng và khéo léo mọi đồ vật đến nỗi người ta có cảm giác như hai bàn tay bà làm bằng bông.
Khoảng giữa tháng bảy, bà về đến nhà, trong lòng cực kỳ xao xuyến khi nghĩ đến đám cưới của cô cháu gái. Bà đem về một lô quà cưới, nhưng vì là của bà, nên quà đó hầu như chẳng được ai biết đến.
Bà về đến nhà hôm trước thì ngày hôm sau, mọi người đã không còn ai để ý là bà đã có mặt.
Thế nhưng lòng bà lại dào dạt một niềm xúc động khác thường và mắt bà theo dõi không ngớt đôi vợ chồng sắp cưới. Bà sôi nổi chuẩn bị đồ cưới cho cô cháu với một tinh thần hăng hái kỳ lạ. Bà làm việc một mình trong buồng riêng, không một ai đến thăm, hệt như một người thợ khâu bình thường,
Bà luôn luôn khoe với bà nam tước những khăn mù-soa mà bà đã tự viền lấy, những khăn tắm, khăn ăn mà bà đã thêu số vào, và hỏi: "Thế này có được không, chị Adelaide?" Mắt nhìn chểnh mảng các đồ vật dó, bà nam tước đáp: "Lison tội nghiệp của chị ơi, dì chẳng nên vất vả đến thế, dì ạ".
Vào khoảng cuối tháng, sau một ngày nóng hầm hập là một đêm trăng trong sáng lặng lờ. Đó là một trong những đêm trăng làm cho lòng người xao xuyến, rung động và phấn khởi, dường như mọi tình cảm thơ mộng thầm kín của tâm hồn đều thức tỉnh hết. Từ cánh đồng, gió thổi nhẹ vào phòng khách lặng lẽ. Ông bà nam tước uể oải đánh bài trong vòng tròn ánh sáng từ chiếc chao đèn hắt xuống mặt bàn. Dì Lison ngồi đan ở giữa hai ông bà. Đôi thanh niên đứng khoanh tay tựa vào cửa sổ, ngắm cảnh vườn tràn ngập ánh trăng.
Cặp cây bồ đề và cây ngô đồng gieo bóng xuống bãi cỏ rộng xanh mờ và lấp lánh kéo dài mãi tới cụm rừng tối đen.
Không sao cưỡng nổi sức hấp dẫn của cảnh đẹp êm đềm đêm đó, của ánh sáng mờ nhạt tỏa ra từ cây cối, vườn tược, Jeanne quay mặt vào bố mẹ: ”Bố ơi, cho phép chúng con đi dạo trên bãi cỏ trước lâu đài kia một vòng bố nhé!"
Không ngừng chơi bài, ông nam tước nói: "Ừ, các con đi đi!”
Hai người bước ra ngoài, đi chầm chậm trên bãi cỏ rộng sáng ánh trăng đến tận cụm rừng nhỏ trong cùng.
Đêm đã khuya, họ vẫn chưa muốn về. Mệt mỏi, bà nam tước muốn lên phòng đi ngủ. Bà nói: "Phải gọi cặp người yêu đó về thôi".
Ông nam tước đưa mắt nhìn khắp khu vườn rộng đầy ánh trăng trong đó có hai bóng người đang nhè nhẹ dạo chơi.
Ông nói: "Thôi cứ để yên cho các con, mình ạ. Ngoài kia, trời đẹp quá. Dì Lison sẽ chờ các cháu. Được chứ, dì?"
Người thiếu phụ muộn chồng ngước cặp mắt lo lắng nhìn lên và trả lời giọng rụt rè: "Vâng, nhất định em sẽ đợi các cháu".
Ông nam tước đỡ bà vợ dậy. Chính bản thân cũng cảm thấy mỏi mệt sau một ngày nóng bức, ông nói: "Tôi cũng đi ngủ đây". Rồi ông đi ra cùng với vợ.
Đến lượt dì Lison cũng đứng dậy. Đặt chiếc áo mới bắt đầu đan, cuộn len và cây kim đan lên trên tay ghế, bà bước tới khung cửa sổ, khoanh tay tựa vào đó và ngắm cảnh trời đêm đẹp đẽ.
Cặp vợ chồng chưa cưới đi đi lại lại không ngừng trên bãi cỏ, hết từ cụm rừng đến bậc thềm tam cấp trước nhà, lại từ đó trở lại cụm rừng. Họ nắm chặt tay nhau, không nói gì nữa, dường như tâm hồn họ đã thoát ra khỏi thân mình để quyện chặt vào cảnh thơ lồ lộ đang từ mặt đất lan rộng ra.
Chợt Jeanne nhìn thấy bóng người thiếu phụ muộn chồng nổi bật trên nền ánh sáng đèn trong khung cửa sổ.
Nàng nói: "Này anh, dì Lison đang nhìn chúng ta kìa".
Chàng tử tước ngẩng đầu và nói bằng cái giọng lãnh đạm, không chút nghĩ ngợi: "Ừ nhỉ, dì Lison đang nhìn chúng ta đấy".
Và họ lại tiếp tục mơ mộng, tiếp tục chậm rãi bước đi, tiếp tục yêu nhau.
Nhưng rồi sương đêm đã phủ đầy mặt cỏ. Trời mát lạnh đi, họ thoáng thấy rùng mình.
Nàng nói; "Bây giờ, ta về thôi".
Và họ trở vào.
Khi họ bước vào đến phòng khách, dì Lison lại tiếp tục đan, đầu cúi xuống tấm áo, những ngón tay gầy run rẩy chút ít, dường như đà mỏi mệt lắm.
Jan bước lại: "Dì ơi, dì đi ngủ đi thôi!"
Người thiếu phụ muộn chồng quay mặt đi. Mắt bà đỏ, tưởng như vừa mới khóc vậy. Cặp người yêu nào có chú ý gì tới điều đó. Chàng trai chợt nhận thấy đôi giày nhỏ nhắn của cô gái ướt đẫm, nước. Lòng nặng lo âu, anh âu yếm hỏi: "Đôi chân nhỏ bé yêu quý của cô không bị lạnh chứ?"
Thế là đột nhiên, những ngón tay của bà run rẩy mạnh lên, đến nỗi buông rơi mất tấm áo, cuộn len lăn tít mãi ra xa trên sàn nhà. Bà bỗng úp mặt vào hai bàn tay và khóc nức nở.
Cặp vợ chồng chưa cưới đứng sững ra, kinh ngạc. Jeanne ngồi thụp xuống, ngang đầu gối bà, gỡ tay bà ra, hoảng sợ hỏi không ngớt: "Dì làm sao thế, làm sao thế, dì Lison?".
Thế rồi người thiếu phụ tội nghiệp, giọng đầy nước mắt, thân hình co rúm lại vì đau buồn, ấp úng trả lời:
- Chính lúc anh ấy hỏi cháu: "Đôi chân nhỏ bé... yêu quý của cô... không bị lạnh chứ?" thì dì thấy có bao giờ... có bao giờ dì được ai nói với dì những lời như vậy đâu!"...
Jeanne ngạc nhiên và thương hại, nhưng lại muốn phá ra cười, khi nghĩ đến việc có thể có một người yêu nói với dì Lison những lời âu yếm như thế. Còn chàng tử tước thì quay đi để che giấu cảm giác thú vị của mình.
Nhưng bà dì đã đột nhiên đứng dậy. Bỏ mặc búp len dưới mặt đất và tấm áo trên ghế bành, bà chạy vụt lên chiếc cầu thang tối đen, không chút ánh đèn, mò mẫm tìm đường về phòng mình.
Đôi thanh niên ở lại một mình; họ nhìn nhau vui vẻ mà ái ngại. Jeanne thì thầm: "Tội nghiệp dì quá", Julien nói tiếp: "Đêm nay dì hơi điên sao ấy!"
Họ nắm tay nhau, chẳng nỡ rời và nhẹ nhàng, rất nhẹ nhàng trao cho nhau nhiều cái hôn đầu tiên ngay trước cái ghế bành mà dì Lison vừa bỏ lại.
Ngày hôm sau, họ chẳng còn nghĩ đến những giọt nước mắt của bà thiếu phụ muộn chồng kia nữa.
Trong hai tuần lễ trước ngày cưới, Jeanne thấy lòng mình, khá thanh thản và yên tĩnh, dường như nàng đã thấy thấm mệt với những nỗi xúc động dịu dàng.
Suốt buổi sáng của cái ngày quyết định, nàng cũng chẳng còn đủ thời giờ để suy nghĩ nữa. Nàng chỉ thấy một cảm giác trống rỗng to lớn trên khắp thân mình, dường như thể xác nàng, máu xương nàng đã tan ra dưới làn da và, mỗi khi động chạm đến đồ đạc, nàng nhận thấy ngón tay mình run rẩy nhiều.
Nàng chỉ tự chủ lại được mình vào lúc bản đồng ca nổi lên ở nhà thờ, trong giờ làm lễ cưới.
Có chồng. Thế là nàng đã có chồng! Chuỗi sự vật, động tác và sự kiện kế tiếp nhau kể từ bình minh ngày hôm đó, đối với nàng cứ như là một giấc mơ, một giấc mơ thật sự. Đây là lúc mà mọi vật quanh nàng đều như biến đổi hết. Ngay những cử chỉ cũng có một ý nghĩa mới và giờ khắc kia cũng hình như xê xích khỏi vị trí bình thường của chúng.
Nàng thấy mình bối rối và nhất là ngạc nhiên. Mới tối qua đây thôi, trong cuộc sống của nàng chưa có gì biến đổi cả, có chăng chỉ là niềm hy vọng thường xuyên của đời nàng đã trở nên gần gũi hơn, hầu như có thể nắm lấy được mà thôi. Đêm qua, khi đi ngủ, nàng còn là con gái, bây giờ nàng đã thành một người vợ.
Vậy là nàng đã vượt qua bức tường che giấu tương lai đầy ắp những niềm vui và hạnh phúc nàng hằng mơ ước. Nàng cảm thấy như có một cánh cửa đã mở trước mắt nàng, nàng sắp đi vào CÁI ĐIỀU CHỜ ĐỢI.
Hôn lễ đã kết thúc. Hai họ đi qua kho đồ thành gần như trống rỗng, không chút quà cưới, vì không một người khách nào được mời đến. Rồi hai họ ra về.
Khi hai họ vừa bước tới trước cổng nhà thờ, một tiếng nổ dữ dội đã làm cho cô dâu phải giật bắn mình và bà nam tước phải hét lên. Đó là loạt súng chỉ thiên bắn mừng của bà con nông dân. Súng tiếp tục nổ mãi cho đến lúc họ về đến trại Bạch Dương.
Một bữa ăn nhẹ buổi trưa được dọn riêng cho gia đình ông bà nam tước, hai vị linh mục - một của gia chủ, một của làng Yport, chú rễ và những người làm chứng được chọn trong số những gia đình canh tác lớn ở quanh vùng.
Sau đó, mọi người đi dạo một vòng vườn trong khi chờ đợi bữa ăn chính. Ông bà nam tước, dì Lison, viên xã trưởng và đức cha xứ Picot bước dạo trên con đường bà nam tước thường đi, còn ông linh mục kia thì rảo bước trên con đường phía trước mặt, miệng lâm râm đọc kinh cầu nguyện.
Từ phía bên kia của lâu đài, vọng lại tiếng ồn ào vui vẻ của bà con nông dân đang uống rượu tần dưới những gốc táo. Mọi người trong xứ, ăn mặc như trong ngày hội, đã kéo vào đầy sân. Con trai, con gái lượn theo nhau.
Jeanne và Julien đi qua vạt rừng, rồi leo lên bờ dốc, cùng im lặng đứng ngắm biển. Trời hơi lạnh; mặc dù đang giữa tháng tám, gió bấc thổi và vừng dương chói sáng giữa vòm trời xanh biếc.
Để tránh nắng, hai người vượt qua cánh đồng hoang, vòng về phía tay phải, nhằm hướng một thung lũng có rừng cây và địa hình uốn lượn chạy dài về phía làng Yport. Khi họ tới được rừng thì không còn một ngọn gió nào nữa. Họ bỏ đường cái, rẽ vào một đường mòn chạy trong bóng cây. Đường hẹp làm cho họ hầu như không đi sóng đôi được nửa. Nàng cảm thấy vòng tay chàng từ từ ôm lấy mình nàng.
Nàng không nói một lời, hơi thở hổn hển, đứt quãng. Những cành cây thấp vuốt ve tóc họ khiến cho họ phải cúi xuống mới qua được. Nàng hái một nhánh lá; hai con bọ rùa nép mình ở mặt dưới lá trông như hai mảnh vỏ ốc đỏ.
Hơi vững tâm, nàng ngây thơ nói: "Anh xem, cuộc sống chung của một cặp vợ chồng này".
Julien ghé miệng sát tai cô thì thào: "Đêm nay, cô sẽ là vợ tôi".
Mặc dù đã biết được khá nhiều điều từ hôm về làng, nàng vẫn mới chỉ nghĩ đến khía cạnh thơ mộng của tình yêu, nên nàng không khỏi ngạc nhiên: "Là vợ chàng ư? Mình chẳng đã là vợ chàng rồi sao?".
Thế rồi anh hôn cô, những cái hôn nhẹ và nhanh đặt trên trán, trên cổ, nơi mọc những sợi tóc xoăn thấp nhất. Chưa từng làm quen bao giờ với những cái hôn ấy của đàn ông, mỗi lần anh hôn, nàng lại ngạc nhiên đến sững sờ và, theo bản năng, lại nghiêng đầu né tránh những cử chỉ âu yếm đó, mặc dù nàng vẫn thấy thích thú đến mê mẩn cả người.
Đột nhiên họ nhận ra là đã đi đến mép rừng. Nàng dừng lại, xấu hổ vì thầy đã đi quá xa. Người ta sẽ nghĩ về việc này như thế nào đây? Nàng nói; "Ta quay lại đi thôi”.
Anh rút cánh tay đang siết quanh người nàng và, khi cả hai cùng quay lại, mặt họ gần nhau đến nỗi cảm thấy hơi thở của nhau. Họ nhìn nhau bằng cái nhìn không chớp mắt, nồng cháy thấm sâu, dường như hai tâm hồn đã hòa tan thành một. Họ tìm kiếm nhau trong mắt và đằng sau cặp mắt, trong cái bí ẩn không thể nào thâm nhập của lòng người. Họ thăm dò lẫn nhau trong một câu hỏi không lời và dai dẳng. Họ sẽ đối xử với nhau ra sao? Cuộc đời mà họ bắt đầu chung sống đây sẽ như thế nào? Trong cái cảnh mặt đối mặt lâu dài không thể nào tan vỡ nổi của hôn nhân, họ sẽ dành cho nhau những gì, niềm vui và hạnh phúc, hay lại là những ảo mộng tan tành? Cả hai đều cảm thấy hình như chưa từng thấy nhau bao giờ vậy.
Vịn hai bàn tay lên vai vợ, Julien bỗng bất thình lình đặt vào miệng nàng một cái hôn nồng nàn mà đời nàng chưa từng được nhận. Cái hôn đó đã thấm xuống, đã vào sâu đến tận cùng mạch máu và xuống tủy nàng, làm cho nàng rung lên một niềm xúc động bí ẩn và mãnh liệt đến nỗi phải cuống cuồng lấy cả hai tay đẩy Julien ra và, chút nữa, thì nàng bật ngã ngửa xuống.
Nàng ấp úng: "Ta đi đi thôi! Ta đi đi thôi!’’.
Anh không trả lời, chỉ cầm lấy tay nàng và giữ mãi nó trong tay mình.
Từ đó cho đến khi về tới nhà, họ không còn nói với nhau một lời nào nữa. Chiều hôm đó, những giờ còn lại có vẻ như dài dằng dặc.