Ngay ngày chủ nhật sau đó, do lòng vị nể tế nhị đối với ông linh mục thúc đẩy, bà nam tước và Jeanne đi lễ nhà thờ.
Cuối buổi lễ, họ lại nhắn mời ông đến ăn cơm trưa với gia đình vào ngày thứ năm sắp tới. Từ trong nhà thờ, ông cùng một chàng trai cao lớn và thanh nhã thân mật khoác tay nhau đi ra. Mới thấy mẹ con Jeanne, ông linh mục đã khoát tay tỏ ý ngạc nhiên một cách vui vẻ và kêu lên: "May mắn làm sao! Thưa bà nam tước và cô Jeanne, xin cho phép tôi giới thiệu người láng giềng của bà và cô, ngài tử tước Đe Lamare".
Vị tử tước nghiêng mình chào. Anh nói từ lâu đã có nguyện vọng muốn được làm quen với mẹ con bà nam tước, rồi anh tiếp tục trò chuyện thoải mái, tự nhiên, ra vẻ một người đàng hoàng, từng trải. Anh có một trong những khuôn mặt xinh xắn mà phụ nữ thường mơ tưởng nhưng lại đáng ghét đối với tất cả những ai thuộc giới đàn ông. Tóc anh đen xoắn phủ xuống vùng trán nhẵn bóng và rám nắng. Hai vệt lông mày rậm và đều đặn như kẻ làm cho đôi mắt tối, mà lòng trắng như pha chút sắc xanh da trời, có một cái nhìn sâu thẳm và trìu mến.
Hàng mi rậm và dài của anh đã giúp thêm cho cái nhìn đó một lợi khí hấp dẫn làm cho bà mệnh phụ kiêu kỳ trong các phòng khách phải bối rối và cô gái đội mũ vải, tay xách giỏ ngoài đường phố, phải quay đầu lại nhìn theo.
Vẻ đẹp ướt át của đôi mắt anh làm cho người ta tin ở chiều sâu của tư tưởng và làm cho mỗi lời anh thốt ra dù nhỏ nhặt cũng có vẻ trang trọng.
Bộ râu rậm, đen bóng và thanh che một cái hàm hơi quá to.
Họ chia tay sau khi đã chúc mừng nhau rất nhiều.
Hai ngày sau, De Lamare đến thăm gia đình nam tước.
Anh tới đúng lúc mọi người đang ngồi thử một chiếc ghế dài thô sơ mới đặt vào sáng hôm đó dưới bóng cây ngô đồng trước cửa sổ phòng khách. Ông nam tước muốn đặt thêm một cái nữa dưới bóng cây bồ đề để cho được đối xứng, nhưng bà lão không đồng ý vì bà vốn thù ghét sự cân đối. Khi được hỏi, De Lamare tán thành ý kiến bà nam tước.
Rồi anh nói về xứ này mà anh cho là "mỹ lệ" vì, trong lúc đi dạo chơi một mình, anh đã gặp nhiều "phong cảnh" đẹp mê hồn. Thỉnh thoảng cặp mắt anh, như ngẫu nhiên, lại bắt gặp đôi mắt Jeanne. Nàng chợt thấy một cảm giác lạ lùng về cái nhìn bất ngờ và vội quay đi đó, cái nhìn để lộ một sự chiêm ngưỡng vuốt ve và một mối thiện cảm vừa chớm nở.
Bố De Lamare, vừa chết năm trước, quen biết đúng một ngưòi bạn thân của cụ De Quyxtô (Cultaux), thân sinh của bà nam tước. Việc phát hiện sự quen biết đó làm nảy sinh ra một chuỗi những chuyện về thông gia, họ hàng, về ngày này, tháng nọ, tưởng nói mấy cũng không thể nào chấm dứt được. Bà nam tước cố moi trí nhớ, nhắc lại hết tổ tiên lại đến con cháu của các gia đình khác; bà nói cứ vanh vách, không chút lẫn lộn trong cái mớ bòng bong họ hàng dây mơ, rễ má ấy.
Xin ngài tử tước cho biết ngài đã nghe nói về gia đình Xônoa đ'ơ Vacphơlơ(Saunoy de Varfleur) chưa ạ? Người con trai cả của gia đình đó, ngài Gôngtorăng (Gontran) đã lấy một cô gái thuộc gia đình đe Cuốcxin (Coursil) làm vợ, cô này đâu như tên gọi Cuôcxin (Coursil) - Cuốcvi (Courville) gì đó, còn người con thứ thì lấy một cô em họ tôi, cô đơ La Rôsơ-ôbe (De la Roche-Aubert), cô này lại thông gia với gia đình Goridănggiơ (Crisange). - Và ông Goridănggiơ (Crisange) là bạn thân của cụ thân sinh tôi và hắn cũng quen biết cụ thân sinh của ngài tử tước.
-Thưa bà vâng ạ. Có phải cái ông Goridănggiơ (Crisange) đã di cư, còn người con trai thì đã phá sản đó không ạ?
- Chính ông ta đó. Ông ta đã xin hỏi bà cô tôi làm vợ, sau khi chồng bà này, ngài bá tước đ’Êretori (d’Éretry)qua đời. Nhưng cô tôi không chịu vì chê ông ta nghiện thuốc. Nhân chuyện này, xin hỏi ngài có biết gia đình Vinloazơ (Viloise) hiện nay ra sao không? Sau khi làm ăn thua lỗ, họ đã rời bỏ
xứ Turen (Touraine) năm 1813, đi lập nghiệp ở Ovechnhơ (Auvergne), và từ đó, tôi chẳng được tin gì về họ nữa.
- Thưa bà, tôi được biết là vị hầu tước già đó đã chết vì ngã ngựa. Ông có người con gái lớn lấy chồng người Anh, người con gái thứ hai lấy ông Batxôn (Bassolle) nào đó, nghe nói là một nhà buôn giàu có, đã làm xiêu được lòng cô ta.
Những tên người được biết và còn nhớ qua những câu chuyện ông bà cha mẹ từ thời thơ ấu lại được nhắc đến. Trong tâm trí họ, việc kết hôn giữa các gia đình môn đăng hộ đối ấy có tầm quan trọng như những sự kiện to lớn của đất nước. Họ nói về những con người chưa từng được thấy mà cứ như là đã quen biết nhiều rồi. Và ở những địa phương khác, chính những con người ấy cũng nói về họ cùng một kiểu như vậy. Xa xôi mà họ vẫn cảm thấy quen thuộc, hầu như đã là bè bạn và thông gia với nhau rồi. Đó chỉ là do một nguyên nhân: họ cùng ở một giai cấp, một đẳng cấp và cùng thuộc một dòng máu tương xứng với nhau.
Vốn là người không thích những lễ giáo gò bó, lại đã được giáo dục theo một kiểu không phù hợp chút nào với những ý nghĩ và thiên kiến của lớp người thuộc giai cấp đó, ông nam tước chẳng hề quen biết gì những gia đình quý tộc trong vùng. Ông hỏi De Lamare về những gia đình ấy.
De Lamare đáp: "Ồ, vùng ta nào có bao nhiêu quý tộc đâu!", giọng và lời cứ ỵ như khi anh nói vùng bờ biển này chẳng có bao nhiêu thỏ vậy, Rồi anh đi vào chi tiết; Ở khá gần quanh đó, chỉ có ba gia đình. Ông hầu tuớc đơ Cutơliê (De Coutelier), một thứ thủ lĩnh của giới quý tộc vùng Normande, ông bà tử tước đơ Brizơvin (Briseville), dòng dõi tuyệt vời, nhưng sống khá cách biệt; cuối cùng là bá tước đờ Fuốcvin (De Fourville), một ông ba bị ở lâu đài La Voriet (La Villette) bên cạnh một đầm nước, tay này nổi tiếng là hay bỏ mặc cho vợ phải buồn phiền, khổ não, để lao vào cuộc sống của một chàng thợ săn chính cống.
Một vài kẻ nghèo hèn mới phất, mua được đây đó một số đất đai, trang trại, chỉ giao dịch giữa họ với nhau. Ngài tử tước De Lamare chẳng hề quen biết họ.
Anh xin phép ra về. Cái nhìn cuối cùng của anh dành cho Jeanne, như để gửi nàng một lời chào tạm biệt riêng, thân tình và êm ái hơn.
Bà nam tước nhận xét anh dễ thương và nhất là rất đàng hoàng. Ông lão nói: "Vâng, chắc hẳn đây là một chàng trai rất có giáo dục".
Tuần lễ sau đó, họ lại mời anh đến ăn tối. Thế rồi, anh đến thăm họ thường xuyên.
Anh thường hay đến nhất vào khoảng bốn giờ chiều, ra gặp bà lão trên "con đường của bà", đưa tay cho bà khoác để bà thực hiện "sự luyện tập của mình". Còn Jeanne, nàng dìu bà ở cánh tay kia, và ba người cùng bước chậm rãi thẳng môt mạch từ đầu đến cuối con đường họ đi đi lại lại không ngừng. Anh không nói với cô gái một lời. Nhưng con mắt anh, đen mượt như nhung, thường tìm gặp đôi mắt giống như hai viên ngọc mã não màu xanh biếc của Jeanne.
Nhiều lần, anh cùng đi với Jeanne và ông nam tước xuống làng Yport. Một buổi chiều, lúc họ đang đứng trên bãi biển, lão Lastique bước đến, miệng không rời tẩu thuốc - thấy lão không ngậm tẩu, hẳn thiên hạ sẽ còn kinh ngạc hơn cả nếu thấy lão không có mũi - nói: "Thưa ngài nam tước, gió thế này thì nội nhật ngày mai cũng có thể vừa đi vừa về đến tận Étretat chẳng chút mệt nhọc gì đâu!".
Jeanne chắp hai tay lại: "Ôi bố! Bố có muốn đi một chuyến như vậy không?"
Ông nam tước quay lại De Lamare:
- Ngài đồng ý chứ, ngài tử tước? Chúng ta sẽ ăn trưa ở đó.
Và chuyến đi được quyết định ngay lập tức.
Jeanne dậy từ mờ sáng, đợi người bố mặc quần áo chậm hơn nàng. Hai bố con ra đi, bước trong sương sớm, đầu tiên là xuyên qua cánh đồng, rồi đến cụm rừng rộn rã tiếng chim. Chàng tử tước và lão Lastique đã ngồi sẵn trên một cái trục quay dây buộc xuồng đợi họ.
Hai dân chài khác đến giúp thêm vào việc cho xuồng đi. Cánh đàn ông tỳ vai vào mạn xuồng, hết sức đẩy. Họ tiến bước nặng nhọc trên mặt bằng đầy đá sỏi. Lão Lastique hết trườn mình xuống đuôi xuồng làm bằng các khúc gỗ lăn tròn có bôi mỡ, lại trở về chỗ đứng và, bằng một giọng kéo dài, lão hò mãi câu: Dô ta này! Để cầm chịch sức đẩy chung.
Khi ra đến triền dốc, bỗng nhiên chiếc xuồng lăn xuống, trượt băng trên đá sỏi tròn với một tiếng kêu như vải xé, rồi đột ngột dừng lại trên những con sóng nhỏ tung bọt. Mọi người bước xuống ngồi vào những chiếc ghế dài, hai bác dân chài còn ở lại trên bờ đẩy cho xuồng xuống nước hẳn.
Một làn gió nhẹ liên tục từ ngoài khơi thổi vào, lướt thoảng trên mặt nước lăn tăn. Buồm kéo lên và phình tròn chút ít. Chiếc xuồng êm ả ra đi, hơi đung đưa trên mặt biển.
Xuồng ra xa bờ. Ở phía chân trời, bầu trời thấp xuống, hòa lẫn với biển cả. Phía đất liền, vách đá cao dựng thang đứng ngả một bóng lớn xuống dưới chân, Từng mảng đất phủ cỏ xanh rực nắng làm cho vách đá đó loang lổ nhiều chỗ. Đằng kia, phía sau xuồng, những cánh buồm nâu từ dải đê biển Fêcăng (Fécamp) trắng toát đi ra, và đầu này, phía mui xuồng, một tảng núi đá hình thù kỳ dị, tròn trĩnh, có một khe hở nắng xuyên qua, trông giống như đầu một con voi khổng lồ đang nhúng vòi xuống nước. Đó là cửa nhỏ Êtorora (d’Estretat).
Hơi ngây ngất vì sóng biển đung đưa, Jeanne, tay nắm mạn thuyền, nhìn ra xa. Nàng có cảm giác trong vũ trụ này chỉ có ba thứ mới thực sự đẹp: ánh sáng, không gian và nước.
Mọi người im lặng. Lão Lastique cầm lái và dây buồm, thỉnh thoảng lại uống một ngụm rượu trong cái chai cất ở dưới ghế. Lão hút thuốc liên tục trong cái tẩu như không bao giờ tắt. Từ tẩu đó luôn luôn bốc lên một sợi khói xanh mỏng mảnh, đồng thời góc miệng lão cũng tuôn ra một tia khói giống y như vậy. Chẳng bao giờ thấy lão châm lửa cái tẩu đất đen như mun ấy. Cũng chẳng thấy lão nhồi thuốc vào đấy bao giờ. Thỉnh thoảng, lão lại giơ tay nhấc cái tẩu ra khỏi miệng và đúng ở nơi góc miệng nhả ra tia khói thuốc kia, lão khạc xuống biển một tia dài nước bọt màu nâu.
Thay chân một dân chài, ông nam tước ngồi ở phía trước coi buồm. Jeanne và De Lamare ngồi sát cạnh nhau làm cho cả hai đều bối rối. Một sức mạnh chưa bao giờ được biết khiến họ cứ phải nhìn nhau luôn. Như có một sự đồng cảm mách bảo, hai cặp mắt bắt gặp nhau cùng một lúc. Giữa hai người đã phảng phất thứ tình cảm quyến luyến tinh tế và mơ hồ thường xuất hiện rất nhanh giữa những cặp thanh niên, trai không xấu mà gái lại đẹp. Ngồi bên nhau, họ cảm thấy vui sướng, có lẽ bởi vì họ đang nghĩ đến nhau.
Mặt trời lên cao như để tiện ngắm nhìn mặt biển trải rộng phía dưới hơn, nhưng biển lại như đỏng đảnh, phủ lên mặt mình một lớp sương mù nhẹ, làm cho ánh nắng không rọi xuống đuợc. Đó là một thứ sương mù trong suốt rất thấp, vàng óng, không che kín gì hết nhưng vừa đủ để làm cho cảnh vật xa xa thêm dịu mát. Mặt trời xối lửa xuống, đun chảy thứ sương mù lấp lánh ấy cho đến lúc nóng dữ nhất thì sương bốc thành hơi, biến mất và mặt biển bóng nhẵn lên như một tấm gương lung linh rực sáng.
Jeanne hết sức xúc động, thì thầm: "Ôi! Đẹp biết chừng nào." De Lamare đáp: "Vâng, đẹp thật!" Ánh sáng trong trẻo của buổi sớm mai này làm cho lòng họ như đã nổi lên một tiếng vang đồng vọng.
Vòm vòng cung cửa d’ Estretat bỗng bất ngờ hiện ra, tựa hồ có hai chân đang lội dưới biển vậy. Vòm đủ cao để cho tàu thuyền qua lọt. Một mỏm đá trắng nhọn mọc sừng sững ở phía trước.
Xuồng cập bờ. Trong khi ông nam tước bước xuống trước, kéo dây để lôi xuồng vào thì De Lamare bồng Jeanne lên, đưa vào bờ để nàng khỏi bị ướt chân. Rồi hai người leo ngược triền đá sỏi rất dốc, sát bên nhau, lòng còn bồi hồi vì cái ôm choàng ngắn ngủi ấy. Họ bỗng nghe lão Lastique nói với ông nam tước: "Tôi thấy cô cậu đẹp đôi đấy!".
Bữa cơm trưa trong một quán ăn cạnh bãi biển thật là thú vị. Hồi nãy biển cả đã làm cho tiếng nói lặng đi và suy nghĩ chùng xuống khiến mọi người im lặng. Bây giờ, bữa ăn đã làm cho họ cười nói râm ran như những học sinh đi nghỉ hè vậy.
Những sự vật bình thường nhất cũng đem đến cho họ những niềm vui không tắt.
Khi ngồi vào bàn ăn, lão Lastique cất cẩn thận cái tẩu còn bốc khói vào trong chiếc mũ nồi làm cho họ phải bật cười. Một con ruồi, chắc bị cái mũi đỏ của lão thu hút, cứ bu mãi lên đó. Tay lão quá chậm nên chẳng bắt được mà chỉ xua đuổi nó đi. Con ruồi bay lên đậu vào một cái rèm the mỏng, bên cạnh nhiều con khác đậu sẵn ở đó. Hẳn là vẫn say mê rình mò cái mũi to bóng nhoáng của lão Lastique, nên chỉ lát sau thôi, nó lại bay vụt đến và đậu vào.
Mỗi chuyến bay như thế lại làm nổ ra một trận cười sặc sụa. Đến khi lão phát bực lên, than thở: "Ôi! Quỷ tha ma bắt mày đi, con ruồi ngoan cố!" thì Jeanne và De Lamare đã gục cả người xuống, lấy khăn ăn bịt chặt miệng lại để khỏi phải hét lên, cười đến ràn rụa cả nước mắt.
Uống cà-phê xong, Jeanne nói: "Ta đi dạo một chút chăng?" De Lamare đứng dậy, nhưng ông nam tước lại muốn ra nằm phơi nắng một lát trên bãi sỏi: "Thôi, mình con đi chơi với ông tử tước, một giờ nửa nhớ trở lại đây cho kịp về."
Hai người đi ngang qua mây túp lều và một lâu đài trông như một trang trại lớn, rồi đi vào một thung lũng không cây cối trải dài trước mặt. Lúc nãy, họ đã mệt mỏi và mất thăng bằng vì sóng nước, đói bụng vì gió mặn của biển cả, rồi lại chuếnh choáng, vì bữa ăn trưa và phấn khởi lên vì sự vui đùa. Bây giờ, họ cảm thấy trong người như có phần cuồng dại, những muốn chạy ùa đi như điên trên khắp cánh đồng. Jeanne thấy tai mình cứ ù cả lên và toàn thân rung động những cảm giác mới mẻ và mau lẹ khác thường.
Trời nắng đốt người. Hai ven đường, lúa chín ngả bông, gục xuống vì hơi nắng. Các loại dế, đông như cỏ, kêu ra rả; trong ruộng lúa mì, lúa mạch, trong bãi lác ven biển, đâu đâu cũng vang vang tiếng kêu lanh lảnh, đinh tai nhức óc của chúng.
Không một tiếng động nào khác nữa dưới bầu trời nóng như thiêu như đốt và xanh một màu xanh lấp loáng, úa vàng, tưởng chừng sắp đột nhiên đỏ rực lên, như kim loại đặt quá gần một lò lửa đang hừng hực cháy.
Thấy xa xa, ở phía phải, có một cánh rừng nhỏ, họ bèn đi tới đó.
Kẹp giữa hai bờ đất dốc, một lối đi hẹp chạy dưới những cây to rậm rạp, ánh nắng không thể xuyên qua. Từ lúc hai người bước vào, một khí lạnh mát, mốc meo bỗng bao trùm lấy họ, một khí lạnh ẩm ướt đến sởn cả gai ốc và thấm vào tận phổi. Thiếu ánh nắng và khí trời, cỏ chẳng mọc được, nhưng rêu thì phủ đầy mặt đất.
Họ bước tới, "Này, chỗ kia - Jeanne nói: - Chúng ta có thể ngồi nghỉ ở đó một lát". Nơi đó, có hai cây cổ thụ đã chết, làm cho tán lá của rừng bị khoét thành một lỗ trống. Một trận mưa ánh nắng trút xuống đó, sưởi ấm mặt đất, làm cho cỏ xanh, dây leo và những cây bồ-công-anh nảy mầm, nở ra những bông hoa nhỏ, cánh mỏng như sương, bên cạnh những bông hoa lồng-đèn trông giống như những tia lửa pháo.
Hàng ngàn thứ côn trùng, bươm bướm, ong mật, ong vò vẽ mập mạp, muỗi to như ruồi, bọ rùa màu hồng lốm đốm; những vật li ti dưới địa ngục, con màu xanh nhạt, con màu đen mà lại có sừng... tất cả đang đầy rẫy trong cái giếng ánh sáng chói lòa và nóng hực đào trong bóng râm lạnh lẽo của tán lá rậm rạp ấy.
Hai người ngồi xuống, đầu khuất trong bóng râm, chân phơi ra ngoài nắng. Họ ngắm nhìn tất cả cảnh côn trùng sống chen chúc hiện ra dưới ánh nắng mặt trời kia và Jeanne bỗng bồi hồi nhắc lại: "Ôi! Thật dễ chịu quá! cảnh nông thôn thật là thú vị biết bao! Có những lúc tôi cứ muốn mình được hóa thành con ruồi, con bướm náu mình trong hoa kia."
Họ nói về bản thân mình, về các thói quen, sở thích của họ bằng một giọng thỏ thẻ và thân mật qua những lời tâm sự. Chàng trai tự nói ra là mình đã chán ngấy cái thế giới này, chán ngấy cuộc sống vô vị của mình. Đời luôn luôn như vậy, chẳng có gì là có thật và chân thành hết!
Thế giới! Ôi, cô gái muốn được biết về nó biết bao, nhưng cô vẫn tin trước rằng nó chẳng thể nào bì được với cảnh nóng thôn này đâu.
Trái tim họ càng gần gũi thì họ càng xưng hô "thưa ngài", "thưa cô" một cách trang trọng hơn, con mắt nhìn nhau càng tươi cười, gắn bó hơn. Họ cùng cảm thấy hình như trong người họ đã nảy sinh một thiện cảm mới mẻ, một tình thương trìu mến chan hòa hơn, một mối quan tâm đến hàng ngàn sự vật chưa từng nghĩ đến.
Họ trở về, nhưng ông nam tước đã đi bộ đến thăm
hang "Buồng các cô gái" ở cheo leo trên một đỉnh vách đá. Họ ở lại quán ăn chờ ông.
Năm giờ chiều, ông mới về đến nơi, sau khi đã đi dạo chơi một quãng đường dài ven biển.
Khi mọi người đã leo lên hết, chiếc xuồng xuôi gió lừ đừ rời bến, không chút động đậy, cứ như là đứng im một chỗ vậy. Từng làn gió nhẹ và ấm thổi phồng cánh buồm lên giây lát rồi lại ngừng, làm cho buồm xẹp xuống, rũ rượi dọc thân cột. Nước biển mờ đục như nước ao tù. Mặt trời vẫn tiếp tục đi trên con đường cánh cung, như đã kiệt sức, phải nhẹ nhàng ngả mình xuống gần sát mặt nước.
Một lần nữa, cảnh êm ắng như tê dại của mặt biển lại làm cho mọi người im lặng.
Cuối cùng, Jeannne bật nói: "Chao ôi! Tôi thích đi đây, đi đó làm sao!".
Chàng trai tiếp: "Vâng, nhưng đi một mình thì buồn chết, ít nhất cũng phải có hai người để có thể trao đổi cảm tuởng chứ!".
Cô gái nghĩ: "Đúng vậy... nhưng mình vẫn thích đi chơi một mình hơn... Mơ mộng một mình mới thú vị làm sao!...".
Chàng trai nhìn cô gái hồi lâu: "Hai người vẫn có thể cùng nhau mơ mộng được!".
Nàng nhìn xuống: "Phải chăng đó là một lời bóng gió? Có lẽ thế". Nàng ngắm nhìn chân trơi như muốn phát
hiện ra một cái gì ở xa hơn nữa, rồi thủng thẳng nói: "Tôi muốn đi thăm Ý, thăm Hy-lạp.., à vâng! Hy-lạp.„ và đảo Coocxơ (Corse) nữa! Chắc hẳn nơi đó hoang dã và đẹp biết chừng nào!".
Anh thích Thụy Sĩ hơn vì ở đó có nhiều hồ và những căn nhà ván gỗ.
Nàng nói: "Không, tôi thích những mảnh đất mới toanh như đảo Corse (1) hoặc những xứ cổ kính và đầy kỷ niệm như Hy-lạp. Thật thú vị biết bao nếu tìm lại được dấu vết của những dân tộc mà chúng ta đã biết lịch sử của họ từ những ngày thơ ấu và nếu được tham quan những nơi xưa kia đã từng diễn ra các sự kiện lớn lao".
Không hào hứng bằng nàng, chàng tử tước tuyên bố: "Với tôi, nước Anh hấp dẫn hơn vì nơi đó có thể giúp ta học tập được rất nhiều".
Thế là, đảo qua khắp thế giới, họ tranh luận với nhau về cái hay đẹp của từng xứ, từ hai cực của quả đất cho đến vùng xích đạo, họ say sưa nói đến những phong cảnh tưởng tượng, những phong tục khó tin của một số dân tộc như người Trung Quốc và nguừi xứ Lapôni (Lapons) (2). Nhưng cuối cùng, họ vẫn đi đến kết luận rằng đất nước đẹp nhất thế giới chính là nước Pháp này với khí hậu ôn hòa, mùa hè mát mẻ, mùa đông ấm áp, với nông thôn trù phú, những rừng cây xanh tốt, những dòng sông lớn hiền hòa, với lòng tôn sùng mỹ thuật không đâu bì kịp, kể từ những thế kỷ vĩ đại cổ Hy-lạp cho đến ngày nay.
Rồi họ im lặng.
Mặt trời xuống thấp hơn, trông như đang chảy máu. Một tia ánh sáng lớn, một con đường chói lòa chạy dài trước mặt nước, từ ranh giới của đại dương nơi xa thẳm kia tới vệt nước sau xuồng.
Những cơn gió cuối cùng đã dứt. Mặt biển không còn một vết gợn. Cánh buồm im phăng phắc nhuốm đỏ. Một sự êm ả vô biên dường như đang làm cho không gian ngưng đọng lại và muôn vật phải im lìm trước sự gặp gỡ này của những thế lực chủ yếu [3] . Giống một cô gái hình thù quái dị gần đến ngày kết hôn, biển cả uốn cong lên trời cái bụng bóng nhẫy và đầy chất lỏng, chờ đợi người tình rực lửa đang sà xuống với mình. Mặt trời vội vã sà thấp, đỏ rực lên như bởi lòng ham muốn, ôm chầm lấy biển. Hai bên chạm nhau. Biển từ từ nuốt chửng mặt trời.
Một luồng gió mát từ chân trời lướt tới; một cái rùng mình làm nhăn nheo bộ ngực chuyển động của nước biển, tưởng chừng mặt trời, vào lúc bị tiêu diệt, cơn gió thổi lên cảnh vật một hơi thở dài dịu mát.
Hoàng hôn qua mau. Trời đêm trải rộng, đầy sao. Lão Lastique khua mái chèo. Biển lấp lánh lân tinh, Jeanne và De Lamare ngồi cạnh nhau nhìn những điểm sáng di động kéo thành vệt sau xuồng. Hầu như không còn suy nghĩ gì hết, họ mơ hồ ngắm cảnh và thở hít khí trời đêm với một cảm khoái ngọt ngào. Ngẫu nhiên, một ngón tay của chàng trai bỗng đặt nhẹ lên bàn tay đang chống lên trên ghế ngồi của cô gái. Nàng ngồi im, không động đậy, kinh ngạc, vui sướng và thẹn thùng về sự tiếp xúc hết sức nhẹ nhàng ấy.
Đêm đó, khi về đến phòng riêng, nàng thấy lòng mình xao xuyến lạ thường và cảm động đến nỗi bất cứ cái gì cũng có thể làm cho nàng muốn khóc. Nhìn chiếc đồng hồ, nàng nghĩ rằng cái quả lắc có hình con ong ấy giống như một trái tim đang đập, một trái tìm bè bạn, nó sẽ chứng kiến cả cuộc đời nàng và tiếng tích tắc thanh thanh, đều đặn ấy sẽ là người bạn đường của từng niềm vui, nỗi buồn của nàng. Nàng giữ quả lắc lại và đặt lên cánh con ong vàng một cái hôn. Nàng có thể ôm hôn bất cứ một thứ gì. Nàng chợt nhớ ra còn cất trong đáy ngăn kéo từ lâu lắm một con búp-bê cũ. Tìm ra nó, nàng thấy vui như khi ta gặp lại người bạn hết sức mến yêu. Siết chặt con búp-bê vào ngực, nàng không ngớt đặt lên cặp má tô màu và mái tóc quăn vàng của nó những cái hôn nồng cháy.
Nhìn con búp-bê nằm trong vòng tay, nàng suy nghĩ vẩn vơ.
Có phải chăng chàng đúng là người chồng mà muôn ngàn tiếng nói thầm kín đã từng hứa hẹn với nàng và nay đã được đấng Thiên thần hộ mệnh đức độ tuyệt trần kia đem đến cho nàng trên bước đường đời? Phải chăng đó chính là con người mà tạo hóa đã sinh ra cho nàng và nàng sẽ phó thác cả cuộc đời mình cho người ấy? Phải chăng nàng và chàng chính là hai con người, theo tiền định, sẽ phải âu yếm nhau, siết chặt lấy nhau, hòa vào nhau làm một và tạo nên tình yêu?
Nàng vẫn hoàn toàn chưa có được những phút sôi nổi lôi cuốn toàn bộ tâm hồn, những say mê cuồng dại, cái tình cảm sâu sắc và cuồn cuộn mà nàng cho là tình yêu say đắm. Tuy vậy, nàng vẫn cảm thấy đã bắt đầu yêu chàng vì có lúc người nàng rã rời đi khi nghĩ đến chàng và nàng đã nghĩ đến chàng không ngớt. Gặp chàng, nàng thấy lòng xao xuyến. Nàng thấy thèn thẹn và tái mặt đi lúc bắt gặp cái nhìn của chàng. Nàng rùng mình khi nghe thấy tiếng chàng nói.
Đêm đó, nàng ngủ rất ít.
Thế là ngày lại ngày, lòng ham muốn yêu đương càng làm rối loạn và tràn ngập tâm hồn nàng. Nàng tự hỏi lòng mình không ngớt. Và nàng bói: bói hoa cúc, bói mây, tung tiền lên mà bói.
Một buổi tối, bố nàng bảo: "Sáng mai, con sửa soạn cho đẹp vào nhé!” Nàng hỏi: "Để làm gì bố?" Bố nàng đáp; "Bí mật!".
Hôm sau, khi bước xuống nhà, hết sức tươi tắn trong bộ quần áo sáng sủa, nàng đã thấy trên chiếc bàn phòng
khách bầy kín những hộp kẹo và trên ghế đặt một bó hoa to.
Một cỗ xe tiến vào trong sân. Xe mang dòng chữ: "Lơra (Lerat), hiệu bánh ngọt ở Pêcâng (Fécamp). Tiệc cưới." Cô đầu bếp Luyđivin (Ludivine) được một tay phụ bếp giúp sức nhắc nắp hòm phía sau xe, kéo ra những cái rổ đẹp thơm phưng phức.
Tử tước De Lamare xuất hiện. Quần anh thắng tấp, ống nhét trong đôi ủng bóng nhoáng và xinh xắn chứng tỏ đôi bàn chân nhỏ nhắn. Tấm áo lễ dài bó sát thân, xẻ ở trước ngực, để lộ những hình đăng-ten trên cánh áo lá sen bên trong. Chiếc cà-vát thắt nhiều vòng buộc anh phải ngửng cao mái tóc đen và đẹp, thấm đượm một vẻ tao nhã trang nghiêm. Trông anh có một vẻ gì đó khác ngày thường, cái vẻ đặc biệt có thể nhận ra ngay trên gương mặt những người ta quen biết nhất, mỗi khi họ ăn mặc đẹp.
Jeanne sững sờ nhìn anh, như thể nàng chưa từng thấy anh bao giờ. Thật là phong nhã phi thường, đại quý tộc từ đầu đến gót!
Anh tươi cười nghiêng mình chào: "Thế nào, cô em thân mến, cô đã sẵn sàng chưa?"
Nàng ấp úng: "Nhưng... sao cơ ạ? Có chuyện gì thế?" Ông nam tước nói; "Chuyện gì thì lát nữa, con sẽ biết". Chiếc xe đã thắng ngựa tiến vào. Từ phòng riêng, bà Adélaide ăn mặc rất sang trọng, tay vịn vào Rosalie đang bước xuống. Trước vẻ thanh lịch của De Lamare, Rosalie tỏ ra xúc động đến nỗi ông nam tước phải nói thầm vào tai anh: "Ngài tử tước ơi, ngài thấy không, cô hầu của chúng tôi cũng đang chết mệt vì ngài rồi đó!”.
Anh đỏ bừng cả hai tai nhưng giả bộ không nghe thấy, cầm vội lấy bó hoa đưa tặng Jeanne. Nhận bó hoa, Jeanne càng thấy kinh ngạc hơn. Cả bốn người cùng lên xe. Cô đầu bếp Ludivine bụng đến một bát xúp nguội để bà nam tước dùng cho thêm sức. Cô nói: "Thưa bà, quả thật cứ y như một đám cưới vậy".
Đến làng Yport, bốn người xuống xe. Họ càng đi sâu vào làng, những người dân chài mặc quần áo mới còn nguyên nếp càng ra khỏi nhà đông hơn. Những người này chào hỏi, bắt tay ông nam tước rồi đi theo sau như đi theo một đám rước.
De Lamare giơ tay cho Jeanne khoác và cùng đi với nàng ở hàng đầu.
Đến trước cổng nhà thờ, mọi người dừng lại. Một chú lễ sinh của giáo đường trịnh trọng cầm một cây thập giá to bằng bạc bước ra, đằng trước em là một chú bé khác, quần áo nửa đỏ, nửa trắng, tay bưng bình nước thánh có cắm sẵn một nhánh cây để rảy.
Tiếp theo sau là ba vị hát kinh, trong đó có một người thọt chân, rồi đến người thổi kèn và sau cùng là ông linh mục, tay nâng chiếc khăn lễ vàng chóe vắt chéo trên cái bụng phưỡn. Ông này mỉm cười và gật đầu ra hiệu chào. Mắt lim dim, môi mấp máy cầu nguyện, chiếc mũ dẹp màu đen sụp xuống tận mũi, ông bước theo đoàn quân xúng xính áo lễ trang của mình đi ra phía bãi biển.
Ở đây, một đám đông người đã đợi sẵn, vây quanh một chiếc thuyền mới có kết hoa. Cột buồm, cánh buồm, dây buộc đều kết đầy những dải băng tung bay trong gió. Tên của chiếc thuyền, "Jeanne'’, được viết bằng chữ vàng ở phía sau tay lái,
Lão Lastique, người chủ của chiếc thuyền đóng bằng tiền của ông nam tước, bước đến trước mặt đám rước. Khi trông thấy cây thập giá, tất cả đám đàn ông bỏ mũ xuống một loạt, còn cả dãy các bà tín đạo, trùm kín trong những chiếc áo choàng đen rộng nếp to, quỳ sụp xuống thành một vòng tròn.
Ông linh mục đi giữa hai chú lễ sính, bước về phía mũi thuyền. Ba vị hát kinh già đứng ở đang lái, cằm đầy râu và vẻ mặt trịnh trọng, Quần áo họ trắng toát nên càng lộ rõ cáu bẩn. Họ chằm chằm nhìn vào cuốn thánh ca, gân cổ hát vang lên mãi giữa buổi sớm mai trong trẻo.
Mỗi lúc ba vị đó ngừng lại để lấy hơi, chỉ còn có ông thổi kèn tiếp tục thổi rống lên. Má ông căng tròn làm cho cặp mắt nhỏ và xám của ông biến mất. Ông thổi hết hơi, hết sức đến nỗi làm da trán, da cổ tưởng đến bong ra, không còn dính vào thịt nữa.
Biển im lìm và trong suốt khẽ đưa những làn sóng nhỏ, cao không quá một ngón tay, rì rào cào nhẹ vào bãi sõi. Biển như cũng giữ vẻ trầm tư để tham dự vào buổi lễ đặt tên và hạ thủy chiếc thuyền. Những con hải âu to, lông trắng, sải cánh vút qua, vạch những đường cong trên nền trời xanh. Chúng bay đi, bay lại thành vòng tròn trên đám đông người quỳ gối như thể muốn xem người ta đang làm gì vậy.
Nhưng bài hát đã chấm dứt sau một loạt tiếng gào to "Amen" kéo dài năm phút. Ông linh mục, giọng lê thê như tiếng gà cục tác tuôn ra một tràng tiếng La-tinh mà người ta chỉ nghe rõ được mấy âm hữu thanh tận cùng.
Sau đó, ông đi vòng quanh thuyền, vừa đi vừa vẩy nước thánh, rì rầm đọc một bài kinh thánh trước mặt chàng trai và cô gái, những người đỡ đầu cho chiếc thuyền, đang nắm tay đứng lặng im bên mạn thuyền.
Chàng trai vẫn giữ được nét mặt trịnh trọng đẹp trai, nhưng cô gái thì rã rời và nghẹn ngào vì con xúc động bất ngờ, đến nỗi phát run lên, răng đánh vào nhau cầm cập. Như một ảo giác, niềm mơ ước ám ảnh nàng từ ít lâu nay bỗng nhiên đang có vẻ trở thành hiện thực; có ai đó vừa mới nói đến đám cưới; một vị linh mục đang đứng cầu nguyện và, kia, những người mặc áo lễ trắng đang đứng ê a tụng kinh. Chẳng phải người ta đang gả chồng cho nàng đó sao?
Phải chăng thần kinh bị kích động đang làm cho ngón tay nàng run lên? Liệu nỗi ám ảnh trong trái tim nàng có truyền qua mạch máu tới trái tim con người đứng cạnh nàng đây không? Chàng có hiểu không, có đoán được không? Chàng có giống như nàng đang tràn ngập trong một niềm yêu đương ngây ngất không? Hay là chàng chỉ theo kinh nghiệm cũ mà biết thêm một lần nữa không một người đàn bà nào có thể cưỡng nổi lại chàng? Đột nhiên, nàng bỗng thấy anh bóp bàn tay nàng, lúc đầu còn nhè nhẹ, sau mạnh dần, mạnh nữa, tưởng đến vỡ nát ra. Rồi thì, không một chút biến đổi trên nét mặt, không một ai hay biết gì cả, chàng nói, vâng, đúng là chàng nói, nói rất rành rọt: "Jeanne ơi! Nếu cô đồng ý, buổi lễ đặt tên cho cái thuyền này sẽ là lễ đính hôn của đôi ta".
Nàng cúi đầu xuống rất chậm, có lẽ nàng muốn nói một tiếng "vâng”. Ông linh mục vẫn tiếp tục vẩy nước thánh, làm văng vài giọt lên tay hai người.
Buổi lễ đến đó là hết. Các bà đứng dậy. Cảnh trở về thật là hỗn loạn. Trong bàn tay của cậu bé lễ sinh, cây thập giá đã mất hết cả vẻ trang nghiêm; nó chạy vun vút, hoặc nghiêng bên phải, nghiêng bên trái, hoặc chúi về phía trước, sẵn sàng bổ nhào xuống đất. Ông linh mục đã thôi không cầu nguyện nữa, đang lồng lên như ngựa vía ở phía sau. Các vị hát kinh và thổi kèn đã biến mất vào một ngõ nhỏ để được trút bỏ áo quần càng sớm càng tốt. Từng tốp dân chài đang đi vội vã. Một ý nghĩ chung đang bốc lên trong đầu họ như một mùi món ăn ngon lành, làm cho chân họ thêm dẻo và miệng họ chảy nước miếng. Ý nghĩ đó chui vào đến cả đáy bụng họ, làm cho ruột già, ruột non cũng cất tiếng ca vui.
Một bữa ăn thịnh soạn đang chờ đón họ ở lâu đài Bạch Dương.
Chiếc bàn ăn to kê ngoài sân, dưới những cây táo. Sáu chục dân chài và nông dân ngồi vào bàn. Bà nam tước ngồi giữa, hai bên là hai vị linh mục, một của làng Yport, một của lâu đài Bạch Dương. Trước mặt bà là ông nam tước ngồi giữa vợ chồng ông xã trưởng. Người vợ, một bà quê mùa vừa già vừa gầy, không ngớt chào khẻ mọi người. Khuôn mặt bà ta đã quắt lại bị cái mũ to kiểu Normand bó chặt cứng nên trông chẳng khác một cái đầu gà, mà trắng. Đôi mắt bà tròn xoe và luôn luôn kinh ngạc. Bà ăn từng miếng nhỏ và nhanh tưởng chừng mũi bà mổ vào cái đĩa.
Ngồi cạnh De Lamare, Jeanne đang ngụp lặn trong hạnh phúc. Đầu óc tràn ngập những niềm vui, nàng không nhìn thấy gì hết, không biết gì hết và không nói gì hết.
Nàng hỏi anh; "Vậy tên thường gọi của anh là gì?"
Anh đáp: "Juyliêng.(Julien) Cô chưa biết sao?"
Không trả lời anh, nàng nghĩ: "Ôi cái tên này, tôi sẽ luôn luôn nhắc đến nó đấy!"
Sau bữa ăn, để mặc cái sân cho đám dân chài và nông dân, chủ và khách đi sang phía bên kia lâu đài. Bà nam tước lại tiếp tục cuộc tập luyện mình, dựa vào ông nam tước, và có hai linh mục đi kèm. Jeanne và Julien đi dạo tới tận vạt rừng cây và bước vào những con đường nhỏ rậm rạp. Bất thình lình, anh bỗng nắm lấy bàn tay nàng: "Xin cô nói đi, cô có muốn làm vợ tôi không?"
Nàng cúi đầu xuống và, khi nghe anh lắp bắp nói: "Tôi van cô, cô hãy trả lời đi!", nàng ngước mắt lên nhìn anh hết sức dịu dàng. Anh đã đọc được câu trả lời trong đôi mắt ấy.
Chú thích:
[1] Corse: Hòn đảo lớn ở phía Tây Nam nước Pháp, trên biển Địa Trung Hải, quê hương của Napoléon Bonaparte.
[2] Lapons: Vùng đất cực Bắc các nước Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan và một phần Liên Xô ngày nay.
[3] Nền văn minh cổ phương Tây chỉ công nhận có bốn thế lực chủ yếu là: đất, không khí, nước và lửa