Một Cuộc Đời

Lượt đọc: 2047 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG II

Đối với Jeanne, một cuộc sống vui tươi và tự do đã bắt đầu. Nàng đọc sách, mơ mộng và đi lang thang một mình khắp vùng xung quanh. Bước chân chầm chậm, tâm trí bay bổng vào những ước mơ, nàng thơ thẩn men theo các con đường, hoặc vừa nhảy nhót vừa chạy xuống những thung lũng nhỏ quanh co, hai triền dốc phủ đầy hoa kim tước, trắng như cái áo choàng ngày lễ dát vàng. Mùi hương nồng đượm và ngát thơm của hoa càng bốc mạnh hơn trong nắng ấm, làm nàng ngây ngất như hương vị của một thứ rượu nho thơm. Hòa nhịp với tiếng sóng xa rì rào lăn trên bãi biển, tâm trí nàng cũng được ru nhẹ. 

Đôi lúc, nàng mềm người nằm ngả xuống bãi cỏ rậm trên một triền dốc, và cũng đôi lúc, ở một khúc ngoặt của thung lũng, trong một trũng đất đầy cỏ xanh, nàng chợt thấy một góc biển hình tam giác xanh tươi và lấp lánh dưới ánh nắng, với một cánh buồm thấp thoáng phía chân trời, lúc đó, nàng bỗng thấy xuất hiện những niềm vui hỗn độn như ta thường cảm thấy mỗi khi hạnh phúc đang bí mật đến gần bao phủ quanh ta.

Trong cảnh dịu dàng của vùng đất mát mẻ ấy, trước những chân trời êm ả và tròn trịa, nàng rất thích được cô đơn, được ngồi im trên các đỉnh đồi và ngồi lâu đến nỗi những con thỏ rừng dám nhảy nhót chạy qua ngay dưới chân nàng.

Nàng thường thích chạy trên bờ vách đá thẳng đứng để cho làn gió biển nhẹ nhàng phủ vào người khiến toàn thân nàng run lên một cảm khoái ngọt ngào qua sự vận động không thấy mệt giống như cá lội trong nước và chim én lượn trên trời.

Nàng gieo rắc khắp nơi những kỷ niệm như gieo hạt cho đất, loại kỷ niệm mà gốc rễ sẽ bám chặt vào tâm trí ta đến trọn đời. Nàng cảm thấy như đem một phần trái tim mình rải xuống từng nếp đất của các thung lũng ấy.

Nàng say sưa tắm biển. Mạnh khỏe và táo bạo, không hề biết nguy hiểm là gì, nàng bơi xa đến mức trên bờ không còn thấy rõ nàng nữa. Nàng cảm thấy thú vị được ngâm mình trong làn nước xanh lành, trong vắt, dập dờn đưa đẩy nàng đi. Khi đã bơi ra xa bờ, nàng lật ngửa mình, hai tay khép lại trên ngực, đôi mắt đắm nhìn bầu trời xanh thẳm đang có một cánh én hay một bóng chim biển trắng toát vun vút bay qua. Tai nàng không còn nghe thấy gì khác ngoài tiếng thì thầm xa xa của sóng vỗ vào đá sỏi và tiếng động mơ hồ của đất liền còn lọt đến tai qua những đường uốn lượn của sóng, nhưng rất lẫn lộn, hầu như không sao nghe rõ được,

Thế rồi, Jeanne vùng hẳn mình lên, cực kỳ vui thú vung tay đập nước, miệng cất tiếng lanh lảnh kêu lên.

Đôi lần, thấy nàng mải miết bơi quá xa, bố nàng phải cho thuyền ra tìm về.

Nàng về đến lâu đài, đói bụng đến xanh cả người, nhưng nhẹ nhõm, hoạt bát, nụ cười trên môi và hạnh phúc tràn đầy đôi mắt.

Về phần mình, ông nam tước đang nghiền ngẫm nhiều kế hoạch làm ăn lớn về nông nghiệp. Ông muốn thực hiện những cuộc thí nghiệm và cải tiến, muốn dùng thử những nông cụ mới, thích nghi khí hậu cho những giống lúa lạ. Hàng ngày, ông dành thời giờ để bàn bạc với bà con nông dân, nhưng họ lắc đầu, không tin tưởng mấy vào các dự định của ông.

Ông cũng thường đi biển với dân chài làng Yport. Sau khi đã thăm các hang động, các suối nước và những mõm núi nhọn khắp vùng biển xung quanh, ông cũng muốn đánh cá như một dân chài bình thường.

Những ngày lộng gió, khi cánh buồm phồng căng kéo chiếc thuyền bạnh má chạy băng băng trên mặt sóng, và từ hai bên mạn thuyền, sợi dây to xâu lưới thả xuống tận đáy biển đang rẽ sóng lướt đi, theo sau có hàng đàn cá Macơrô (marquereaux) đuổi theo, thì ông khắc khoải nắm trong bàn tay run rẩy của mình một sợi dây nhỏ, hễ nó rung lên tức là cá đã vào tròng, đang dãy dụa.

Ông ra biển từ lúc trời còn trăng, để kéo những mẻ lưới đặt từ tối hôm trước. Ông thích được nghe tiếng kêu răng rắc của cột buồm, được hít thở những làn gió biển vi vu và mát mẻ trong đêm. Sau khi đã nhắm một mỏm đá, một mái tháp chuông hay ngọn đèn pha Fêcăng(Fécamp) làm chuẩn và thả thuyền cho chạy vát hồi lâu để tìm lại các phao neo trên biển, ông thích để cho thuyền nằm im trên sóng, dưới những tia nắng đầu tiên của mặt trời mới mọc đang chiếu sáng tấm lưng nhầy nhụa của những con cá đuôi to bề xòe ra như cái quạt và cái bụng béo nhẫy của những con cá chim hoa.

Mỗi bữa cơm, ông hào hứng kể lại những chuyến đi biển của mình, còn bà thì nói cho ông nghe hôm đó bà đã đi bộ được bao nhiêu lần trên con đường bạch dương bên phải, phía ấp trại cửa bác Cuia(Couillard), chứ không phải con đường bên trái, thiếu ánh mặt trời kia.

Được thầy thuốc khuyên nên "năng vận động", bà rất chịu khó đi dạo. Mỗi buổi sáng, lúc khí lạnh trời đêm vừa tan hết, bã đã ra khỏi nhà, tay vịn vào Rôzali (Rosalie), mình mang áo khoác và hai tấm khăn choàng, đầu bịt một mũ đen lồng thêm một mũ nịt đỏ.

Cứ như thế, bà bắt đầu cuộc đi dạo tưởng như không bao giờ dứt, theo một vạch thẳng từ góc của lâu đài đến những lùm cây nhỏ đầu tiên của vạt rừng, vừa đi vừa kéo lê bàn chân trái hơi nặng hơn chân phải, để lại suốt chặng đường hai vệt bụi kéo dài, vì cỏ ở đó đã bị giẫm đến chết héo đi cả rồi, một vệt do lượt đi và một vệt do lượt về vạch nên. Bà đã cho đặt ở mỗi đầu chặng đường đó một chiếc ghế dài: cứ năm phút một, bà lại dừng chân, nói với cô hầu kiên nhẫn và tội nghiệp đang dìu bà: "Con ạ, ta nghỉ thôi, mẹ ơi mệt rồi!".

Cứ mỗi lần dùng chân như vậy, bà lại bỏ bớt trên ghế, lúc thì cái mũ nịt, lúc thì một trong hai tấm khăn choàng, rồi đến cái mũ đen, cái áo khoác, tất cả những thứ đó chất thành hai đống khăn áo ở hai đầu đường, cứ đến giờ ăn trưa, Rosalie lại phải dừng cánh tay còn rảnh của mình ôm lấy đem về.

Buổi chiều, bà nam tước vẫn tiếp tục đi dạo, nhưng với một dáng đi uể oải hơn, những đợt nghỉ kéo dài hơn; thỉnh thoảng có lúc bà phải nằm ngủ đến một tiếng đồng hồ trên một ghế tựa dài đã được đẩy sẵn đến cho bà.

Bà gọi việc đi dạo đó là sự "luyện tập" của mình cũng như khi bà nói: "bệnh phù tim của tôi". Mười năm trước, một người thầy thuốc đến khám chứng khó thở cho bà đã nói đến bệnh phù tim. Từ đó, chữ này đã ăn sâu vào đầu óc bà, mặc dù bà chẳng hiểu hết nghĩa của nó. Bà dai dẳng bắt hết ông nam tước, đến Jeanne và Rosalie sờ nghe tim cho bà, nhưng chẳng ai nghe thấy gì hết, vì nó đã bị lèn chặt dưới lớp ngực đồ sộ kia rồi. Tuy vậy, bà vẫn kiên quyết cự tuyệt không chịu để cho bất cứ một thầy thuốc nào khám nữa, vì sợ bị phát hiện thêm những chứng bệnh khác. Bà nói về bệnh phù tim "của bà" trong mọi câu chuyện và nói nhiều đến nỗi hình như đó là một chứng bệnh đặc biệt, một vật duy nhất của riêng bà không một ai khác có quyền động chạm đến.

Ông nam tước nói: "bệnh phù tim của nhà tôi" và Jeanne: "bệnh phù tim của mẹ" cứ y như khi nói: "cái áo, cái mũ, cái ô" của bà vậy.

Khi còn trẻ, bà rất đẹp và mảnh dẻ hơn cả một cây sậy. Sau khi đã nhảy điệu Valse với tất cả các sỹ quan của triều Đế chế, cô Adelaide thời ấy đã đọc tiểu thuyết Côrinnơ (Corinne) và đã khóc vì cô. Từ đó, cuốn truyện như đã để lại dấu vết trên người cô.

Cơ thể càng béo dần ra tâm hồn bà nam tước càng có những bước phát triển thơ mộng hơn, và đến khi bệnh phát phì đã như đóng đinh bà xuống chiếc ghế bành, tâm trí bà lại bay bổng lang thang qua nội dung các truyện tình mà bà thường tự coi mình như là nhân vật chính của truyện. Giống như một hộp đàn có tay qua cứ nổi đi nổi lại mãi một điệu nhạc, bà không ngừng mơ tưởng đến những nhân vật nữ mà bà yêu mến nhất. Tất cả những bản tình ca sầu thảm có nói đến những người con gái bị bắt và chim én đều không tránh khỏi làm cho bà ứa nước mắt. Thậm chí bà yêu thích cả đến một vài bài hát thông tục của Bêrăngjê (Béranger)[1] vì những nỗi luyến tiếc diễn tả trong những bài hát đó.

Chứng bệnh đặc biệt, một vật duy nhất của riêng bà không một ai khác có quyền động chạm đến.

Bà hay ngồi lặng đi hàng mấy giờ liền, chìm đắm, bay xa vào những điều suy tưởng. Bà hết sức yêu thích khu nhà Bạch Dương vì khung cảnh của nó phù hợp với những mơ mộng của tâm hồn bà. Với giải đồng hoang vắng vẻ, với biển cả kề bên, khung cảnh ấy gọi cho bà nhớ đến các cuốn truyện của Oantơ Xcốt (Walter Scott) bà đã đọc từ mấy tháng nay.

Những ngày mưa, bà ở lỳ trong buồng để thăm lại cái mà bà gọi là những "vật thánh". Đó là tất cả những thư từ cũ, thư của bố mẹ bà, thư của ông nam tước khi bà còn là vợ chưa cưới của ông và nhiều thư khác nữa.

Bà cất những thư ấy trong ô kéo một cái tủ kiêm bàn viết bằng gỗ đào hoa-tâm, bốn góc có bốn con vật đầu người, mình sư tử, bằng đồng. Bằng một giọng nói đặc biệt, bà bảo: "Rosalie, con gái mẹ, hãy đem cái ô kéo kỷ niệm ra đây cho mẹ nào!" Cô hầu gái mở bàn, rút cái ô kéo ra, đem đặt lên một chiếc ghế bên cạnh bà chủ. Bà từ từ đọc từng lá thư một, thỉnh thoảng lại nhỏ lên trang giấy một giọt nước mắt.

Đôi khi Jeanne thay Rosalie đưa mẹ đi dạo và nghe mẹ kể lại những kỷ niệm của thời trẻ dại. Cô gái như gặp lại mình trong những chuyện xa xưa ấy, ngạc nhiên trước sự trùng hợp về suy tưởng và sự gần gũi về ước vọng của mẹ mình, bởi vì có trái tim nào lại chẳng tưởng tượng ra rằng chính mình mới là người đầu tiên, trước hết thảy mọi người, đã rung động với một loạt những cảm xúc mà thực ra đã làm thổn thức trái tim của những con người đầu tiên và sẽ còn làm thổn thức những con người cuối cùng, nam cũng như nữ, trên trái đất này.

Họ đi chầm chậm và chuyện kể cũng chầm chậm.

Thỉnh thoảng, bị tức ngực, ba mẹ phải ngừng kể vài giây và thế là tâm trí của Jeanne đã vuợt lên trên nội dung câu chuyện vừa chớm kể, bay bổng vào tương lai tràn ngập những niềm vui và ngụp lặn trong những niềm hy vọng.

Một buổi chiều, lúc hai mẹ con đang ngồi nghỉ trên chiếc ghế dài ở cuối đường đi dạo, thì ở phía đầu đường bỗng xuất hiện một vị linh mục cao lớn đang đi về hướng họ,

Vẻ mặt tươi cười, ông chào họ từ xa; khi còn cách ba bước, ông lại chào lần nữa và kêu lên: "Thế nào, thưa bà nam tước, tình hình ra sao rồi?". Đó là ông linh mục của xứ đạo này.

Sinh ra trong thế kỷ của những nhà triết học, lại được ông bố đẻ, một người ít tin đạo của thời kỳ Cách mạng [2] nuôi dạy cho đến ngày khôn lớn, bà nam tước chẳng đi lễ nhà thờ bao giờ, mặc dù lòng bà vẫn quý mến các vị tu sĩ bởi một thứ bản năng thiên về tôn giáo vốn có của người phụ nữ.

Bà đã hoàn toàn quên mất cha xứ Picô (Picot), vị linh mục của mình, và đã đỏ mặt lên khi gặp lại ông hôm nay

Bà xin lỗi đã không kịp nhận ra dáng đi của ông để ra đón ông trước. Nhưng ông lão hiền lành chẳng hề có gì phật ý. Ông nhìn Jeanne khen ngợi vẻ vui tươi của nàng, rồi ngồi xuống, đặt cái mũ ba sừng của mình lên đầu gối và thấm mồ hôi trán. Ông rất to lớn, hồng hào và cũng rất nhiều mồ hôi. Ông không ngớt tay rút từ trong túi ra một cái khăn mù soa kẻ ô vuông to tướng và ướt đẫm mồ hôi. Ông lấy khăn lau mặt, lau cổ. Nhưng tấm khăn ẩm ướt vừa được đút sâu vào túi áo thì những giọt mồ hôi mới đã lại nảy ra trên da mặt ông, rồi rơi lã chã xuống tấm áo choàng phình ra ở chỗ ngang bụng và nhỏ xuống đất thành những vết tròn nhỏ lốm đốm trên lớp bụi đường mỏng,

Là một cố đạo nông thôn thực sự, ông rất vui vẻ, độ lượng và đôn hậu. Ông kể chuyện này, chuyện khác, nói về người này, người nọ trong xứ mà không hề tỏ ra biết rằng hai mẹ con Jeanne cũng là người trong xứ đạo của ông, nhưng chưa hề đi xem lễ bao giờ, bởi vì bà nam tước vừa có tính thờ ơ, vừa không tin đạo cho lắm, còn Jeanne thì đang quá phấn khởi với việc mới được giải thoát khỏi trường dòng, nói nàng đã ngấy đến tận cổ những buổi lễ thánh rồi.

Ông nam tước bước đến. Là người tin đạo theo kiểu phiếm thần [3], ông chẳng thiết gì những giáo lý cơ bản của đạo Chúa. Ông nhận ra vị cha xứ từ xa, ông tỏ ra quý mến cha và giữ cha ở lại ăn cơm tối với gia đình. Ông cố đạo biết làm vui lòng kẻ khác, Đó là nhớ ở cái tính giảo hoạt tự phát mà việc quản lý phần hồn của tín đồ đã phú cho ngay đến cả những kẻ tầm thường nhất mà sự đời run rủi đã đưa cho họ đến chổ nắm được quyền lực đối với đồng loại của mình.

Trong bữa ăn, bà nam tước chiều chuộng ông cố đạo, có lẽ vì bị thu hút bởi mối quan hệ đồng cảm giữa những con người giống nhau: khuôn mặt đỏ tía và hơi thở ngắn ngủn của ông già to lớn phù hợp với chứng phì nộn và cái thở hổn hển của bà nam tước.

Đến lúc ăn tráng miệng, do rượu vào lời ra, ông cố đạo càng cao hứng trò chuyện tợn. Cái phóng túng thường gặp vào đoạn cuối của những bữa ăn vui vẻ!

Đột nhiên, ông kêu lên, dường như một ý hay vừa vụt qua tâm trí: "À tôi có một con chiên mới trong xứ đạo cần được giới thiệu với gia đình ta Ngài tử tước Đ'ơ Lama!” (De Lamare).

Là người hiểu rõ ngọn ngành tất cả giới cành vàng, lá ngọc trong tỉnh, bà nam tước hỏi: "Có phải ông ta thuộc dòng họ Đ'ơ Lama (De Lamare) vừa mới mất năm ngoái đấy ạ!" Thế là bà Adélaïde, vốn yêu thích giới quý tộc hơn hết thảy mọi thứ, bèn đặt ra một loạt những câu hỏi và được biết rằng chàng trai đó, sau khi bán tòa lâu đài của gia đình và trả hết nợ cho bố đã sắp xếp cho mình một căn nhà nhỏ tại một trong ba trang trại thuộc quyền sở hữu của anh ở làng Êtuaăng (Étouvent). Gia sản đó mỗi năm đem lại cho anh nhiều nhất cũng chỉ khoảng năm sáu ngàn francs tiền tô; nhưng ngài tử tước có vẻ biết tiết kiệm và khôn ngoan, dự 

định sống thanh đạm hai hoặc ba năm trong căn nhà đơn sơ đó, để có thể dành dụm và sắm sửa ít nhiều cho có mẽ với đời, rồi sẽ cưới được vợ giàu mà không phải mắc nợ hoặc phải đem cầm cố các trang trại của mình.

Ông cố đạo nói thêm: "Đó là một chàng trai rất dễ thương, rất khuôn phép và hòa nhã. Nhưng sống trong xứ mình, anh chàng cảm thấy chẳng vui gì!".

Ông nam tước nói: "Thỉnh thoảng, xin cha hãy đưa anh ta lại thăm gia đình chúng tôi, có lẽ nhờ vậy, anh ta sẽ bớt buồn được chút nào chăng?".

Rồi họ nói qua chuyện khác.

Sau khi đã qua phòng khách và dùng xong cà-phê, ông cố đạo xin phép được đi dạo ngoài vuờn một lúc, vì ông có thói quen vận động chút ít sau bữa ăn. Ông nam tước cùng đi với ông. Họ đi đi lại lại chậm rãi men theo mặt trước tòa lâu đài trắng toát. Hai cái bóng, một gầy, một béo trên đầu chụp một hình nấm, cũng đi đi lại lại theo họ, lúc thì ở sau lưng, lúc thì ở phía trước, tùy theo bước chân của họ đi về hướng mặt trăng hay ngược lại. Miệng ông cố đạo day day điếu thuốc lá vừa rút từ túi áo ra. Với kiểu nói thật thà của người nông thôn, ông giải thích về lợi ích của điếu thuốc sau bữa ăn: "Để ợ ra được nhiều hơn. Chả là tiêu hóa của tôi hơi kém mà!".

Rồi, đột nhiên nhìn lại mặt trăng đang lơ lửng ngang trời, ông nói: "Ngắm cảnh này thì chẳng bao giờ biết chán!"

Và ông vào trong nhà chào tạm biệt mẹ con bà nam tước.

Chú thích:

[1] Oantơ Xcốt:(Walter Scott) Văn hào Anh nổi tiếng đảu thế kỷ thứ XIX.

[2] Thời kỳ Cách mạng: Ý nói cách mạng tư sản Pháp 1799.

[3] Thuyết phiếm thần: Thuyết cho Chúa Trời và thế giới là một

« Lùi
Tiến »