Ngầm

Lượt đọc: 1145 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN HAI
NƠI ĐƯỢC HỨA HẸN
"một ông già thức dậy trong giấc chết" của mark strand

Đây là nơi đã được hứa hẹn,

khi tôi đi ngủ,

khi tôi thức dậy thì nó bị lấy đi.

Đây là nơi lạ với bất kỳ ai,

nơi tên những con tàu và những vì sao

dạt ra xa ngoài tầm với.

Núi không còn là núi,

mặt trời chẳng phải mặt trời.

Nó từng thế nào, người ta muốn quên đi.

Tôi trông thấy tôi, tôi trông thấy

trên lông mày tôi bờ bóng tối.

Đã có thời tôi là toàn vẹn, đã có thời tôi tuổi thanh xuân…

Tựa như điều đó giờ này quan trọng

như bạn có thể nghe thấy tôi

như bão tố nơi đây chẳng bao giờ ngừng.

Tựa

Khi viết Ngầm, tôi coi việc tránh đọc mọi tường thuật của thông tin đại chúng về Aum là một điều có tính nguyên tắc. Tôi cố đặt mình càng nhiều càng tốt vào cái tình huống mà các nạn nhân của vụ đánh hơi độc đã sa vào hôm ấy, bị một sức mạnh chết người mình không hề hay biết chộp lấy hoàn toàn bất ngờ.

Vì lý do ấy, tôi cố tình loại bỏ khỏi Ngầm bất cứ quan điểm Aum nào. Tôi sợ sẽ làm cho quyển sách lạc trọng điểm. Trên hết tôi muốn tránh cái kiểu tiếp cận thiếu chính kiến khi cố nhìn cho thấy đủ quan điểm của cả hai bên.

Vì thế một số người đã phê bình quyển sách là một chiều nhưng dẫu sao tôi cũng đã chủ ý đặt máy camera của tôi vào một điểm cố định. Tôi muốn tìm kiếm một quyển sách đem người ta đến gần hơn với những người được phỏng vấn (nhưng không phải lúc nào cũng có nghĩa là ở cùng một bên.) Tôi muốn một quyển sách khiến bạn cảm thấy những gì ở nạn nhân đã cảm thấy, nghĩ cái mà họ nghĩ. Như thế không có nghĩa là tôi hoàn toàn phớt lờ ý nghĩa xã hội của Aum Shinrikyo.

Nhưng khi quyển sách này được phát hành và các dư âm từ sự kiện ấy đã lắng xuống, câu hỏi "Aum Shinrikyo là gì?" lại nổi lên trong tôi. Sau tất cả, quyển sách này là một nỗ lực khôi phục lại ý thức về sự cân bằng cho điều mà tôi coi là tường thuật thiên vị. Một khi nhiệm vụ đó được thực hiện xong, tôi sẽ phải nghĩ liệu chúng ta có nhận được từ câu chuyện những thông tin đúng và chính xác về phía Aum hay không.

Trong Ngầm, Aum Shinrikyo giống như một mối đe dọa không thể nhận diện – một "cái hộp đen", gọi như thế cũng được, thình lình, từ đâu không biết, tấn công vào cái thường ngày. Nay, bằng cách riêng của mình, tôi muốn cố hé mở chiếc hộp đen đó ra để nhòm một cái xem có gì bên trong. Đem so và đối chiếu các nội dung của nó với quan điểm được tập hợp lại trong Ngầm, tôi hi vọng có thể hiểu được sâu hơn.

Một động cơ nữa thúc giục tôi là cảm thức mạnh mẽ về nỗi sợ mà chúng ta vẫn chưa đụng đến, chứ chưa nói đến giải quyết, vấn đề cơ bản nào nổi lên từ vụ đánh hơi độc. Đặc biệt vẫn còn chưa có sự lựa chọn hữu hiệu hay mạng lưới an toàn nào cho những người ở bên ngoài hệ thống chính tắc của xã hội Nhật (cụ thể là thanh niên). Chừng nào trong xã hội của chúng ta còn tồn tại khoảng cách then chốt ấy, giống như một thứ hố đen, thì cho dù Aum có bị trấn áp, các trường sức hút từ tính khác – các nhóm "giống như Aum" – vẫn sẽ nổi lên, và cầm chắc vẫn sẽ xảy ra các sự cố tương tự.

Trước khi viết Nơi được hứa hẹn, tôi cảm thấy băn khoăn: nay khi đã viết xong, tôi còn cảm thấy một linh tính gở mạnh mẽ hơn. Tìm các nạn nhân vụ đánh hơi độc bằng lòng trả lời phỏng vấn không phải lúc nào cũng dễ, và vì nhiều lý do khác nhau, tìm để phỏng vấn các thành viên của Aum Shinrikyo, kể cả các cựu thành viên, cũng không phải một việc dễ dàng. Có thể dùng loại tiêu chuẩn nào để chọn người mình sẽ phỏng vấn? Làm thế nào để chọn ra một đại diện tiêu biểu? Và ai có thể nói đó là đại diện tiêu biểu? Tôi cũng lo rằng dù chúng ta có tìm được người như thế và nghe những gì họ cần nói thì có thể hóa ra đó chỉ là sự truyền đạo. Liệu chúng tôi có thể giao tiếp với nhau theo một cách nào đó có ý nghĩa không?

Ban biên tập tạp chí Bungei Shunju, các bài phỏng vấn được đăng đầu tiên trên tờ báo này, đã tìm các thành viên và cựu thành viên của Aum cho tôi. Nói chung các phỏng vấn đều được thực hiện theo phong cách và cách trình bày tương tự với trong Ngầm. Tôi quyết định hết sức chiều theo ý từng người, để người được phỏng vấn muốn dùng bao nhiêu thì giờ để trả lời cũng được. Mỗi bận phỏng vấn lâu ba, bốn giờ. Các băng ghi âm được chuyển sang thành bản viết và những người trả lời phỏng vấn được yêu cầu xem lại. Họ có thể bỏ những phần mà sau khi suy nghĩ họ không muốn thấy sẽ được in ra và có thể cho thêm vào những câu họ nghĩ là quan trọng mà trong lúc phỏng vấn họ đã quên không nói. Cuối cùng khi họ bằng lòng cho làm thì các bài phỏng vấn mới được đăng. Tôi muốn dùng tên thật của họ càng nhiều càng tốt, nhưng các cuộc phỏng vấn này thường kèm một điều kiện là khi đã dùng tên giả thì không được đưa ra chỉ dẫn nào.

Nói chung chúng tôi không cố gắng điều tra xem các lời phát biểu trong phỏng vấn có thật sự chính xác hay không, chỉ trừ phi rõ ràng những gì họ nói ra mâu thuẫn với các sự kiện đã biết. Một số người có thể phản đối cách làm này, nhưng việc của tôi là nghe những cái người ta cần nói và ghi lại càng minh bạch càng tốt. Cho dù có vài chi tiết không đúng với hiện thực thì cách kể tập thể của những câu chuyện này tự nó đã mang một hiện thực đầy sức mạnh. Đây là một điều mà các nhà tiểu thuyết nhận thức được sâu sắc, và là lý do tại sao tôi nhìn nhận nó là công việc thích hợp cho một nhà tiểu thuyết.

Nhưng các phỏng vấn ở Ngầm và các phỏng vấn thu thập ở đây không thật giống nhau về trình bày. Lần này tôi thường xen ý kiến của tôi vào, nói lên những hồ nghi và thậm chí thảo luận về nhiều vấn đề khác nhau. Trong Ngầm tôi cố giữ mình ở hậu trường càng nhiều càng tốt nhưng lần này tôi quyết định làm một người tham gia tích cực hơn, như đôi khi câu chuyện bắt đầu đi chệch sang hướng tôn giáo quá nhiều chẳng hạn, tôi thấy như vậy là không thích hợp.

Tôi không phải một chuyên gia về tôn giáo, cũng không phải là một nhà xã hội học, dù cho có muốn tưởng tượng thế nào. Tôi chẳng là gì hết ngoài một nhà tiểu thuyết đơn giản, không trau chuốt lắm. (Đây không phải là khiêm tốn vờ, nhiều người có thể làm chứng.) Hiểu biết của tôi về tôn giáo không nhiều hơn trình độ một người hoàn toàn nghiệp dư cho nên có ít cơ may là tôi sẽ đứng vững nếu lên đài tranh luận với một vài tín đồ sùng đạo.

Tôi đã bận tâm như vậy khi bắt đầu các cuộc phỏng vấn này nhưng đã quyết định không để điều đó làm mình chùn bước. Khi không hiểu một cái gì đó, tôi cứ đi tới và trình bày điểm mình chưa rõ; khi tôi nghĩ phần đông sẽ không chấp nhận một quan điểm nào đó, tôi sẽ tỏ ý nghi ngờ. "Chắc nó phải có một logic gì đó," tôi nói, "nhưng những người thông thường chắc sẽ không xài được nó." Tôi nói thế không cốt để tự vệ hay tỏ ra mình táo tợn như thế nào. Tôi muốn dành thì giờ để làm sáng tỏ những thuật ngữ và ý tưởng cơ bản – đại khái, "Khoan đã. Cái đó nghĩa là gì thế?" – hơn là chỉ gật đầu rồi để mặc cho các thuật ngữ chuyên môn bay vèo qua.

Ở mức hiểu biết thông thường, hàng ngày, chúng tôi đã có thể trao đổi quan điểm của mình và tôi cảm thấy mình có thể hiểu được các ý tưởng cơ bản mà người được phỏng vấn cố truyền đạt. (Còn tôi chấp nhận hay không thì lại là chuyện khác.) Thế là rất đủ cho kiểu phỏng vấn tôi đang làm. Mục tiêu đề ra của tôi cho dự án này không phải là phân tích đến chi tiết trạng thái tâm trí của người được phỏng vấn, đánh giá các lời họ bào chữa cho lập trường của họ về mặt đạo đức và logic. Tôi để dành việc nghiên cứu sâu hơn các vấn đề tôn giáo nổi lên cùng ý nghĩa xã hội của chúng cho các chuyên gia. Điều mà tôi cố thể hiện ở đây là cách biểu lộ của những người theo Aum trong một cuộc trò chuyện mặt đối mặt bình thường.

Nhưng nói chuyện thân mật với họ, tôi nhận thấy các truy cầu tôn giáo của họ và quá trình viết tiểu thuyết là giống nhau, tuy không phải là một. Điều này đã khơi dậy niềm thích thú mang tính cá nhân khi tôi phỏng vấn họ, đồng thời cũng là lý do tại sao đôi khi tôi thấy cảm giác gì đó gần như tức giận.

Trước sau như một, tôi giận các thành viên của Aum Shinrikyo dính líu vào vụ đánh hơi độc – cả người đã bị bắt lẫn những kẻ liên quan theo cách khác. Tôi đã gặp một số nạn nhân, nhiều người trong số họ vẫn còn phải chịu đau đớn, và tôi cũng đã tận mắt nhìn thấy những người mà thân nhân yêu dấu đã bị bọn chúng cướp đi mãi mãi. Chừng nào còn sống tôi sẽ còn nhớ là không bao giờ có thể tha thứ cho một tội ác như thế này, bất kể lý do gì, hoàn cảnh gì đằng sau nó.

Nhưng về mức độ phạm tội của toàn bộ tổ chức Aum trong vụ đánh hơi độc, quan điểm chung đã bị chia rẽ. Ở đây tôi sẽ dành mọi phán xét cho bạn đọc. Tôi phỏng vấn các thành viên hiện hành và cũ của giáo phái không phải là để phê bình hay tố giác họ, cũng không phải là hy vọng mọi người sẽ nhìn họ dưới một ánh sáng tích cực hơn. Điều mà tôi cố mang lại ở đây cũng giống như điều tôi hy vọng truyền đạt trong Ngầm – không phải là một quan điểm rõ rệt, mà là chất liệu máu thịt từ đó nhiều quan điểm được xây dựng lên; đây cũng là mục tiêu mà khi viết tiểu thuyết tôi luôn mang trong đầu.

Là người viết tiểu thuyết, tôi sẽ nghiên cứu kỹ càng, từng chút một, những gì còn lại ở trong tôi, điều tra, sắp xếp trật tự mọi sự trong khi tôi trải qua quá trình hao tổn thời gian của việc nhào nặn điều này thành hình thức kể chuyện. Nó không phải là thứ dễ dàng thành hình.

Các phỏng vấn này được đăng nhiều kỳ mỗi tháng một lần trên tuần san Bungei Shunju từ tháng Tư đến tháng Mười năm 1997 và được phát hành nhiều kỳ với tên gọi Hậu-Ngầm.

"Tôi vẫn ở trong Aum"

Hiroyuki Kano (sinh 1965)

Anh Kano sinh ra ở Tokyo nhưng sớm chuyển đến một quận ngoại ô và lớn lên ở đó. Ở đại học sức khỏe anh suy giảm và anh bắt đầu theo học các lớp ở trung tâm huấn luyện yoga do giáo phái Aum mở. Sau đúng hai mươi mốt ngày, Shoko Asahara khuyên anh nên xuất gia và năm tháng sau anh đã làm theo.

Vào lúc đánh hơi độc, anh Kano là một thành viên Bộ Khoa học và Công nghệ của Aum, công việc của anh ở đây chủ yếu liên quan đến máy tính. Cho tới vụ tấn công, sáu năm trong Aum của anh là tuyệt vời và đáng hài lòng. Anh đã kết được nhiều bạn.

Tuy vẫn chưa chính thức rời bỏ Aum, nhưng anh không còn sống cộng đồng với các thành viên khác nữa và giữ khoảng cách với họ. Anh sống một mình ở Tokyo, làm việc máy tính ở nhà trong khi vẫn tiếp tục chế độ rèn luyện khổ hạnh. Anh quan tâm sâu sắc tới đạo Phật và giấc mơ của anh vẫn là xây dựng một khung lý luận cho đạo Phật. Nhiều bạn của anh đã bỏ Aum. Ở tuổi 32, anh băn khoăn không biết trong kho của tương lai đang cất giấu điều gì cho mình.

Cuộc phỏng vấn của chúng tôi kéo dài nhưng anh không nhắc đến cái tên Shoko Asahara lần nào. Tránh nói thẳng đến Asahara, anh dùng các từ "thủ lĩnh" hay "Giáo chủ", hay như tôi nhớ có một lần "con người ấy".

° ° °

Hồi học tiểu học, tôi khỏe, cao hơn bọn trẻ khác. Tôi yêu thể thao và chơi mọi môn. Nhưng lên trung học phổ thông, tôi ngừng lớn và đến giờ thì hơi thấp hơn mức trung bình một chút. Cứ như là thân thể tôi phát triển ứng với trạng thái cảm xúc và tụt dốc cùng với sức khỏe của tôi vậy.

Hồi sinh viên tôi học khá giỏi, nhưng tôi cảm thấy có một sức kháng cự gì đó cưỡng lại tất cả ý muốn học tập. Theo tôi thì học có nghĩa là tăng thêm thông thái nhưng bài vở nhà trường thì lại chỉ là nhớ vẹt, đại khái như nước Úc có bao nhiêu con cừu hay gì gì đó. Bạn thích thì có thể học tất cả những cái đó nhưng bạn không tài nào thông tuệ lên nhờ chúng được. Tôi nghĩ là một người trưởng thành có nghĩa là thế. Nghĩa là có thể có kiểu bình thản ấy, cảm nhận về trí thông minh ấy. Giữa hình ảnh một người trưởng thành như tôi quan niệm với những người trưởng thành thực tại ở quanh tôi có một khoảng cách khổng lồ.

Ta lớn lên, có kiến thức và kinh nghiệm, nhưng ở bên trong, ta không lớn thành người, dù chỉ một chút. Lấy đi cái vẻ ngoài và những hiểu biết hời hợt thì những gì còn lại chỉ bằng một đứa trẻ mà thôi.

Tôi cũng có một vài nghi hoặc lớn về tình yêu. Hồi khoảng 19 tuổi, tôi đã nghĩ nhiều, nghĩ kỹ rồi đi tới kết luận sau: tình yêu thuần túy dành cho người khác và cái mà người ta gọi là tình yêu lãng mạn là hai chuyện khác nhau. Tình yêu thuần túy không dùng mối quan hệ làm lợi cho mình, còn tình yêu lãng mạn thì khác. Tình yêu lãng mạn chứa đựng các yếu tố khác – chẳng hạn ước mong được một người khác yêu. Nếu chỉ thuần túy yêu một người khác cũng là đủ rồi thì khi không toại nguyện ta sẽ không đau khổ. Chừng nào người kia có hạnh phúc thì ta sẽ không có bất cứ nhu cầu nào để mà đau khổ vì không được yêu đáp lại. Điều làm người ta đau khổ chính là cái ước mong được một người khác yêu. Cho nên tôi nhất quyết cho rằng tình yêu lãng mạn và tình yêu thuần túy cho một người khác là không giống nhau. Và khi đã hiểu như thế, ta có thể giảm bớt nỗi đau khổ của tình yêu không toại nguyện.

MURAKAMI: Tôi thấy hình như đây là cách tiếp cận quá thiên về logic. Ngay cả khi có phải trải qua tình yêu không toại nguyện, phần đông người ta vẫn không suy luận xa đến như thế.

Tôi cho là thế. Nhưng từ 12 tuổi, tôi đã luôn tiếp cận sự việc theo cách triết học. Có lần tôi đã bập vào nghĩ một cái gì đó rồi ngồi lì tại chỗ luôn sáu tiếng đồng hồ. Theo tôi, nghiên cứu là một thứ có nghĩa chính xác là như thế. Nhà trường chỉ là nơi đua lấy nhiều điểm cao mà thôi.

Tôi thử nói với bạn bè về những điều này nhưng không đi đến đâu. Ngay cả các bạn là học sinh giỏi cũng chỉ bảo đại khái như, "Chà, cậu nghĩ cái này khá là ngộ đấy," rồi thôi. Câu chuyện đụng đến chỗ tắc tị. Tôi không tìm được, dù chỉ là một người muốn nói chuyện về những cái tôi quan tâm.

MURAKAMI: Khi buồn bực về những chuyện kiểu đó thì đúng là phần đông thiếu niên hay chúi đầu vào đọc sách. Để tìm lấy vài lời khuyên có ích.

Tôi không thích đọc. Đọc gì tôi cũng chỉ thấy điểm dở của nó. Đặc biệt là sách triết – tôi chỉ đọc một ít nhưng đã không chịu nổi. Tôi luôn nghĩ triết học là thứ phải cung cấp cho bạn một ý thức sâu sắc hơn để bạn có thể tìm ra "phương thuốc" cho các vấn đề của cuộc sống, thực sự hiểu được mục đích sống, tìm thấy hài lòng và hạnh phúc, và quyết định mục tiêu sống của bạn là gì. Mọi cái khác chỉ là phương tiện cho mục đích đó. Nhưng tất cả các sách tôi đọc hình như đều là cái cớ cho các vị học giả nổi tiếng trưng tài ngôn ngữ: "Kìa, xem ta biết nhiều thế chứ!" Tôi có thể nhìn thấu cái này và tôi không chịu được những cuốn sách như thế. Cho nên triết học chưa bao giờ làm được cho tôi cái gì.

Có một thực tế khác tôi bắt đầu nghiền ngẫm từ hồi lớp sáu. Đang nhìn chằm chằm một cái kéo ở trong tay thì bỗng dưng tôi lại nghĩ rằng một người lớn nào đó đã làm rất vất vả để tạo ra chúng thế nhưng một ngày nào đó cuối cùng chúng sẽ rời nhau ra. Mọi cái có hình hài cuối cùng đều sẽ tan rã. Con người cũng thế. Cuối cùng người ta chết. Vạn vật đều hướng thẳng đến hủy diệt và không có ngả quay lại. Nói khác đi, hủy diệt tự thân là nguyên tắc vận hành của vũ trụ. Khi đã đi đến kết luận này, tôi bắt đầu nhìn mọi sự một cách rất tiêu cực.

Thí dụ như, nếu đời tôi là hướng tới hủy diệt thì dù cho tôi có là thủ tướng hay chết như một gã vô gia cư cũng chẳng nghĩa lý gì, đúng không? Đấu tranh thì được lợi gì nào? Tôi đã đi tới kết luận kinh khủng là nếu trong đời đau khổ mà nặng đồng cân hơn niềm vui thì khôn ngoan hơn cả là hãy tự tử quách đi càng nhanh càng tốt.

Chỉ có một lối thoát, gọi là cõi âm. Đấy là hy vọng duy nhất còn lại. Lần đầu tiên tôi nghe thấy chữ "kiếp sau" tôi nghĩ nó thật ngu ngốc. Tôi đã đọc quyển Cái gì xảy ra sau khi chết? của Tetsuro Tanba để xem trong đó viết những trò ngu ngốc gì. Tôi là loại người mà khi đã bập vào một ý nghĩ nào sẽ theo đuổi nó cho đến kỳ cùng cái ngửa. Tôi không phải loại người chỉ nghĩ, "Chết tiệt, thế nào rồi mình cũng hiểu thôi mà." Tôi phải phân biệt cho rõ ràng ra cái tôi hiểu với cái tôi không hiểu. Với chuyện học hành cũng thế. Tôi vừa học được một điều gì mới là ngay lập tức mười câu hỏi khác bung ra trong đầu tôi. Chưa trả lời được thì tôi còn hì hục với chúng.

Muốn gì quyển sách của Tanba cũng không bõ đọc nhưng ông ta đã nhắc đến tác phẩm của Swedenbog, sau đó tôi có đọc cuốn này và thấy thật kinh ngạc. Swedenbog là một học giả nổi tiếng, một nhà vật lý cỡ giải Nobel nhưng khi bước sang tuổi ngoài 50 ông đâm ra như người tâm thần và viết ra nhiều những cái ghi chép về thế giới bên kia. Tôi ngạc nhiên tại sao công trình của ông lại cực kỳ logic đến thế. So sánh với các sách khác về đề tài này, mọi điều đều khớp logic với nhau. Mối quan hệ giữa các tiền đề và kết luận của ông cực kỳ có sức thuyết phục và đáng tin.

Tôi nghĩ mình nên chú ý nhiều hơn một chút đến thế giới bên kia. Cho nên tôi đọc nhiều tài liệu về những trải nghiệm lúc sắp chết. Tôi bàng hoàng. Các lời kể lại giống nhau đến ngạc nhiên. Đây là loại lời khai thật sự có kèm tên tuổi và ảnh của người khai. "Họ không thể thông đồng để nói dối hệt như nhau được," tôi nghĩ. Sau đó tôi học về Luật Nghiệp báo và thế là có một tấm màn vừa vén lên, nhiều nghi hoặc, nhiều vấn đề tôi có từ ngày bé đều được giải đáp.

Tôi cũng học được nhiều rằng nguyên lý cơ bản về vô thường của đạo Phật cũng tương tự như ý của tôi về quy luật vũ trụ hướng tới hủy diệt. Tôi vẫn luôn nhìn vấn đề này theo cách tiêu cực nhưng điều ấy cũng làm cho tôi rất dễ dàng theo đạo Phật.

MURAKAMI: Anh cũng có đọc cả sách về đạo Phật nữa chứ?

Không phải những nghiên cứu đích thực về đạo Phật. Trong cuốn sách tôi đọc, cách tiếp cận có vẻ không được trực tiếp lắm.Tôi không thấy được "phương thuốc" mà mình kiếm tìm. Chúng nói tới các thứ kinh pháp nhưng không đi vào được cốt lõi của vấn đề, cái phần mà tôi thật sự muốn tìm. Nhưng điều mà tôi tìm kiếm lại có nhiều hơn trong các ghi chép về những trải nghiệm về thế giới bên kia.

Dĩ nhiên có những phần tôi không thể tin. Tôi không hiểu sao nhưng vì một vài lý do nào đó tôi tin chắc mình có thể phân biệt được phần nào thì tin được và phần nào thì không trong những câu chuyện đó. Cứ cho đó là nhờ kinh nghiệm hay trực giác đi. Dẫu sao tôi cũng có một niềm tin lạ lùng rằng tôi có thể làm được việc đó.

MURAKAMI: Tôi nghe thì hình như tất cả những gì ngược lại với các lý luận hay cảm giác của anh đều bị anh loại đi. Trên thế gian này có nhiều điều trái với quan điểm của ta, thách thức lại các ý tưởng mà ta hằng nuôi dưỡng, nhưng tôi cảm thấy anh cố không dính dáng tới chúng.

Từ hồi học tiểu học tôi đã hiếm khi thua khi tranh luận với người lớn. Tôi biết điều này là không đúng nhưng với tôi thì người lớn hình như đều ngu ngốc cả. Nay tôi hối hận đã nghĩ như thế. Lúc ấy tôi chưa trưởng thành. Tôi biết nếu mình đưa một điểm nào đó ra thì sẽ thua cho nên tôi chơi trò đi vòng vo. Chơi trò ấy thì tôi không thua bao giờ. Tôi hơi có chút huênh hoang.

Tôi khá hòa hợp với bạn bè. Tôi điều chỉnh những điều mình nói để phù hợp với người mà tôi đang chuyện trò. Tôi luôn biết nói điều phù hợp đúng lúc để làm cho mọi việc mềm đi. Cho nên tôi có nhiều bạn. Tôi sống như thế trong vòng mười năm, vui là đã làm cho bạn bè vui. Nhưng khi về nhà và có một mình, tôi nghĩ đời mình sẽ ra sao nếu tôi cứ tiếp tục kiểu này. Phân tích ra thì rốt cuộc tôi không có dù chỉ một người bạn quan tâm đến điều giống như tôi quan tâm.

Tôi không thi vào đại học mà vào học ở một trường dạy điện. Tôi học kỹ thuật nhưng không thật lòng muốn làm về kỹ thuật. Tôi vẫn muốn minh triết đích thực. Tôi nuôi một lý tưởng là hệ thống hóa một cách khoa học triết học phương Đông.

Ví dụ như quang sinh học chẳng hạn, cái ánh sáng mà các vật sống phát ra. Nếu ông thu thập các số liệu tỉ mỉ về mối quan hệ giữa cái đó với sự ốm yếu, ông có thể phát hiện ra các thuộc tính vật chất liên quan. Chẳng hạn, chắc ông sẽ có thể phát hiện ra một số thuộc tính vật chất bằng cách liên hệ quang sinh học với các vận động của tim. Đây là điều mà qua các thể nghiệm với yoga, tôi đã tin.

MURAKAMI: Vậy thì theo anh đo được tổng lượng sức mạnh hay có thể vẽ nó ra thành biểu đồ nhìn được bằng mắt là điều rất quan trọng?

Đúng. Nếu ông hệ thống hóa sự vật bằng cách này, các luận điểm của ông sẽ nghe có vẻ đúng. Ở nghĩa này, khoa học hiện đại là một hệ thống kỳ lạ. Trong Aum cũng thế, có nhiều bộ phận có giá trị chứ. Tôi muốn cái cốt yếu của nó còn lại. Vai trò tôn giáo của Aum coi như đã xong. Nó cần được lý thuyết hóa thành một khoa học tự nhiên.

Những gì không thể đo lường được một cách khoa học thì tôi không quan tâm. Cái không thể đo lường thì không có sức mạnh thuyết phục cho nên bất cứ giá trị gì mà nó cũng không thể truyền tải cho người khác được. Nếu sự vật không thể đo lường mà lại có sức mạnh thì kết cục ông sẽ đi tới một thứ như Aum. Nếu ông đo lường được sự vật, ông có thể loại bỏ được mối nguy hiểm tiềm tàng.

MURAKAMI: OK, nhưng các đo lường này có được bao nhiêu phần thực tế? Và chúng có tùy theo quan điểm của anh mà đổi khác đi không? Cũng có mối nguy rằng dữ liệu về nó có thể thay đổi. Anh phải quyết định ở điểm nào thì các đo lường của anh là đủ, chưa nói đến chuyện độ tin cậy của các thiết bị dùng cho việc đo lường ấy.

Nó sẽ ổn chừng nào cấu trúc số liệu ông dùng cũng giống như cái đang được dùng trong y học. Các triệu chứng này thì nói lên bệnh này, ông chữa trị cho họ là theo cách đó, đại loại cũng kiểu như vậy.

MURAKAMI: Tôi không nghĩ là anh đọc tiểu thuyết?

Đúng, tôi không đọc. Ba trang là con số nhiều nhất mà tôi gắng gượng nổi trước khi buông sách.

MURAKAMI: Vì là người viết tiểu thuyết cho nên tôi trái ngược với anh – tôi tin rằng thứ quan trọng nhất là thứ không thể đo lường được. Tôi không phủ nhận cách tư duy của anh, nhưng phần lớn trong cuộc đời con người lại gồm những thứ không thể đo lường được, và về mặt thực tiễn, cố đem đổi tất cả chúng thành một cái gì đo lường được là bất khả.

Đúng. Không phải tôi tin rằng tất cả những cái không thể đo lường đều vô giá trị. Chỉ là tôi thấy dường như thế giới của chúng ta đang tràn ngập những đau khổ không cần thiết. Và nguyên nhân gây nên đau khổ thì cứ tăng lên – những dục vọng không thể kiểm soát đang gây ra đau khổ cho con người. Chẳng hạn thèm khát ăn uống hay tình dục.

Việc Aum đã làm là giảm bớt stress tâm lý dạng ấy đi và nhờ thế tăng sức mạnh của mỗi cá nhân lên. Chín mươi chín phần trăm hình ảnh mà những người theo Aum có được về Aum Shinrikyo chính xác ra là như thế này – một cách nhìn các hiện tượng tâm linh và vật chất kèm một phương thuốc hoặc giải pháp cho chúng. Tổ chức hay triết học mạt thế hay bất cứ cái gì cũng chỉ là một hình ảnh do thông tin đại chúng tạo ra về Aum. Tôi chưa thấy ai quan tâm đến Sấm truyền của Nostradamus sất. Không ai lại để cho những trò như vậy thuyết phục cả.

Tôi muốn làm một việc là hệ thống hóa một cách khoa học những ý tưởng triết học của phương Đông như luân hồi và nghiệp chướng. Nếu thăm Ấn Độ ông sẽ thấy ở đấy người ta tin vào những điều này một cách trực giác, chúng là một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của họ, nhưng ở các nước tiên tiến, trong ta sống trong một thời đại mà những điều này cần phải đặt trên một cơ sở lý luận thì người ta mới hiểu và chấp nhận chúng.

MURAKAMI: Trước chiến tranh, một số người Nhật tin Thiên hoàng là thần thánh và họ đã chết cho niềm tin ấy. Anh có thể chấp nhận được điều này không? Có phải mọi chuyện vẫn sẽ ổn chừng nào anh còn tin vào chúng?

Nếu chỉ đến đó là hết thì không sao, nhưng nếu ông quán xét đến thế giới bên kia thì tốt hơn là hãy sống cuộc đời Phật giáo.

MURAKAMI: Nhưng đó chỉ là vấn đề chỗ khác nhau ở đối tượng của niềm tin: Thiên hoàng hay luân hồi.

Nhưng kết quả khác nhau. Nếu ông tin Thiên hoàng thì cái mà ông được sau khi chết sẽ không giống cái mà ông được sau khi chết nếu ông tin đạo Phật.

MURAKAMI: Các tín đồ của đạo Phật cũng nói y như thế. Những người tin ở Thiên hoàng lại nghĩ nếu anh chết cho ông ta thì linh hồn của anh sẽ được yên nghỉ ở Đền Yasukuni và được thanh thản. Anh vẫn nói như vậy ổn chứ?

Đó là lý do khiến tôi đã bận tâm như thế đến một phương pháp chứng minh Phật giáo bằng toán học. Phương pháp này vẫn chưa có, vì thế chúng ta vẫn ngồi tranh cãi với nhau thế này. Tôi không thể nói gì thêm được nữa.

MURAKAMI: Vậy nếu tìm ra được một phương pháp đánh giá Thiên hoàng bằng lý luận thì anh sẽ không phiền chứ?

Đúng. Miễn là điều ấy có lợi cho người ấy sau khi chết thì tôi sẽ không thấy vấn đề gì.

MURAKAMI: Điều tôi đang cố nói là nếu xem xét lịch sử khoa học thì anh có thể thấy khoa học đã bị thao túng nhân danh chính trị và tôn giáo. Đảng Quốc xã Đức đã làm chuyện này. Nhìn trở lại ta thấy có nhiều khoa học bù nhìn đi lầm đường. Và đã đem lại những thiệt hại không kể xiết cho xã hội. Cứ cho anh là một người thu nhặt kỹ càng bằng chứng đi, tốt thôi, nhưng phần lớn dân chúng cứ hễ được các nhân vật có thẩm quyền cho biết một cái gì đó là "khoa học" thì liền nuốt chửng lấy nó và làm theo bất cứ cái gì họ nói. Theo tôi điều này là rất đáng sợ.

Tôi thì chỉ nghĩ tình hình hiện nay của chúng ta mới là đáng sợ. Người dân trên thế giới hiện nay đang đau khổ không cần thiết. Đó là cớ tại sao tôi đang nghĩ tới các phương cách để có thể tránh được điều này.

MURAKAMI: Nhân đây, làm sao anh có thể đi đến chỗ gia nhập Aum Shinrikyo?

Tôi đọc một quyển sách về cách thiền đơn giản, có thể làm được ở nhà và khi tôi thiền thử thì một sự rất lạ đã xảy ra với tôi. Tôi chưa nghiêm túc thực hành toàn bộ quá trình thiền nhưng khi tôi toan thanh lọc các luân xa, thì khí [sinh lực] của tôi lại bị yếu đi nhiều. Điều ông nên làm khi thanh lọc luân xa là đồng thời tăng cường khí lên. Nhưng tôi lại không làm thế. Và các luân xa của tôi đã mất cân bằng. Tôi cảm thấy như bị hun đốt rất nhanh rồi ngay sau đó lại rét cứng người lại. Mức năng lượng của tôi sút xuống và tôi thường xuyên thiếu máu. Đó là một tình huống nguy hiểm. Tôi không ăn được bất cứ thứ gì và tụt cân. Cứ lên giảng đường là tôi lại ốm mệt và không học được tí nào.

Quanh quẩn thời gian đó, tôi đến dojo [đạo tràng] của Aum ở Setagaya. Họ giải thích tình trạng của tôi cho tôi rồi ngay tại đấy, ngay lúc ấy họ bảo tôi cách chữa. Tôi thử các bài tập thở mà họ dậy cho tôi và tôi không thể tin rằng mình lại khỏe ra nhanh được đến thế.

Trong hai tháng sau đó, tôi không đến dojo nhiều lắm nhưng rồi tôi bắt đầu đến đều đặn, làm công việc tình nguyện, gấp truyền đơn, đại loại thế. Gần như ngay sau đó có một khóa "Yoga Mật" nơi có thể nói chuyện trực tiếp với Thủ lĩnh [Shoko Asahara], tôi đã hỏi ông ta nên làm gì với sức khỏe kém của tôi. "Anh phải xuất gia," ông ta bảo tôi. Cứ như chỉ cần liếc một cái ông ta đã nhìn thấu con người thật của tôi. Mọi người ngạc nhiên vì ông ta trước đây chưa nói với ai như thế bao giờ - vậy nên tôi cảm thấy không còn lối chọn nào khác ngoài bỏ học và xuất gia. Khi ấy tôi 22 tuổi.

Có rất ít người bắt đầu bằng xuất gia. Hiếm lắm. Nhưng tôi quá yếu, đi không nổi, và chắc chắn nếu tình hình cứ tiếp tục như thế này thì tôi không thể có một cuộc sống bình thường. "Anh không hợp với cái thế giới phù du này," ông ta [Asahara] bảo tôi và tôi tán thành tắp lự - không cần phải thuyết phục tôi. Chúng tôi không hẳn là chuyện trò, ông ta chỉ đi ra và nói thế thôi. Ông ta thường không nói gì cả nhưng có thể chỉ nhìn mặt mà nói được rất nhiều về một người. Như hiểu biết về người ấy vậy. Đó là lý do vì sao người ta lại tin ông ta.

MURAKAMI: Dĩ nhiên, người ta có thể nghi là trước khi gặp một người, ông ta đã có hồ sơ với mọi thứ dữ liệu về người ấy.

Đúng, có thể là thế. Tuy lúc ấy xem ra không có vẻ là thế. Tôi trở thành người xuất gia năm 1989 và lúc ấy trong giáo phái chỉ có chừng 200 người như thế. Cuối cùng tôi nghĩ có khoảng ba nghìn.

Khi đã tốt với ai thì con người ấy [Asahara] tốt hơn bất kỳ ai mà tôi đã gặp. Nhưng khi ông ta nổi giận thì ông ta là người đáng sợ nhất trong đời tôi. Chỗ khác nhau này rõ đến nỗi chỉ nói chuyện với ông ta thôi cũng đủ để bị thuyết phục rằng ông ta phần nào đó có nhận được phép màu.

Với tôi, thật khó khăn khi nghe lời mà xuất gia. Tôi không muốn làm cho bố mẹ lo phiền, hơn nữa tôi ghét mọi ý tưởng về các tôn giáo mới. Tôi cố hết sức mình giải thích mọi chuyện cho bố mẹ nhưng các vị đã khóc nhiều và điều đó khiến tôi rất khổ tâm. Bố mẹ tôi không phải kiểu người tranh luận, các vị chỉ có khóc. Sau đó không lâu mẹ tôi qua đời và tôi đau lòng ghê gớm. Vào quãng thời gian ấy, nhiều chuyện căng thẳng đã xảy ra với mẹ và câu chuyện của tôi có thể là giọt nước tràn ly. Chắc bố tôi nghĩ mẹ chết là do tôi. Tôi cầm chắc bố tôi nghĩ thế.

[Không lâu sau đó có bầu cử Hạ viện của Quốc hội Nhật bản và Aum Shinrikyo đã đưa ra vài ứng cử viên. Anh Kano đinh ninh Asahara kia sẽ trúng cử. Thậm chí bây giờ anh vẫn thấy thật khó tin khi gần như không ai bỏ phiếu cho hắn. Nhiều người theo Aum nghĩ cuộc bầu cử có gian lận. Sau chuyện này, anh Kano được điều đến Cục Xây dựng của Aum và làm việc ở các cơ sở của Aum tại Naminomura quận Kumamoto.]

Tôi ở Naminomura chừng năm tháng, ở đây tôi làm tài xế xe tải đường dài. Tôi chạy khắp nước Nhật thu gom vật liệu. Không đến nỗi. Ở công trường xây dựng, ông phải làm việc dưới nắng gắt cho nên so ra thì lái xe tải chỉ là ngồi hóng mát.

Sống ở Aum gian khổ hơn sống trong thế tục nhiều, nhưng càng gian khổ tôi càng thấy hài lòng; các dằn vặt day dứt nội tâm của tôi đã hết và tôi biết ơn điều đó. Tôi cũng kết được nhiều bạn – người lớn, trẻ con, bà già, nam nữ. Mọi người ở Aum đều nhắm một điều giống nhau – nâng đời sống tinh thần của mình lên – cho nên chúng tôi có nhiều điểm chung. Tôi không phải thay đổi chính mình mới kết giao được với người khác.

Nghi ngờ không còn vì mọi thắc mắc của chúng tôi đều được giải đáp. Chúng tôi được bảo rằng, "Làm cái này đi thì cái này sẽ đến." Chúng tôi thắc mắc gì là được giải đáp ngay. Tôi thực sự chìm đắm hoàn toàn vào trong đó. [cười] Báo đài không bao giờ nói đến khía cạnh này. Họ gán cho tất tật mọi thứ cái nhãn kiểm soát đầu óc. Nhưng thật ra không phải. Họ nói như vậy chỉ là để câu người xem các talk show truyền hình. Họ thậm chí còn chẳng thiết tường thuật đúng sự việc.

Sau Naminomura, tôi quay về tổng đàn ở núi Phú Sĩ làm việc với máy tính. Hideo Murai là cấp trên của tôi. Tôi có một vài việc muốn nghiên cứu, Murai thờ ơ bảo tôi, "Cứ làm tới đi." Ông ta chỉ làm hết sức để thực hành mệnh lệnh của trên.

MURAKAMI: Nói "của trên" ý anh là Asahara chứ?

Vâng. Murai cố dẹp đi càng nhiều càng tốt cái tôi của ông ta. Điều ông ta bận tâm duy nhất là ai đó dưới quyền ông ta đi tới hiểu được vấn đề. Nhưng nếu chúng tôi có muốn tự mình điều tra nghiên cứu cái gì thì ông ấy cũng không ý kiến gì.

Vị trị của tôi là "phó sư phụ", cấp cao nhất có thể đạt tới trong Aum, ngay dưới cấp lãnh đạo tối cao của Aum, đại khái na ná như trưởng bộ phận một công ty lớn vậy. Nhưng thật sự không oai đến thế đâu. Dưới tôi chả có người nào. Giống như tôi làm việc một mình, không có hạn chế thắt buộc. Tôi biết nhiều người như thế. Nếu ông tin báo đài nói thì bọn tôi ai cũng bị kiểm soát ngặt nghèo y như Bắc Triều Tiên ấy, nhưng sự thật là nhiều người được tự do làm những gì họ muốn làm. Và dĩ nhiên chúng tôi được tự do đi lại. Chúng tôi không có xe riêng, nhưng khi cần xe, chúng tôi có thể mượn đâu cũng được.

MURAKAMI: Nhưng sau đó đã xảy ra bạo lực thành hệ thống – ám sát luật sư Sakamoto và gia đình ông ta, đánh đập đến chết, rồi vụ Matsumoto. Chẳng lẽ anh không biết chút nào khi những chuyện như thế xảy ra sao?

Hình như là Aum đã có những động thái đáng ngờ, bí mật nhiều hơn ngày thường. Nhưng dù có trông thấy gì đi nữa, thì đầu tiên và trên hết tôi vẫn sẽ bướng bỉnh khăng khăng rằng lợi ích của công việc chúng tôi đang làm đây có giá trị hơn mọi cái xấu. Tôi không thể tin được những tin ấy trên báo đài. Nhưng từ khoảng hai năm trước [1996] tôi bắt đầu nghĩ có thể những việc như thế đã xảy ra thật.

Tôi tin rằng một chuyện như vụ Sakamoto thì đám chúng tôi không cách nào mà giấu đi được trong nhiều năm như thế. Vì toàn bộ tổ chức là rất ô hợp. Nó giống như một kiểu cộng sản chủ nghĩa mà cho dù có phạm sai lầm ông cũng không bị cách chức đuổi việc, và tuy chúng tôi nói là có "việc làm" ở Aum nhưng nó không giống với chuyện ăn lương hay cái gì đó đâu. Tôi không thể gọi đó là vô trách nhiệm, đúng thế, chỉ là không có cảm nhận về trách nhiệm cá nhân thôi. Mọi việc đều là một kiểu không rõ ràng và tùy tiện. Có cảm giác là miễn sao đời sống tinh thần ông lên cao còn kỳ dư tất cả mọi cái đều không           quan trọng. Phần đông con người ở ngoài đời thường đều có vợ hay gia đình cho nên họ có một cảm thức nhất định về trách nhiệm và họ gắng hết sức làm công việc của mình. Nhưng trong Aum điều này hoàn toàn mất.

Chẳng hạn nói ông đang ở công trường xây dựng và ngày mai phải có một khung thép đến để tiếp tục làm việc. Nếu cái khung không đến, người phụ trách chỉ nói, "Ồ, đúng, tôi quên mất đấy." Và thế là xong chuyện. Ông ta có thể bị trách móc một chút nhưng ông ta không bận lòng. Ai cũng đã vươn tới được cấp độ mà ở đó những thực tế khắc nghiệt của đời sống hàng ngày không thể ảnh hưởng đến họ. Có chuyện gì xấu xảy ra họ liền bảo như thế sẽ giảm bớt nghiệp căn xấu và mọi người lại vui vẻ. Phạm sai lầm, bị la – họ chỉ coi những chuyện đó là để giảm bớt vẩn đục trong người. [cười] Nghĩ thì thấy họ là những con người rắn rỏi sắt đá. Chuyện gì xảy ra cũng chẳng làm cho họ bận tâm. Các thành viên của Aum coi thường những người bình thường trong thế tục. Như là nói: "Nhìn xem họ đang đau khổ kìa, nhưng chúng ta chẳng phải đoái đến."

MURAKAMI: Anh đã tham gia Aum trong sáu năm. Trong thời gian này, anh từng có vấn đề hay nghi ngờ nào đó không?

Tôi thấy biết ơn, hài lòng. Vì dù có chuyện gì đau đớn xảy ra họ cũng sẽ giải thích tường tận ý nghĩa của nó cho tôi. Khi đạt tới một cấp cao hơn, mọi người ai cũng tuyệt cả. Fumihiro Joyu là tấm gương tốt, nhưng cũng có nhiều người giỏi hùng biện giống như ông ta. Dứt khoát là trong Aum có một cái gì đó vận hành ở mức độ khác với thế giới thế tục. Càng thăng cấp ông càng ít cần ngủ hơn; nhiều người chỉ ngủ ba giờ một ngày. Hideo Murai là như thế. Sức mạnh tâm linh, sáng suốt – những người đạt tới cấp cao này về mọi mặt đều phần nào khiến người khác kinh ngạc.

MURAKAMI: Anh đã có lần nào gặp Asahara và chuyện trò trực tiếp với ông ta chưa?

Rồi, tôi đã gặp và nói chuyện. Hồi trước, khi người theo Aum còn ít, người ta đến với ông với những vấn đề vớ vẩn – như việc họ hay buồn ngủ vân vân, nhưng khi tổ chức lớn lên chúng tôi không có nhiều cơ hội gặp như thế nữa. Chúng tôi không còn đến được với ông theo kiểu một gặp một nữa.

Tôi đã trải qua nhiều kiểu khai tâm. Một số trong đó khá khó. Cái mà họ gọi là "Nhiệt" quả là tồi tệ. Họ cũng dính dáng đến ma túy. Lúc đó tôi không biết chuyện này nhưng đó là LSD 1 . Hễ dùng nó là chỉ thấy như đầu óc đã bỏ đi đâu mất. Ông không có cảm giác về thân thể mình, ông đối mặt với cái vô thức sâu nhất của ông. Không phải thứ dễ đương đầu đâu, tin tôi đi. Ông cảm thấy hoàn toàn lơ ma lơ mơ, chắc cũng giống như sau khi chết. Tôi không biết mình đang chơi ma túy – tôi cứ ngỡ đó là một thứ thuốc làm cho hướng nội để giúp tu luyện khổ hạnh.

MURAKAMI: Nhưng có vẻ một số người đã trải qua vài ảo giác khá tồi tệ rồi kết thúc với những vết sẹo sâu về cảm xúc.

Đó là khi liều dùng quá mạnh và khi các phương pháp khác không ăn thua. Có một bộ phận trong Aum gọi là Bộ Y tế do Ikuo Hayashi phụ trách, nhưng vụ đó khá ấm ớ. Tôi nghĩ nếu họ làm khoa học hơn thì đã chẳng có vấn đề gì. Ông cần nhớ cho, trong Aum có một tư tưởng phổ biến rằng mình nên được nhận mọi kiểu thử thách và phải vượt qua chúng. Nhưng với ma túy, nếu suy nghĩ kỹ hơn một chút thì sẽ có ích hơn.

MURAKAMI: Tháng Ba năm 1995, khi xảy ra vụ đánh hơi độc, ông đang ở đâu và đang làm gì?

Tôi đang ở một mình trong phòng tại Kamikuishiki, dùng máy tính. Tôi có kết nối Internet và thường đọc tin tức bằng cách này. Chúng tôi không nên làm thế nhưng dù sao tôi cũng cứ làm. Thỉnh thoảng tôi ra ngoài, mua một tờ báo rồi chuyền tay cho người khác mượn. Nếu phát hiện ra họ sẽ cảnh cáo ông, nhưng không là chuyện gì lớn cả.

Thế là tôi vào Internet đọc tin nhanh và biết về vụ đánh hơi độc trên xe điện ngầm ở Tokyo. Nhưng tôi không nghĩ Aum dính líu tới. Tôi không biết ai làm nhưng tôi đinh ninh không phải Aum.

Sau vụ đánh hơi độc, Kamikuishiki bị vây ráp. Chúng tôi nghĩ các thành viên của Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ bị bắt hết với những lời tố giác bịa đặt và xem ra thì tốt nhất là rời khỏi đó, cho nên tôi lấy một chiếc xe hơi lái loanh quanh trong khi cảnh sát lục soát. Tôi yên chí không phải là Aum làm.

Ngay cả sau khi ông ta [Asahara] bị bắt, tôi cũng không thấy tức giận. Cái này có vẻ là khó tránh. Những người theo Aum tin rằng giận dữ là dấu hiệu cho thấy tinh thần của ông vẫn non nớt. Thay vì tức giận, chúng tôi lại nghĩ đạo đức hơn là hãy nhìn sâu vào thực tế tình hình, rồi suy xét xem cần hành động gì.

Chúng tôi nói đến việc chúng tôi nên là và tất cả đều tán thành là chúng tôi nên tiếp tục tu luyện càng nhiều càng tốt. Chắc chắn là chúng tôi không có chút cảm giác đau buồn nào về việc bị dồn vào một góc hay gì. Bên trong Aum giống như mắt của cơn bão, rất êm ả.

Tôi chỉ bắt đầu nghi ngờ Aum là thủ phạm thật sự sau khi một vài người bị bắt và thú nhận. Họ gần như đều là bạn lâu năm của tôi. Nhưng với người theo Aum trung bình thì những người đó có làm hay không không thành vấn đề; cái quan trọng là liệu ông sẽ còn tiếp tục tu luyện khổ hạnh được nữa không. Chuyện làm sao để phát triển Bản Tâm quan trọng hơn việc Aum có là thủ phạm hay không.

MURAKAMI: Nhưng các giáo huấn của Aum Shinrikyo đều đi vào một hướng nhất định, dẫn đến các tội ác này khiến nhiều người bị giết hay bị thương. Ông thấy điểm này thế nào?

Ông cần hiểu rằng phần đó – Mật thừa 2 Đát đặc la 3 – rõ ràng là khác với phần còn lại.

Chỉ những người đã đạt đến cấp cực kỳ cao mới luyện Mật thừa. Chúng tôi được dặn đi dặn lại rằng chỉ những ai đã tu xong Đại thừa mới làm được 4 . Chúng tôi còn dưới đó nhiều cấp. Cho nên ngay cả sau vụ đánh hơi độc, chúng tôi cũng không thắc mắc gì về sự tu luyện cũng như các hoạt động mà chúng tôi liên quan đến trong giáo phái.

MURAKAMI: Gác đi vấn đề về cấp trên cấp dưới thì Mật thừa là một phần quan trọng của học thuyết Aum, vậy nên nó có ý nghĩa to lớn.

Tôi hiểu được ý ông nói nhưng từ vị trí của chúng tôi thì đó là một điều hão huyền – hoàn toàn không ăn nhập gì với những cái chúng tôi thường vẫn nghĩ hay làm. Nó quá xa vời. Ông phải mất cả vạn năm đạt được đủ thứ thì mới lĩnh hội được nó.

MURAKAMI: Tức là anh thấy nó không dính dáng gì đến mình? Nhưng, chỉ để tranh luận thôi, giả dụ như trình độ của anh đã tăng nhanh tới mức lĩnh hội được Mật thừa và anh nhận được lệnh giết một ai đó coi như một phần của con đường đạt tới Niết Bàn. Liệu anh có làm không?

Về logic đấy là một câu hỏi đơn giản. Miễn là giết một người mà nhờ đó ông lại kéo được người ta lên, nhờ đó người ấy sẽ hạnh phúc hơn sống cuộc đời hiện tại của người ấy. Tức là tôi hoàn toàn hiểu con đường đó. Nhưng điều này chỉ nên do một người có khả năng nhìn thấu quá trình luân hồi và hóa kiếp thực hiện. Bằng không thì đừng có làm. Nếu tôi có thể nhìn thấy điều gì sẽ xảy ra cho một người sau khi người ấy chết và giúp đưa họ lên một trình độ cao hơn – thì có lẽ ngay cả tôi cũng sẽ tham gia. Nhưng chưa ai trong Aum lên đến trình độ cao như thế.

MURAKAMI: Nhưng năm người kia đã làm chuyện đó.

Nhưng tôi thì sẽ không. Khác biệt nằm ở đấy. Tôi không thể chịu trách nhiệm với cái kiểu hành động này. Nó làm tôi sợ và tôi không tài nào làm được. Chúng ta hãy làm rõ ra một điều. Một người không thể nhìn thấu luân hồi của người khác thì không có quyền lấy đi tính mạng của người ta.

MURAKAMI: Shoko Asahara có tư cách làm việc đó không?

Lúc đó tôi nghĩ ông ta có.

MURAKAMI: Nhưng anh có đo lường được cái đó không. Anh có bằng chứng khách quan nào không?

Không, lúc này thì tôi không có.

MURAKAMI: Vậy phải chăng sẽ không thể tránh được việc pháp luật nước ta đưa ông ta ra xét xử, bất kể phán xét đưa ra là thế nào?

Đúng vậy. Tôi không nói mọi cái của Aum đều đúng. Tôi chỉ thấy có nhiều giá trị ở trong đó và tôi muốn bằng cách nào đó dùng nó làm lợi cho những người bình thường.

MURAKAMI: Nhưng ở một trình độ hiểu biết phổ biến, những người bình thường đã bị giết hại. Nếu anh không thể bù đắp được cho chuyện ấy thì ai sẽ nghe anh?

Đó là lý do vì sao tôi nghĩ chúng ta không thể nói về chuyện đó trong khung khổ của Aum được nữa. Tôi vẫn ở trong Aum vì các lợi ích nó đem lại cho tôi là rất lớn. Tôi đang cố giải quyết hết các vấn đề này, ở bình diện cá nhân. Tôi vẫn tin là ở đó có nhiều khả năng. Nó đòi hỏi một kiểu thay đổi về logic. Có những yếu tố rất đáng để hy vọng, và tôi đang cố tách bạch rõ cái tôi hiểu với cái tôi không hiểu.

Tôi sẽ chờ khoảng chừng hai năm và nếu Aum vẫn còn nguyên dạng như bây giờ thì tôi dự kiến sẽ ra khỏi đạo. Cho tới lúc đó tôi có rất nhiều điều phải nghĩ lại. Nhưng có một điều chắc chắn là chính xác – Aum Shinrikyo không học từ kinh nghiệm. Nó làm như điếc – bất kể người khác nói gì. Người khác nói chẳng ảnh hưởng tới nó mảy may. Không có cảm giác hối hận. Giống như điều mà các thành viên Aum nói về vụ đánh hơi độc: "Đó là một sứ mệnh của người khác. Không phải tôi."

Tôi không như vậy, vì tôi nghĩ vụ này là một sự kiện khủng khiếp. Lẽ ra người ta không bao giờ được làm điều đó. Cho nên ở bên trong tôi cái sự kiện đáng sợ này cứ xung đột với mọi điều tốt lành mà tôi đã trải qua. Những người bị chuyện kinh khủng ấy làm cho xúc động mạnh hơn thì bỏ Aum, còn với người mà với họ, cảm giác về những "điều tốt lành" mạnh hơn thì ở lại. Tôi đang bị kẹt vào đâu đó giữa hai bên. Tôi sẽ chờ xem.

"Nostradamus đã ảnh hưởng lớn đến thế hệ chúng tôi"

Akio Namimura (sinh 1960)

Namimura sinh ra ở quận Fukui. Anh từng muốn nghiên cứu văn học và tôn giáo, hai lĩnh vực anh luôn quan tâm từ trước khi vào đại học, nhưng anh và bố anh, một người khá cứng ngắc, đã xung đột với nhau về việc anh nên chuyên về môn gì nên anh đã thôi không học đại học để đi làm. Anh tìm được việc làm ở nhà máy phụ tùng xe hơi tại thành phố Fukui. Hồi học trung học phổ thông anh ghét học, chỉ đọc các sách theo ý mình, luôn cảm thấy lạc lõng trong môi trường của mình. Phần lớn các sách anh đọc lúc đó là về tôn giáo hoặc triết học.

Anh làm nhiều nghề, và tiếp tục đọc sách, suy ngẫm, viết và đặc biệt quan tâm đến tôn giáo. Suốt đời mình, anh luôn cảm thấy rõ mình và thế giới này không hề đồng điệu. Đó là lý do anh đi tìm sự liên hệ với những người sống ở ngoài trào lưu chính. Nhưng giữa cuộc tìm kiếm ấy, anh vẫn không thể bỏ hết được sự ngờ vực rằng điều mà anh phát hiện lại không phải là câu trả lời anh tìm kiếm. Anh nhận thấy mình không thể toàn tâm toàn ý gửi gắm mình vào bất cứ một nhóm cụ thể nào, ngay cả khi anh đã trở thành thành viên của Aum cũng vậy.

Hiện nay, anh trở về quê hương, làm việc cho một công ty vận tải đường dài. Anh luôn yêu biển và thường đi bơi. Anh điên lên vì Okinawa. Anh thường khóc khi xem phim của Hayao Miyazaki. 5 "Như thế chứng tỏ tôi có cảm xúc bình thường của con người," anh nói.

° ° °

Khi tốt nghiệp trung học phổ thông tôi cảm thấy hoặc là tôi từ bỏ thế giới này hoặc là chết – một trong hai điều. Nghĩ đến tìm việc làm là tôi đã phát ốm. Nếu có thể thì tôi thích được sống một đời sống tôn giáo. Do sống có nghĩa là tích cóp tội lỗi cho nên tôi nghĩ có khi chết lại tốt cho thế giới hơn nhiều.

Những ý nghĩ này đi qua đầu tôi trong khi tôi đang bán lốp cho một công ty phụ tùng xe hơi. Thoạt đầu tôi là một tay bán hàng vô dụng. Tôi vào trạm xăng hay một cửa hàng sửa chữa xe, nói "Xin chào" rồi đứng đực ra, không nói thêm được nữa. Tôi thấy khó xử, và cả các khách hàng tiềm năng của tôi cũng thế. Mới đầu số tiền tôi bán được là con số không.

Về sau tôi giao tiếp tốt hơn và đã có thể tăng doanh thu lên được một ít. Đây là cách rèn luyện tốt cho đời. Tôi làm ở đấy hai năm. Lý do tôi bỏ việc là tôi đánh mất bằng lái.

Tình cờ một người họ hàng của tôi lại mở lò luyện thi ở Tokyo, ông ta nói tôi có thể làm việc cho ông. Tôi đang nghĩ đến việc trở thành một nhà tiểu thuyết, và khi tôi nói chuyện ấy ra, ông ta bảo tôi, "Chữa các bài làm văn, anh có thể học thành nhà tiểu thuyết đấy."

Nghe hay đấy, tôi nghĩ, cho nên đầu năm 1981 tôi chuyển đến Tokyo và bắt đầu làm việc ở lò luyện thi đó. Nhưng chuyện lại không như hứa hẹn. Người họ hàng đột nhiên trở nên lạnh nhạt với tôi: "Anh muốn thành nhà tiểu thuyết? Dẹp cái mộng ấy đi. Thế giới không phải là xứ sở thần tiên, anh biết đấy." Tôi thậm chí còn không được cho giúp chữa các bài làm văn. "Anh không đủ trình độ," ông ta bảo và tôi được bố trí cho những việc làm kỳ lạ - giữ cho học trò trật tự, quét dọn phòng, những việc đại khái như thế. Tôi chịu đựng được một năm rưỡi rồi chào thua.

Nhờ để dành được ít tiền khi làm việc ở Fukui cho nên tôi quyết định sống bằng tiền tiết kiệm qua lúc này và học để làm nhà văn. Thế là ba năm tôi thất nghiệp. Tôi hạn chế tiêu pha đến tối thiểu. Tôi không mua thứ gì cả, trừ cái ăn. Dù sao thì nói chung tôi cũng là một kẻ thanh đạm. Tôi chỉ có đọc và viết. Khu vực tôi ở thật tuyệt vì quanh đó có những năm thư viện công cộng. Đó là một cuộc sống cô độc, nhưng cô độc không làm tôi buồn phiền. Tôi nghĩ chắc nhiều người không chịu nổi cảnh như tôi.

Tôi thường đọc tiểu thuyết siêu thực – Kafka, Nadja của Breton, những cuốn như vậy. Tôi đến các lễ hội, liên hoan, giao lưu ở các trường đại học, đọc tất cả các tạp chí be bé họ phát hành và đánh bạn với những ai tôi có thể nói chuyện về văn học. Tôi kết bạn với một tay học ở khoa triết Đại học Waseda, và anh ta đã giới thiệu cho tôi nhiều tác giả: Wittgenstein, Husserl, Shu Kishida, Shoichi Honda. Tôi ấn tượng với cách viết tiểu thuyết của cha này, nhưng nay nghĩ lại thì chuyện của cha thật sự là mượn ý chỗ khác.

Tay ở Waseda có một người bạn tên là Tsuda theo Soka Gakkai 6. Anh ta cố hết sức kéo tôi theo. Chúng tôi thảo luận tôn giáo liên miên nhưng cuối cùng anh ta nói: "Xem đấy, nói suông thì chẳng đi tới đâu cả. Nếu anh không thật sự trải nghiệm nó thì đời anh sẽ không thay đổi cho nên hãy nghe tôi mà thử một lần xem sao." Thế là tôi vào nhóm Soka Gakkai của anh ta, sống với họ khoảng một tháng nhưng tôi nhận thấy cái này không phải dành cho tôi. Họ là một trong các tôn giáo nhắm đến mục đích là giúp con người trở nên thành công trong thế giới này. Tôi đang tìm một kiểu học thuyết thanh khiết hơn. Như Aum. Aum gần với các lời dạy ban đầu của đạo Phật hơn.

Khi cạn tiền, tôi bắt đầu làm việc cho một công ty chuyên chở hàng cho cửa hàng bách hóa. Tôi làm việc này trong hai năm. Việc vất vả nhưng tôi vẫn luôn thích võ thuật và tập luyện với cường độ cao nên cũng không sợ lao động chân tay. Đây là một công việc bán thời gian nên lương thấp nhưng tôi làm căng gấp ba bất cứ ai khác. Tôi theo học các lớp buổi tối ở một chỗ gọi là Trường Kỹ thuật Nhà báo Nhật. Tôi nghĩ tôi có thể viết phóng sự.

Nhưng chính vào khoảng dạo đó cuộc sống ở Tokyo khiến tôi kiệt sức. Đầu óc tôi rối tinh rối mù. Tôi hung bạo hơn, tính khí nóng nảy. Tôi thích thiên nhiên, nên tôi nghĩ trở lại với thiên nhiên hay quay về quê quán có vẻ là một ý hay. Tôi đã quan tâm tới cái gì là sẽ không rời đầu óc khỏi nó được. Lúc bấy giờ tôi quan tâm tới sinh thái học. Dù hiểu theo cách nào thì cánh rừng cụ thể ấy vẫn cháy bỏng trong tôi và tôi thèm nhìn thấy biển ở quê hương mình.

Vậy là tôi quay về nhà bố mẹ và bắt đầu làm việc trên công trường xây dựng lò phản ứng hạt nhân tốc độ cao Monju. Tôi dựng giàn giáo. Tôi cũng coi công việc này như tập luyện nhưng nó cực kỳ nguy hiểm. Sau một thời gian ông sẽ quen với độ cao. Tôi ngã nhiều lần và đã có phen suýt chết. Xem nào – tôi ở đấy phải gần một năm. Từ lò phản ứng Monju, ông sẽ thấy đại dương đẹp như một kỳ quan. Chính vì thế tôi chọn công việc này. Tôi có thể ngắm đại dương trong khi làm việc. Biển ở nơi xây dựng lò phản ứng hạt nhân là đẹp nhất trong cả một vùng quanh đó.

MURAKAMI: Nhưng một người thích sinh thái học thì có nên làm ở lò phản ứng hạt nhân không?

Lúc ấy tôi đang có kế hoạch viết phóng sự về lò phản ứng hạt nhân này. Tôi nghĩ viết về nó thì sẽ phế bỏ được việc tôi tham gia xây dựng nó. Nghĩ kiểu hy vọng, có lẽ. Ông biết phim Cầu trên sông Kwai 7 chứ? Ý tưởng của tôi cũng tương tự. Ông ra sức xây dựng một cái gì rồi cuối cùng ông tự phá hủy nó. Dĩ nhiên tôi không định đi đặt bom hay gì. Nói thế nào nhỉ? Vì đằng nào biển mà tôi rất yêu mến cũng sẽ bị ô nhiễm, nên tốt hơn để tôi là người làm điều đó. Những cảm xúc chồng chéo, tôi biết. Đầu óc tôi bị xé ra nhiều hướng.

Một năm sau, tôi xong việc ở Monju và đến Okinawa. Tôi lấy tiền dành dụm được từ nghề xây dựng để mua một chiếc xe cũ và đi phà đến Okinawa, sống một dạo trong chiếc xe ấy. Tôi làm một chiếc đi chơi tà tà từ bãi biển này đến bãi biển khác. Như vậy mất chừng hai tháng. Tôi đâm ra phải lòng quang cảnh ngoài trời lớn rộng ở bên ngoài. Cái tuyệt của Okinawa là bất cứ chỗ nào ông đến đều có cá tính riêng của nó. Hè nào tôi cũng lên "Cơn sốt Okinawa" và không thể ngồi yên. Tôi phải đi. Nó làm cho tôi khó mà làm được một công việc lâu dài. Mùa hè đến là y rằng tôi sẽ đi Okinawa, không nói một lời.

Cùng thời gian ấy bố tôi qua đời, ngay trước khi tôi sang tuổi 30. Chúng tôi không hợp nhau. Chẳng ai trong gia đình yêu ông. Mọi người nghĩ ông tốt nhưng ở nhà thì ông là bạo chúa. Say xỉn là ông trở nên hung dữ. Lúc tôi còn nhỏ ông thường hay đánh tôi. Sau này người ngợm khỏe hơn, tôi đánh ông trước. Tôi không tự hào chuyện đó. Lẽ ra tôi nên là một đứa con tốt hơn.

Tôi luôn bị tôn giáo lôi cuốn nhưng bố tôi lại là một người duy vật, một người duy lý. Cái này gây nên bất hòa giữa hai bố con tôi. Tôi vừa đưa ra vài ý kiến tôn giáo, ông liền cười nhạo tôi, nói, "Cái lão Thượng đế ấm ớ ấy ở đây đủ rồi!" Ông nổi xung lên. Điều này làm tôi rất buồn: "Sao bố lại cứ phải nói ra những lời kinh khủng như thế mới được? Sao bố không chấp nhận bất cứ cái gì con làm?"

Sức khỏe bố tôi kém đi lúc tôi đang ở Okinawa. Tôi lao vội về Fukui nhưng bố tôi qua đời ngay sau đó. Ông bị xơ gan, một cách chết hãi hùng. Về cuối, ông không ăn một thứ gì, chỉ uống rượu và gầy mòn dần. Nằm trên giường lúc sắp chết, bố bảo tôi, "Giờ chúng ta hãy nói chuyện tử tế nhé," nhưng tôi nói, "Bố để con yên. Sao bố không cứ thế mà chết đi?" Tôi nghĩ ở một nghĩa nào đó tôi đã giết bố.

Sau đám tang tôi quay lại Okinawa. Tôi lại làm việc trên một công trường xây dựng. Nhưng xa gia đình và Fukui khiến tôi suy sụp tinh thần kinh khủng. Sau khi bố chết tôi đã thấy khá hơn. Cả nhà lại quây quần và chúng tôi lại sống cuộc sống vui vẻ ngày xưa. Nhưng sau khi trở lại Okinawa thình lình tôi quỵ ngã. Tôi cảm thấy như đang bị kéo xuống địa ngục, tôi đá đạp và la hét. "Mình đi đứt mất rồi," tôi nghĩ. Thế nào ta cũng sẽ kết thúc ở địa ngục thôi. Không có cách nào quay lại. Cảm giác kiểu như thế. Một ca trầm cảm lâm sàng nghiêm trọng. Tôi cứ từ từ phát điên lên. Những ngày mưa không thể làm việc tôi chỉ nằm cuộn tròn trên giường. Người khác ra ngoài chơi pachinko còn tôi chỉ một mình ở lại, hoàn toàn trống rỗng.

Một hôm vào khoảng ba giờ sáng tôi thức dậy và cảm thấy rất kinh khủng. Tôi nghĩ, "Thế đấy. Ta là đồ bỏ đi." Tôi gọi điện về cho mẹ và mẹ tôi bảo tôi về nhà. Nhưng ở Fukui các vấn đề tâm thần của tôi vẫn không dứt. Không có gì làm tôi phấn chấn lên. Một tháng sống ở nhà tôi tuyệt đối không làm một thứ gì.

Người đã cứu tôi thoát khỏi tình trạng này là một nữ yuta ở Okinawa 8.

Thật ra tôi đã đọc quyển Lightning bird: One Man’s journey into Africa [tạm dịch: Con chim sét: Hành trình của một người vào châu Phi] của Lyall Watson và thấy rất cảm động.

MURAKAMI: Quyển ấy hay, đúng không?

Boshier, nhân vật chính, là một người động kinh và tâm thần phân lập. Nhưng anh và những người giống anh đã gặp được một vị sư phụ, trải qua rèn luyện rồi trở thành thầy phù thủy. Nói cách khác họ đã có thể biến cái tiêu cực thành cái tích cực. Và mọi người kính trọng họ. Tôi đọc cái đó mà nghĩ: "Kìa, họ đang nói đến mình đây." Tôi bắt đầu tìm hiểu và thấy người ta cũng đã nhắc đến những cái tương tự về một nữ yuta ở Okinawa. Cho nên có lẽ tôi có thể trở thành một yuta. Tôi đủ tư cách chứ, đúng không? Lối thoát với tôi là thế đấy.

Vậy là tôi đi Okinawa và gặp được một yuta nổi tiếng. Tôi gặp tới chừng vài chục người khác nhưng trong cả đám đông bà chỉ lấy ra có mình tôi, nói tôi bị cái gì đó khiến mình canh cánh không yên. Cứ như nhìn thấu đến tận tâm hồn tôi vậy. "Anh không yên vì chuyện bố mình, đúng không?" bà nói. "Anh đang bám chặt lấy bố nhưng anh phải dứt mối gắn bó này đi. Hãy để ông lại phía sau mà bước theo hướng mới. Nếu mẹ anh còn sống thì anh phải chăm nom săn sóc tử tế. Quan trọng nhất là sống bình thường."

Nghe thế mà tôi thấy như cất đi được một gánh nặng: "A, mình được cứu rồi!" Sau đó tôi chỉ làm cho một công ty. Mùa hè tôi không bỏ đi Okinawa nữa. Tôi quyết định trông nom mẹ chu đáo, làm lụng chăm chỉ và thôi nhảy việc.

MURAKAMI: Trong trường hợp Adrian Boshier, anh ta buộc phải vào một thế giới khác nhưng trong trường hợp của anh, anh vẫn có thể quay lại thế giới này. Trên thực tế anh đã được bảo quay lại.

Đúng thế. Đã xảy ra như thế. Sống bình thường – lấy vợ, có con – tất cả cái đó cũng là một cách tu luyện, tôi đã được bảo thế. Thực ra đó là cách tu khó nhất.

Có một thời gian tôi đã để tâm đến tôn giáo, tìm hiểu một vài đạo. Tôi dính líu khá nhiều vào Cơ Đốc giáo và Soka Gakkai, như tôi đã nói. Ngay bây giờ tôi đang tham gia một giáo hội Cơ Đốc. Nên Aum chỉ là một phần nhỏ trong cuộc sống của tôi. Nhưng, đến tận bây giờ tôi vẫn cảm thấy Aum là một cái gì đó đặc biệt. Nó có sức mạnh như thế đấy.

Năm 1987 khi Aum xuất hiện lần đầu tiên, tôi viết thư cho họ hỏi xin một số tài liệu nhập môn. Một số tài liệu được gửi đến. Tôi ngạc nhiên thấy họ chuyên nghiệp đến thế. Tôn giáo mới toanh đó hẳn có nhiều tiền lắm mới phát hành được những thứ in ấn đẹp đẽ như vậy.

Lúc ấy ở Fukui chưa có chi nhánh của Aum nhưng có một cái ở gần Sabae, một người ở đấy tên là Omori cho các thành viên Aum dùng căn hộ của ông làm nơi hội họp mỗi tuần một lần. Họ mời tôi và một dạo thỉnh thoảng tôi cũng đến đó. Họ chiếu một băng video về Aum, clip này đã xuất hiện trên chương trình All night Live TV! và tôi thấy rất ấn tượng. Joyu 9 nói quá là hay.

Ông ta giải thích rằng những người theo Aum đang dùng đạo Phật nguyên thủy làm cơ sở để thông qua tu hành khổ hạnh mà phát triển năng lượng kundalini. Ông ta có thể trả lời rõ ràng, đơn giản mọi câu hỏi. "Thật sự không tầm thường," tôi nghĩ. "Thật là một gã ấn tượng, nhóm này tuyệt vời."

Những người ở đấy đều đã theo Aum, trừ tôi. Tôi chỉ là một người quan sát. Lúc ấy, một lý do thực tiễn đã giữ tôi không đi xa hơn: vào Aum là mất tiền. Họ có một khóa học mà ông có thể theo – trị giá 300.000 Yên, với mười băng cát xét. Trong đó thu những lời giảng của Giáo chủ Asahara cho nên rất hiệu nghiệm. Có được quyền năng mà trả có thế này thì là rẻ, ai cũng nghĩ thế và xì ra 300.000 Yên. Nhưng riêng cái đó đã làm tôi sợ. Tôi nghèo, phải kèn kẹt từng xu cho nên có thể tôi nhạy cảm với số tiền đó hơn.

Chúng tôi đi cùng xe buýt đến Nagoya. Đó là lần đầu tiên tôi thấy Shoko Asahara. Tôi chưa là thành viên cho nên chưa được phép hỏi ông ta điều gì cả. Ở Aum, ông phải được thăng cấp nếu muốn làm cái gì, và muốn được thế thì lại phải mất tiền. Chỉ lên đến một cấp nào đó thì ông mới được phép đặt câu hỏi với Asahara. Lên một bước nữa thì ông được cho một vòng hoa quàng cổ. Tôi chứng kiến điều này ở Nagoya và cảm thấy nó thật vớ vẩn. Asahara cũng được thần thánh hóa dần lên và chuyện đó làm tôi khó chịu.

Tôi đặt mua báo Mahayana của Aum ngay từ số đầu. Lúc đầu nó là tờ tạp chí hay. Họ rất chú ý giới thiệu kinh lịch của các tín đồ có thật và mục "Tôi đã trở thành một thành viên Aum như thế nào?" có những câu chuyện đăng tên thật của người kể. Tôi bị ấn tượng trước sự trung thực của họ. Nhưng sau một thời gian, tạp chí không tập trung vào cá nhân các thành viên mà tập trung vào mỗi Asahara, nâng ông lên cao nữa cao mãi với những người sùng bái ông ta. Thí dụ khi ông ta đi đâu thì các thành viên lại trải quần áo của mình xuống đất để ông ta bước trên đó. Thế thì hơi quá. Chuyện đó thật đáng sợ - khi ta quá sùng bái một người thì tự do sẽ ra đi lúc nào không biết. Trên hết, Asahara có vợ và một lô một lốc con; trong ánh sáng các giáo lý uyên nguyên của đạo Phật, tôi thấy việc này lạ. Để lảng tránh chuyện này, ông ta nói mình là Người được Giải phóng Cuối cùng và chuyện vợ con đó không bị tích góp vào nghiệp căn. Dĩ nhiên không ai biết ông ta có thật sự như thế hay không.

Tôi không ân hận là đã cho mọi người biết mối nghi ngờ của mình. Tôi thấy có một điều lạ là có rất nhiều người theo Aum chết vì tai nạn xe hơi. Tôi hỏi một người tôi quen biết rõ – cô Takahashi – về chuyện này. "Cô không thấy nhiều tín đồ chết như thế này là không bình thường ư?" tôi hỏi. "Không, có sao đâu," cô trả lời, "vì bốn tỷ năm nữa trong tương lai, Giáo chủ sẽ hóa thân thành Đức Phật Di Lặc, trở lại và hồi sinh vong hồn của những người đã chết." "Vớ vẩn thật!" tôi nghĩ.

Ngoài ra, Aum còn dùng bạo lực tấn công Tara Maki, biên tập viên của tạp chí Sunday Mainichi, tạp chí này hiện vẫn tiếp tục phê phán Aum. Tôi hỏi họ vì sao, họ chỉ nói: "Dù chúng tôi có bị công kích thế nào, dù có bất cứ chuyện gì xảy ra với chúng tôi, thì những người có quan hệ với Giáo chủ đều được phù hộ độ trì cả. Dù chúng tôi có sa vào hỏa ngục thì rồi sau Người cũng sẽ cứu chúng tôi."

Một thời gian dài, quan hệ của tôi với Aum cứ chập chờn lúc gần lúc xa. Nhưng năm 1993, một người của Aum tên là Kitamura đến nhà tôi. Ông đã gọi báo là muốn nói chuyện với tôi nên tôi nói được thôi. Tôi xa Aum đã được một dạo nên cũng muốn cập nhật một số tin tức mới nhất. Nhưng càng nói ông ta càng rồ. Ông ta nói nếu Thế chiến III nổ ra thì những gì sẽ xảy đến, vũ khí laser, vũ khí plasma – giống như ở trong truyện khoa học giả tưởng. Nghe thú vị, phải thừa nhận như thế, nhưng chuyện đó khiến tôi nghĩ rằng Aum đang sắp làm gì đó khá dữ dội.

Lúc đó Aum gây nhiều áp lực buộc tôi trở thành thành viên của nó. Lý do khiến cuối cùng tôi cũng gia nhập có liên quan đến người phụ nữ tôi vừa nhắc đến, cô Takahashi. Bà tôi vừa mới mất và tôi đang rất buồn. Cô Takahashi gọi điện cho tôi, nói cô có chuyện muốn nói với tôi, "Thật sự thì," cô nói, "tôi vừa vào Aum và muốn bàn việc đó với anh." Cho nên chúng tôi gặp nhau. Cô 27 tuổi, kém tôi sáu tuổi. Cứ y như số phận vậy. Tôi cảm thấy điều này ở tận đáy tâm can. Sau đó cô và tôi thật sự cởi mở với nhau. Và tháng Tư năm 1994 tôi gia nhập Aum.

Cái chết của bà tôi chắc cũng đã có ảnh hưởng. Công ty tôi đang làm hiện cũng bắt đầu giãn thợ. Trùm lên trên hết, căn bệnh tôi nói trước đây vẫn còn. Tôi hy vọng vào Aum thì sẽ rũ bỏ được nó hoàn toàn và mãi mãi.

Phải thừa nhận là tôi quan tâm đến cô Takahashi. Không phải theo nghĩa lãng mạn – nhưng không hiểu sao tôi không gạt nổi cô ra khỏi đầu. Tôi có thể thấy cô đã mê muội Aum – nhưng chìm đắm hẳn vào nó như thế liệu có tốt cho cô không? Tôi hoài nghi Aum, và tốt nhất là nêu các nghi ngờ này ra với cô. Tôi kết luận rằng cách làm chuyện này nhanh nhất là tôi cũng vào Aum để có thể gặp cô và có cơ hội nói chuyện với cô. Tôi biết cái này nghe hơi bị vị tha chủ nghĩa.

May sao phí gia nhập tổ chức đã tụt xuống mạnh chỉ còn 10.000 Yên. Hội phí nửa năm 6.000 Yên. Và họ cho không chúng tôi mười băng cát xét. Sau khi gia nhập, để làm thấu đáo các nghi thức khai tâm, ông phải xem chín mươi bảy băng video Aum và đọc bảy mươi bảy quyển sách Aum. Một số lượng lớn nhưng không hiểu sao tôi đã làm đầy đủ cả. Việc cuối cùng ông phải làm là tụng thần chú mantra. Chúng tôi nhận một tờ giấy in và tụng to nó lên nhiều lần, dùng một cái máy đếm để đếm số lần. Đó là lý do vì sao các thành viên Aum đều có máy đếm hết. Chúng tôi phải tụng bảy nghìn lần. Tôi đã thử tụng một lúc nhưng nghĩ thấy chuyện này thật ngớ ngẩn nên bỏ. Theo ý tôi thì nó không khác gì so với ở Soka Gakkai.

Họ ra sức biến tôi thành một kẻ xuất gia. Vào thời điểm đó, Aum đang phấn đấu tăng số lượng thành viên. Tôi vẫn chưa xong các nghi thức khai tâm nhưng họ nói chuyện đó không quan trọng. Nhưng tôi vẫn cưỡng lại. Cuối năm ấy cô Takahashi xuất gia. Cô gọi đến chỗ tôi làm việc, ngày 20 tháng Chạp, và nói, "Tôi sắp làm việc kia đấy." Bữa ấy là lần cuối cùng chúng tôi nói chuyện với nhau. Cô trở thành người xuất gia và đi mất.

Khi vụ đánh hơi độc xảy ra, tôi đã giữ mình tránh xa khỏi Aum. Cô Takahashi đã lôi kéo được một người nữa cùng nhập đạo, và tôi cố thuyết phục người ấy đừng gia nhập. Ai cũng biết tôi đang phê phán các phương pháp của Aum. Nhưng một tín đồ vẫn là một tín đồ, nên tháng Năm năm 1995, cảnh sát đã đưa tôi đi thẩm vấn. Chắc họ có danh sách những người theo đạo. Phương pháp của họ khá là cổ lỗ. "Anh có thể giẫm lên ảnh của Shoko Asahara không?" họ hỏi y như thời Edo, khi người ta bắt những tín đồ Cơ Đốc Nhật từ bỏ tín ngưỡng bằng việc xéo lên một bức họa Jésus. Tôi đã trực tiếp trải nghiệm rằng cảnh sát Nhật có thể đáng sợ đến mức nào.

Cảnh sát lại đến hỏi tôi vẫn trong năm 1995, khi một máy bay của hãng ANA [All Nippon Airways] bị không tặc ở Hokkaido. "Anh có biết chút gì về chuyện này, đúng chứ?" họ khăng khăng. Họ đến suốt. Y như là đeo bám vậy. Bất kể tôi làm gì, luôn có ai đó theo dõi tôi. Một cảm giác rờn rợn. Cảnh sát lẽ ra phải bảo vệ công dân nhưng lúc đó họ đang làm tôi sợ muốn chết. Tôi không làm gì sai nhưng lúc nào tôi cũng sợ có thể bị bắt. Họ đang lần lượt bắn hết các tín đồ của Aum, từng người một, chỉ vì những vi phạm nhỏ nhặt. Họ tạo ra một vài tội trạng như giả mạo hay cái gì đó và tôi tin chắc họ cũng sẽ làm như thế với tôi.

Họ gọi điện thoại suốt, hỏi có ai ở Aum liên lạc với tôi không. Lẽ ra tôi nên chịu đựng tất cả nhưng tôi lại khá ngu xuẩn để cho nỗi tò mò muốn biết cái gì đang xảy ra bên trong Aum choán hết tâm trí, và tôi đã đi cả một thôi đường dài đến một satyam ở Osaka để gặp một người phụ nữ xuất gia mà tôi biết. Tôi muốn biết chị cảm thấy ra sao giữa cuộc đàn áp này của cảnh sát.

Tôi mua vài số tạp chí Anuttara Sacca của Aum đem về. Ông không thể tìm ra sách báo của Aum ở các hiệu sách báo nữa mà tôi thì muốn xem chúng viết cái gì. Tôi vừa rời khỏi satyam thì hai cảnh sát giữ tôi lại để chất vấn, hỏi tôi vào trong đó làm gì. Tôi sợ nhưng cũng không muốn dây vào chuyện bực mình nên bằng cách nào đó đã hẩy được họ rồi chuồn lẹ. Thảo nào mà cảnh sát càng để mắt đến tôi hơn.

MURAKAMI: Lúc đó anh có tin rằng Aum đã gây ra vụ đánh hơi độc không?

Tin chứ. Tôi tin rằng Aum làm việc đó nhưng tôi vẫn cứ tò mò về Aum, không dẹp đi được. Tôi quan tâm đến thực chất của cái nhóm tôn giáo bị cả xã hội đả kích này, sách của nó không hàng sách nào bán thế nhưng nó vẫn phát hành nhật báo của chính mình – một kiểu sức sống lạ lùng luôn trỗi dậy, bất chấp người ta có cố nghiền nát nó đến đâu. Cái gì đang diễn ra ở Aum? Những người theo nó thật sự nghĩ gì? Tôi là tôi muốn biết những cái đó. Kiểu như cách nhìn của nhà báo. Tivi chưa cho tôi cái gì giống như thế cả.

MURAKAMI: Anh cảm thấy thế nào về bản thân vụ đánh hơi độc?

Sai hoàn toàn và không thể tha thứ. Không có ngờ vực gì ở điểm này hết. Nhưng ông nên phân biệt Shoko Asahara với những tín đồ bình thường ở cơ sở. Họ không phải là tội phạm tất và bụng dạ của một số người trong số họ là trong sáng thật sự. Tôi biết nhiều người như thế và tôi thấy tiếc cho họ. Họ không hợp với hệ thống của chúng ta vì họ không được thoải mái ở trong đó hoặc là họ đã bị hệ thống gạt bỏ. Những người theo Aum là kiểu như vậy. Và tôi mến họ. Với tôi, kết bạn với họ thật dễ dàng. Tôi cảm thấy gần gũi với họ hơn là với những người ăn nhập tốt đẹp vào hệ thống. Thủ phạm đích thực là chính bản thân Asahara. Hắn có sức mạnh kinh khủng.

Cũng buồn cười là vì gặp cảnh sát quá nhiều mà tôi bắt đầu kết bạn với họ. Lúc đầu tôi sợ, nhưng dần dà hai bên thân mật. Họ hỏi có thư nào của Aum gửi đến không, tôi đưa tất cả cho họ. Tôi đã hợp tác thì cảnh sát trở nên cởi mở hơn và tốt với tôi hơn nhiều. "Chà," tôi nghĩ, "đôi khi ngay đến cảnh sát cũng trong sáng và trung thực. Tất cả họ đều làm việc hết sức vất vả. Vậy nếu yêu cầu của họ hợp lý thì tôi hợp tác."

Năm mới đến gần, tôi nhận được một tấm thiệp của mẹ cô Takahashi. Bà viết, "Chúng tôi đã sai hoàn toàn." Ban đầu, bản thân bà cũng là một người sùng tín Aum. Bà đã trải qua hết các thủ tục khai tâm. Nhưng bất kể thế nào, tôi vẫn muốn gặp cô Takahashi. Có quá nhiều chuyện tôi muốn nói với cô. Tôi nói với cảnh sát và cho họ xem tấm thiệp.

Chắc việc này đã khiến họ nảy ra ý dùng tôi làm đặc tình. Họ gọi tôi đến và hỏi ý tôi về chuyện đó. Họ có dùng từ "đặc tình" hay không tôi không thể nhớ nhưng thực chất thì là như vậy. Nói cách khác, họ hỏi tôi có thâm nhập vào tổ chức của Aum để thu thập thông tin rồi báo cáo lại cho họ không? Cái ý làm đặc tình dĩ nhiên là không hấp dẫn rồi. Nhưng tôi thì chỉ muốn tìm cách gặp những người theo Aum, mà tôi đã làm bạn với cảnh sát, vậy sao lại không chứ? Mình sẽ thử xem sao, tôi nghĩ.

Tôi là kiểu người buông theo dòng. Một kẻ cô đơn, về cơ bản không bạn không bè. Cái kiểu người dính chặt lấy bậc thang cuối cùng của công ty và luôn bị la mắng. Không ai coi trọng tôi hết. Cho nên khi cảnh sát hết sức thành thật nói với tôi, "Anh hãy cố lấy cho chúng tôi một ít thông tin" thì tôi rất vui. Dù đây là cảnh sát nhưng tôi vẫn vui vì đã được giao lưu với một người nào đó. Ở công ty tôi chẳng đánh bạn với ai cả. Các bạn Aum của tôi đều đã đi hết, cô Takahashi xuất gia theo Aum và cũng đi mất. Cho nên "Nếu chỉ trong một thời gian ngắn thì OK," tôi nghĩ. Và tôi đã bảo họ như vậy. Lẽ ra không nên.

MURAKAMI: Làm đặc tình cho cảnh sát có phải là một trải nghiệm đáng giá không?

Tất cả những gì tôi muốn là được tiếp xúc với cô Takahashi để đưa cô ấy trở lại. Không phải như một đặc tình hay là cái gì gì. Tôi chỉ là muốn tiếp xúc với các thành viên của Aum. Nhưng nếu tôi tự làm, không hợp tác với cảnh sát thì tôi sẽ bị vạch mặt là một người của Aum và tôi sợ chuyện đó. Họ sẽ coi tôi như một tội phạm. Được cảnh sát hậu thuẫn, tất cả việc này làm sẽ êm hơn. Tôi cũng nghĩ mình có thể thuyết phục vài thành viên bỏ Aum. Nhưng như thế là không trung thực, ông có nghĩ thế không?

MURAKAMI: Trung thực hay không, đó là chuyện không dễ phân biệt.

Đúng thế. Tôi thấy tiếc cho cô Takahashi và cảm thấy mình cần phải làm điều gì đó. Về chuyện này tôi chỉ nghĩ có thế. Nếu sự thể cứ tiếp tục như thế này cô ấy sẽ bị xử như tội phạm. Tôi cố thuyết phục cô ấy nhưng tôi không biết cô ấy ở đâu. Nếu hợp tác với cảnh sát thì có thể tôi sẽ có được thông tin. Nhưng tôi không bao giờ tìm ra được tung tích cô. Tôi hỏi cảnh sát suốt nhưng họ cũng không dò ra được dấu vết. Họ chỉ biết mỗi một điều là cô ấy vẫn đang xuất gia. Có thể họ biết nhưng không bảo tôi.

Dù sao thì do các chi nhánh ở Fukui và Kanazawa đã đóng cửa cho nên kế hoạch để tôi chui vào Aum đã sụp đổ.

MURAKAMI: Vậy thì câu chuyện đã kết thúc có hậu với anh, đúng không? Nhân tiện, anh có quan tâm đến các sấm truyền của Nostradamus không?

Rất nhiều chứ. Nostradamus có ảnh hưởng lớn đến thế hệ tôi. Tôi đã xoay quanh các câu sấm của ông ta mà lên kế hoạch cho đời mình. Tôi khát khao được tự sát. Tôi muốn chết. Nếu có bị chết yếu thì tôi cũng chẳng bận tâm. Nhưng vì kết cục của thế giới đang đến trong hai năm tới nên tôi nghĩ nên kiên nhẫn lâu hơn chút nữa. Tôi muốn được chứng kiến tận mắt cuối cùng thì điều gì sẽ xảy ra. Tôi đã thích các tôn giáo theo thuyết tận thế. Cộng thêm Aum, tôi đã được tiếp xúc với Giáo phái các Nhân chứng của Jehoval. Nhưng những gì họ nói đến đều là thứ dấm dớ cả.

MURAKAMI: Anh dùng chữ "kết cục" là để chỉ lúc mà hệ thống hiện tại này bị xóa sạch phải không?

Tôi thích nghĩ là nó được điều chỉnh sắp xếp lại. Tôi có ước vọng được bấm nút reset chỉnh đốn lại cuộc sống. Tôi tưởng tượng nó là một cuộc tẩy rửa, diễn ra rất hòa bình.

"Mỗi người lại có hình ảnh riêng của mình về Giáo chủ"

Mitsuharu Inaba (sinh 1956)

Ông Inaba vẫn là một thành viên tích cực của Aum. Ông sống với một số thành viên khác của Aum trong một chung cư hai tầng tại Tokyo. Nếu là thành viên Aum thì khó mà thuê được nhà ở đâu nhưng ông chủ tòa nhà này lại rất thông hiểu: "Nếu đang trên bước quay lại đời sống bình thường mà không tìm được chỗ ở thì cứ đến đây." Bất cứ đâu có tín đồ Aum ở là có lũ gián tủa ra; trong khi phỏng vấn, tôi đã thấy mấy con bò qua thảm tatami. Chuyện này chắc làm cho ông chủ tòa nhà lo lắng đây. Biết họ là Aum, hàng xóm đều lạnh nhạt.

Ông Ibana sinh năm 1956 ở Hokkaido. Nom vẻ thì xưa ông là một đứa trẻ hoàn toàn bình thường nhưng ông lại bảo ông luôn ngẫm về ý nghĩa cuộc đời. Xu hướng này thấy ở nhiều tín đồ Aum. Cuộc hành trình theo đuổi trí tuệ của ông đã mang ông từ triết học đến Phật giáo, rồi đến Phật giáo Tây Tạng và cuối cùng thì đến Aum Shinrikyo. Đang là thầy giáo dạy tiểu học và trung học cơ sở, đến năm 34 tuổi ông xuất gia. Vào lúc xảy ra vụ đánh hơi độc, ông thuộc về Bộ Phòng vệ Aum và làm việc bảo dưỡng các máy làm sạch Vũ trụ. 10

Nay ông sống lần hồi bằng cách làm gia sư một tuần một buổi. Đời sống khó khăn. "Ông có biết học sinh nào để giới thiệu cho tôi không?" ông mỉm cười hỏi. Ông là một người rất nghiêm túc, điềm tĩnh và tôi hình dung ông là một thầy giáo tốt. Mặt ông rạng rỡ hẳn lên khi nhớ lại việc dạy cho đám con cái những người trong Aum.

Trong phòng của ông có một ban thờ với ảnh Giáo chủ Asahara và ảnh của Đức Thánh Rinpoche, người lãnh đạo mới của Aum.

° ° °

Tôi không muốn làm thầy giáo nhưng theo mẹ tôi thì đó là con đường duy nhất mở ra cho tôi. [cười] Sau trung học phổ thông, tôi bỏ hai năm luyện thi đại học rồi mới thi thật. Tôi bị ốm cả một năm trời. Trong tôi như diễn ra một kiểu đấu tranh triết học, một thời kỳ bất mãn lớn. Tôi đi bệnh viện thì hóa ra huyết áp tôi đã lên tới 180. Sau đó tôi ở nhà để hồi phục sức khỏe. Tôi uống thuốc hạ huyết áp. Tôi là loại người nghiền ngẫm về mọi thứ và quá nhạy cảm với mọi thứ quanh mình. Nói "đấu tranh triết học" là tôi muốn nói tôi nhận thấy mình phải làm một số việc theo một cách thức nhất định nhưng biết tôi không thể làm nổi, thế là tôi quay ra ghét chính mình. Hồi đó tôi còn trẻ và ương bướng.

Ở đại học, tôi học chuyên ngành giáo dục tiểu học, tập trung vào tâm lý học giáo dục. Tôi chọn tiểu học vì tôi thích trẻ con. Nhưng tôi vẫn bứt rứt về việc mình sẽ làm gì cho đời mình đây. Tôi ý niệm rằng có những điều trẻ con sẽ dạy cho tôi. Cùng một lúc tôi sẽ vừa dạy vừa được dạy.

Ngay năm đầu tôi đã được chủ nhiệm lớp. Một lớp có tới bốn chục đứa trẻ và lúc đầu không phải là dễ, tin tôi đi. Một dạo công việc hoàn toàn cuốn hút tôi. Thật ra thì hồi đó vui lắm. Tôi làm thầy giáo tổng cộng mười năm và những năm tuyệt nhất là năm sáu năm tôi dạy tiểu học. Tôi cũng có quan hệ tốt với phụ huynh. Đôi khi chúng tôi tụ tập với nhau hát hò, ăn bánh nhà làm, vân vân. Tôi không gặp chuyện gì xấu với đồng nghiệp.

Một người muốn kiếm cho tôi một cô vợ. Bố mẹ tôi cũng muốn cho tôi thành gia thất. Và một dạo tôi đã đi hẹn hò với một số phụ nữ. Nhưng lúc nào tôi cũng biết cuối cùng mình sẽ phải từ bỏ cái thế giới này.

MURAKAMI: Vậy là ông đã nghĩ đến chuyện đó?

Vâng, đã nghĩ. Nghĩ đến trước cả khi tôi tìm ra Aum song điều mà tôi mang ở trong đầu thì còn hơn cả xuất gia truyền thống. Tôi hình dung ra mình về hưu khi sáu chục tuổi và sống một cuộc đời đơn giản.

Khi ở đại học, tôi thật sự thích Nietzche và Kierkegaard nhưng dần dần mối quan tâm của tôi chuyển sang tư tưởng Đông phương, đặc biệt là Thiền. Tôi đọc đủ kiểu sách Thiền và tập kiểu Thiền tự học có tên là "Thiền sói cô độc". Nhưng tôi không thể bắt bản thân kham nổi những khía cạnh khổ hình. Cho nên sau đó – tính theo thời gian thì vào khoảng tôi có việc làm – tôi bắt đầu quan tâm đến Phật giáo Shingon bí truyền, đặc trưng là Kukai. Tôi trèo lên núi Koya, làm một chuyến hành hương quanh Shikoku trong dịp nghỉ hè, thăm Đền Toji khi tôi đến Kyoto – các việc đại loại thế 11.

Người ta gán cho đạo Phật Nhật Bản là "đạo Phật tang ma", nói rằng nó chỉ liên quan tới mỗi một việc là hướng dẫn tổ chức tang lễ, nhưng tôi nghĩ ông nên có cái nhìn tích cực hơn, nhìn vào sức mạnh tồn tại qua nhiều thế kỷ của nó. Chắc chắn trong các phong tục ấy cũng phải có vài chỗ đã thực hành đạo Phật chân xác. Tôi không để ý lắm đến cái gọi là tôn giáo mới. Tôi nghĩ chúng có tuyệt vời đến mấy thì lịch sử của chúng quá lắm cũng mới chỉ ba bốn chục năm. Tôi bám lấy Phật giáo Shingon.

Sau bốn năm tôi dạy tiểu học bỗng dưng người ta hỏi tôi có muốn chuyển lên trung học cơ sở không.

Tôi dạy ở trung học cơ sở chừng bốn năm thì tình cờ tìm thấy mấy quyển sách của Aum. Cửa hàng sách có bán một tạp chí nho nhỏ mang tên Mahayana, tôi đã mua đọc. Đó là thời điểm nó mới xuất hiện, có lẽ chỉ mới ra số thứ tư hay thứ năm. Có một mục đặc biệt dành riêng cho yoga Mật, món tôi chưa được biết đến nhiều. Tôi muốn được học hỏi nhiều hơn.

Một Chủ nhật, tôi cùng đồng nghiệp đi Shinjuku mua vài giáo cụ. Trên đường đi, chúng tôi đi tuyến Odakyu, và ở gần ga Gotokuji có một dojo, tức đạo tràng của Aum tại Setagaya. Chúng tôi cũng đang rảnh nên tôi nghĩ hay là tạt qua. Tình cờ Joyu lại đang có một buổi nói chuyện tên là "Tập hợp Po-a". Po-a đây có nghĩa là nâng trình độ tâm linh của con người ta lên.

Tôi thật sự ấn tượng trước những điều ông ta nói. Diễn đạt quá rõ ràng – cách ông ta dùng ẩn dụ chẳng hạn. Rất hấp dẫn, đặc biệt là cánh trẻ. Sau khi giảng, ông cho người nghe đặt câu hỏi và những câu trả lời đều cực kỳ chính xác, câu nào cũng trúng phắp vào câu hỏi của từng người nêu ra.

Một tháng sau tôi gia nhập. Tôi nói rõ trước rằng trước mắt sẽ chỉ gia nhập ba tháng hay nửa năm thôi, để chừa đường rút. Phí gia nhập 3.000 Yên, niên liễm 10.000 Yên, khá rẻ. Khi ra nhập rồi thì ông nhận các tờ báo định kỳ này và có thể dự tất cả các bài giảng. Các cuộc họp nghe giảng được chia ra làm những lớp cho công chúng nói chung, cho tín đồ thế tục và cho những người đã tuyên thệ. Tôi đến dojo này mỗi tháng một hai lần.

Khi trở thành thành viên, tôi sẽ không có bất cứ vấn đề cá nhân nào hay gì gì đó. Chỉ có điều, bất chấp ở đâu, tôi đều cảm thấy như có một lỗ trống trong người và gió thì lao qua đó. Tôi không bao giờ cảm thấy hài lòng. Nhìn bên ngoài, ông không tưởng tượng được là tôi có rắc rối gì. Khi tôi xuất gia, người ta bảo tôi: "Ông thì còn bị rắc rối gì được cơ chứ? Sao mà ông lại có vấn đề gì được nhỉ?"

MURAKAMI: Trong đời mỗi người đều có những khi cảm thấy đau, buồn, tuyệt vọng. Một cái gì làm ông chấn động tận tâm can. Ông chưa bao giờ trải qua điều gì như thế hay sao?

Không có gì đến mức cực kỳ cả, không. Mà nếu có tôi cũng không thể nhớ lại được.

Mùa hè tôi ở ba ngày tại tổng đàn mới xây ở núi Phú Sĩ. Nhưng phải đến mùa thu 1989 tôi mới bắt đầu luyện tập nghiêm túc ở dojo. Tối thứ Bảy nào tôi cũng đi và Chủ nhật thì về. Cả tuần tôi tự luyện ở nhà, đặc biệt khi đến gần thời điểm được nhận sakti-pat – tôi cần phải khỏe mạnh cho việc đó. Nạp năng lượng ở đấy là rất tinh vi; ông phải tập trung tu luyện cho nó. Tôi làm các thế asana [yoga], các bài tập thở, thiền đơn giản; các buổi tập luyện thường kéo dài ba giờ và ông phải luyện được hai mươi bài. Khi tập như vậy ông sẽ cảm thấy trong người có sự chuyển hóa. Thế giới tinh thần của ông trở nên phấn chấn hơn, tích cực hơn. Ông như một con người mới vậy.

Thành viên ở dojo là những típ người thanh đạm, kiên nghị. Tất cả các sư phụ và huấn luyện viên đều hết sức chân thành và có sức cuốn hút. Nhưng, cái cách mà họ ứng xử với những người ở bên ngoài – nói như thế nào nhỉ? – tôi nghĩ lẽ ra họ đã có thể làm tốt hơn. Giống như khi một sinh viên tốt nghiệp và có công việc đầu tiên thì anh ta thường quá nghiêm túc với việc đó. Anh ta vẫn chưa có kinh nghiệm gì trong xã hội. Aum cũng tạo ra ấn tượng mạnh như thế về sự non nớt – của những sinh viên chưa hiểu gì về thế giới.

Để xuất gia tôi phải bỏ dạy học. Tôi đến gặp Hiệu trưởng để nói thôi việc vào tháng Ba, lúc hết năm học. Tôi cũng nói qua chuyện này với "sư huynh" tôi trong Aum. Ông ta bảo tôi, "Không việc gì phải gấp. Nếu ông làm thêm một năm nữa, hoàn thành các nghĩa vụ rồi tuyên thệ thì chẳng phải hay hơn sao?" Tôi có lo lắng nhưng quyết định làm thêm một năm nữa.

Nhưng trong khi tiếp tục tu luyện, tôi đã chìm đắm vào trạng thái xuất hồn, vô thức của tôi bắt đầu nổi lên còn ý thức về thực tại thì yếu đi.

Khi điều này xảy ra, ông được coi như là tách rời khỏi thế giới. Nếu vô thức tôi nổi lên vào kỳ nghỉ hè thì đã chẳng sao nhưng đây nó lại xảy ra trước. Lúc nó tệ nhất, khi lên lớp khoa học, tôi không sao nhớ ra nổi mình đã trộn các hóa chất để làm thí nghiệm hay chưa. Cảm nhận về thực tại của tôi tiêu tan. Trí nhớ của tôi hóa ra mù mờ và tôi không thể nói là tôi đã làm một việc nào đó thật hay chỉ tưởng tượng ra.

Ý thức của tôi đã đi sang phía bên kia và tôi không thể lấy được nó về. Kinh sách của đạo Phật đã nói đến chuyện này, khi ông tới một điểm nào đó thì yếu tố tâm thần phân lập này sẽ xuất hiện. Trong tôi không có cái gì chắc chắn để cho tôi dựa vào. May sao tôi vẫn còn ý thức được mình đang ở đâu; nếu sự tình tồi đi chút nào là tôi có thể bị bệnh tâm thần phân lập thật. Tôi càng ngày càng sợ. Tôi phải chữa trị ngay tình trạng phân đôi nhân cách này nhưng đến gặp các nhà phân tâm học sẽ chẳng giúp được gì. Giải pháp nằm trong việc tu luyện của tôi. Vậy là tôi thành kẻ xuất gia. Nếu trong tôi không còn gì để dựa vào nữa thì tôi chỉ còn làm được một điều duy nhất là hiến mình cho Aum. Hơn nữa, tôi luôn nghĩ một ngày nào đó sẽ chối bỏ thế giới này mà.

Tôi lại nói với Hiệu trưởng, bảo cuối cùng tôi vẫn thôi việc. Từ nhiệm giữa chừng năm học là một vấn đề lớn với một giáo viên. Ông rất thông cảm nên đã cho tôi nghỉ ốm cho đến hết các ngày lễ. Nhưng rốt cuộc tôi đã cứ như buộc họ phải để tôi đi. Thậm chí tôi cũng không chào từ biệt một đồng nghiệp nào. Tôi chắc đã gây nên một số vấn đề cho nhà trường. Chắc mọi người nghĩ tôi hoàn toàn vô trách nhiệm.

Tôi thành người xuất gia ngày 7 tháng Bảy. Tôi liên lạc với bố mẹ và hai cụ đến thăm tôi khi tôi đang nghỉ phép ốm. Các cụ giận đến tái mặt. Tôi cố mọi cách thuyết phục các cụ nhưng không ăn thua, bất chấp tôi nói gì. Với bố mẹ, tôi quan tâm đến đạo Phật thì không sao nhưng Aum Shinrikyo là quá giới hạn. Tôi giải thích rằng xem vẻ thì nó có thể là thế nhưng Aum dựa trên nền tảng vững chắc của kinh bổn Phật. Dù vậy, với người ngoài như hai cụ thì phản ứng như vậy là chuyện khó tránh.

"Về nhà ngay," hai cụ nói. "Anh phải chọn hoặc về nhà hoặc sang với bên ‘chúng nó’." Tôi rất khổ tâm khi đưa ra quyết định. Nếu quay về nhà ở Hokkaido tôi sẽ tiếp tục sống cái cuộc đời cũ như tôi từng sống. Chẳng giải quyết được gì hết. Tôi đã nghĩ đi sâu vào đạo Phật là giải pháp duy nhất. Cho nên tôi xuất gia. Nhưng để quyết định như thế tôi đã thực sự trăn trở dằn vặt.

Trong các đồng nghiệp giáo viên có một người bạn tốt gần như ngày nào cũng mang bia đến gặp tôi. "Anh không đi thật sự chứ, hả?" anh hỏi. Anh rơm rớm nước mắt nài tôi. Nhưng tôi sắp cất chân đến một thứ mình hằng kiếm tìm từ bé, cho nên tôi chỉ có thể bảo anh, "Tôi xin lỗi. Đây là việc tôi phải làm."

Sau khi tuyên thệ tôi đi thẳng tới Naminomura ở Aso để làm công việc xây dựng. Mái của cơ quan Aum sắp xong. Việc này vất vả nhưng hấp dẫn – khác hẳn với việc tôi từng làm trước đây. Nó khiến tôi tràn đầy sinh lực, như đang dùng đến một bộ phận khác của não mình vậy. Sau đó tôi quay về núi Phú Sĩ, làm nhiều việc ở đây, rồi đi xây dựng Satyam số 2 ở Kamikuishiki-mura. Họ gọi thời kỳ ngay sau khi xuất gia là "Xây đắp Công đức Tâm linh". Nó chủ yếu gồm các việc phục dịch cùng với một tí chút tu hành khổ hạnh. So với việc dạy học, tôi không có gì phải phiền muộn về quan hệ người với người hay trách nhiệm. Giống như khi là nhân viên mới của một công ty thì ông chỉ việc làm những việc cấp trên sai thôi. Về tâm lý nó là một sự giải tỏa lớn.

Nhưng tôi vẫn chưa thấy dễ chịu. "Nếu cách này không ăn thua," tôi nghĩ, "thì sao đây?" Tôi dẫu gì cũng đã ngoài 30. Không còn ngả quay về, vậy nên tôi cần tu luyện căng hơn. Không thể trông vào ai khác cả. Tôi đã chọn cách sống như thế này cho mình, nếu tôi không thể lấy được cái gì có giá trị hơn ở nó thì rời bỏ thế giới sẽ chỉ dẫn tới khổ đau.

Năm sau [1991], tháng Chín tôi quay về Aso. Lần này tôi là một bộ phận của "Đoàn Thiếu nhi", dạy con cái của những người xuất gia theo Aum. Tổng cộng gần tám chục trẻ. Tôi phụ trách khoa học. Người khác dạy tiếng Nhật, tiếng Anh và môn khác. Phần lớn trước đây đều từng là giáo viên. Chúng tôi xây dựng chương trình học và điều hành mọi thứ như một nhà trường thực thụ.

MURAKAMI: Những gì anh dạy có liên quan gì tới giáo dục tôn giáo không?

À, trong các giờ tiếng Nhật họ dùng kinh bổn Phật làm khóa văn chính nhưng khoa học thì không liên quan nhiều với Phật pháp. Dạy khoa học với quan điểm của Aum với tôi thật khó khăn cho nên tôi xin lời khuyên của đấng Sáng lập [Asahara]. "Vì khoa học và thế giới thế tục là một," ông ta nói, "anh nên làm điều mình muốn." "Ông chắc như thế không sao chứ?" tôi hỏi. [cười]

Vậy là dễ cho tôi. Tôi thu băng các chương trình tivi để dùng chúng làm khóa văn. Việc này rất vui. Tôi cũng dạy cả các con đấng Sáng lập và đôi khi ông bảo tôi là chúng thích lên lớp lắm. Tôi chỉ dạy chừng một năm rồi bắt đầu tu hành khổ hạnh.

Chừng nào liên quan đến các vấn đề tôn giáo thì Giáo chủ là người có quyền lực ghê gớm – không còn nghi ngờ gì được ở điểm này. Tôi tuyệt đối tin chắc như thế. Ông rất giỏi làm cho bài giảng của mình phù hợp với người nghe, và ông có một năng lượng to lớn. Một dạo khá lâu sau đó, tôi được điều đến nơi gọi là Bộ Phòng vệ, lắp đặt và bảo dưỡng các máy làm sạch Vũ trụ ở đấy, một máy lọc không khí kiêm thiết bị làm sạch. Vì thế tôi đến nhà của đấng Sáng lập một tuần hai lần. Tôi cũng chịu trách nhiệm bảo dưỡng máy làm sạch không khí ở trong xe hơi của Giáo chủ. Tôi có nhiều dịp nói chuyện trực tiếp với ông và ông cũng nói ra nhiều điều đáng suy nghĩ. Tôi có thể cảm thấy ông đang cố hết sức mình xem xét điều gì là tốt nhất cho tôi, tốt nhất cho sự phát triển và trưởng thành của tôi. Hình ảnh này của ông khác xa ghê gớm với hình ảnh người ta vẽ ra về ông ở phiên tòa.

Ở tòa, người ta nói: "Lệnh của Giáo chủ là phải tuân theo tuyệt đối." Nhưng, với kinh nghiệm bản thân, nhiều lần tôi không tán thành ông và đưa ra cách khác thay thế thì ông thay đổi ý kiến, nói, "Thôi được, vậy cứ làm cách của anh đi." Nếu mình nêu rõ ý kiến, ông ta sẽ điều chỉnh mọi thứ để mình được hài lòng. Cho nên ít ra với tôi thì ông ta cũng không có vẻ cưỡng buộc người khác làm việc gì.

MURAKAMI: Có thể ông ta hành động khác nhau tùy theo từng loại lệnh và loại người mà ông ta ra lệnh cho.

Tôi không biết. Đấy là một bí mật. Mỗi người lại có một hình ảnh của mình về Giáo chủ.

MURAKAMI: Giáo chủ - Asahara – có ý nghĩa như thế nào với cá nhân anh? Anh có thể gọi ông ta là sư phụ hay người thầy thông thái, nhưng với tôi thì hình như mỗi tín đồ lại có một hình ảnh hơi khác nhau về ông ta.

Với tôi thì Giáo chủ là một lãnh tụ tâm linh. Không phải là nhà tiên tri hay cái gì đó, mà là người có thể đưa ra đáp án cuối cùng về kinh bổn Phật. Người có thể diễn giảng kinh bổn Phật cho tôi. Với đạo Phật ông có thể muốn đọc bao nhiêu kinh bổn gốc cũng được nhưng đó chỉ là câu chữ trên giấy. Ông có tự nghiên cứu kinh bổn sâu xa đến đâu, ừm, tôi sẽ không gọi nó chính xác là đạo Phật tự tu, nhưng cuối cùng thế nào ông cũng đi đến chỗ diễn giảng lệch lạc theo cách của chính mình. Điều then chốt là thông qua tu luyện đúng cách để từng bước tiến tới hiểu biết đúng đắn. Sau khi đã tiến lên một bước, ông dừng lại, nhập tâm và nhận ra sự tiến bộ mình vừa có. Điều này sẽ lặp đi lặp lại. Và ông cần một người thầy để hướng dẫn ông rèn luyện đúng hướng. Tương tự như khi học toán vậy. Để đạt tới một trình độ nào đó, trước hết ông phải tin điều mà thầy giáo đang dạy ông và làm những điều thầy giáo bảo. Học xong một công thức trước rồi mới học sang công thức sau. Như thế.

MURAKAMI: Nhưng đôi khi anh đã đi đến chỗ ngờ vực trong đầu rằng liệu vị thầy giáo của anh có đúng hay không. Chẳng hạn anh có tin vào những thứ như Trận Quyết chiến 12 hay Hội Tam điểm không?

Không hề. Chỉ sau này tôi mới thấy. Khi còn ở Aum tôi không biết. Tuy tôi hoàn toàn cảm thấy sức ép từ bên ngoài đang mạnh lên. Và có nhiều người ốm, hay sức khỏe bắt đầu giảm sút hơn. Cái này có thể thành vấn đề nếu tôi nói ra, nhưng đã có gián điệp chui vào trong tổ chức.

MURAKAMI: Anh có biết đích xác ai là gián điệp không?

Không. Nhưng tôi bị công an mật giám sát và tôi chắc chắn đã có vài gián điệp thâm nhập. Nhưng tôi không thể chứng minh.

Xã hội đinh ninh rằng vụ đánh hơi độc từ đầu đến cuối là Aum làm – nhưng tôi phân vân. Rõ ràng Aum là nhân vật chính trong tội ác này nhưng có vẻ những người khác, những nhóm khác cũng dính líu vào nhiều mặt của nó. Sẽ có những hậu quả nghiêm trọng nếu điều này lộ ra, cho nên một số người trong đó đang che giấu nó. Dĩ nhiên khó mà chứng minh được gì.

MURAKAMI: Đúng là khó. Nhưng chúng ta hãy quay lại với nội bộ Aum. Nó có hoàn toàn yên bình không?

Không, cũng có vấn đề. Chẳng hạn lần đầu tiên tôi đến Aso, tôi không thể tin được rằng mọi thứ lại thiếu hiệu quả đến như thế. Chúng tôi xây một tòa nhà chỉ để kéo sập nó xuống. Những cái chúng tôi xây dựng không phải là những cái chúng tôi cần. Nó cứ y như liên hoan ở nhà trường vậy. Ông cố hết sức dựng lên một mô hình, chỉ để phá tan nó khi liên hoan kết thúc. Vậy sao làm nó? Vì trong quá trình mọi người lao động cùng với nhau ông học được nhiều: cách quan hệ với người khác, các khả năng kỹ thuật khác nhau, mọi thứ yếu tố không nhìn thấy trước. Đó là lý do vì sao ông dốc sức làm việc chỉ để cốt phá hủy nó. Trong lao động cộng đồng như vậy, ông dần hiểu được rõ tâm trí mình.

MURAKAMI: Có thể chỉ là bởi trước hết chính các bản vẽ đã hơi ngu ngốc rồi.

Rất có thể là thế. [cười] Nhưng ông làm gì được? Ông chỉ có mỗi cách là chấp nhận. Các doanh nghiệp ở Nhật ít nhiều đều như thế cả, đúng không?

MURAKAMI: Nhưng không có doanh nghiệp nào xây cả một đập chắn nước để rồi quay lưng lại mà phá đi cả.

Không, chắc là họ không đến nỗi như thế.

MURAKAMI: Có ai phàn nàn gì về cách làm thiếu hiệu quả như thế không?

Một số người nói ra, một số không. Có một dạo tôi làm ở Nhóm Khoa học dưới quyền Murai về việc phát triển máy làm sạch Vũ trụ. Nói cách khác, một máy làm sạch không khí khổng lồ.

Liên quan tới các máy làm sạch Vũ trụ, tôi được điều đến Bộ Phòng vệ mới thành lập năm 1994. Thật sự nói lên điều gì đó, đúng thế chứ? Cái tên gọi ấy. [cười] Từ xây dựng đến khoa học, rồi lại đến Bộ Phòng vệ. Tôi không coi tất cả những thứ này là nghiêm túc. Tôi không bao giờ nghĩ là chúng tôi đang cố tạo ra nhà nước hay cái gì gì đó của riêng chúng tôi.

Tôi làm việc ở chỗ bảo dưỡng các máy làm sạch Vũ trụ. Chúng tôi làm khoảng sáu chục máy làm sạch khổng lồ gắn vào mặt các tòa cao ốc. Những cái này phát triển thành máy làm sạch Vũ trụ nội thất và máy làm sạch Vũ trụ hoạt hóa. Chúng tôi chịu trách nhiệm bảo dưỡng tất cả chúng. Phải nói thật bảo dưỡng còn gay go hơn xây dựng nó. Luôn có vấn đề - chất lỏng rò rỉ, động cơ trục trặc.

MURAKAMI: Ở Satyam số 7 người ta có dùng các máy làm sạch Vũ trụ, có phải đấy cũng là chỗ đặt nhà máy sản xuất sarin không?

Tôi không được phép vào đó. Nếu được phép thì hôm nay tôi đã không ngồi ở đây. Hôm xảy ra vụ hơi độc tôi ở Satyam số 3 tại Kamekuishiki, chờ cảnh sát vây ráp. Lúc ấy chúng tôi biết cảnh sát đang đẩy mạnh điều tra. Một số người của đài báo cũng đang ở đấy, tôi nghĩ thế. Nhưng 9 giờ vẫn không thấy cảnh sát tới cho nên tôi nghĩ, "Không phải hôm nay," và quay về làm việc. Tôi mở radio thì nghe thấy có chuyện bất thường xảy ra ở đường xe điện ngầm ở Tokyo. Lẽ ra chúng tôi không được phép nghe radio nhưng đằng nào tôi cũng nghe rồi. [cười] Tôi nói tin này cho người đồng nghiệp ngồi cạnh tôi. "Họ cũng sẽ buộc tội Aum cho mà xem," chúng tôi cả quyết. Cảnh sát ập vào vây ráp chỗ chúng tôi hai ngày sau.

MURAKAMI: Anh Inaba này, đến giờ thì anh có nhận đúng là bộ phận của Aum đã làm vụ đánh hơi độc không?

Tôi nhận. Có một vài bộ phận tôi không tìm hiểu đầy đủ được, nhưng do những người liên quan đã thú tội và ra tòa nên tôi tin là nó đã xảy ra như thế.

MURAKAMI: Cảm giác của anh về mức độ trách nhiệm của Asahara là thế nào?

Nếu ông ta là thủ phạm thì ông ta phải bị xét xử theo pháp luật. Nhưng như tôi đã nói trước đây, giữa hình ảnh Asahara mà tôi có ở trong đầu và Asahara mà tôi thấy ở tòa án là có một khoảng cách lớn… Là một sư phụ hay nhân vật tôn giáo, ông ta có một cái gì rất chân thật. Cho nên tôi dè dặt chưa phán xét.

Từ khi vào Aum Shinrikyo tôi cũng tiếp thu được nhiều điều hay. Nhưng để các cái này sang một bên, cái gì xấu thì phải được nhìn nhận rõ ràng là xấu, và đây là việc tôi đang cố làm hiện nay. Ở bên trong tôi. Và thật lòng mà nói, tôi không biết mọi thứ rồi sẽ phát triển ra sao trong tương lai sẽ dành cho tôi điều gì.

Nói chung người ta có ấn tượng rằng đạo Phật và Aum là hoàn toàn khác nhau. Một số người đơn giản xếp loại Aum là một kiểu kiểm soát khống chế đầu óc, nhưng nó thế thì sơ lược quá. Với tôi, Aum là cái mà tôi đã đặt cược vào đó toàn bộ những năm tuổi hai mươi ba mươi của đời mình.

MURAKAMI: Tự luyện ép xác kiểu Phật giáo Tây Tạng bí truyền có liên quan đến mối quan hệ một-đối-một giữa sư phụ và môn đệ, nhằm tới sùng tín tuyệt đối, đúng thế chứ? Nhưng chuyện thế này thì sao, chẳng hạn như thứ ban đầu là một phương pháp rất hay nhưng rồi không hiểu sao trong quá trình tu luyện lại bắt đầu trở nên kỳ dị - nói theo thuật ngữ máy tính thì cũng giống như máy tính và các chức năng bị virus xâm nhập dẫn đến trục trặc. Không có bên thứ ba ngăn chặn quá trình này.

Cái này thì tôi không rõ.

MURAKAMI: Vậy thì tức là có một mối nguy cố hữu ở chỗ này vì nó liên quan đến sự sùng bái tuyệt đối. Lần này anh đã tình cờ không dính líu vào vụ kia nhưng nếu cứ theo logic ở đây thì khi sư phụ lệnh cho anh thực hành po-a, có nghĩa là anh phải làm, đúng không?

Nhưng tôn giáo nào thì cũng vướng đến kiểu sùng tín này cả. Ngay cả khi tôi được lệnh làm chuyện đó, ta thí dụ vậy, thì tôi cũng không nghĩ mình lại có thể làm được. Ừm… có nghĩa là có lẽ tôi chưa sùng đủ mức. [cười] Tôi chưa cống hiến toàn bộ bản thân. Hay cách khác, ông có thể nói là tôi còn yếu. Và tôi là loại người cứ phải tin thật chắc rồi mới hành động được. Quá nệ đạo lý chung, tôi cho là vậy.

MURAKAMI: Tức là nếu anh đã tin chắc rồi thì anh có thể làm chuyện kia chứ? Nếu họ nói, "Anh Ibana, anh thấy đấy, chuyện là như thế này, và đó là lý do chúng ta phải thực hành po-a." Nếu họ thuyết phục anh thì sao?

À, tôi không biết. Không có. Ừm… cái này, ừm, khó nói đấy.

MURAKAMI: Có điều này tôi đang cố hiểu là trong học thuyết Aum Shinrikyo, Bản ngã được để vào vị trí nào. Trong tu hành, anh để sư phụ làm bao nhiêu và anh tự quyết lấy cho mình bao nhiêu? Ngay cả sau khi nghe anh nói, tôi vẫn chưa rõ chỗ này.

Trên thực tế cái Bản ngã không thể nào được hoàn toàn độc lập. Sẽ luôn có những sự can thiệp từ bên ngoài. Bản ngã chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, kinh lịch, cách thức tư duy. Cho nên không rõ được là Bản ngã thuần túy mở rộng ra xa đến đâu. Đạo Phật bắt đầu bằng nhận thức rằng cái Bản ngã mà ông tin là Bản ngã của mình thì cũng không phải là Bản ngã đích thực. Cho nên có lẽ Phật giáo là thứ xa vời nhất với sự kiểm soát khống chế đầu óc. Nó gần hơn với ý tưởng của Socrates cho rằng kẻ thông tuệ nhất biết là mình thiếu tuệ.

MURAKAMI: Có thể coi Bản ngã được chia ra thành bề mặt và bề sâu – một cái gì vô thức, như kiểu một chiếc hộp đen. Một số người cảm thấy sứ mệnh của họ là cậy mở cái hộp đen ấy để tìm ra chân lý. Có thể có một cái gì gần với trạng thái xuất hồn mà anh nhắc tới ở trên.

Thiền là một phương pháp đạt tới phần sâu xa nhất của bản thân ông. Theo cách nhìn của đạo Phật thì nằm sâu bên trong vô thức là sự méo mó thực chất của mỗi con người. Và Thiền chữa trị cái đó.

MURAKAMI: Tôi nghĩ con người nên mở cái hộp đen kia nhưng đồng thời nên chấp nhận nó như nó vốn có, nếu không thì có thể sẽ trở nên nguy hiểm. Nhưng khi nghe những người bị bắt giữ trình bày thì có vẻ họ đã không thể làm được chuyện đó. Họ chỉ phân tích mọi chuyện bằng lý trí còn phần trực giác thì lại để cho một người nào đó khác. Cách nhìn đời của họ trở nên cực kỳ tĩnh. Cho nên khi một ai đó có động tĩnh to lớn – chẳng hạn Asahara – bảo họ làm một cái gì là họ không thể khước từ.

Tôi không thật chắc là nắm được điều ông nói nhưng tôi nghĩ tôi biết điều ông đang nhắm tới. Nó thực chất là sự khác nhau giữa trí tuệ và kiến thức.

Nhưng ông cần hiểu rằng có những người không liên quan gì tới vụ này mà vẫn nhất mực tu hành vì sự trưởng thành cá nhân, để đạt tới cứu rỗi. Dĩ nhiên Aum đã làm những việc khủng khiếp, điều này không thể chối cãi, nhưng có những người bị bắt và bị đe dọa vì những vi phạm nhỏ mà lẽ ra họ không đáng phải chịu. Chẳng hạn, nếu tôi ra ngoài đi dạo, cảnh sát sẽ theo tôi. Nếu tôi cố kiếm việc làm, tôi sẽ bị quần cho mệt. Thậm chí người đã bỏ các cơ sở của Aum còn không tìm được chỗ mà sống. Báo đài chỉ đưa ra cách nhìn phiến diện về nó. Thảo nào chúng tôi ngày càng thấy khó tin vào thế giới thế tục.

Họ bảo nếu chúng tôi từ bỏ tín ngưỡng của mình thì họ sẽ chấp nhận chúng tôi, nhưng những người đã tuyên thệ đều có động cơ trong sáng, họ, ở một nghĩa nào đó, yếu đuối về cảm xúc. Nếu họ có thể ở nhà, làm việc như bình thường, và tu hành để nâng cao mình lên thì sẽ chả có ai nói gì. Nhưng họ không thể và đó là lý do vì sao họ đi vào trạng thái tạm thời, cô lập gọi là xuất gia, từ bỏ tất cả. Những người như thế có sự cưỡng lại với các vật chướng ngại của đời sống trần tục, với những vấn đề kia.

Cấu trúc của Aum đã thay đổi khá nhiều, theo những cách rất cơ bản. Trông thì như không có gì thay đổi nhưng bên trong đã diễn ra quá trình cải tạo nội tại. Đã có những động thái quay lại từ đầu, cái lúc nó bắt đầu ở trình độ yoga. Nhưng người ta có thể gọi việc đưa con của Người Sáng lập lên làm Giáo chủ mới là không thể tha thứ và bảo chúng tôi đã chẳng học được gì.

MURAKAMI: Tôi không định nói thế này, nhưng nếu anh không công khai phản ánh những gì đã xảy ra và cho thấy anh có ân hận, nếu như anh cứ tiếp tục làm như không xảy ra chuyện gì thì sẽ không ai tin anh. Tôi thấy không thể đơn giản nói: "Đây là việc do người khác làm. Các lời dạy cơ bản của Aum là đúng. Chúng tôi cũng là nạn nhân." Có những yếu tố nguy hiểm trong bản chất của Aum, trong cấu trúc của học thuyết Aum. Aum có nghĩa vụ phải nói ra tất cả những điều đó bằng một tuyên bố công khai. Làm như vậy thì anh sẽ tiếp tục các hoạt động tôn giáo theo phong cách riêng của mình hay không cũng chẳng ai quan tâm.

Chúng tôi đang đi đến một kiểu báo cáo tạm thời, dù có chậm và không đầy đủ. Báo cáo này không tóm lại hết mọi thứ nhưng đằng nào thì báo đài cũng sẽ không đăng nó đâu. Nếu chúng tôi phạm sai lầm, thì chúng tôi muốn mọi người sẽ chỉ ra. Nhưng tổ chức Phật giáo không muốn dính dáng gì tới chúng tôi, nên vẫn im lặng.

MURAKAMI: Có phải vì các anh vẫn còn bám lấy từ vựng các cách thức câu cú của các anh không? Anh cần nói theo cách thông thường, logic thông thường giống như đang chuyện trò thông thường vậy. Nếu anh làm cho nó nghe ra kiểu bề trên thì sẽ chẳng có ai thiết cả.

Vâng, việc ấy rất khó. Nhưng nếu chúng tôi nói năng theo cách thông thường thì chuyện gì sẽ xảy ra? [cười] Do giới truyền thông đã có những công kích một chiều vào chúng tôi cho nên sẽ chẳng có ai tin chúng tôi nữa, hoặc chỉ là ghê tởm phản ứng lại. Chúng tôi có nói gì thì lên báo đài đều bị xuyên tạc. Không có đầu ra thông tin đại chúng nào truyền đạt đúng cảm giác thật của chúng tôi. Không có ai thật sự đến nghe chúng tôi như ông.

Nhưng nếu đi đến cốt lõi, ông sẽ đi tới câu hỏi là trong chuyện này có vai trò của đấng Sáng lập [Asahara] quan trọng đến đâu, động cơ thật của ông ta vẫn chưa được làm rõ. Vụ đánh hơi độc đã tới nước này thì tôi nghĩ mọi chuyện đều sẽ dẫn lại vấn đề đó. Nó đòi hỏi chúng tôi phải giải thích nhiều về toàn bộ vụ này, bằng cách nào đó mà ai cũng hiểu.

Tôi vẫn là một thành viên Aum, nhưng những người đã bỏ Aum cũng không nghĩ là nó xấu cả trăm phần trăm, và những người còn ở lại cũng không nghĩ nó có cả trăm phần trăm tốt. Có nhiều người đang dao động. Cho nên không giống như báo đài đã tường thuật rằng những người ở lại đều là tín đồ sùng tín. Phần lớn những ai thật sự sùng bái Asahara đã đều lìa bỏ Aum.

Mọi thành viên đều hoang mang lắm. Một vài người bỏ Aum có đến nhờ tôi khuyên và chúng tôi đã nói chuyện này. Tôi nghĩ nay mình đã dễ thở hơn, nhưng đã có lúc tôi chỉ còn biết nghĩ tới việc liệu mình có thể điều chỉnh cho phù hợp với đời sống bên ngoài hay không.

Lúc này tôi đang kiếm sống bằng cách làm gia sư. Các thành viên ở đây sống như một cộng đồng, giúp đỡ lẫn nhau. Những anh chàng mà tôi cùng sống đang làm ở công trường xây dựng. Nghe nói ông đến, họ muốn gặp ông nhưng họ không thể nghỉ làm được. [cười] Ai cũng đều đang làm những công việc không mấy quen thuộc. Chẳng hạn tay hàng xóm cạnh nhà tôi là tài xế xe tải. Anh ta lái một thời gian kha khá rồi. Dĩ nhiên nếu công ty nghe tin anh ta là thành viên Aum thì sẽ không còn ai thuê anh ta nữa, cho nên anh ta phải giữ bí mật chuyện đó ở nơi làm việc.

Trừ tiền thuê nhà ra tôi hầu như không chi tiêu gì. Tôi không xem tivi. Ăn được chu cấp. Không có các xa xỉ phẩm. Chỉ một ít cho các tiện nghi. Chúng tôi có thể xoay sở với 60.000 Yên. Sinh viên đại học tiêu hết khoảng 100.000 Yên một tháng, ông có nghĩ thế không? Tất cả chúng tôi đều sống như thế, tằn tiện qua ngày.

Báo đài nói Aum dính vào đủ kiểu phi vụ làm ăn nhưng điều đó không đúng. Dĩ nhiên công ty Aleph có liên quan đến Aum vẫn kinh doanh nhưng do cảnh sát đã xía vào nên giữ cho nó tiếp tục hoạt động là không dễ. Một số người xuất gia là người già chỉ có thể làm việc ở nhà và một số ốm đau. Chúng tôi phải trông nom họ. Ai cũng phải làm việc để đảm bảo có cái ăn nơi ở. Nhưng chừng nào còn phải lo chuyện tiền bạc thì làm gì còn lúc nào mà thay đổi những gì người ta nói.

MURAKAMI: Đám trẻ con của Aum mà anh dạy ấy thì thế nào?

Chúng đều trở lại thế giới thế tục cả rồi và đang học ở các trường bình thường. Do không thể nuôi con cái bằng công việc bán thời gian cho nên bố mẹ chúng cũng đã thôi xuất gia và đang làm việc toàn thời gian cả rồi. Tôi hình dung họ phải chật vật thế nào mới tìm được việc. Bọn trẻ hiện ra sao, tôi thật sự không biết nhiều. Trong nhiều trường hợp, chúng bị buộc tách ra khỏi bố mẹ.

Cách chúng tôi dạy học không có chuyện đánh hay dùng bất cứ loại bạo lực nào. Chúng tôi tiếp cận bọn trẻ chủ yếu bằng cách nói thấu đáo mọi sự và thuyết phục bằng logic. Là người xuất gia, chúng tôi phải tuân thủ nghiêm ngặt các giới luật nếu không những điều chúng tôi nói sẽ không thuyết phục. Giống như bảo người khác không hút thuốc trong khi lại ngồi đó phì phèo vậy. Ai tin ông được cơ chứ? Trẻ con quan sát rất sát sao cách người lớn cư xử. Một số trẻ con Aum được đưa đến các trại trẻ vị thành niên, tôi tưởng tượng những người ở đấy phải ngập đầu với công việc mất. [cười]

"Cái này giống như lấy con người ra làm thí nghiệm"

Hajime Matsutani (sinh 1969)

Anh Matsutani sinh năm 1969 ở quận Kanagawa. Gia đình anh "rất bình thường" nhưng anh bắt đầu cảm thấy xa cách và cuối cùng hầu như không trò chuyện với họ. Anh không hứng thú học hành hay chơi thể thao nhưng yêu vẽ.

Ở đại học, anh học thiết kế kiến trúc. Anh không quan tâm nhiều tới tôn giáo cho đến khi một vài tôn giáo mới tiếp xúc với anh. Aum Shinrikyo là cái hấp dẫn anh nhất và anh trở thành tín đồ của nó.

Ngay trước vụ đánh hơi độc, anh đã chỉ trích một vài chính sách của Aum và bị đưa đi biệt giam ở Kamikuishiki. Cảm thấy nguy hiểm, anh bỏ trốn. Aum đã khai trừ anh khỏi đạo vì lẽ đó.

Anh thích tiếp cận mọi thứ một cách có logic. Tuy chỉ trích các giáo huấn của Aum, anh vẫn nghĩ một số trong đó là tốt. Trong tu luyện anh đã có vài trải nghiệm bí ẩn nhưng anh không mấy thích thú với cái "siêu nhiên", thuyết tận thế, hay lý thuyết mưu loạn về các nhóm như Hội Tam điểm. Lúc còn là tín đồ, anh không thích xu hướng tiến gần đến những thứ đó của Aum. Nhưng anh thấy khó bỏ được Aum – cho tới khi tính mạng của anh bị đe dọa.

Anh giấu việc mình từng là thành viên của Aum và sống đơn độc, làm việc bán thời gian. Chúng tôi truyện trò nhiều giờ và anh thật sự cởi mở với tôi.

° ° °

Tôi không cảm thấy thất vọng hay khó khăn gì lớn trong đời sống, thật vậy. Mà như thiếu đi một cái gì đó. Tôi thật sự mê nghệ thuật nhưng ý nghĩ bỏ cả đời ra vẽ tranh, nhờ đó kiếm đôi chút tiền lại không hấp dẫn tôi. Ở đại học, tình cờ tôi vớ được ở cửa hàng một quyển sách về Aum và nó thật sự đã khiến tôi không rời ra được. "Có lẽ đừng vẽ tranh nữa," tôi nghĩ, "sống đời tu hành sẽ giúp được mình đến gần với hiện thực bên trong mình hơn."

Lúc ấy tôi học năm thứ nhất đại học, đang đi một mình ở vùng Kansai thì nghe nói có một dojo của Aum ở Kyoto nên bèn ghé vào. Nó ở trong một tòa cao ốc cho thuê và nom rất khổ hạnh – ngay bàn thờ cũng sơ sài. Không giống mấy tôn giáo bỏ tiền ra lấy đôi chút hào nhoáng. Nó có sự chân thật. Mọi người cũng ăn mặc giản dị. Matsumoto cũng có ở đó và tôi được nghe ông giảng đạo pháp 13.

Nói thực là tôi cũng không hiểu ông ta nói gì. [cười] Tôi đi đã mệt nên cứ gà gật suốt. Nhưng tôi cảm thấy có một sợi dây mạnh mẽ xuyên suốt bài giảng của ông và có ấn tượng rằng nó hết sức sâu sắc. Tôi nghĩ mình đã tiếp cận sự vật bằng linh giác của một nghệ sĩ, dựa vào cảm xúc chứ không bằng logic.

Sau bài giảng chúng tôi được mời ở lại nếu muốn nói chuyện. Tôi có thể nói chuyện tay đôi với Hideo Murai, người nghe nói đã đạt tới bước được cứu rỗi. Ông không toát ra chúng không khí thiêng liêng nào mà chỉ khiến tôi kinh ngạc vì cái vẻ của một người bình thường theo Aum. Sau khi chúng tôi nói đến tổ chức và các thứ khác, ông nói khá là đột ngột: "Ừm, còn chuyện gia nhập thì sao?" Sau này tôi nhận ra đó là một trong các sách lược chuẩn của Aum. Thường thường những người đến các địa điểm như thế này đều đang thiếu hay đang tìm kiếm điều gì đó, còn dojo thì lại khá là thú vị và khi được đề nghị ra nhập như thế này, hoàn toàn bất ngờ, tôi đơn giản là để mình xuôi theo dòng, điền luôn đơn gia nhập. Mất 30.000 Yên tiền ra nhập, nhưng lúc ấy tôi không có tiền trong người cho nên sau khi về lại Tokyo tôi mới trả.

Một dạo tôi đến dojo Setagaya nhưng phần lớn thời gian tôi đi phát truyền đơn cho Aum. Thay vì tu luyện, chúng tôi phải xây đắp công đức. Ở dojo họ có bản đồ chia Tokyo ra làm nhiều khu vực và chúng tôi được bảo hôm nào thì phát ở khu vực nào. Ban đêm chúng tôi lái xe đến đó, và họ nói, "Anh lo quanh quanh chỗ này" rồi chúng tôi lên đường. Chúng tôi đi bộ quanh quẩn, dán truyền đơn lên các hòm thư của người ta. Tôi coi việc này là nghiêm túc. Bất cứ khi nào dán xong, tôi cũng thấy hài lòng, tận hưởng các hoạt động thể chất liên quan. Tôi cũng tin rằng nếu chúng tôi thu được đủ công đức tâm linh thì sư phụ [Asahara] sẽ chia sẻ năng lượng cho chúng tôi.

MURAKAMI: Vậy là với anh đi dán truyền đơn vui hơn đến trường học?

Phương hướng của đời tôi đã thay đổi. Tôi có học thiết kế kiến trúc nhiều đến đâu, tôi có tìm được công việc tốt thì cũng sẽ được đến thế là hết. Tôi đã đi tới chỗ nghĩ rằng kiên trì tu luyện tâm linh và cuối cùng đạt ngộ là có ý nghĩa hơn cả.

MURAKAMI: Vậy lúc ấy anh đã mất hết hứng thú với cuộc sống bình thường và chuyển sang một mục tiêu tâm linh hơn?

Đúng thế.

MURAKAMI: Những người khổ tâm trước những vấn đề cơ bản thường hay đi cùng một con đường quen thuộc: đọc đủ loại sách vở khi họ còn trẻ, khám phá ra nhiều kiểu triết học và chọn ở đấy ra một hệ thống ý tưởng. Nhưng anh không thế. Anh để mặc cho tâm trạng mang mình đi rồi xông thẳng ngay vào đúng Aum.

Lúc ấy tôi còn trẻ. Aum bắt đầu đóng vai trò lớn hơn trong đời tôi. Tôi ngừng học tập phần lớn các môn, không lấy được đủ các tín chỉ mình cần và biết sẽ phải lưu ban một năm. Chính vào lúc tế nhị đó ông Matsumoto bất ngờ nói: "Anh nên xuất gia." Thế là tôi nghĩ đây là một ý hay.

Đấy là trong lúc đang học cái họ gọi là "Yoga Mật". Ông Matsumoto sẽ ngồi ở đấy, mấy môn đệ quan trọng kèm bên còn mình sẽ ngồi đối diện họ, nghe họ khuyên mình hay thú tội hay một cái gì đó. Hồi ấy, các tín đồ bình thường có thể mở rộng và tôi nghĩ ông ta chỉ đang cố đẩy số lượng lên chứ đâu phải là xem xét thận trọng trường hợp của tôi. Ban lãnh đạo cũng bảo tôi, "Lý do anh không thể hợp với thế giới trần tục là bởi vì anh có ‘căn tu’," ngay sau đó tôi xuất gia. Đó là năm 1990. Tôi là một trong những tín đồ đầu tiên. Lúc ấy tôi đang mê mẩn Aum nên chẳng chần chừ. Khi Giáo chủ nói "từ bỏ thế giới" là điều các môn đệ nên làm, thì tôi nghĩ Matsumoto chính là người có thể giải đáp mọi câu hỏi của tôi. Tôi tin tưởng ông ta.

Khi là tín đồ, trước khi chính thức xuất gia, tôi thờ ơ tham gia vận động tranh cử. Giáo chủ muốn chúng tôi tham gia nên có thể làm được gì là tôi làm, nhưng tôi không hứng thú gì chuyện bầu cử. Tôi đặt câu hỏi về mọi thứ chúng tôi làm, như kiểu ngay từ lúc ấy chúng tôi đã không hòa điệu với những gì đang diễn ra. [cười] Với tôi, đạt được ngộ là mục tiêu tối thượng, còn cái khác chỉ là những nỗ lực phí phạm. Ngay cả khi những người đã đạt ngộ bảo ông cái gì đó là đúng thì ở trong đó vẫn có một cái gì ông chưa nắm bắt được. Những người theo Aum có xu hướng nghĩ như thế. Ông không hiểu một cái gì đó nhưng ở trong nó vẫn có một vài ý nghĩa sâu xa.

Gia đình phải đối tôi tuyên thệ nhưng tôi không bị họ cản trở nhiều. Tôi bỏ học đại học, dọn đi, quăng hết mọi thứ rồi đến sống ở tổng đàn của Aum ở núi Phú Sĩ. Chúng tôi bị giới hạn ở số lượng đồ được phép mang theo – chỉ hai vali quần áo.

Sau đó tôi được phái đến Naminomura ở Aso. Do tôi đã học thiết kế kiến trúc nên được chuyển đến công trường xây dựng, tuy tất cả những gì tôi làm ở đại học là vẽ đồ án. Trong mấy người thể chất khỏe mạnh hơn họ lại chọn tôi, cho nên tôi nghĩ có thể là do lầm lẫn nào đó. "Các ông có chắc là chọn đúng không?" tôi hỏi. Họ nói, "Thì hẵng cứ đi đã," và tôi đi. Rốt cuộc tôi làm lao động chân tay trong đúng một ngày rồi tôi bảo Naropa [Fumihiko Nagura], cấp trên của tôi, rằng tôi không thể làm tiếp. Tôi đúng là không có điều kiện về thể lực. Cho nên tôi được chuyển đến Bộ phận Kinh tế Gia đình. Tôi làm bếp, phụ trách thu gom đồ giặt giũ. Mất khá nhiều thời gian để quen với đời sống ở đây nhưng làm các nhiệm vụ Giáo chủ giao cho là một hành động chứng tỏ lòng tôn kính nên tôi đã cố hết sức.

Lao động ở Aso cực nhọc đến độ nhiều người đã bỏ đi. Tôi nghĩ quay lại với xã hội thì đã quá muộn cho nên ở lại đứt. Nhưng phải nói rằng làm việc ở đây tôi có được cảm giác hài lòng. Chúng tôi theo "Chế độ chay Aum" nên hàng ngày ăn gạo hẩm và rau luộc. Sống kiểu này một dạo thì hình ảnh những món ông thích ăn cứ hiện ra liên tục trong đầu nhưng tôi cố tạo ra một Bản ngã không bị những thứ đó cám dỗ. Tôi từ lâu đã là người ăn chay nên chế độ chay 14 không làm phiền tôi lắm. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm thoát khỏi mọi ràng buộc trong cái thế gian có thể lừa dối ông.

Xem nào… tôi ở Naminomura bao lâu nhỉ? Chúng tôi không có lịch nên chẳng có cảm nhận gì về ngày tháng trôi đi. Tôi chắc đã ở đây một thời gian kha khá. Chúng tôi xây xong vài tòa cao ốc. Nếu ông sống một cuộc đời đơn giản lâu đến vậy, không biến hóa, đóng kín bưng với bên ngoài như thế thì những cơn bực bội nho nhỏ bắt đầu xuất hiện. Trong tôi đã nổi lên một xung đột lớn giữa chúng và khát vọng cứu rỗi của tôi.

Tôi được triệu tập về núi Phú Sĩ để gia nhập Bộ phận Phim hoạt hình. Lúc ấy Aso không còn là trung tâm hoạt động của Aum nữa mà trở thành một kiểu vùng sâu vùng xa cho nên được rời khỏi Aso tôi rất vui. Ở Bộ phận Phim hoạt hình tôi vẽ minh họa cho truyện tranh. Đó là một món hoàn toàn sống sượng. Chúng tôi dùng hoạt hình để giải thích Matsumoto [Asahara] có sức mạnh siêu nhiên như thế nào. Ông bay lơ lửng trên không, vân vân. Một bộ phim thực sự có thể thuyết phục người ta nhưng chẳng ai lại để cho phim hoạt hình thuyết phục sất. Sản phẩm cuối cùng thật là kinh khủng. Quanh thời gian này tôi có rất nhiều cơ hội ở gần Matsumoto [Asahara] hơn. Tôi thấy mình càng ngày càng mất niềm tin vào ông ta và Aum.

Sau đó tôi làm đủ thứ việc rồi cuối cùng Shoko Asahara ra lệnh cho tôi tập trung vào tu luyện. Nó bao gồm học, thiền và phần nào hoàn thiện về mặt tinh thần, nhưng rất gian khổ. Ngoài ăn và đi vệ sinh, chúng tôi phải ngồi đó suốt ngày. Chúng tôi thậm chí còn phải ngủ ngồi. Chúng tôi học trong một số giờ nhất định rồi tham dự một cuộc sát hạch. Cứ thế tiếp diễn hết ngày này đến ngày khác.

Tôi cứ tu luyện như thế chắc cũng phải đến nửa năm. Ý thức về thời gian của tôi rất lờ mờ cho nên tôi chỉ đoán thế thôi… Một số người làm như thế hàng năm ròng. Ông không biết khi nào mình được thôi. Giáo chủ sẽ quyết định. Tôi bị giữ lại tu một thời gian dài, rồi phải về làm việc, rồi lại quay lại tu.

MURAKAMI: Có phải Asahara là người duy nhất quyết định anh lúc nào đủ trình độ thăng cấp không? Giống như nói "Mai anh được chuyển sang giai đoạn tiếp theo" chẳng hạn.

Đúng, nhưng tôi chưa từng đủ trình độ thăng cấp. Ngay cả tên thánh tôi cũng không có.

MURAKAMI: Nhưng anh đã tu lâu và làm việc tích cực ở đó. Tại sao anh lại không được lên cấp?

Aum rất có đầu óc thực dụng trong việc ban cứu rỗi cho những ai đóng góp nhiều cho tổ chức. Dĩ nhiên trình độ tâm linh là một yếu tố, nhưng chuyện ông thật sự đóng góp bao nhiêu mới tạo ra sự khác biệt. Với đàn ông, chìa khóa thường là nền học vấn. Những người tốt nghiệp Đại học Tokyo mau được lên cấp cứu rỗi cao hơn hoặc nhận công việc quan trọng hơn hoặc làm lãnh đạo. Với phụ nữ thì lại tùy theo họ có hấp dẫn hay không. Không nói đùa đâu. Không khác thế giới thế tục lắm đâu. [cười]

Tôi không nghĩ tôi được việc nhiều cho ông Matsumoto [Asahara]. Đến một thời điểm nào đó, tôi vẫn tin rằng mình không lên cấp được là do thiếu cố gắng, nhưng đồng thời tôi cũng nghĩ có thể mọi người khác cũng cảm thấy như tôi: tức là dân tốt nghiệp Đại học Tokyo hình như được hưởng ưu đãi đặc biệt của Giáo chủ.

Tôi thường nói điều này với mấy người bạn nhưng họ ngắt lời tôi và nói, "Cậu nghĩ như thế vì cậu ô uế" hay "Đó là nghiệp căn mà," tức là hễ lúc nào nảy ra hồ nghi trong đầu thì điều đó có thể đổ hết cho sự ô uế của bản thân ông. Tương tự, bất cứ cái gì tốt đẹp thì lại đều "Nhờ ơn Giáo chủ."

MURAKAMI: Nhưng đó là một hệ thống khá hữu hiệu. Mọi sự đều được tái chế hay kết thúc ở bên trong bản thân hệ thống.

Tôi đã tin đó là con đường phải theo để diệt Bản ngã.

Thoạt tiên mọi người đi theo đều có ý chí rất mạnh mẽ nhưng sống trong Aum thì ông mất dần điều đó. Dù có bất mãn thế nào với đời sống Aum thì nó vẫn đáng ưa thích hơn đời sống bên ngoài với những sự ô uế và ràng buộc của nó. Về tâm lý, sống với một nhóm có đầu óc giống nhau vẫn dễ hơn sống ru rú đâu đó bên ngoài.

MURAKAMI: Quãng năm 1993, Aum trở nên bạo lực hơn. Cái đó diễn ra anh có cảm thấy không?

Có. Các bài giảng pháp càng lúc càng tập trung vào Mật thừa Đát đặc la, hình như càng lúc càng có nhiều người bị khích động trước ý tưởng sắp đạt được nó. Tôi không thể theo được cái học thuyết cho rằng phương tiện là không quan trọng. Tôi cảm thấy không thoải mái với nó. Quá trình tu luyện của chúng tôi bắt đầu bao gồm cả một số yếu tố kỳ quặc: võ thuật chiếm phần lớn trong thời gian biểu hàng ngày và tôi có thể cảm thấy không khí đang thay đổi. Tôi nghĩ nhiều đến việc mình có nên tiếp tục ở lại Aum hay không.

Chuyện tôi nghĩ gì cũng không quan trọng lắm vì ông Matsumoto [Asahara] luôn tin chắc rằng đây là con đường ngắn nhất đi tới mục tiêu của chúng tôi. Nếu đã là như thế thì mình chẳng làm được gì nhiều nữa. Chỉ có hai con đường, hoặc ở lại hoặc bỏ đi.

Quá trình tu luyện của chúng tôi bắt đầu gồm có món treo ngược người. Bất cứ ai không tuân theo giới luật đều bị trói chân bằng xích rồi treo ngược lên. Chỉ tả nó ra thôi thì nghe không có gì ghê gớm lắm, nhưng rõ ràng đó là tra tấn. Máu không xuống được đến chân ông và ông cảm thấy chân ông như bị nghiền đứt rời ra. Bất tuân giới luật ở đây có nghĩa là làm bất cứ chuyện gì, từ phá bỏ lời thề khiết tịch bằng cách có quan hệ với một cô gái hay bị nghi là làm đặc tình hay sở hữu truyện tranh… Buồng tôi làm việc lúc đó ở ngay bên dưới dojo Phú Sĩ, tôi có thể nghe tiếng kêu la inh ỏi ở bên trên, những tiếng thét thật sự, người ta kêu gào: "Giết tôi đi! Cho tôi ra khỏi cảnh khốn khổ này đi!" – cái thứ giọng không còn là của con người phát ra từ một ai đó đang đau đớn không thể chịu nổi. Những tiếng kêu la thương tâm, ngỡ đâu ngay chính không gian chỗ ấy cũng bị oằn lên, vặn xoắn lại: "Giáo chủ! Giáo chủ ơi! Cứu tôi với! – Tôi không bao giờ làm thế nữa!" Khi nghe thấy những tiếng ấy, tôi rùng mình.

Tôi không thể hiểu nổi làm như thế thì có được ích lợi gì. Nhưng kỳ quái là nhiều người dẫu bị treo như thế vẫn cứ ở lại Aum. Họ phải chịu đựng, bị đưa đến mấp mé cái chết, rồi sau đó được bảo một cách tử tế rằng "Các ông làm tốt!" Thế là họ liền nghĩ, "Ta đã vượt qua được thử thách đưa đến cho ta. Xin đa tạ, thưa Giáo chủ!"

Dĩ nhiên nếu họ làm thế nhiều quá thì ông sẽ chết. Họ không bảo tôi nhưng Naoki Ochi chính là đã chết như vậy. Cuối cùng họ bắt đầu dùng ma túy để khai tâm. Ai cũng nghĩ đấy là LSD. Ông có những ảo ảnh, ảo vật, nhưng tôi không tin đó là phương tiện đi đến cứu rỗi. Có tin đồn rằng có ai đó chết trong khi tu luyện hay ai đó có kế hoạch chạy trốn, bị bắt lại và người ta làm gì với anh ta, nhưng tin đồn ở Aum luôn chỉ dừng lại ở đấy, không có cách gì xác nhận chúng cả. Năng lực phân biệt đúng sai của chúng tôi lúc đó đã bị xói mòn.

Cũng có tin đồn rằng đặc tình đã chui vào Aum và họ liền dùng máy phát hiện nói dối để cố tránh trốc rễ chúng ta. Họ cũng gọi cái đó là khai tâm và ai trong Aum cũng đều phải chịu cho máy dò nói dối kiểm tra. Tôi nghĩ thế này thật lạ vì chẳng phải Giáo chủ, người vốn được coi là biết hết mọi sự, có thể liếc một cái là biết ai là nội gián ngay hay sao? Ngoài điểm này, còn một lần tôi đã bị chất vấn về người bạn thân nhất của tôi đang bị biệt giam. Tôi bị kiểm tra bằng máy dò nói dối và bị hỏi đủ thứ, gồm cả một vài câu hỏi khó chịu mà tôi không thể chấp nhận. Sau đó tôi hỏi cấp trên, "Tại sao các ông cứ phải hỏi những điều như thế? Chẳng để làm gì." Chúng là những câu hỏi tục tĩu mang tính cá nhân, riêng tư. Biết câu trả lời cũng không đưa được họ đến đâu. Nhưng chắc tôi đã làm cấp trên bực. Ngay sau đó, Tomomitsu Niimi bảo tôi: "Anh bị chuyển đi. Hãy thu dọn đồ đạc ngay." Tôi bị đưa biệt giam. Tôi hỏi tại sao thì ông ta không trả lời. Chính lúc đó tôi bắt đầu tự hỏi không biết cái gì đang xảy ra. Tu luyện được coi là để đạt tới cứu rỗi, nhưng nay nó đang trở thành một kiểu trừng trị.

Xì lim biệt giam to cỡ một tấm thảm tatami. Cửa khóa. Đang mùa hè, nóng suốt ngày đêm, nhưng họ cho mở lò sưởi. Tôi buộc phải uống hàng chục lít một thứ đồ uống đặc biệt của Aum đựng trong một cái bình nhựa rồi tháo nó thành mồ hôi trong hơi nóng. Tựa như họ đang cố thải một cái gì đó xấu xa ở trong tôi ra vậy. Dĩ nhiên tôi không được tắm và cáu ghét rụng khỏi người tôi từng mảng. Không chuồng tiêu, chỉ có một cái bô trong xà lim. Đầu óc tôi bị phân tán, tôi không nghĩ mạch lạc được gì cả.

MURAKAMI: Lạ là anh đã không chết.

Nếu chết thì có khi lại dễ hơn cho tôi, và nói không ngoa, lúc ấy tôi thật tình muốn chết. Nhưng ông biết đấy, khi bị đặt vào những tình huống như thế con người ta tỏ ra hết sức kiên cường. Phần lớn những người bị biệt giam đều là những kẻ đang lung lay niềm tin hoặc không còn tích sự gì cho Aum nữa. Chúng tôi không biết khi nào họ cho chúng tôi ra. Cho nên tôi tự nhủ, "Thôi được, mình sẽ lợi dụng chuyến này tu luyện nghiêm túc một chút." Cứ ca thán thì ông không bao giờ ra được. Việc duy nhất để làm là hãy suy nghĩ tích cực, nghiến răng chịu đựng và sống tiếp.

Một phần trong tu luyện hàng ngày của chúng tôi là một nghi thức khai tâm gọi là Dẫn dắt Bardo. Họ sẽ bịt mắt ông, còng tay ông ra đằng sau, đưa ông đến một buồng khác và bảo ông ngồi thật thẳng. Rồi họ đập trống, lắc một cái chuông đồng, điên cuồng thét to một cái gì như "Tu đi! Tu đi! Không có ngả quay lui, cho nên hãy làm cho hết sức!"

Nhưng một hôm khi họ đưa tôi đi, đột nhiên tôi bị Siha [Takashi Tomita] và Satoru Hashimoto ghìm xuống, rồi Niimi nút chặt mồm mũi tôi lại. Tôi không thở được. "Anh nghĩ các bề trên của anh đều là đồ ngốc cả sao, đúng không?" họ hỏi tôi. Họ đang cố giết tôi nhưng dùng hết sức lực tôi đã thở được, "Tôi đã và đang cố hết cái sức lực đáng nguyền rủa của tôi," tôi quát, "vậy sao các ông lại làm thế với tôi?" Sự tình ổn trở lại sau đó và tôi được quay về xà lim, nhưng tôi cảm thấy mình đã chấm dứt với Aum. Sao mình đang cố hết sức tu luyện mà họ lại có thể đối xử với mình như thế, tôi nghĩ.

Sau đó tôi trải qua một số lần việc họ gọi là "Khai tâm Chúa Cứu thế". Cái này giống như làm thí nghiệm bằng con người vậy. Hễ cho tôi dùng ma túy, Niimi lại nhìn tôi tựa hồ tôi là một con chuột lang. "Uống đi!" hắn nói, lạnh lùng và dửng dưng. Tôi đã trông thấy Jivaka [Seiichi Endo] và Vajira Tissa [Tomomasa Nakagawa] đến kiểm tra các xà lim biệt giam. Đầu tôi rối mù về ma túy nhưng chuyện này tôi nhớ khá rõ. Họ đến xem chúng tôi phản ứng thế nào với ma túy. Tôi nhận ra là họ đang dùng những người biệt giam để thí nghiệm ma túy. Với họ, chúng tôi sống cũng chẳng có ích lợi lắm cho nên chắc họ nghĩ cách duy nhất để chúng tôi xây đắp công đức tâm linh là được đem dùng vào các thí nghiệm trên người. Điều này khiến tôi suy nghĩ lâu và khổ sở về cái nơi số phận đã đưa tôi đến.

"Mình có thể chết như thế này được sao?" tôi nghĩ. "Một con chuột lang trong thí nghiệm trên con người ư? Nếu đó là số phận mình thì cách duy nhất để thoát ra là quay về với thế giới thế tục. Thế này quá vô nhân đạo, quá khủng khiếp…" Tôi bị sốc, tự hỏi Aum đã trở nên sai lầm từ đâu.

Sau khi khai tâm bằng ma túy ai cũng mệt tưởng chết đi được cho nên họ mở cửa ra một lát. Lúc ấy tôi không đến nỗi quá kiệt quệ nên bèn chuẩn bị thay quần áo, và sau khi cầm chắc rằng đường đi quang quẻ tôi bèn mặc quần áo rồi bò ra khỏi tòa nhà. Có người canh gác nhưng tôi tìm cách lẻn qua.

[Anh Matsutani đã vay của một người tình cờ gặp trên phố tiền đi xe buýt rồi quay về nhà bố mẹ ở Tokyo. Vài tháng sau khi bỏ trốn, anh biết tin mình đã bị khai trừ khỏi đạo. Anh nói các lý do để khai trừ là vô căn cứ.]

Tôi đã quay về nhà sống trong thế giới thế tục như thế - không phải vì tôi muốn sống một cuộc đời bình thường, mà là vì tôi không thể theo Aum được nữa. Sự thật là tôi không còn chỗ nào khác để đi nên tôi trở về sống với bố mẹ. Gia đình tôi mừng quá, nói "Tạ ơn trời đất, con đã về!" nhưng do đã sống năm năm không gần gũi với gia đình nên tôi không cảm thấy đây là một gia đình nữa. Tôi không thể hài lòng với cuộc sống bình thường, bố mẹ tôi không hiểu cho điều đó, thế là mọi thứ lại đổ vỡ. Chúng tôi bắt đầu cãi cọ và tôi đi.

MURAKAMI: Trước đó, tháng Ba năm 1995 có vụ đánh hơi độc. Cảm giác của anh về vụ đó là thế nào?

Mới đầu tôi không tin là Aum làm chuyện đó. Dĩ nhiên họ có rao giảng về Vajrayana Tantra và không khí trong Aum đã có biến chuyển lạ, nhưng tôi không hình dung ra họ lại đi quá xa đến bước dùng sarin. Chúng ta đang nói về một nhóm lẽ ra ngay cả một con gián cũng không giết kia mà. Khi còn ở trong Aum tôi thường nghe nói Bộ Khoa học và Công nghệ đã làm ra vài thứ vớ vẩn nực cười, cho nên tôi không thể hình dung họ lại tạo ra được một cái gì đó phức tạp như thế. Báo đài tường thuật rằng đó dứt khoát là do Aum làm nhưng Aum và Fumihiro phủ nhận mọi liên quan. Mới đầu tôi ngả về tin họ. Nhưng khi cuộc điều tra được tiếp tục, một vài thông tin nổi lên trái nghịch với tuyên bố của Aum nên tôi đã nghi ngờ. Tôi bèn đọc lại nhật ký, thì ra là hình như quanh tháng Tám năm ấy [1995] tôi bắt đầu cảm thấy mất thiện cảm với Aum. Sau đó thì tôi tin chắc là Aum tiến hành vụ này.

Tuy tôi chạy trốn khỏi Aum, và tôi không thể tán thành hay thừa hành các ước muốn của họ nữa, nhưng tôi lại không thể tái điều chỉnh mình cho phù hợp với đời sống thế tục. Lập trường của Aum về việc cố vượt qua các ràng buộc trần tục vẫn khiến tôi thấy đáng tán thưởng hơn cái xã hội bình thường. Tôi bắt đầu suy xét xem Aum – mà tôi đã hiến dâng mình – rốt cuộc là cái gì. Cố xác định xem Aum đúng ở chỗ nào và sai ở chỗ nào.

Sau khi bỏ nhà đi tôi làm việc cho một cửa hàng tạp hóa và làm những việc bán thời gian cho qua ngày. Tôi vẫn giữ liên hệ với những người bạn quen từ ngày còn ở Aum và chúng tôi hay gặp nhau. Một vài người vẫn hoàn toàn ủng hộ Aum, một số nhận thấy đánh hơi độc là sai nhưng cho rằng học thuyết Aum vẫn có lý. Có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu quan điểm. Dù thế, có rất ít người đã cắt được mọi liên hệ với Aum và đang sống theo các giá trị thế tục.

Tôi chả còn chút thích thú nào với Aum nữa, nay thì tôi đang ngả về Phật giáo nguyên thủy. Tất cả những người bỏ Aum đều đã đem một vài phương diện tôn giáo vào đời sống của họ.

MURAKAMI: Cá nhân dĩ nhiên có quyền tự do cố gắng vượt qua dục vọng và ràng buộc, vân vân, nhưng xét về quan điểm khách quan thì hình như cho phép một người khác, Giáo chủ chẳng hạn, có quyền kiểm soát cái tôi của chính anh, là cực kỳ nguy hiểm. Còn có nhiều tín đồ hay cựu tín đồ vẫn chưa nhận ra điều này không?

Tôi không nghĩ nhiều người đã nghĩ được đúng đắn về chuyện này. Đức Phật Thích Ca nói, "Bản Ngã là chủ nhân đích thực của Bản Ngã" và "Giữ Bản Ngã như là hòn đảo, đừng đến gần cái gì." Nói cách khác, các Phật tử tu hành khổ hạnh là để tìm cái tôi đích thực. Họ tìm những gì nhơ bẩn, các ràng buộc và cố dập tắt chúng đi. Nhưng điều mà ông Matsumoto [Asahara] làm là đánh đồng "Bản Ngã" với "ràng buộc". Ông ta nói để khước từ cái tôi thì cũng phải vứt bỏ nốt cái Bản Ngã. Con người ta yêu cái "Bản Ngã" cho nên đau khổ, và nếu phế được cái "Bản Ngã" đi thì một Bản Ngã đích thực sáng chói sẽ nổi lên. Nhưng cái này hoàn toàn đi ngược với lời dạy bảo của đạo Phật. Cần phát hiện Bản Ngã chứ không phải phế bỏ nó đi. Quá trình dễ dàng buông bỏ Bản Ngã này dẫn đến những tội ác khủng bố như đánh bom hơi độc. Nếu mất Bản Ngã, người ta sẽ hóa thành vô cảm hoàn toàn với giết người và chủ nghĩa khủng bố.

Phân tích theo cuối cùng thì Aum đã tạo nên những người phế bỏ Bản Ngã chỉ còn biết tuân lệnh. Do đó trong Aum những người đã đạt được ngộ, những người bập sâu nhất vào học thuyết Aum, đều không phải là những người đã đạt ngộ chân chính và nắm được chân lý. Với những tín đồ được cho là đã từ bỏ thế giới thì việc chạy quanh nhặt nhạnh của bố thí quyên cúng nhân danh "cứu rỗi" là một sự xuyên tạc tôn giáo. Tôi không tin Matsumoto [Asahara] dần dần hóa ra kỳ quái. Ngay từ trước ông ta đã có những ý tưởng đó trong đầu. Ông ta chẳng qua chỉ tiến hành chúng theo từng giai đoạn.

MURAKAMI: Vậy ngay từ đầu ông ta đã có kế hoạch đi theo hướng tu luyện kiểu Mật thừa? Chứ không phải là đâu đó nửa chừng ông ta quay lại lừa phỉnh kẻ khác và phương hướng của Aum thay đổi?

Ở cả hai câu hỏi của ông đều có phần sự thật. Từ đầu đã có chút nào đó ở đấy, nhưng ông ta càng tự bao quanh mình bằng những người liếm gót dạ vâng thì cảm thức của ông ta về hiện thực càng bị mờ đi và sự huyễn hoặc liền chiếm cứ.

Tuy vậy, tôi nghĩ Asahara cũng có suy xét nghiêm túc đến việc cứu rỗi theo cách của riêng ông ta. Không thế thì chả ai lại từ bỏ thế giới mà đi theo ông ta cả. Ở một mức độ nào đó, chuyện này có chút gì thần bí. Với tôi đúng là vẫn có những cái thần bí tương tự - yoga và khổ tu dẫn tới một số trải nghiệm bí ẩn.

MURAKAMI: Bây giờ Aum đang toan tính tiếp tục cũng học thuyết ấy – trừ Shoko Asahara và Mật thừa Đát đặc la. Anh cảm thấy chuyện này thế nào?

Do bản thân Aum không có thay đổi gì nên có một nguy cơ rõ rệt là các tội ác mới sẽ lại xảy ra – có thể không phải bây giờ nhưng sau này sẽ xảy ra. Cũng thế, những người còn ở lại Aum đã chấp nhận đánh hơi độc ở trình độ vô thức, cho nên họ đang nhận ra mối nguy hiểm của việc tiếp tục thực hiện các lời dạy tương tự. Họ chỉ nghĩ đến các điểm tốt của Aum và những lợi ích mà họ nhận được.

Mỗi khi nghĩ đến các nạn nhân của vụ đánh hơi độc và các đồng sự của tôi dính líu trực tiếp đến tội ác này, tôi lại muốn túm lấy những người vẫn còn tin tưởng vào Aum mà hét lên với họ: "Các người nghĩ mình đang làm cái quái quỷ gì đây chứ?" – nhưng chắc họ sẽ lại rúc sâu hơn nữa vào trong vỏ ốc của mình thôi. Chúng ta chỉ có thể làm được mỗi việc là từ từ chỉ ra cho họ nhận ra sự thật.

Tôi thích nghi với thế giới thế tục như thế nào là một câu hỏi khó. Tôi đã ngán việc cứ thuộc về các tổ chức rồi – tôi chỉ muốn thử tự mình làm lấy cho mình. Một phần trong tôi muốn dập tắt đi các dục vọng của mình, nhưng nay tôi chỉ làm được mỗi việc là lần lượt đi từng bước bằng hơi sức của chính mình.

MURAKAMI: Từ khi là sinh viên năm thứ nhất đại học, anh đã bỏ ra ít nhất bảy năm sống trong Aum. Anh có cảm thấy mình đã đánh mất quãng thời gian đó không?

Không, không cảm thấy. Sai lầm là sai lầm. Nhưng từ chỗ khắc phục sai lầm, một cái gì đó có giá trị đã đến. Nó có thể là một bước ngoặt của đời ông.

Một vài thành viên trước đây của Aum đã hoàn toàn gạt bỏ được những trải nghiệm về Aum và không đọc báo hay xem các chương trình tivi nói về nó. Họ nhắm mắt lại với nó, nhưng làm thế không giúp ta học được cái gì từ những sai lầm của mình. Nó giống như khi ông làm bài kiểm tra rất tệ thì phải thật sự xem xét mình đã sai ở đâu vậy. Nếu ông không làm thế thì lần sau ông lại mắc những sai lầm y hệt.

"Kiếp trước tôi là đàn ông"

Miyuki Kanda (sinh 1973)

Từ bé cô Kanda đã bị những thứ thần bí cuốn hút. Hồi 16 tuổi cô đọc một quyển sách của Shoko Asahara và xúc động đến nỗi đã cùng hai người anh ra nhập Aum. Để tập trung vào khổ tu, cô bỏ trường trung học và tuyên thệ.

Nói chuyện với cô, tôi hiểu được tại sao Aum Shinrikyo lại là một kiểu nơi chốn lý tưởng. Cô cảm thấy sống khổ hạnh thì mãn nguyện hơn nhiều so với sống trong một xã hội bình thường, nơi cô không tìm thấy một giá trị tâm linh nào hết. Aum là một kiểu Thiên đường.

Dĩ nhiên người ta có thể nhìn trường hợp giống như cô – một cô gái 16 tuổi lớn lên trong Aum – là một trường hợp bị dụ dỗ hay tẩy não, nhưng dần dần tôi càng cảm thấy xét cho cùng thì trong thế giới có những người giống cô cũng không phải là chuyện xấu gì. Không phải ai cũng phải thành hàng thành lối với nhau, chen vai thích cách, đấu tranh giành lấy thành công trong "thế giới này", đúng không? Tại sao một số người lại không thể nghĩ sâu sắc về những thứ không trực tiếp phù hợp với xã hội được chứ? Vấn đề nằm ở chỗ, với những người đó, Aum Shinrikyo là một trong vài ba nơi nương náu nhưng cuối cùng cũng đã sụp đổ. Thiên đường là một ảo ảnh.

Khi chào tạm biệt, tôi hỏi cô nói chuyện lâu thế với một ai đó ở "thế giới này" thì liệu có gây nên vài ba vấn đề ô uế cần phải gột đi khỏi người cô không. Bối rối một lúc, cô đáp, "Về logic thì đúng thế đấy." Cô là một người rất nghiêm túc. Cô mời tôi món bánh của nhà làm, thanh đạm và ngon tuyệt.

° ° °

Ngay từ bé tôi đã trải qua nhiều chuyện bí ẩn. Thí dụ, những cái tôi ngủ mê thấy không khác gì với hiện thực. Tôi chắc sẽ gọi chúng là những câu chuyện chứ không phải những giấc mơ – chúng kéo dài và rõ ràng, và khi tỉnh dậy tôi nhớ đến từng chi tiết. Trong mơ tôi đi thăm mọi kiểu thế giới, có những trải nghiệm kiểu như linh hồn rời khỏi thể xác. Tôi mơ thấy chúng luôn, gần như hàng ngày. Khi linh hồn rời khỏi xác, thân thể ông cố định, hơi thở ông ngừng lại và ông có thể bay. Chuyện này hay xảy ra nhất khi tôi thật là mệt.

Nó khác với cái ta thường gọi là giấc mơ. Mọi thứ đều rất thực. Nếu ông có thể phân biệt ra rạch ròi mà nói, "đây là mơ, không giống với hiện thực" thì sự việc sẽ dễ hơn, nhưng đằng nào các thứ trong giấc chiêm bao của tôi lại rất giống với những cái hiện ra trong đời thật, điều này làm tôi hoang mang. "Đây là đời thật ư? Hay không phải?" Dần dần tôi không thể phân biệt được giữa hai cái nữa, hay tôi có thể nói các chiêm bao của tôi hóa ra lại thật hơn cả đời thật. Tôi khó chịu về chúng, "Vậy là đời thật là cái nào?" tôi tự hỏi. "Ý thức đích thực của mình ở đâu?"

Những trải nghiệm này ảnh hưởng nhiều đến tôi. Tôi nói chuyện với bố mẹ nhưng bố mẹ không hiểu những điều tôi đang cố nói ra. Tôi hơi hướng nội một chút, nhưng cũng có bạn bè và đi học như ai khác. Tôi không đặc biệt thích nhà trường nhưng vẫn chịu khó học những môn mà tôi thấy thú vị. Tôi cũng thích đọc, đặc biệt là sách khoa học viễn tưởng và kỳ ảo. Tôi đọc nhiều truyện tranh và xem nhiều phim hoạt hình. Tôi học rất kém môn toán và không thích thể thao lắm.

Mẹ thường bảo tôi: "Học đi! Nếu học con sẽ được vào trường tốt và có việc làm tốt." Những cái mà các ông bố bà mẹ thường nói. Nói thật ra, tôi đúng là không bận tâm đến chuyện học hành. Tôi chẳng hiểu học để làm gì. Các chiêm bao của tôi tiếp tục. Tôi trải nghiệm đủ thứ, tôi đi qua các thế giới khác nhau. Đôi lúc tôi thấy vui vui nhưng không bao giờ kéo dài. Kết cục bao giờ nó cũng tan vụn ra. Tôi đã trải nghiệm thấy các cuộc chiến tranh có nhiều người bị giết. Tôi cảm thấy cái chết đáng sợ xiết bao và tôi buồn sâu sắc khi thấy những người ở xung quanh tôi chết. Tôi nhận ra thế giới này thật phù du, chẳng có gì là mãi mãi, và đau khổ là kết quả của sự phù du ấy.

MURAKAMI: Nói khác đi là cô đã thể nghiệm "một thế giới khác" và sau những thể nghiệm đầy xúc động trong một thế giới song song, cô đã đi tới kết luận này?

Đúng vậy. Tôi chưa thấy cái chết thật sự của một ai đó thân thiết với tôi, nhưng khi tôi xem người ta đau ốm và chết chóc trên tivi thì tôi nhận ra, "Ôi, cũng thế nốt, thế giới thực tại là không bền. Ở đây cũng khổ đau giống như thế." Các chiêm bao của tôi và thế giới thực tại đã gặp nhau.

Tôi học ở một trường trung học công lập ở Kanagawa. Ai cũng nói đến con trai, thời trang, tình yêu, các quán karaoke hay nhất ở đâu, vân vân. Tôi không tìm thấy được một giá trị nào ở đó cho nên tôi luôn bị gạt ra ngoài.

Phần lớn thì giờ tôi dành để ở một mình, đọc. Tôi cũng viết lách nữa. Do các chiêm bao của tôi là những chuyện kể cho nên tôi cảm thấy nếu tôi viết chúng ra thì sẽ thành một quyển sách. Chẳng phải một số nhà văn cũng làm thế - lấy ý tưởng từ các giấc mơ của mình rồi viết tiểu thuyết dựa vào đó hay sao?

Tôi thật tình không muốn có bạn trai. Các cô gái quanh tôi tìm được bạn trai, tôi không thấy ghen tị bao giờ. Tôi không hiểu có bạn trai làm gì.

Khi tôi 16, anh tôi cho tôi mượn vài quyển sách của Aum, nói chung khá là hay. Hình như những cuốn đầu tiên là Vượt ra ngoài Sống và Chết, Nhập mônKinh Đại Thừa. Tôi đọc mà nghĩ, "Đây đúng là thứ mình đang tìm kiếm!" Tôi nóng lòng muốn gia nhập quá.

Các sách này giải thích vì sao con đường tới hạnh phúc đích thực lại nằm ở trong việc được giải phóng. Một khi đã được giải phóng thì ông sẽ giành được hạnh phúc vĩnh cửu. Thí dụ, dù trong đời tôi có cảm thấy hạnh phúc thì cũng không lâu bền – nhưng nếu hạnh phúc mà bền lâu mãi mãi được thì sẽ tuyệt vời làm sao. Không phải hạnh phúc chỉ cho tôi mà cho tất cả mọi người. Ở nghĩa này tôi bị chữ "giải phóng" cuốn hút hoàn toàn.

MURAKAMI: Chính xác ra cô muốn nói gì khi dùng chữ "Hạnh phúc"?

Chẳng hạn như cảm giác vui sướng khi ông đang tán đủ thứ chuyện với bạn bè hay chuyện trò với gia đình ông. Với tôi, chuyện trò là rất quan trọng.

Nếu ông hỏi giải phóng hay ngộ nghĩa là gì với tôi thì tôi sẽ nói: trước hết đó đã có đau khổ rồi, giải phóng đơn giản là chấm dứt đau khổ. Khi đạt tới giải phóng ông sẽ thoát khỏi hết đau khổ của cái thế giới phù du này. Các sách này miêu tả một số thực hành khổ tu mà ông có thể làm để giúp ông đạt tới giải phóng, cho nên trước khi gia nhập Aum tôi đã thử món này. Tôi đọc các sách này ở nhà, làm các thế asana và tập thở hàng ngày.

Hai anh tôi cũng bị Aum cuốn hút, các anh nói muốn gia nhập. Ba chúng tôi có cách nghĩ giống nhau. Anh cả tôi cũng từng trải qua các kiểu chiêm bao na ná như tôi, nhưng ở anh, chúng kém mãnh liệt hơn.

Vậy là ba anh em chúng tôi lên đường tới dojo Setagaya và hỏi người ở bàn tiếp tân thủ tục đăng ký thành viên. Từ đầu đã dự định gia nhập cho nên chúng tôi bắt tay vào điền tên tuổi, địa chỉ ngay nhưng họ nói muốn nói chuyện với chúng tôi trước đã rồi dẫn chúng tôi vào trong, để chúng tôi nói chuyện với Sư phụ của dojo. Khi được hỏi động cơ gia nhập, chúng tôi đều nói, "Ngộ và giải phóng." Ông ta nghe mà ngạc nhiên. Có vẻ phần lớn những người đến đây đều muốn cải thiện tình trạng của họ trong thế giới hay nhận thức được những sức mạnh siêu nhiên cùng các thứ đại loại thế.

Sư phụ nói với chúng tôi nhiều chuyện nhưng cái mà tôi cảm thấy nhiều nhất là – nói sao đây nhỉ? – là một cảm giác bình thản, tựa như từ không khí tỏa ra sự bình yên vậy. Cả ba chúng tôi đều gia nhập ngày hôm ấy. Tiền phí gia nhập, cả sáu tháng hội phí, lên đến 30.000 Yên một người. Tôi không mang đủ tiền nên phải vay của các anh một tí.

MURAKAMI: Ba anh em cô gia nhập một lúc thì bố mẹ cô nói gì không?

Có nói. Lúc ấy Aum chưa bị bới um lên nên chúng tôi chỉ bảo bố mẹ rằng nó như là một trung tâm yoga. Nhưng về sau khi có đủ loại tin đồn về Aum thì đã nảy sinh vài rắc rối.

Sau khi gia nhập, chúng tôi bỏ thời gian ra gấp các tờ bướm nói về Aum, để vào hòm thư hay trao tay trên đường phố. Rất vui. Tôi luôn cảm thấy đạt được thành tựu nào đó sau khi làm việc này. Không hiểu sao tôi cảm thấy hào hứng hơn. Các hoạt động phục vụ này giúp lập công tích đức. Ông càng tích cóp được nhiều công đức thì năng lượng mà ông cần có để thăng lên cấp cao hơn lại càng mạnh. Trong Aum, người ta luôn bảo tôi như vậy.

Tôi cũng có vài người bạn. Một người bạn cùng học trường trung học đã gia nhập và chúng tôi phát tờ bướm với nhau. Tôi không làm gì đặc biệt để kéo bạn ấy gia nhập, tôi chỉ kể với bạn về nhóm này.

Sau khi gia nhập tôi vẫn tu luyện khắc khổ và mau chóng được nghiệm cái mà họ gọi là dhartri siddhi. Đó là giai đoạn trước khi có thể bay, khi người ông bắt đầu dập dềnh lên xuống trong không trung. Nó đột ngột xảy ra ở nhà lúc tôi đang làm các bài tập thở. Sau đó tôi có thể làm thế khá nhiều lần nữa theo ý mình. Lúc đầu ông không nhận thấy mình đang dập dềnh lên xuống trong không trung, nhưng sau một lúc ông đã có thể điều khiển nó ở mức độ nào đó.

Lúc đầu là một vấn đề thực sự. Ông nhảy tưng lên! [cười] Ông không biết chuyện gì đang xảy ra. Gia đình tôi vô cùng kinh ngạc khi trông thấy tôi như thế. Tôi nghe người ta nói tôi đạt tới trình độ này nhanh quá. Tôi nghĩ là vì tôi còn nhỏ nên về mặt tâm linh tôi đã tiến được khá.

Một dạo sau khi gia nhập tôi vẫn đi học như thường lệ, trong khi vẫn tham gia các hoạt động của Aum nhưng thời gian trôi đi tôi thấy việc học ở trường chả được tích sự gì – tôi thật sự ghét. Tôi đang làm một điều trái ngược lại với mọi người. Để lấy một thí dụ, các bạn học của tôi nói không hay về thầy cô nhưng Aum dạy chúng tôi không bao giờ nói xấu người khác. Tôi thấy một điểm trái ngược lớn ở đây. Hình như tất cả những gì học sinh phổ thông có thể nói với nhau là bàn xem làm cách nào vui chơi thỏa thích nhưng Aum lại thực hành quan niệm "người ta không nên theo đuổi lạc thú." Đối lập hoàn toàn.

Từ bỏ thế giới và theo đuổi trọn vẹn tu hành chứ không phải ngồi ở nhà, làm như thế thì đạt tới giải phóng nhanh hơn. Thế là một thời gian dài tôi cứ nghĩ mình nên xuất gia.

MURAKAMI: Xuất gia có nghĩa là từ bỏ mọi ràng buộc, cô có thấy khó gạt đi một ràng buộc nào cụ thể hay không?

Tôi đã cảm thấy hoang mang và mâu thuẫn nhiều. Cho tới lúc ấy tôi sống với gia đình nhưng nếu xuất gia thì tôi không còn gặp họ nữa. Đây là điều khó khăn nhất với tôi. Và cả thức ăn nữa – sau khi xuất gia, ông chỉ có thể ăn một số món đặc biệt nào đó thôi.

Anh cả tôi đã bỏ học cao đẳng để xuất gia. Bố mẹ tôi cố thuyết phục anh chờ cho đến khi tốt nghiệp đã nhưng anh rất cương quyết. Anh hai tôi ở nhà, không có vẻ gì rõ ràng là muốn xuất gia.

Bố mẹ đã khóc khi tôi xuất gia. Hai cụ cố hết sức giữ tôi lại. Nhưng tôi tin chắc nếu ở lại mình cũng không thể là nguồn sức mạnh tích cực gì trong đời bố mẹ được. Tôi không tìm "tình yêu" thông thường mà là tình yêu ở nghĩa rộng hơn nhiều. Nếu tôi có thể thực sự thay đổi chính mình thì điều đó sẽ ảnh hưởng tốt tới bố mẹ. Đương nhiên lời từ biệt rất khó nói, nhưng tôi đã hạ quyết tâm xuất gia.

Sau khi tuyên thệ, tôi được cử đến Seiryu-Shoja tại quận Yamanashi để tu hành rồi đến dojo Setagaya ở Tokyo, ở đây tôi được phân công tham gia các hoạt động của chi nhánh này. Tôi trông nom những người theo Aum nhưng chưa xuất gia, những người vẫn còn ở nhà của họ. Tôi cũng tham gia việc in ấn tài liệu trao tay rồi mang đến cho những người theo Aum để đến lượt họ phân phát. Trong cuộc sống mới này tôi cảm thấy hơi cô đơn, nhưng tôi không ân hận về quyết định của mình. Tôi có vài bạn mới ở Aum. Nhiều cô gái cỡ tuổi tôi đã xuất gia và chúng tôi cùng nhau sống vui vẻ ở dojo Setagaya. Chúng tôi có nhiều điểm chung, xét cho cùng, họ gia nhập Aum cũng vì thế giới bên ngoài xem ra không có giá trị. Tôi ở dojo Setagaya một năm rồi chuyển đến tổng đàn ở núi Phú Sĩ, ở đây tôi làm việc văn phòng. Tôi ở một năm rưỡi rồi đi đến Satyam số 6 ở Kamikuishiki-mura, ở đây tôi sửa soạn "đồ cúng". Nó bao gồm việc nấu nướng thức ăn dâng các vị thần linh. Sau khi cúng, các sa môn sẽ được ăn các thức đó.

MURAKAMI: Nói cách khác là cơm nước. Cô được ăn những thức ăn nào?

Bánh mì, kẹo, những thứ đại loại như thế - có lúc vẫn được ăn thức ăn kiểu hamburger, cơm, kombu, những món rán ngập dầu. Thực đơn thay đổi một chút theo thời gian, có lúc chúng tôi nấu cả mì ramen. Theo quy tắc thì ăn chay là được. Bánh burger đậu nành.

Số lượng người nấu nướng cũng thay đổi theo thời gian. Cuối cùng thì chỉ có ba chúng tôi, đều là phụ nữ, đều được đặc biệt chọn đến làm bởi vì các món nấu ở đây được coi là đồ cúng thiêng liêng.

MURAKAMI: Vậy là họ nghĩ cô đủ tư cách làm loại công việc này?

Vâng, tôi cho là thế. Công việc này đòi hỏi sức lực. Chúng tôi làm bếp từ sáng đến đêm, đôi khi kiệt sức đến ngã quỵ. Trong thời kỳ số lượng sa môn cao đặc biệt, chúng tôi còn phải nấu nhiều hơn. Cứ làm, làm hoài làm mãi, không có lúc nào thở được.

Thế đấy, có một trăm sa môn thì ông phải làm một trăm suất và đem đặt trước điện thờ để cúng. Chúng tôi không những phải nấu nướng mà còn phải đem đến phòng đặt điện thờ, xếp đặt cho ngay ngắn rồi sau đó phân phát cho các sa môn.

Cấp trên của chúng tôi quyết định thực đơn. Tôi nghĩ họ dựa vào yêu cầu dinh dưỡng bình quân của người Nhật hiện nay. Ăn thấy thế nào à? Đôi khi chúng tôi phục vụ cả những người ở bên ngoài, họ đều nói ăn thế này hơi sơ sài. Nếu thức ăn mà ngon quá thì có nguy cơ làm tăng tục lụy, nhưng việc này không giống như là một quy tắc nghiệt ngã hay gì đó. Các bữa ăn không gây nên thèm ăn thèm uống, đấy, tả nó như thế thì rõ hơn. Mục đích của chúng tôi là cấp cho người ta thứ dinh dưỡng cần thiết cho họ hoạt động, chứ không phải làm một cái gì đặc biệt ngon.

Để làm đầu bếp, chúng tôi không phải trải qua một khóa huấn luyện hay cái gì đặc biệt. Đấng Sáng lập [Asahara] thường nhắc nhở chúng tôi, "Hãy đem tâm huyết vào trong công việc." Sau bữa ăn chúng tôi phải cọ rửa dụng cụ làm bếp thì ông bảo, "Hãy làm sạch chúng tựa như đánh bóng trái tim mình." Tôi cố đem tâm hồn nhiệt huyết của mình vào công việc. Trước khi tuyên thệ, hồi còn sống ở nhà, tôi không chú ý đến bếp núc lắm nhưng bốn năm ở Kamikuishiki, ngày nào tôi cũng nấu nướng tại Satyam số 6.

MURAKAMI: Shoko Asahara có sống ở Satyam số 6 không?

Có. Ông có nhiều nhà, nhưng đấy là dinh cơ chính của ông, tuy ông sống tách biệt với chúng tôi. Tôi thỉnh thoảng trông thấy ông. Đôi khi ông ăn các bữa chúng tôi nấu nhưng chuyện này khá là hiếm. Một người nào đó khác làm cơm cho ông.

Vừa lao động, tôi vừa tiếp tục tu hành khắc khổ và tôi thấy mình trưởng thành và hiểu biết. Tôi có thể hiểu rõ tình hình các vương vấn trần tục cũng như mức năng lượng của mình. Và tôi có thể điều chỉnh tu hành cho phù hợp. Tôi phải mất bốn năm để đạt tới giải phóng.

MURAKAMI: Khi cô nói đạt tới giải phóng có phải là Giáo chủ quyết định điều đó không – chẳng hạn như ông nói, "Được, cô đã đạt tới rồi.

Vâng, nghĩ cho cùng thì chuyện này diễn ra đúng như thế. Ông phải làm trọn nhiều điều kiện để đạt tới giải phóng rồi cuối cùng Giáo chủ mới quyết định ông có đạt tới hay không. Đã thành quy tắc, phần lớn người ta đạt tới giải phóng khi đang ở giữa quá trình tu luyện tăng cường, tập trung. Có một kiểu tu khốc liệt nhằm mục đích đạt tới giải phóng. Khi ông tu theo cách này thì sẽ trải nghiệm được nhiều điều thần bí, và khi những điều này xảy ra đã đủ, cộng thêm một chút gì đó phụ thêm, thì đầu óc ông sẽ trở nên rõ ràng sáng suốt – đó là lúc ông đạt tới giải phóng.

Chỉ lúc ấy ông mới được ban cho một tên thánh.

MURAKAMI: Trong trường hợp của cô, ngay từ bé cô đã trải nghiệm chiêm bao, xuất hồn và những điều tương tự, nhưng sau khi cô xuất gia và vào Aum rồi thì các cái đó ra sao?

Tinh thần tôi trở nên mạnh mẽ hơn, tôi trải nghiệm những điều khác thường nhiều hơn. Và tôi cũng có thể kiểm soát được chúng tốt hơn. Tôi có thể nhớ lại các kiếp trước của tôi, có thể nhìn thấy những người xung quanh tôi mai này sẽ hóa kiếp tái sinh ra ở những thế giới nào. Nó đến với tôi như tia chớp vậy: "Đây là kiếp trước của mình đây!"

Nói thật, kiếp trước tôi là đàn ông. Khi tôi nhớ lại những chuyện xảy ra lúc tôi còn bé thì các mẩu của trò chơi ghép hình khớp lại với nhau. Khi còn nhỏ, tôi thường bị lầm là con trai và tôi nghĩ chuyện này thật kỳ cục, nhưng nếu kiếp trước tôi là con trai thì cũng dễ hiểu thôi.

MURAKAMI: Ngoài chuyện giới tính của cô ra, các chuyện khác thì thế nào? Chẳng hạn một tội ác cô gây ra ở kiếp trước mà nay đang ảnh hưởng đến cô?

Trong trường hợp tôi, những chuyện tôi trải qua khi còn bé hầu hết đều dễ chịu, nhưng cũng có những điều đau đớn. Tôi tin tưởng những đau đớn đó là do mình đã phạm phải những tội lỗi mà giờ phải chuộc.

MURAKAMI: Ở đây tôi không có ý phê bình gay gắt, nhưng chẳng phải phần lớn người ta ở một mức độ nào đó đều giống như thế sao? Tức là ngoài tinh thần hay hóa kiếp hay gì đó, hầu hết mọi người đều phải trải qua những chuyện khó chịu.

Chắc vậy. Ừm. Nhưng tôi nghĩ hồi ông còn bé – khi còn quá sớm để môi trường xung quanh ông trở thành một tác nhân quan trọng – mà có những kiểu trải nghiệm như thế thì chắc đó phải là kết quả của một cái gì đó từ kiếp trước.

MURAKAMI: Ngay cả khi chưa từng trải nghiệm hiện thực cô vẫn có thể có những thể nghiệm không vui, đúng thế không? Cô đói nhưng không ai cho cô ăn, cô muốn mẹ cô bế bồng nhưng bà không làm như vậy. Không có gì liên quan đến kiếp trước hay cái gì đó ở đây. Ở từng thời điểm khác nhau có những khác biệt lệ thuộc vào tuổi tác của cô, nhưng tôi nghĩ đây là vấn đề về "cái đau" mà người ta trải qua khi họ đấu tranh để thích nghi với hiện thực.

Nhưng ông chỉ nhận được ra nó trong một số trường hợp nhất định.

Khi xảy ra vụ đánh hơi độc, tôi đang sửa soạn đồ cúng như mọi ngày, ở Satyam số 6. Tôi nghe tin này từ các thành viên khác, "Có chuyện rồi đấy," họ bảo tôi, "và hình như người ta đang buộc trách nhiệm cho Aum." Tôi không thể tin rằng Aum lại có dính líu.

Trước đó, người ta có nói sarin đã được thả ở các cơ sở tại Kamikuishiki và chúng tôi đang bị tấn công bằng hơi độc. Tôi thật bụng nghĩ chuyện này có thể đúng, lý do là nhiều người ở quanh tôi, kể cả tôi cảm thấy ốm yếu. Phổi và miệng tôi chảy máu. Tôi cảm thấy tồi tệ đến nỗi có lúc tôi phải nằm liệt giường. Sau đó ra đờm dãi có máu, tôi nhức đầu, buồn nôn, dễ mệt. Cho nên tôi tin là đã có thả hơi độc. Nếu không thì sao lại có quá nhiều người cùng ốm yếu một lúc như thế. Chuyện này trước đây chưa hề xảy ra.

Tôi bị sốc khi cảnh sát vây ráp chúng tôi. Chúng tôi không làm cái gì sai trái – dán nhãn ác cho chúng tôi là quá phiến diện. Họ vây ráp cả Satyam số 6. Những nơi chúng tôi làm đồ cúng cũng bị lục soát hết và họ bắt chúng tôi dừng nấu nướng, cho nên chúng tôi không thể chia thức ăn cho các sa môn. Ai cũng bị buộc phải nhịn đói lúc ấy. Cảnh sát thật đáng sợ. Tôi trông thấy những người bị đánh. Họ bị quăng lên quật xuống và chấn thương đầu.

MURAKAMI: Trong khoảng thời gian xảy ra vụ kia cô đang ở Satyam số 6. Dạo ấy cô có nhận thấy điều gì không bình thường không?

Không. Cứ hễ thức dậy là tôi sửa soạn đồ cúng. Tôi không nghe, không thấy điều gì khác thường cả. Chúng tôi bận rối tinh rối mù với công việc và lại không hay ra ngoài cho nên không biết những gì xảy ra ở chỗ khác. Những người bạn tôi nói chuyện nhiều nhất là mấy cô cùng làm việc.

MURAKAMI: Những người tham gia vụ đánh hơi độc đã bị bắt và nhận tội. Bây giờ đã rõ là Aum có dính líu. Về việc này, cô cảm thấy thế nào?

Tôi gần như không nghe thấy gì về chuyện này. Tôi sống trong một ngôi làng miền núi hẻo lánh, không tivi, không báo chí cho nên tôi không biết cái gì đang xảy ra.

Nếu muốn nghe tin tức nhiều như thế thì cũng có thể nắm được. Nhưng tôi thì đúng là không quan tâm. Tôi không nghĩ Aum lại có sự gì dính líu vào đấy.

Nhưng năm ngoái, tôi bắt đầu ngờ vực. Khi họ chớm nói đến Đạo luật Hoạt động chống Lật đổ. Nếu làm mạnh luật này thì tất cả các đồng sự của tôi sẽ bị phân tán, tôi sẽ không thể tập trung tu hành, đồng thời cái môi trường tôi đang ẩn náu cũng sẽ không còn nữa. Tôi sẽ phải ra ngoài và tự chống đỡ một mình. Điều này khiến tôi sợ.

MURAKAMI: Những một năm rưỡi sau vụ kia, cô vẫn không biết là Aum đã làm nó?

Đúng thế. Tôi không nghi ngờ gì và những người khác mà tôi quen cũng đều giống tôi. Gần như mọi người ở Satyam số 6 đều đã cắt đứt với thế giới bên ngoài. Không có tin tức gì lọt vào đây cả.

Cuối cùng thì số lượng sa môn giảm mạnh. Người ta lần lượt bỏ đi. Tuy vậy, nếu đột nhiên rũ bỏ tất cả và không có phương tiện gì kiếm sống thì ông không thể sống. Ông cần phải làm cái gì đó – thậm chí chỉ là một việc làm bán thời gian – nếu không thì làm sao trả được tiền thuê nhà? Sa môn chỉ được cấp một khoản tiền nhỏ mỗi tháng. Người ta theo nhau đi. Tôi gần như là người cuối cùng như một chiếc lược bị gãy mất vài răng. Cô quạnh. Ngày 1 tháng Mười một năm 1996, chúng tôi được lệnh rời khỏi các cơ sở ở Kamikuishiki.

Tôi chuyển đến Saitama, khoảng mười thành viên Aum đang sống ở đây. Ông chủ nhà chúng tôi suy nghĩ khá thoáng, ông nói ông không phiền cho người của Aum thuê. Phải thừa nhận là chỗ chúng tôi thuê – một kiểu cao ốc văn phòng – mới xây xong có một nửa và sẽ chẳng ai khác muốn thuê nữa. Chúng tôi ai cũng có việc làm bán thời gian cho nên cũng đủ tiền để sống cũng như nuôi trẻ con và người già.

Tôi nghĩ mình nên tận dụng tốt kinh nghiệm sửa soạn đồ cúng ở Satyam số 6 vào việc mở một cửa hàng bánh ở tầng một tòa nhà chúng tôi ở. Bố mẹ tôi đề nghị hùn vốn.

MURAKAMI: Thật là các bậc cha mẹ biết thông cảm.

Vâng. Các cụ rất thông cảm. [cười] Thế là tôi mở một cửa hàng bánh như thế. Thoạt đầu tôi cho nó một cái tên dễ thương – "Những người hay làm bánh" – nhưng giới truyền thông đã phát hiện ra nó. Khi chúng tôi đăng ký kinh doanh, phóng viên báo chí thình lình ập vào. Tòa thị chính chắc đã rỉ tin này cho báo đài. Cuối cùng tên của cửa hàng chúng tôi lộ ra và lên tivi. Vì thế các khách hàng chính từ chối tiếp tục làm ăn với chúng tôi. "Cửa hàng này là của bọn theo Aum đấy," họ nói.

Khách hàng thông thường cũng không mua của chúng tôi nốt. Chúng tôi cố bán trên mạng Internet nhưng cứ hễ thấy cái tên là người ta biết, thế là họ hủy hết đơn đặt hàng. Chúng tôi thử làm với một tên khác nhưng sự thể cũng chẳng được êm xuôi. Các khách hàng làm ăn nhận chở hàng cho chúng tôi đều bị cảnh sát chặn lại. "Các ông bà làm gì ở đây?" cảnh sát hỏi họ. "Các ông bà không biết người của Aum mở cửa hàng này sao?" Chúng tôi đã nghĩ đến việc thử bán hàng ở nơi khác nhưng biết thế nào cảnh sát cũng sẽ lại theo và can thiệp, cho nên kiếm sống bằng cách ấy là không được.

Bây giờ chúng tôi bán bánh cho các sa môn và những người theo Aum khác. Chúng tôi làm một tuần hai mẻ bánh và tự tay giao hàng. Bằng cách nào đó chúng tôi cũng lần hồi qua ngày được. Chúng tôi không bán chút bánh nào cho người bên ngoài.

Cảnh sát vẫn lảng vảng bên ngoài cửa hàng chúng tôi. Nếu ai định vào thì họ giữ lại hỏi giấy tờ và cảnh báo rằng cửa hàng này là do người của Aum mở. Tôi cho là họ phải chứng tỏ mình đang thực sự làm gì đó. Đôi khi cảnh sát hỏi xin bánh mì và chúng tôi cho họ một ít. Nhưng khi họ hỏi thêm thì chúng tôi bảo chỗ này phải trả tiền.

Đôi khi chúng tôi tự tay làm bánh ngọt rồi mang đến hàng xóm tán chuyện. Họ nói những câu như, "Chúng tôi sợ các anh chị đang làm chuyện gì không tốt, nhưng xem ra thì đúng là các anh chị làm bánh kẹo thật." Ảnh hưởng của truyền thông đã có hiệu quả.

MURAKAMI: Sau khi rời satyam và bắt đầu sống trong xã hội, cô nghĩ gì về vụ đánh hơi độc, về vụ với luật sư Sakamoto, và những vụ khác? Đa số dân chúng tin là Aum Shinrikyo có dính líu.

Ừm, với tôi thì việc xếp đặt các ý nghĩ của mình cho có thứ tự khá là khó, vì có một khoảng cách quá lớn giữa Aum mà tôi trải nghiệm với hình ảnh mà người ở bên ngoài đang có về Aum. Tôi đã bắt đầu nghĩ những điều người ta nói về cái vụ việc kia có thể là sự thật, nhưng những lời khai ở tòa hình như lại cứ thay đổi hoài. Tôi vẫn phân vân không rõ cái nào đúng cái nào không.

MURAKAMI: Chi tiết trong các lời khai – như ai nói cái gì với ai, ở đâu, lúc nào – có thay đổi nhưng sự việc còn lại vẫn là năm người lãnh đạo của Aum đã thả sarin trên xe điện ngầm để giết các hành khách không phân biệt. Điều tôi muốn tìm hiểu là ý kiến của cô về bản thân vụ đánh hơi độc này. Tôi không chỉ trích cô với tư cách một cá nhân, tôi chỉ muốn biết cô nghĩ gì.

Thôi được – tôi đúng là không thể tin được, không thể hiểu được. Khi đang sống như một người xuất gia, tôi chưa từng sát sinh lần nào – một con gián hay một con muỗi cũng không. Tôi luôn thực hành điều đó và mọi người tôi biết cũng thế. Cho nên tôi thấy thật khó tin chuyện đó có thể xảy ra.

Trong các bài giảng đạo pháp tôi được biết đến Mật thừa Đát đặc la, nhưng tôi không bao giờ nghĩ nó lại dính dáng gì đến hiện thực cả. Tôi không lấy nó làm căn cứ cho hành động hay cái gì đó của tôi.

Với tôi, sư phụ của tôi là người sẽ giúp đỡ khi tôi gặp khó khăn trong tu hành. Tôi hiểu là như thế - và theo nghĩa này thì sư phụ là một người quan trọng với tôi.

MURAKAMI: Với cô, ông ta có phải là một hiện diện tuyệt đối, một người mà cô tuyệt đối tôn thờ không?

Tuyệt đối ư?... Ừm… Dĩ nhiên. Đấng Sáng lập đôi khi hỏi tôi, "Cô có thể làm việc này không?" nhưng trong các trường hợp ấy tôi đều dùng khả năng xét đoán của mình nên thỉnh thoảng trả lời là tôi làm thì hơi khó. Tôi không bạ cái gì cũng nói "Vâng", và những người tôi biết cũng như thế. Cho nên ấn tượng của tôi với giáo chủ không phải là ấn tượng về một sự hiện diện tuyệt đối. Đó chẳng qua là cái hình ảnh mà báo đài bám lấy để khai thác.

Mọi người không ai giống nhau cả. Tôi chắc có những kẻ liếm gót hễ bảo làm gì thì làm, nhưng cũng có nhiều người có suy nghĩ riêng và làm theo ý họ.

MURAKAMI: Cô sẽ thế nào nếu ở vào tình huống ấy – cô nhìn Giáo chủ như một thủ lĩnh tuyệt đối, tin ông ta là người duy nhất có khả năng dẫn dắt cô, và rồi ông ta bảo cô "Làm việc này đi"?

Ngay những người tiến hành vụ đánh hơi độc – và tôi đã tận mắt chứng kiến điều này – đều là những người có cảm thức mạnh mẽ về Bản Ngã. Họ là những người có kiến giải riêng và không ngần ngại nói lên ý mình trước những người khác. Cho nên tôi hơi bối rối với các giả định của ông ở đây. Khi tôi nghĩ đến cung cách của những con người ấy vào hồi tôi biết họ, tôi không thể tưởng tượng được là họ lại làm cái việc đó. Nếu thực sự trông thấy họ đánh hơi độc thì tôi có thể tin, nhưng tôi đã thấy và nghe quá nhiều những điều trái ngược với điều người ta nói nên tôi không sao rũ bỏ được mối nghi ngờ của mình về việc họ có thật sự thả hơi độc hay không.

Khi xem tòa xử Đấng Sáng lập, tôi thấy có quá nhiều điểm chưa rõ ràng, cho nên tôi giữ thái độ chờ xem. Ở giai đoạn này tôi thấy mình không thể phán xét bất cứ điều gì cho đến khi Đấng Sáng lập làm cho mọi sự sáng tỏ. Như luật sư của ông ta nói đó, vẫn còn chưa chứng minh được rằng ông ta có thực sự ra lệnh làm cái việc kia không.

MURAKAMI: Vậy là cô sẽ bảo lưu phán xét cho đến khi tất cả xong xuôi chứ?

Tôi không nói là không có chuyện ông ta làm việc ấy, nhưng thời điểm này là quá sớm để đưa ra quyết định. Tôi sẽ không bị thuyết phục cho đến khi mọi bằng chứng được bày lên trên bàn.

MURAKAMI: Cô nói bố mẹ hùn vốn cho cô làm bánh. Cô đã vui vẻ với các cụ chưa?

Lần tôi đạt tới giải phóng tôi đã về thăm nhà, và cũng đã gọi về vài lần. Họ chưa từng nói chuyện từ tôi hay gì gì. Bố mẹ bảo tôi lúc nào có thể về thì về nhà. Nhưng với tôi, trở lại với thế giới thế tục là bất khả. Nếu có điều gì là tuyệt đối ở đấy, một cái gì cao hơn bình thường, thì sự tình có thể thay đổi, nhưng ngay bây giờ thì không có cái điều ấy. Tôi chỉ tìm thấy được điều đó trong Aum Shinrikyo.

Bảy tám năm sống trong Aum, có những lúc tôi cũng đã dao động. Khi tôi tiến hành tu luyện, những gì ô uế ở bên trong tôi như tràn lên bề mặt. Khi tu luyện, ông đi sâu hơn vào bên trong ông và đối mặt với các tội lỗi, đam mê của ông khi chúng nổi lên. Trong xã hội thông thường, phần lớn người ta kìm hãm chúng bằng rượu chè và những lúc vui vầy, nhưng với người tu hành chúng tôi thì điều đó không thể được. Chúng tôi phải đương đầu với chúng và thắng chúng. Rất là thử thách. Lòng ông đôi khi dao động, nhưng khi sự do dự bị chìm xuống thì ông đạt tới cái điểm nơi ông có thể tái xác nhận rằng, "À, mình có thể tiếp tục tu hành." Tôi chưa từng nghiêm túc xem xét đến việc hoàn tục, dù chỉ một lần.

Người bạn thời trung học với tôi vào Aum cùng dạo ấy vẫn còn ở Aum và tiếp tục tu hành. Anh cả tôi, cũng là một người xuất gia thì ngay trước vụ đánh hơi độc đã trở về nhà. Anh quyết định bắt đầu tu tiếp tại gia. Ừm – có thể trong trận chiến với các ô uế xuất hiện khi tu luyện, như tôi nói, anh ấy đã thua. Nếu ông không chiến thắng được những thứ đó, ông sẽ không bao giờ đạt tới giải thoát.

"‘Nếu ở đây,’ tôi nghĩ, ‘mình sẽ chết’"

Shin’ichi Hosoi (sinh 1965)

Anh Hosoi sinh ở Sapporo. Anh lên Tokyo học mỹ thuật, hy vọng trở thành họa sĩ truyện tranh, nhưng được sáu tháng thì bỏ. Trong khi làm các việc lặt vặt, anh đã tình cờ tiếp xúc với Aum Shinrikyo và trở thành thành viên. Anh làm ở nhà in của Aum rồi chuyển đến Bộ phận Hoạt hình, nơi anh có thể dùng đến kỹ năng hình họa của mình. Cuối cùng anh trở thành thợ hàn ở Bộ phận Khoa học và Công nghệ. Năm 1994, anh được thăng tới cấp Sư phụ và tham gia vào việc xây dựng ở Satyam số 7, nơi có một nhà máy hóa chất. Anh chỉ làm việc và có rất ít cơ hội tu hành. Tuy vậy, anh vẫn tích lũy được nhiều kinh nghiệm tu hành.

Sau khi Aum bị vây ráp, anh nghe người ta đã ban lệnh bắt anh cho nên anh tự ra đầu thú. Sau hai mươi ba ngày bị tạm giam, các lời buộc tội rút bỏ, anh được thả. Trong lần bị tạm giam tháng Sáu năm ấy, anh gửi thư tới Aum chính thức xin rút. Anh quay về Sapporo một dạo nhưng nay sống ở Tokyo. Trong lúc phỏng vấn, anh cho tôi xem nhiều minh họa về đời sống ở satyam.

Hiện anh là thành viên của Hội Canary, một nhóm do những người từ bỏ Aum lập ra, và anh phê phán cả Aum lẫn Shoko Asahara.

° ° °

Tôi không thích trường tiểu học. Lý do là vì anh tôi bị khuyết tật – bị mắc chứng tự kỷ - và anh theo học ở một trường đặc biệt, bọn trẻ ở trường tiểu học trêu chọc tôi vì chuyện đó và tôi đã trải qua nhiều chuyện rất tệ.

Theo tôi nhớ thì bố mẹ bỏ hết thì giờ ra chăm sóc anh và hầu như không chú ý đến tôi, cho nên phần lớn thời gian tôi chơi một mình. Tôi nhớ như in cái tuổi mình muốn được chú ý đến mà chẳng nhận được gì. Lúc nào mẹ cũng bảo tôi là "Hãy nghĩ đến anh con". Có lẽ điều này đã đẩy tôi đến chỗ ghét anh.

Tôi cho rằng mình là một đứa trẻ khá u sầu. Thời điểm quyết định nên tính cách ấy, tôi nghĩ, là khi anh tôi chết vì viêm gan siêu vi B. Một cú sốc lớn với tôi. Lúc ấy tôi 14 tuổi. Trong thâm tâm tôi vẫn hy vọng có một ngày anh sẽ được hạnh phúc, rằng anh cuối cùng sẽ được cứu vớt. Đó là một kiểu hình ảnh tôn giáo. Nhưng thực tế lại hoàn toàn không giống điều tôi tưởng tượng chút nào – rằng một ngày nào đó kẻ yếu đuối sẽ được cứu vớt.

Quanh thời gian ấy, ai cũng biết đến quyển Sấm truyền của Nostradamus. Như ông biết đấy – cái ý tưởng rằng loài người bị diệt vong vào năm 1999. Đó là tin vui cho tôi vì tôi ghét thế giới. Thế giới không công bằng, kẻ yếu không bao giờ được cứu vớt. Khi nghĩ đến các hạn chế của xã hội, các hạn chế của con người, tôi càng cảm thấy suy sụp hơn.

Tôi muốn nói với ai đó về cảm nghĩ của mình song ai cũng bận học hành quá, nếu không thì họ cũng chỉ muốn nói toàn chuyện xe hơi hay bóng chày. Tôi là người rất hâm mộ manga của Katsuhiro Otomo khi ông ta còn chưa nổi tiếng như thế. Các chuyện ấy quá thật, quá sống động với tôi, chúng tối tăm nhưng lại làm tôi nghĩ, "Những chuyện thế này thật sự có thể thành sự thật." Tôi thường vẽ lại các tác phẩm của ông – Tạm biệt Nhật Bản, Yên bình ngắn ngủi, Điệu valse Boogie Woogie, vân vân…

Tôi muốn rời gia đình đi Tokyo cho nên sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông tôi vào trường Mỹ thuật Công nghiệp Chiyoda. Trường đó có môn chuyên đề vẽ truyện tranh. Nhưng sáu tháng thì tôi bỏ. Hình như luôn có một bức tường ngăn cách tôi với phần còn lại của thế giới, và đến Tokyo bức tường lại cao lên hơn. Mọi người đối xử tốt với tôi và tôi đã quen được kha khá bạn gái. Tôi nghĩ, "Cô này và mình sẽ thân với nhau đây," chỉ để cuối cùng nhận ra mình luôn dựng lên một bức tường ở giữa tôi và họ. Các giờ học không có vấn đề gì, vấn đề của tôi liên quan đến con người nhiều hơn. Đơn giản là tôi không thể hợp với ai. Tôi có dự tiệc tùng, nhưng uống rượu và tất cả cái đó không làm được gì cho tôi. Trong khi đó, mối phản cảm của tôi với thế giới càng trở nên mạnh mẽ.

Bây giờ nhìn lại, tôi tự hỏi, "Tất cả những cái đó để làm gì chứ?" Cuối cùng tôi cũng có cơ hội được gặp nhiều người, song tôi đã làm gì? Đẩy họ đi. Nhưng tôi không thể không làm thế. Cho nên tôi bỏ trường và kiếm sống bằng việc làm bán thời gian. Tôi vẫn tiếp tục học vẽ truyện tranh. Bố mẹ gửi cho tôi một ít trợ cấp, nhưng khi ông đã 18, 19 mà cứ lủi thủi sống và học hành một mình thì khó khăn lắm. Ông ở trong một không gian tách biệt và điều này tác động đến cảm xúc của ông. Tôi bắt đầu mắc chứng sợ tiếp xúc với người khác.

Con người làm tôi sợ hãi. Tôi luôn tin chắc họ luôn sắp sửa lừa đảo hay làm tổn thương tôi. Hễ thấy một đôi ríu rít đi học trên phố hay một gia đình vui vẻ với nhau, tôi chỉ có thể nghĩ mỗi một điều là họ nên bị nghiền tan ra thành cám hết – đồng thời lại ghét mình vì đã có những ý nghĩ như thế.

Tôi bỏ nhà đi để trốn khỏi bầu không khí tuyệt vọng sau khi anh tôi chết, nhưng bất kể đến đâu tôi cũng không tìm được một nơi nào yên bình. Đâu cũng như đâu và tôi đâm ra ghê tởm thế giới bên ngoài. Ra khỏi căn hộ là cứ y như bước vào địa ngục. Cuối cùng tôi đi đến chỗ phải trở thành kẻ sạch sẽ quá đáng. Cứ về đến nhà là tôi phải rửa sạch tay tức khắc. Tôi đứng trước bồn rửa tay trong ba chục phút – thậm chí một giờ - liên tục. Tôi biết thế là mình bệnh rồi nhưng không thể ngừng bản thân tôi lại được. Chuyện diễn ra như thế trong hai, ba năm.

MURAKAMI: Tôi ngạc nhiên là anh lại có thể sống kiểu ấy lâu đến thế. Hẳn là không dễ dàng.

Vâng. Trong hai hay ba năm ấy tôi không nói chuyện với ai. Thỉnh thoảng tôi có nói chuyện với gia đình hay những người cùng làm việc, chỉ thế thôi. Tôi bắt đầu ngủ lâu hơn, hơn mười lăm giờ một ngày. Không thì tôi thấy rất tệ. Bao tử cũng quấy rầy tôi. Nó có thể bất chợt nổi cơn đau. Tôi xanh xao đi, toát mồ hôi và khó thở. Tôi sợ cứ đà này thì tôi có thể chết mất.

Tôi nhớ mình đã thử chữa bằng ăn kiêng và yoga xem có ăn thua gì không. Bằng cách này tôi kiểm soát được đời sống của mình. Tôi vào một hiệu sách và tình cờ thấy quyển Vượt ra ngoài Sự sống và Cái chết của Shoko Asahara, tôi đã đứng lại đọc một lát. Nó nói rằng có thể đạt tới đánh thức luồng Hỏa xà trong ba tháng. Tôi ngạc nhiên. "Có thể thế thật ư?" tôi nghĩ. Tôi từng đọc Khái luận và Thuyết thần trí, đã có một vài kiến thức cơ bản về yoga cho nên tôi về nhà tập thử. Cùng với ăn uống kiêng khem, trong ba tháng tôi tập theo cách quyển sách đã phác ra. Tôi là kiểu người khi đã tập trung hoàn toàn vào cái gì thì không bỏ lỡ ngày nào. Tập bốn giờ một ngày hoặc lâu hơn thế.

Tôi bận tâm đến chuyện làm cho mình khỏe ra hơn là đánh thức Hỏa xà. Tôi làm thế được khoảng hai tháng thì cuối sống lưng tôi bắt đầu rung rung, đây là dấu hiệu trước khi đánh thức được Hỏa xà. Nhưng tôi vẫn còn nghi ngờ. Tôi cảm thấy một luồng hơi nóng mạnh như nước sôi cuộn lên dọc xương sống rồi lên não, tựa hồ như nó đang tàn phá bên trong não tôi, quằn quại như một vật sống vậy. Tôi như chết lặng. Đây là điều gì đó vượt ra khỏi kiểm soát của tôi, một cái gì không thể tin được đang diễn ra trong người tôi. Tôi thật sự ngất xỉu.

Trong ba tháng tôi đã đạt tới mức đánh thức Hỏa xà, như sách của Shoko Asahara nói. Vậy là ông ta tuyệt đối đúng đấy chứ. Lúc này thì tôi bắt đầu thực sự quan tâm tới Aum. Tạp chí Mahayana của Aum vừa ra số thứ năm, tôi mua số này và các số trước đó rồi nghiến ngấu đọc. Chúng có ảnh và lời chứng thực của một số cá nhân xuất sắc, ấn tượng. Nếu những người cỡ này mà tôn sùng ông ta vậy thì "Giáo chủ Tôn kính" chắc phải là một người khá xuất chúng.

Tôi thích nhất các sách của Aum là ở chỗ nói trắng ra rằng thế giới là tàn ác. Đọc chỗ này tôi thấy rất sung sướng. Tôi luôn nghĩ thế giới là bất công và có thể bị phá hủy, thì đây, giấy trắng mực đen, người ta trình bày ý tưởng đó. Nhưng thay vì đơn giản là phá hủy thế giới, Shoko Asahara nói: "Nếu tu luyện và được giải thoát thì người ta có thể thay đổi thế giới." Đọc đến đây tôi rạo rực người lên. "Mình muốn làm đệ tử của người này, hiến dâng chính mình cho ông ta," tôi quyết định. Nếu tôi làm được thế, tôi sẽ không ngần ngại vứt bỏ tất cả các ước mơ, khát vọng, hy vọng của cái thế giới này.

MURAKAMI: Anh nói thế giới bất công, nhưng là theo cách nào?

Những cái như tài năng bẩm sinh, hoàn cảnh gia đình. Bất kể tình hình thế nào, người xuất sắc vẫn xuất sắc, người có thể chạy nhanh vẫn có thể chạy nhanh. Còn kẻ yếu thì không bao giờ nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Yếu tố số phận tôi nghĩ cũng là bất công. Nhưng trong sách của Aum thì nó được giải thích là do tác động của nghiệp căn. Nếu trong kiếp trước một người làm những điều xấu thì đó là lý do tại sao nay người ấy đau khổ, cũng như nếu một người làm điều tốt trong kiếp trước thì đó là cớ tại sao nay người ấy sống trong một môi trường tốt như thế và có thể phát huy tối đa khả năng của mình. Tôi đọc và tin. Đã đến lúc tôi phải tránh việc ác và bắt đầu tích đức.

Ban đầu tôi chỉ có kế hoạch dùng ăn kiêng và yoga để lấy lại sức khỏe, đợi khi đã khỏe rồi thì tôi sẽ trở lại đời sống bình thường, nhưng ở Aum tôi thấy bản thân mình đã phát triển được một não trạng Phật giáo mới tinh. Tôi muốn nói một điều là khi tôi đang ở một trạng thái khủng khiếp thì các cuốn sách của Aum đã giúp tôi hồi sức.

Tôi nhớ khi tôi đến dojo Setagaya, trở thành thành viên và được nói chuyện với một trong những người tu hành đã ngộ là vào tháng Chạp năm 1988. Ông này khuyên tôi đủ kiểu. Ông bảo tôi nên tham gia vào cái mà họ gọi là hội thảo "Tu hành bạo liệt", hội thảo này mỗi năm diễn ra một lần ở tổng đàn tại núi Phú Sĩ. Cái tên khá là dữ dằn nhỉ, đúng không? [cười] Họ bảo nếu tham dự từ đầu đến cuối trong mười ngày thì việc tu hành của ông sẽ tiến bộ ghê gớm, cho nên bằng mọi cách ông nên đi; nhưng vấn đề là việc đó đòi hỏi phải quyên góp 100.000 Yên mà tôi thì không có nhiều tiền như thế. Tôi cũng nghĩ vừa mới ra nhập mà tu luyện nghiêm ngặt sớm quá thì e có thể phản tác dụng. Tuy vậy, Tomomitsu Niimi, người phụ trách việc tu hành, vẫn cứ khăng khăng bảo tôi nên đi. Nên cuối cùng tôi nghe theo và đi.

Từng có thời Aum chỉ là một nhóm nhỏ và có cơ chừng hai trăm người xuất gia. Vì nó nhỏ thế thôi cho nên ông vừa gia nhập là đã có thể gặp ngay Shoko Asahara. Lúc ấy ông ta khác, kiểu người chắc lẳn, cuồn cuộn cơ bắp. Bước chân ông đi vững, mạnh. Ở trước mặt ông ta, ông cảm thấy điều gì đó thật đáng kinh ngạc, một cái gì vĩ đại. Ông cảm nhận được rằng ông ta có một kiểu năng lực đáng sợ rằng chỉ liếc một cái là đã nhìn thấu hết mọi sự. Mọi người nói, "Ông ấy lành lắm," nhưng lần đầu gặp ông ấy đã làm cho tôi sợ.

Tôi có cơ hội luyện "Yoga Mật" cùng với ông ấy, một thầy dạy một trò, và ông ấy bảo tôi, "Anh đang ở trong trạng thái Ma cảnh nghiêm trọng." Ông đạt tới trạng thái này khi tu luyện tiến bộ nhưng các chướng ngại tinh thần lại nổi lên. Tôi bảo ông ta: "Tôi muốn xuất gia càng nhanh càng tốt để cho việc tu luyện của tôi tiến bộ hơn." "Hãy chờ một thời gian đã," ông ta nói. "Anh không thể trốn được Ma cảnh. Trong tu luyện anh phải nỗ lực để giải thoát bản thân khỏi Ma cảnh."

Lần sau tôi gặp Asahara là lần ông lướt vào trong dojo, luôn tươi cười, để chứng kiến bhakti [một lễ do các tín đồ tổ chức]. Khi thấy ông ta, tôi nghĩ, "Chà, đúng là một người muôn mặt." Bây giờ ông ta không đáng sợ chút nào hết, ông đang cười rạng rỡ, và chỉ mới được gần ông, nhìn ông thôi mà tôi đã thấy ngây ngất.

Ba tháng sau khi ra nhập Aum tôi được phép xuất gia. Khi tôi luyện "Yoga Mật" với Asahara, ông ta bảo tôi: "Anh có thể trở thành người xuất gia nhưng với một điều kiện: bỏ cái việc bán thời gian của anh đi và kiếm một việc làm ở nhà đóng sách." Tôi khá là ngạc nhiên. "Tại sao lại là nhà đóng sách?" "Aum đang có kế hoạch mở một nhà in," ông ta nói, "cho nên tôi muốn anh học kỹ thuật đóng sách." "OK, tôi hiểu," tôi đáp, và ngay tức khắc tôi tìm được việc ở một nhà đóng sách gồm có cả buồng ở và cơm tháng.

Tôi phát hiện ra có nhiều loại máy khác nhau trong một nhà máy đóng sách: máy gấp, máy đóng gáy, máy cắt… Tôi không biết bắt đầu học từ đâu hay tôi phải học bao nhiêu thứ. Ông ta chỉ nói, "Học đóng sách." Dù sao thì tôi cũng cố hết sức để tiếp thu lấy mọi cái có thể. Chủ nhật khi nhà máy vắng, tôi học xem các máy có kết cấu như thế nào. Tuy không học nhiều về kỹ thuật nhưng tôi đã sớm mò ra nút nào cần bấm và một số bộ phận khớp với nhau ra sao. Tôi không được phép chạy máy nhưng nhờ để mắt chú ý tôi đã học mót được nhiều. Sau khi làm ở đây ba tháng, tôi được chỉ thị xuất gia. Tôi gói ghém đồ đạc và rời nhà máy mãi mãi.

Một khi đã phát thệ, ông không được ăn những thứ mình thích – kem kiếc vân vân. Hơi gay một chút với tôi. Ăn uống, chứ không phải tình dục, là cái tôi khó vượt qua nhất. Tối trước hôm trở thành người xuất gia tôi ăn uống hết tất cả những gì tôi mó tay được vào vì đây là cơ hội cuối cùng của tôi.

Bố mẹ khăng khăng phản đối, nhưng tôi thực sự tin rằng xét cho cùng việc tôi trở thành một người xuất gia cũng là một điều phúc đức cho hai cụ. Cho nên tôi không phiền muộn gì về những cái hai cụ nói. Đúng ra để được công nhận là sa môn [người xuất gia tu hành] ông phải cúng 1,2 triệu Yên và đứng lễ hết sáu trăm giờ, nhưng vì họ cần làm xong nhà máy đóng sách và đưa vào hoạt động gấp cho nên tôi được ngoại lệ.

Cách tổng đàn ở núi Phú Sĩ chừng một giờ xe là một nơi gọi là Kariyado. Nhà máy in là một tòa nhà lắp ghép nho nhỏ. Tôi ngạc nhiên khi biết mình là người duy nhất có hiểu biết nào đó về đóng sách. Tôi tính mình sẽ là một thành viên của ê kíp, thế mà lúc ấy tôi, kẻ xuất gia mới toanh này, lại được phụ trách việc đóng sách. Tôi không thể tin được. Bất kỳ bộ phận nào của nhà máy cũng có từ mười đến hai mươi người được chỉ định làm việc đóng sách, mười cho in sách và khoảng hai chục làm ảnh. Quy mô hoạt động thế là khá lớn rồi.

Tuy nhiên máy họ mua về lại là những thứ đồng nát đã nằm kho ở đâu đó cả chục năm. Ai cũng ca cẩm chuyện này. Tất cả máy móc đều giống như đồ cổ sắp mục hết cả. Chỉ lắp chúng lại rồi cho chạy đã là một nhiệm vụ to lớn rồi. Lúc bắt đầu tôi không đủ trình độ lắp đặt nhanh các máy này nên từ lúc có chúng cho đến lúc chúng chạy được phải mất tới ba tháng. Ngay cả thế, sau đó một số máy vẫn không chạy tử tế. Nhưng tôi nghĩ xem ra chúng tôi đã làm tốt việc này.

Thứ đầu tiên chúng tôi in và đóng là tờ Mahayana số hai mươi ba. Cho đến nay các ấn phẩm của Aum đều hợp đồng cho nhà in khác làm nhưng nay chúng tôi đã có thể tự mình in lấy tất cả.

Một điều thực sự làm tôi ngạc nhiên là sau khi trở thành người xuất gia thì chúng tôi lại không có thì giờ cho khổ tu. Tôi hỏi bề trên của tôi tại sao, ông ta nói chỉ tới khi anh tích cóp đủ công đức thì mới có thể tiến bộ, còn hiện nay anh đang ở giai đoạn chỉ nên lao động và xâp đắp công đức. Cho nên tôi làm việc cả một năm ở nhà máy đóng sách. Ngày nào cũng căng cả. Chúng tôi ngủ có bốn giờ một đêm, đặc biệt là trong thời gian bầu cử - kiệt sức. Tôi trông một máy gấp. Chúng tôi để máy chạy ngay cả khi vào toa lét. Từng giây một đều quan trọng.

Sau khi bầu cử thì việc in ít đi. Chúng tôi có nhiều thì giờ hơn cho mình. Mọi cái đang rối tinh lên ở Naminomura nhưng ở nhà máy in chúng tôi đây vẫn yên bình.

Khi không phải làm việc, chúng tôi được tự do tu luyện. Trong thời gian này, lãnh tụ chúng tôi bỏ đi đâu đó, thái độ của chúng tôi với mọi chuyện khá là thoải mái.

Lúc đầu nếu tôi không ở đó thì máy buộc phải ngừng chạy; nhưng sau một thời gian, ai cũng vận hành được máy cho nên tôi xin bề trên cho chuyển đi. Ông không được phép xin chuyển việc, nhưng vì đã học làm họa sĩ vẽ tranh truyện, tôi dùng giấy thừa vẽ ra một tập tranh truyện hai chục trang về Kinh Bổn sanh. Tôi hoàn thành ba quyển khác nữa rồi đưa cho các bề trên xem. Tôi gửi kèm một bức thư viết, "Tôi đã được đào tạo làm họa sĩ vẽ tranh truyện, và nếu nó được dùng vào các mục đích giải phóng thì tôi muốn xin được chuyển việc."

Tôi không mong chờ gì sau đó. Không ai hành động theo kiểu lấy mình ra làm trung tâm thế này và tôi tin chắc họ sẽ lờ việc này đi, nên tôi ngạc nhiên khi nhận được điện thoại của văn phòng Tổng Sự bảo tôi mai đến trình diện ở Bộ phận Thiết kế. Có một Tổ Tranh truyện ở đây nhưng chỉ giao cho có một người làm; trước kia, lâu rồi, Aum từng có kế hoạch viết một vở nhạc kịch nhỏ bao gồm cả hoạt họa, cho nên họ vội vã tập hợp các tín đồ biết vẽ lại để giúp tiến hành việc này. Có chừng hai ba chục người ở đó, rồi sau đó tôi được chỉ định làm người phụ trách Bộ phận Hoạt hình.

Trong nhóm chúng tôi có một số người thực sự giỏi nhưng việc một trong các sa môn đã từng làm trợ lý quay phim ở một xưởng phim hoạt hình mới là giúp đỡ lớn nhất. Chúng tôi lập các kíp và vẽ được khá nhiều bức hoạt họa. Tôi làm việc đó ba năm cả thảy. Nhìn lại, ba năm ấy là một quãng thời gian rất yên bình với tôi.

Tôi nói mọi sự phẳng lặng, nhưng thật ra các quan hệ trong nhóm đã bị rạn vỡ. Thông thường người lãnh đạo bộ phận sẽ phải ở cấp Sư phụ nhưng tôi chỉ mới là swami, cấp thấp hơn. Tôi cảm thấy sức ép từ trên, đồng thời những người dưới quyền tôi lại cố thắng tôi khi bàn về các quan điểm, cho nên công việc không dễ. Chẳng hạn, để học kỹ thuật chúng tôi phải xem các phim hoạt hình thông thường, nhưng lãnh đạo của chúng tôi lại nói không được. Nhưng tôi cần phải xem một vài phim. Người ta chống lại tôi, nói: "Giáo chủ cấm chuyện này mà sao anh cứ xem chứ?" Nói cách khác, Bộ phận Hoạt hình của chúng tôi tách ra thành hai phe: một dành ưu tiên cho nâng cao chất lượng tác phẩm, một ưu tiên tu hành. Làm cho công việc trôi chảy ngày lại càng khó hơn…

Quan hệ giữa nam và nữ cũng không dễ. Có nhiều vụ nam nữ quá thân thiết với nhau rồi cùng nhau bỏ trốn cho nên trong các bài giảng, Asahara cảnh cáo: "Các sa môn nữ không được lại gần nam giới. Không chỉ cách xa mà còn phải khinh ghét nam giới." Tôi thường bị lẩy ra để chịu phê bình. Muốn gì thì đây cũng là một không khí khá thô bạo.

MURAKAMI: Hình như không có vẻ gì là anh đang hướng tới giải thoát, đúng không?

Tôi không thể chịu được nữa. Đã có lúc tôi nghĩ đến bỏ đi. Bất chấp mọi sự, tôi đã làm hết sức tôi, vì tôi nghiêm túc với chuyện đạt tới giải phóng, nhưng nó làm cho tôi kiệt quệ.

Đã hai lần tôi gửi thư lên các cấp trên xin thôi: "Tôi không thể ở lại Aum được nữa." Đó là năm 1992, chắc thế. Cấp trên chuyển thư tôi cho Murai và những người khác. Họ thuyết phục cho nên tôi cứ để mọi chuyện thuận theo tự nhiên thôi.

MURAKAMI: Nếu bỏ Aum đi thì anh có nghĩ là sẽ trở về với thế giới thế tục mà thành công không?

Tôi cũng không rõ nữa. Do đã xuất gia nên thái độ của tôi với thế giới chắc có thay đổi. Cái thế giới mà tôi bước vào sau khi đã xuất gia là một kiểu hổ lốn. Ở đó có đủ loại người tôi chưa từng gặp bao giờ. Đủ kiểu người, từ típ ưu tú nhất mực thuần thành đến vận động viên, nghệ sĩ. Trong cái nơi pha trộn tạp nham ấy tôi phát hiện thấy cả đám người đa dạng kia đều có những nhược điểm giống nhau của con người cũng như tôi. Tôi đã mất đi các định kiến mình từng có. Tôi nhận thấy "Thì ai cũng như ai." Những cha học tốt ở trường cũng đau khổ hệt như tôi thôi. Với tôi, đây là một bài học rất có giá trị.

Sa môn về cơ bản cũng có lòng khinh ghét thế giới bên ngoài. "Đám chúng sinh chưa ngộ" – thuật ngữ họ dùng cho những người sống cuộc đời bình thường. Vì những người này cứ thế mà lao thẳng vào địa ngục cho nên các sa môn đã chọn lọc một số chữ để chỉ họ. Thí dụ, nếu như họ có tông phải xe của ai đó ở bên ngoài thì họ cũng chẳng bận tâm. Tựa hồ họ là những người thực hành chân lý, coi thường mọi người khác. Họ đang quá bận bịu phấn đấu vì giải phóng cho nên nếu họ có làm cho xe của ai đó bị móp lại thì đã làm sao nào? Tôi nghĩ cái này có hơi quá một chút. Bất kể cảm thấy những người ở bên ngoài như thế nào, họ cũng không cần phải đem ra mà chế nhạo hay ghét bỏ đến thế. Chắc chắn là tôi có hẳn một danh sách những thứ mà tôi ghét ở thế giới bên ngoài nhưng khi chứng kiến điều này ở đây, tôi chỉ nghĩ, "Đủ rồi đấy". Tôi không còn ghét những thứ tôi từng ghét nữa.

MURAKAMI: Hay thật. Thường thường khi người ta vào trong các giáo phái thì các xu hướng cũ của họ sẽ trở nên tồi tệ thêm, nhưng trong trường hợp của anh, anh lại đem gác bỏ chúng.

Có thể các trải nghiệm khó khăn của tôi trong công tác quản lý trung gian có liên quan đến chuyện này. [cười] Bộ phận Hoạt hình đóng cửa năm 1994. Phần lớn người làm việc ở đấy được gọi đến phòng họp và được bảo phải báo cáo với Bộ phận Khoa học. Cái tên này sau đổi thành Bộ Khoa học và Công nghệ. Họ cần một số thợ hàn và cho rằng những người ở Bộ phận Hoạt hình chắc đều phải là dân khéo tay cả. Tôi không biết nói sao nữa. Làm sao ông lại có thể so sánh vẽ hoạt hình với hàn xì được cơ chứ?

Trước khi vào Bộ phận Khoa học, chúng tôi đều bị điều tra xem có phải là đặc tình hay gián điệp gì không. Tôi nhớ là lúc đó mình đã nghĩ, "Nếu Shoko Asahara có quyền pháp siêu nhiên thì tại sao ông ta lại không dùng nó mà nhổ sạch gián điệp đặc tình đi chứ?"

Phần lớn anh em ở Bộ phận Hoạt hình được chuyển đến Bộ phận Hàn và được phái đến Kamikuishiki. Ở Satyam số 9 họ làm những xì tẹc chứa hàng và máy nhào trộn. Chúng tôi không biết tí gì về việc hàn nên được giao làm phụ việc. Lệnh ban ra là đẩy nhanh sản xuất thế là chúng tôi đem hết sức ra làm, nhưng thật ra nó lại bị chậm đi. Asahara lệnh phải làm xong mọi việc vào tháng Năm năm 1994. Đó là những xì tẹc khổng lồ, những quái vật hai tấn lận. Chúng tôi uốn cong các miếng thép, tạo chúng thành hình ống, hàn các mép, đặt các panen đúc sẵn cho khít lên rồi hàn kín lại.

Công việc rất vất vả, lên tới mười sáu giờ một ngày. Chúng tôi bị vắt kiệt sức và đôi khi đồ cúng kiểng [thức ăn] cũng không nhận đủ. Có lần hai ngày liền chúng tôi không ăn gì. Ai cũng kêu ca. Một số người không thể tiếp tục. Bản thân tôi cũng không quen với công việc này, tôi bị thương, bị bỏng, mặt xạm đen lại, kính mắt long ra. Nhưng không ai bỏ trốn, "Tất cả những điều này là vì chữ ngộ," tôi cứ tự dặn dò mình như vậy.

Cuối cùng tôi được bổ nhiệm làm Sư phụ. Có lẽ họ nhận ra tôi là lãnh đạo bộ phận Hoạt hình thế nào và đã làm hết lòng ra sao trong công việc hàn. Khi ông được đề bạt lên chức Sư phụ, họ đưa cho ông một băng đeo ở cổ tay và nói: "Hãy làm hết sức mình cho nó!" Thế đấy. Tôi phải thừa nhận rằng việc trở thành Sư phụ thật sự thay đổi thế giới quan của ông. Bạn bè của tôi bắt đầu nói năng với tôi rất đúng phép tắc, và như vậy đã khẳng định rõ ràng cái khoảng cách to lớn giữa Sư phụ và người bên dưới.

Sau khi trở thành Sư phụ, tôi là một trong số ít người có đặc quyền được phép tự do vào Satyam số 7. Nhóm An ninh canh gác nơi này rất ngặt. Bên trong là những xì tẹc mà chúng tôi đã làm ra ở Satyam số 9. Nó trông như một nhà máy hóa chất nào đó và gây ra một cảm giác là lạ mà tôi không giải thích được, một không khí rất ngột ngạt. Tôi không rõ họ đang sản xuất ra cái gì ở đây. Trần cao như một tòa cao ốc ba tầng với những xì tẹc đồ sộ xếp thành hàng. Và cái mùi thì không thể tả được, giống như tất cả các chất tẩy công nghiệp mạnh trộn lẫn vào nhau. Có có một số thứ ánh sáng kỳ dị nữa. Kim loại đều bị gỉ, sàn nhà thì ướt. Trong không khí lơ lửng một màn sương kỳ lạ, nhờ nhờ trắng. Ai làm việc ở đây cũng đều bị ốm cả. Họ đi lại lảo đảo xung quanh, thoạt tiên tôi lại ngỡ họ chỉ buồn ngủ. Thật ra chất lạ kia đang tác động đến cơ thể họ.

Tôi không biết chắc cái gì đang xảy ra, nhưng tôi thấy Aum đang chi một khoản tiền mặt lớn vào chỗ này và bất kể là gì thì nó cũng tiêu biểu cho cái gì đó tiên tiến hiện đại. Tôi nghĩ liệu nó có thể đẩy nhanh tới đắc ngộ bằng một cú nhào rơi xuống không đây. Chỉ một số người hạn chế được phép nhìn thấy cái này và tôi có cảm giác mình được ưu tiên khi đứng trong những người được chọn. Nhưng tôi vẫn tự hỏi tất cả những thứ này để làm gì? Nó trông không giống như vũ khí.

Mùa thu 1994, nếu tôi nhớ không lầm, đã xảy ra một tai nạn. Tôi đang nghỉ ở trên tầng ba của Satyam số 7 thì cái màn khói nhờ nhờ trắng ấy – xuất hiện đằng sau chúng tôi. Cậu ở cạnh tôi nói tốt hơn là mình tránh nó. Chỉ ngửi phải nó một chút tôi đã hoa mắt và thấy cổ họng đau nhói. Nó có mùi acid cay hăng hăng. "Nếu ở lại đây," tôi nghĩ, "mình sẽ chết." Satyam số 7 là một nơi nguy hiểm.

Ngày 1 tháng Giêng năm 1995, chúng tôi được lệnh giấu đi các thứ bên trong Satyam số 7. "Làm cho mọi thiết bị nom giống như mặt của thần Shiva," người ta bảo chúng tôi như thế, để giữ bí mật. Tôi được giao cho phụ trách phần công việc liên quan đến nghệ thuật. Nửa đêm, những mảng xốp to tướng được chuyển đến, chúng tôi đem chúng dán lên những bộ phận của nhà máy mà chúng tôi không muốn cho người ta trông thấy.

MURAKAMI: Nhưng các xì tẹc đồ sộ như thế thì các anh không thể che hết đi được, đúng không?

Đầu tiên chúng tôi dựng lên ở mặt tiền nhà máy một bức tường bằng gỗ ván rồi đặt các bức vẽ Shiva trên nền xốp lên trên. Còn lại chỗ nào cần giấu thì chúng tôi biến thành những điện thờ tạm bợ. Chúng tôi dùng các tấm ván ngăn để che đi khu vực tầng hai, làm chúng thành như một mê cung chằng chịt lối, ông biết đấy, như là một khu triển lãm ảnh. Tóm lại cấp trên bảo chúng tôi làm bất cứ cái gì cần thiết để lừa thiên hạ. CBI [Bộ phận Xây dựng] do Kiyohide Hayakawa phụ trách làm phần lớn công việc này. Tôi thiết kế các bộ mặt. Sản phẩm cuối cùng thật kinh khủng. Thuần túy đồ vớ vẩn nghiệp dư.

"Trò này chả lừa nổi ai", tôi nghĩ. Hiromi Shimada đến xem công trình sau khi hoàn thành đã tuyên bố đây là một cơ sở tôn giáo, nhưng nhìn toàn bộ vẻ ngoài thì đâu phải. "Thứ này thì nên cơm cháo gì," tôi nghĩ, nhưng ai cũng sợ Hayakawa nên miệng ngậm kín bưng hết.

Hôm xảy ra vụ đánh hơi độc tôi không ở Bộ phận Hàn. Tôi đang giúp Kazumi Watanabe, nhân vật số hai ở Bộ Khoa học và Công nghệ tại Seiryu Shoja. Tôi nghe nói xe điện ngầm Tokyo bị rải hơi độc sarin nhưng tôi không bao giờ tưởng tượng được đó là việc Aum làm. Theo những thông tin thu thập được cho tới thời điểm đó, tôi tin rằng Aum có thể cầm vũ khí trong trường hợp bị Hội Tam điểm hay Mỹ hay cái gì gì đó tấn công, nhưng tôi không bao giờ nghĩ Aum lại có thể dính líu vào một vụ giết người hàng loạt không phân biệt. Tôi muốn nói, như thế thì đích thị là khủng bố.

Nhưng hai ngày sau cảnh sát ập vào Kamikuishiki. Khi nghe nói có hơn hai nghìn cảnh sát ở bên ngoài thì tôi nhận thấy đây không phải là chuyện đùa rồi. Trong lần vây ráp đầu tiên, vì một lý do nào đó, Seiryu không bị đụng đến. Chúng tôi thu thập các bản kế hoạch ở Seiryu có thể khiến người ta buộc tội chúng tôi rồi đốt. Chúng tôi cũng đến buồng của Murai và đốt tất cả các sách về vũ khí. Chúng tôi cũng tìm thấy áo chống đạn và đem cắt chúng ra. Vụ cảnh sát vây ráp Seiryu là sau vụ bắn lén Bí thư Kunimatsu 15, tôi chắc thế.

Tôi bắt đầu nghĩ Aum thật sự làm chuyện kia sau khi chính mắt tôi trông thấy các thứ được coi là phương tiện rải sarin. Tôi nhớ đó là vào tháng Tư. Tôi không chắc chắc là trước hay sau khi cảnh sát vây ráp.

MURAKAMI: Nó ở đây vậy?

Ở Seiryu. Tôi có thể nói với ông rằng khi trông thấy cỗ xe tải phun thuốc đồ sộ có gắn ống khói, tôi khá sốc. "Ta rắc rối to nếu họ tìm thấy cái này," tôi nghĩ. Ngay lúc đó chúng tôi nhận được lệnh từ trên và mười người bọn tôi tháo dỡ nó ra.

Sau khi cảnh sát vây ráp, người ở Seiryu không thể làm việc được nữa cho nên tất cả quay về Tokyo phân phát từ quảng cáo. Tôi đến Satyam số 5, ở đây tôi giúp đóng sách và vẽ truyện tranh dưới sự giám sát của Michiko Muraoka. Các truyện tranh này chế giễu vụ cảnh sát vây ráp và bắt người của Aum vì những chuyện đâu đâu. Quanh thời gian này Murai bị đâm chế 16.

Lẽ tự nhiên là tôi sốc khi nghe tin này, nhưng đồng thời cũng có cảm giác yên bình. Khó mà miêu tả được cảm xúc của tôi lúc ấy. Nói thế nào nhỉ? Tôi nghĩ đó là tận số của Aum – một thứ cảm giác khó lòng tả nổi. Tôi nhớ là mình đã tê liệt, không thể nhúc nhích. Tuy lúc ấy không nhận ra điều này, thật tình tôi vẫn muốn đi khỏi. Nhưng tôi không có sức mạnh để làm việc ấy nên chỉ còn biết cố gắng thích nghi. Còn phải tính đến cả địa vị của tôi nữa. Lòng kiêu hãnh làm cho các Sư phụ khó lòng bỏ đi. Sự tôn trọng của tôi với Shoko Asahara đã mất đi nhiều. Ông ta đạp đổ hết cái này đến cái khác. Chẳng có tiên đoán nào của ông ta thành sự thật. Những tiên đoán ông ta đưa ra trên đảo Ishigaki còn lâu mới gần được với sự thật, những cái ông ta nói về Sao chổi Austin thì sai, một vài sa môn đã bắt đầu nói công khai, "Các tiên đoán của Giáo chủ có vẻ như không đúng, phải không nhỉ?"

Ngay Murai cũng trên bảo sao làm vậy, bất kể phi lý như thế nào. Với ông ta chỉ có "Dạ" thế này "Vâng" thế kia. Tôi bắt đầu nghi ngờ nhiều về mọi cái. Những người dưới tôi bắt đầu cằn nhằn cự nự. Tôi chán ngấy toàn bộ cái không khí ích kỷ ấy. Tuy vậy, ý chí tôi vẫn chưa đủ mạnh để bỏ đi, nhưng khi Murai bị ám sát thì tôi cảm thấy cuối cùng mình đã có thể trở về lại với thế giới thực tại.

Murai là một người quan trọng với tôi. Sau Asahara, ông là người tiêu biểu nhất cho Aum. Bất cứ ở đâu tôi đến, bất cứ việc gì tôi làm, theo cách nào đó, đều dính dáng đến Murai - ở nhà in, ở Bộ phận Hoạt hình. Nhưng tôi không cảm thấy buồn khi ông ta chết. Cảm giác mạnh nhất của tôi là: "A ha, nay thì mình ra được rồi!" Tôi biết nói thế là sai.

Nhưng trước khi tôi ra được thì tôi bị bắt. Một ai đó bảo tôi: "Ikuo Hayashi và Masami Tsuchiya cùng nhiều người khác đã khai cả rồi, có vẻ như nhiều người ở Bộ Khoa học và Công nghệ đã bị vây bắt." "Có lẽ sắp đến tôi đây," tôi đùa, nhưng thật ra đã có lệnh bắt tôi. Tên tôi lên trên báo. "Truy nã vì tội giết người và âm mưu giết người," báo nói thế. Tôi nghĩ đó là ngày 20 tháng Năm năm 1995. Dĩ nhiên tôi không giết ai hết, nhưng cáo trạng này có thể mang lại án tử hình hay án tù chung thân. Tôi bàng hoàng sững sờ.

Tôi không giỏi lẩn trốn nên đã làm theo lời khuyên của cấp trên, tự ra đầu thú ở cảnh sát quận Yamanashi. Đầu tiên tôi cứ im lặng. "Tôi từ chối trả lời," tôi nói, và không nói gì trong ba ngày. Nhưng tôi không thể giữ như thế mãi. Aum đe dọa tôi, nếu nói tôi sẽ vĩnh viễn sa xuống địa ngục, nhưng tôi không còn tin cái đó nữa. Nếu có phải xuống địa ngục thì tốt thôi, cứ cho tôi xuống đi, và tôi nói hết với cảnh sát mọi thứ mình biết.

Cuộc điều tra rất gay gắt. Nhân viên điều tra có trách nhiệm đã bắt tôi ký vào bản ghi lời khai nói rằng tôi biết sarin được sản xuất ở Satyam số 7. "Nếu tôi không biết tức là tôi không biết," tôi nói. Cuối cùng tôi cảm thấy bị hãm vào đường cùng nên đành làm một bản thú tội giả mạo rằng mình có biết về sarin. Sau này tôi có nói tường tận lại với một công tố viên.

Cuối cùng họ vứt bỏ bản cáo trạng và thả tôi. Quyết định khởi tố tôi hay không của họ hình như nằm ở việc tôi có dự cuộc họp ở Satyam số 2 liên quan đến việc làm sarin hay không. Tạ ơn trời đất tôi không dự. Thoạt đầu cảnh sát không được tử tế lắm, kết tội tôi là một trong những người thả sarin. Thật kinh khủng. Họ đã xô đẩy tôi đôi chút. Chịu hết ngày này sang ngày kia như thế, tim tôi bị ảnh hưởng. Họ hỏi cung tôi ba lần một ngày và lần nào cũng rất lâu. Tôi mệt nhoài. Họ giữ tôi lại hai mươi ba ngày.

Sau khi được thả tôi trở về Sapporo. Tôi bắt đầu có những vấn đề tâm thần và phải nằm viện cỡ chừng một tháng. Tôi khó thở và các giác quan của tôi dần dần kém nhạy đi. Tôi cảm thấy như thể mình đang trôi bồng bềnh. Một cái gì đó hết sức không ổn đang xảy ra với tôi. Tôi đã làm rất nhiều xét nghiệm và cuối cùng họ bảo bệnh của tôi chắc là do tâm lý.

MURAKAMI: Giả sử Murai từng ra lệnh cho anh thả sarin thì anh nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra?

Tôi tin chắc là mình sẽ do dự. Cách suy nghĩ của tôi có khác đôi chút với những người như Toru Toyoda hay những người khác. Cho dù Asahara có đích thân bảo tôi làm đi nữa thì tôi cũng sẽ không hợp tác nếu ông ta không thuyết phục được tôi rằng việc đó là đúng. Không phải việc gì bảo tôi cũng làm. Dĩ nhiên không khí xung quanh cũng có ảnh hưởng lớn. Tôi thấy ngay những người làm việc ấy cũng từng bối rối. Nếu như chúng tôi bị Cảnh sát hay Lực lượng Phòng vệ hay một cái gì đó tấn công, tôi có thể làm việc ấy, nhưng chuyện này lại khác – giết những người hoàn toàn xa lạ.

Dù sao thì cơ hội họ chọn tôi để thi hành tội ác này khá là bé nhỏ. Tôi không ở trong đám người ưu tú. Bộ Khoa học và Công nghệ được chia ra thành "Ban Tham mưu" và "Các nhà thầu phụ", đại loại có cả việc hàn mà tôi đã làm: lao động tại thực địa. Ngược lại, Toyoda và những người khác thì là một bộ phận của "Ban Tham mưu" ưu tú do đích thân Asahara chọn. Có khoảng ba chục Sư phụ ở bộ này và tôi thuộc vào nhóm thấp nhất.

Nhưng khi nghe nói đến một số tên người có dính dáng, tôi khá ngạc nhiên. Asahara hẳn sẽ phải chọn những người ông ta nghĩ sẽ tiến hành vụ này đến cùng, không thắc mắc. Những người ưu tú này được bảo làm gì là làm thôi. Murai là như thế: không một lời phê bình, không chạy trốn. Khi nghĩ đến chuyện này ông phải thấy họ quả là ấn tượng. Phần lớn người ta không thể kiên trì lâu như họ - ba hay bốn năm.

Chỉ Yasuo Hayashi là khác. Ông ta thuộc vào đám Nhà thầu phụ. Ông ta không ở trong bộ phận ưu tú mà được đề bạt lên từ Bộ phận Xây dựng. Những người ở xung quanh ông đều siêu ưu tú cả - những tay nghiên cứu về chất siêu dẫn, hạt dưới nguyên tử và những thứ đại loại, thế mà ông ta cơ bản là một anh thợ điện.

Lúc đầu Hayashi là một tay cũng được, nhưng dần dần tính cách của ông ta thay đổi. Chúng tôi từng ở cùng một cấp và từng có thể chuyện trò thân mật, nhưng khi thành Sư phụ thì ông ta hóa ra hống hách, ngạo mạn. Ông ta vốn bản tính tốt nhưng cuối cùng lại chửi mọi người thậm tệ. Ông ta là kiểu người sẵn sàng xéo lên tất cả thuộc cấp của mình mà không chớp mắt, nếu đó là điều phải làm, mà điều đó tôi nghĩ có thể chỉ là do ông ta tức giận thôi.

Từ đầu Bộ Khoa học và Công nghệ đã được Asahara đặc biệt chiếu cố. Nó có rất nhiều tiền. Ngay giữa Ban Tham mưu và đám Nhà thầu phụ trong cùng một bộ phận đã có khác biệt. Như ai đó đã nói: "Muốn thành đạt trong thế giới của Aum thì cần phải hoặc là tốt nghiệp đại học Tokyo hoặc là đàn bà đẹp." [cười]

MURAKAMI: Anh đã ở Aum Shinrikyo trong khoảng sáu năm. Anh có cảm thấy đã để uổng phí mất thời gian ấy không?

Không, tôi không nghĩ là phí uổng. Tôi đã gặp nhiều người, chia sẻ những thời khác khó khăn. Với tôi đó là một phần ký ức đẹp. Tôi có thể đương đầu với những yếu nhược của con người và tôi nghĩ mình đã trưởng thành. Nói là hài lòng thì nghe có vẻ kỳ cục nhưng ở đó có một cảm thức về mạo hiểu phiêu lưu: chúng tôi không biết ngày tới đây sẽ đem lại điều gì. Khi nhận một nhiệm vụ lớn để làm, tôi cảm thấy mình được nâng cao lên, vì tôi có thể tập trung năng lượng vào việc đó và hoàn thành.

Bây giờ tôi cảm thấy thoải mái hơn về tâm lý. Dĩ nhiên tôi có những rắc rối mà người thường đều có, ví dụ như bị thất tình khi yêu. Cho nên có những phần không được thoải mái lắm. Nhưng mà – đời mà ông. Tôi cảm thấy bây giờ mình đang sống giống như những người bình thường trong thường nhật.

Tôi đã phải mất một thời gian dài mới đạt tới độ cân bằng về cảm xúc thế này: hai năm. Sau khi bỏ Aum tôi hoàn toàn thẫn thờ. Khi ở đấy, tôi có sức mạnh nhờ biết rằng mình đang là "người thực hành chân lý", điều này cho tôi sức mạnh thử thách bản thân đến hết giới hạn. Nay tôi phải dùng sức của chính mình nếu như muốn làm một cái gì đó. Sau khi bỏ Aum, chuyện này đã ảnh hưởng mạnh đến tôi đến nỗi tôi bị trầm cảm. Đó không phải là một bước quá độ dễ dàng.

Nhưng nay điểm khác biệt là tôi đã tin bản thân mình. Lúc ở Aum tôi đã có được nhiều kinh nghiệm thực tiễn và tin chắc rằng nếu sự việc không thuận chiều ở đó thì tôi cũng có thể làm được nhiều việc bằng sức của mình. Đây là một bước quan trọng của tôi.

Hiện tôi đang sống ở Tokyo. Các bạn cũ ở Aum giúp tôi lần hồi qua ngày. Chúng tôi nghĩ giống nhau, và điều này giúp tôi biết rằng trong cái thế giới tàn nhẫn này mình không cô độc.

"Asahara cố ép tôi ngủ với ông ta"

Harumi Iwakura (sinh 1965)

Cô Iwakura sinh ở quận Kanagawa. Đẹp, thanh tú và hấp dẫn, nếu tôi nói cô là một trong những "nhan sắc của Aum" mà chúng ta nghe nói đến rất nhiều thì sẽ dễ hình dung ra cô hơn. Cô mỉm cười suốt cuộc phỏng vấn, rất chú tâm đến khách của mình, và nhanh nhẹn trả lời những gì tôi hỏi, tuy cô không đặc biệt hoạt ngôn. Cô có xu hướng đi sâu vào chi tiết và tạo cho tôi cảm tưởng rằng ở sâu bên trong cô là một cá tính mạnh.

Sau khi tốt nghiệp trung cấp cô làm việc ở một văn phòng, dành phần lớn thời gian và tiền bạc để vui chơi. Nhưng dần dần cô không thỏa mãn với việc chơi bời nên tự mình đã bị Aum Shinrikyo cuốn hút khi tình cờ nghe nói tới. Cô thôi việc và thành người xuất gia.

Một thời gian dài cô là một trong những "người đặc biệt" của Shoko Asahara nhưng đã xảy ra chuyện gì đó và cô bị đưa đi trị liệu bằng sốc điện rồi mất trí nhớ. Một thời gian dài sau đó, cô lang thang trong tình trạng gần như hoàn toàn mất ý thức, phải đến thời điểm ngay trước khi xảy ra vụ đánh hơi độc cô mới lấy lại được các cảm quan. Vì lẽ đó các ký ức của cô về Aum rất manh mún. Cô nhớ được rõ ràng thời kỳ trước và sau cuộc sống ở Aum nhưng không thể kể lại đầy đủ hai năm trong Aum.

Cô không bị các hậu quả di chứng, cô bảo tôi, nhưng cô quyết tâm không bao giờ dây dưa gì đến Aum nữa, "Đã hết và xong." Cô cũng đặc biệt không muốn nhắc lại cái thời kỳ mất mát này. Ban đầu khi cô đọc các bài tôi phỏng vấn những người từng theo Aum đăng trên Bungei Shunju cô đã nghĩ, "Đừng có tính tôi vào đó."

Nay cô làm nghề thẩm mỹ và hy vọng được đào tạo nhiều hơn nữa, để dành tiền rồi mở cửa hàng của chính mình. Cô sống đơn giản, trong một căn hộ với giá thuê 30.000 Yên một tháng. "Mùa hè thì nóng ngột ngạt, mùa đông thì băng giá," cô tả nó như vậy. "Nhưng," cô mỉm cười nói, "một đời sống đơn giản không làm tôi khó chịu, đây là nhờ ở Aum."

° ° °

Tôi bắt đầu làm việc năm 1985 khi nền kinh tế còn khá tốt. Ông có thể đi chơi tập thể đến suối nước nóng và những việc đại loại như thế, những việc tôi thích. Tôi chỉ chú tâm đến mỗi một chuyện là sống sao cho vui. Tôi thích đi ra ngoài và tuy không phải là dân rượu lắm tôi cũng hay ra ngoài uống với bạn bè. Thường tôi uống đến rất khuya rồi đến ngủ nhờ nhà các bạn gái. Tuần nào tôi cũng có đến nửa thời gian ngủ miết ở nhà người khác.

Các ngày lễ, tôi thường ra ngoài tìm kiếm trò vui – Disneyland Tokyo, công viên Toshimaen, những chỗ quen thuộc. Đôi khi với tụi con gái khác, đôi khi với đám bạn trai. Tôi cũng ra nước ngoài. Paris và những nơi khác. Tôi có vài bạn trai nhưng chưa bao giờ nghĩ tới hôn nhân. Tôi đúng là không thể xử lý được món đó.

MURAKAMI: Người khác chắc hẳn sẽ coi cô giống như là đang hưởng thụ cuộc đời.

Tôi cũng cho là thế, nhưng tôi cứ nghĩ nát óc về đủ thứ. Như, "Tôi không có tài gì đặc biệt, không có cái gì làm cho tôi trội lên khỏi đám đông. Thậm chí tôi còn không cảm thấy muốn lấy chồng…"

Vào quãng tôi giữa tuổi hai mươi, các bạn tôi bắt đầu lấy chồng nhiều hơn, thôi việc ở công ty và chuyển đi nơi khác. Tôi không còn trẻ như trước nữa. Cách sống của tôi hình như ngày một vô nghĩa.

MURAKAMI: Và cô bị Aum Shinrikyo cuốn hút đúng vào thời gian đó? Chính xác ra thì điều gì đã khiến cô gia nhập?

Một hôm tôi muốn đi cắt tóc. Thường thì tôi vẫn đến hiệu cắt tóc của bạn tôi, nhưng hôm ấy không có đủ thì giờ nên tôi tới một hiệu thẩm mỹ ở gần nhà. Tiền cắt tóc đúng là rất rẻ nên sau đó tôi còn đến vài lần nữa. Một hôm một người đàn ông làm ở tiệm tình cờ cho tôi xem một tờ rơi quảng cáo của Aum Shinrikyo. "Tôi đang nghĩ sẽ xin làm thành viên," anh ta bảo tôi nhưng tôi chỉ nghĩ: "Chà! – mình thấy có vẻ đáng ngờ đây."

Anh ta dạy tôi vài kỹ thuật thanh lọc cơ thể. Thí dụ ông uống nước rồi thổ ra, hay ông để rỗng dạ dày rồi luồn một sợi dây vào trong mũi. Người tôi lúc nào cũng không khỏe lắm. Tôi hay bị chàm bội nhiễm. Thấy không? [cho xem cánh tay] Ngay bây giờ tôi cũng đang bị đây. Khi tôi bảo anh ta như thế, anh ta liền nói, "Sao cô không thử một cái xem sao?" Cho nên tôi thử và các vết chàm của tôi đúng là hết sạch thật. Tôi thử một lần và hôm sau – hấp – biến hết.

Tôi cũng chưa bao giờ thấy ngon miệng khi ăn, cố lắm cũng chỉ hết được một nửa bát cơm của trẻ con, nhưng sau khi thử các kỹ thuật kia, tôi có thể cho đi đứt một bát tú ụ - mẹ tôi lấy làm lạ về chuyện này. Bệnh nhức đầu của tôi cũng biến và sức khỏe toàn diện của tôi khá lên.

"Chà – thế này thì đúng là một cái gì đích thực đây!" tôi nghĩ. Anh chàng ở tiệm thẩm mỹ nói, "Tôi đã gia nhập rồi thì sao cô lại không chứ?" nhưng tôi do dự một thời gian dài. Anh ta vẫn nài và tôi bắt đầu nghĩ dẫu sao thì có thể đó cũng không phải là một ý kiến tồi.

MURAKAMI: Lúc ấy cô có biết Aum Shinrikyo là một tôn giáo chứ không phải một nhóm tập yoga không?

Có, tôi biết thế. Lúc đó đang diễn ra bầu cử và họ đội những cái mũ hình voi. Nhưng tôi không chú ý đến học thuyết hay bất cứ thứ gì, Shoko Asahara cũng không. Tôi chỉ nghĩ nếu sức khỏe của tôi khá lên thì cũng đáng bỏ thì giờ thử một cái xem sao. Tôi chắc ở đây trí tò mò đã đóng một vai trò lớn.

Mới đầu tôi đến một dojo gần nhà và nói chuyện với những người tu hành đã ngộ ở đấy. Tôi không nhớ chúng tôi đã nói về những gì. Không để lại ấn tượng gì nhiều. Khi đến đấy tôi không mong đợi cái gì lớn lao hay gì hết. Chúng tôi chỉ nói chuyện rồi tôi điền vào giấy tờ.

MURAKAMI: Và cô đúng là có nghe giải thích về học thuyết cùng mọi cái của họ?

[cười] Đúng vậy.

MURAKAMI: Nói "điền vào giấy tờ" là cô có ý nói đã làm thủ tục xin gia nhập ngay tại chỗ ư? Vây cô chỉ là nghe loáng thoáng những cái họ nói rồi trở thành thành viên mà không hề thực sự hiểu học thuyết của họ sao? Cho đến nay tất cả những người khác mà tôi phỏng vấn đều trở thành thành viên sau khi đấu tranh với các Câu hỏi Lớn, nhưng trong trường hợp cô, có vẻ như cô chỉ đơn giản là đắm mình vào.

Ừm… chuyện khá là nhanh. Khi tôi vào họ nói phí gia nhập là 30.000 Yên với 18.000 Yên phí hội viên nửa năm, tổng cộng là 48.000 Yên. Tôi nói, "Trời ạ - tôi đâu có tiền nhiều như thế" thì anh chàng ban đầu bảo tôi vào liền nói anh ta có thể góp một nửa. Không phải vì anh ta là bạn trai hay gì đó của tôi. Đúng là anh ấy rất tốt. Nhưng tôi cho rằng có thể anh ta nghĩ làm cho tôi gia nhập được thì anh ta sẽ tích được công đức cho bản thân. Tôi nghĩ nếu phải trả có một nửa thì được thôi.

Sau khi gia nhập chúng tôi được giao nhiệm vụ phải làm: đến dojo hoàn thành một danh sách các việc lặt vặt đã lập sẵn. Đầu tiên tôi không thích làm các thứ đó. Họ bảo ông đến nhưng ai mà không muốn đến thì không đến. Nhưng anh chàng ban đầu mời tôi vào kia cứ bảo đi bảo lại tôi là đi đi, vả lại đến chỗ ấy cũng gần nên tôi nghĩ sao lại không?

Khi đến dojo tôi thấy những người xuất gia mặc áo chui dệt kim, tất cả rất bình thản, thư thái, tĩnh tâm, và tôi bị cách sử dụng thời gian thế này cuốn hút. Đây là một thế giới cách xa sự ồn ào huyên náo của các công ty và xe cộ ngoài đường phố đến hàng năm ánh sáng. Ở đây tôi thấy thư giãn. Tôi ngồi đó, lặng lẽ gấp tờ rơi. Tôi thấy làm việc này thật thoải mái. Việc không hề vất vả chút nào. Ai cũng tốt, còn bầu không khí thì quá yên bình. Những ngày nghỉ tôi đến dojo, đôi khi đi thẳng đến từ nơi làm việc, gấp tờ rơi rồi về nhà. Cứ như thế một dạo. Aum hoạt động 24/24 do đó tôi có thể đến bất cứ lúc nào tôi muốn.

Khi đi làm, nhiều người có quan hệ yêu đương với người ở công ty. Bố tôi cũng vậy và tôi không thể chịu được. Được đến dojo sau giờ làm việc ở văn phòng thì cũng như có ban ngày sau đêm tối vậy. Ở đấy rất bằng lặng. Tôi có thể được thanh thản, đầu óc tôi thênh thang và chỉ có gấp tờ rơi. Tôi yêu cái cảm giác này.

Tôi xuất gia sau hội thảo chuyên đề tháng Tư năm 1990 tại đảo Ishigaki, vậy là từ lúc tôi tham gia cho tới lúc tôi phát thệ vừa tròn hai tháng.

Ở Ishigaki họ nói nhiều đến Armageddon, Trận Quyết chiến. Đây là để dạy cho những người đã ở Aum lâu còn những người như tôi, các thành viên vẫn còn sống tại gia, thì không được nghe nói đến chút nào. Với những tín đồ còn sống tại gia thì việc ông được dạy cho cái gì còn tùy thuộc vào khoản tiền mà ông đóng góp. Trong trường hợp tôi, họ chỉ bảo tôi tham dự hội thảo chứ không giải thích nhiều. Tốn hàng trăm nghìn Yên. Tôi đã phải rút tiền tiết kiệm để nộp. Lúc ấy tôi bắt đầu băn khoăn liệu mình có thể tiếp tục sống như đã từng hay không. Để dự hội thảo ấy tôi đã phải xin nghỉ phép đột xuất. Tôi đã bịa ra vài chuyện. Những người ở công ty khá khó chịu với vụ này.

Khi đến Ishigaki, thoạt tiên tôi còn không biết cái gì đang diễn ra, nhưng sau một hồi tôi nghĩ cách họ tiến hành mọi thứ khiến cuộc sống dễ chịu hơn – họ ra lệnh và mình chỉ việc làm theo. Không cần phải nghĩ cho chính mình, hoặc lo lắng những chuyện tiểu tiết, chỉ cần làm theo những gì họ bảo. Chúng tôi làm những thứ như là các bài tập thở trên bãi biển chẳng hạn.

Không nói ra nhưng ai cũng hiểu là nên xuất gia, và phần lớn những người dự hội thảo quả thật đã làm như thế, kể cả bản thân tôi. Khi ông phát thệ, ông phải lìa bỏ nhà, lìa bỏ công việc và công đức hết tiền của ông. Tôi nghĩ nếu mới 20 tuổi tôi sẽ không làm điều này nhưng ở tuổi 25, tôi nghĩ, thôi, đã đến lúc dừng lại.

MURAKAMI: Sống trong môi trường đặc biệt như Ishigaki có ảnh hưởng gì đến quyết định của cô không?

Ừm… Đó không phải là lý do duy nhất; tôi nghĩ việc tôi phát thệ chỉ là vấn đề thời gian. Cho dù chưa làm thật nhưng tôi đã về hướng ấy rồi. Không phải nghĩ cho mình, không phải quyết định cái gì là một nhân tố lớn. Đơn giản là buông hết tất cả cho họ, và do lệnh đến từ ông Asahara, người đã ngộ, nên ta biết rằng mọi sự đều đã được suy nghĩ chu đáo hết cả rồi.

Tôi không mấy chú ý đến bản thân học thuyết, tôi muốn nói tôi không bao giờ phản ứng kiểu như, "Chà! Cái này tuyệt quá!" hay gì. Tôi chỉ nghĩ đến mọi tục lụy đều được phế bỏ thì thật là nhất. Rũ bỏ hết các cái đó đi thì cuộc sống sẽ dễ dàng, tôi nghĩ. Tục lụy có nghĩa là các ràng buộc tình cảm với bố mẹ, ước muốn mặc đúng thời trang, sự oán ghét người khác.

Nhưng một khi đã vào Aum rồi, tôi thấy nó không khác với xã hội thông thường. Như một ai đó sẽ nói, "Bên trong anh này anh nọ có nhiều lòng ghét kẻ khác," không có gì khác với đâm sau lưng người ta ở bên ngoài kia, đúng chứ? Chỉ có ngôn từ, câu chữ là thay đổi. "Ở đây chẳng khác chút nào," tôi nghĩ.

Dẫu sao tôi cũng đã bỏ việc. Tôi buộc công ty phải chấp nhận cho tôi nghỉ. Tôi dựng ra một vài cái cớ - tôi muốn đi du học hay cái gì đó. Họ cố thuyết phục tôi từ bỏ ý định nhưng tôi nghĩ , "Xin đừng ngăn tôi," và chuyện này không hề dễ. Tôi không thể nói sự thật với họ nhưng tôi đã quyết đi.

Mẹ tôi không bao giờ xem các talkshow trên tivi và không hề biết tí gì về Aum. Khi tôi bảo là tôi xuất gia rồi thì tôi và mẹ không được gặp nhau nữa, mẹ khóc một chút. Mẹ không ý kiến gì. Nhưng mẹ nghĩ việc tôi khỏe ra và ăn ngon miệng thật kỳ lạ. "Mẹ cho là đã đến lúc ngừng bao bọc con rồi," mẹ nói.

MURAKAMI: Nghe thế xem ra cụ vẫn chưa thực sự hiểu. [cười] Thế cuộc sống của một người xuất gia ra sao?

Một vài người muốn gặp bố mẹ hoặc về nhà, nhưng chuyện này không làm tôi bận tâm. Tôi không nghĩ, "Thật là tuyệt!" hay gì, nhưng cuộc sống ở Aum không đến nỗi tồi tệ lắm.

Tôi đến Naminomura ở Aso, làm việc ở Bộ phận Kinh tế Gia đình. Nấu cơm, giặt giũ. Lần đầu tiên tôi gặp ông Asahara là vào dạo đó. Tự dưng ông ta nói, "Lại đây." "Gì đây?" tôi nghĩ rồi tiến lại, rồi chúng tôi nói chuyện, chỉ có hai người, khoảng hai chục phút trong một tòa cao ốc lắp ghép.

Cảm giác ở tôi là lạ. Ông ta nói cái gì đó về tôi và nói trúng phóc. Tôi không biết, chỉ là… Ông ta nói gì nhỉ? Đại khái như, "Cô đã làm cái này ở trong thế giới thế tục," hay "ở thế giới thế tục cô đã chơi bời quá nhiều và dùng hết công đức mất rồi." Sau đó, ông nói, "Cô đã đi với nhiều đàn ông." Đại loại chuyện kiểu như vậy. Mọi người bảo tôi phải đặc biệt lắm mới được trực tiếp nói chuyện với ông như vậy nhưng tôi chỉ nghĩ, "Thật sao?"

MURAKAMI: Nếu trước đó ông ta đã nhìn vào lý lịch của cô thì dĩ nhiên là hiểu được kha khá về cô. Những cái cô đã làm trong thế giới thế tục, vân vân.

Tôi biết thế, nhưng ông ta là Người được Giải phóng Cuối cùng, và ở trong cái không khí đặc biệt ấy, cùng với việc ông ta cố ý nói những chuyện đó ra, đúng là tôi đã phải nghĩ, "Chà. Là một cái gì đặc biệt đây!" Đúng như thế thật. Nhưng lúc đầu tôi hơi sờ sợ. "Mình không bao giờ nên đùa với con người này," tôi nghĩ. Cuộc sống ở Aum cũng khó. Nó thật sự lạnh lẽo, những người xung quanh tôi dường như đều là dân lập dị, họ quá vị kỷ. Họ không có những hiểu biết thông thường, họ chỉ nghĩ đến bản thân. Có những người vốn cùng nhánh với tôi thì tương đối bình thường, và đó là những người tôi hay qua lại. Một lần tôi còn cho ông Asahara biết tôi cảm thấy thế nào, "Ông có thấy nhiều người ở đây quái không?" tôi hỏi. "Cái đó không đúng," ông ta đáp.

Trái lại, những người ở cấp trên, những người lãnh đạo không kỳ dị chút nào. Họ thật tuyệt. Tôi thật sự có thể nói chuyện riêng một cách tự do với các Sư phụ mà tôi đánh bạn. Người ta có thể không thích tôi nói điều này, nhưng với tôi Eriko Iida, Tomomitsu Niimi và Hideo Murai là những người tốt. Nhưng những người ở bên dưới nhìn chung đều kỳ lạ. Chỉ là chúng tôi không hợp với họ.

Tôi rời Aso đo Tokyo và đang làm công việc văn phòng ở tổng đàn Aum thì ông Asahara gần như hàng ngày gọi điện cho tôi. "Cô đã quen chưa?" ông ta hỏi, và cho tôi lời khuyên về tu luyện trong khi làm việc. Kiểu như vậy. Không có gì quan trọng. Nhưng được nghe ông ta nói những điều như thế là tôi vui lắm. Không có vẻ gì là bất cứ ai cũng được ông gọi điện cho. Người ta bảo nhờ trong kiếp trước tôi đã tích đức nên giờ mới được thế, nhưng đôi khi các cuộc điện thoại hoàn toàn ngừng bặt và tôi nghĩ: "Sao ông ấy không gọi nữa nhỉ?" Điều đó thật đau đớn. Giờ thì chuyện này có vẻ kỳ lạ với tôi, nhưng vào thời gian đó tôi cảm thấy như thế.

Một lần ông Asahara đã cố ép tôi ngủ với ông ấy. Lúc ấy tôi ở núi Phú Sĩ, làm việc ở Bộ phận Lồng tiếng. Ở đấy chúng tôi dùng một cái máy để đo xem bao nhiêu mét băng ghi âm thì đủ và sao chép các bài giảng đạo pháp. Việc văn phòng ở Tổng đàn Tokyo quá sức bận, đến độ tôi được ngủ một đêm ba giờ đã là may, tôi muốn làm việc thoải mái hơn nên đã xin ông Asahara cho tôi đổi việc. Tôi muốn sống thư thả - tu luyện nửa ngày rồi thời gian còn lại thì sao băng ghi âm.

Tôi đã được đổi việc mà không cần ngủ với ông ta. Tôi mừng là chuyện lại thành ra như thế. Asahara từng cho gọi tôi đến buồng ông. Trước đó đã có vài lần ông nói với tôi những lời gợi ý. Ví dụ như ông gọi và hỏi tôi, "Cô thấy kinh gần đây nhất là vào lúc nào?" "Cái quỷ gì vậy?" tôi nghĩ rồi tự hỏi, "Của nợ - rốt cuộc là vào lúc nào nhỉ?" "Cô sắp được trải một cuộc khai tâm đặc biệt," ông ta nói. Tôi hỏi một trong mấy Sư phụ cao niên về chuyện này. "À, thì ra là…." ông ta nói, và bảo tôi như thế là Asahara có ý bảo tôi ngủ với ông ấy.

Asahara từng theo đuổi tôi, nhưng tôi thực sự thấy không thoải mái. Như thế này. (So vai, người lên gân.) Ông ta không nhìn nhận thấy rõ lắm nhưng trực giác của ông ta rất tốt. Nên chắc hẳn là ông ta phải biết tôi khá căng thẳng. Nếu ông ta chạm vào tôi, tôi sẽ co rúm lại như thế. Cuối cùng ông ta thôi. "Phù, nhẹ cả người!" tôi nghĩ. Nhưng với phần lớn tín đồ Aum, được quan hệ tình dục với ông ta thì lại là một cái gì đó sung sướng, thậm chí họ còn biết ơn.

MURAKAMI: Nhưng cô thì không?

Không. Tôi ghét cái ý này. Đừng hiểu lầm tôi – tôi kính trọng ông ta như một vị sư phụ thôi. Tùy tình hình mà ông ta có thể thay đổi 180 độ cách nói chuyện – và nhiều người bị điều đó hấp dẫn. Ông ta còn rất nhạy với ngôn từ nữa. Nhưng vai trò sư phụ và chuyện tình dục là hai vấn đề khác nhau, và tôi ghét cái ý đem gộp chúng lại làm một. Tôi có thể tin rằng các kiểu khai tâm như thế có xảy ra thật, nhưng cái ý là ông Asahara có dính vào làm cho tôi rợn cả người. Tôi không biết nói chính xác như thế nào… Đó không phải là hình ảnh mà tôi có về ông ta.

MURAKAMI: Cấp trên ở Aum chắc phải biết mối quan hệ tình dục của ông Asahara với các sa môn nữ, đúng chứ?

Một nữ Sư phụ từng trải bảo tôi rằng cô Iida và cô [Hisako] Ishii, cả hai đều đã từng ngủ với ông ta và bà cũng vậy. Tôi không đánh giá thế là tốt hay xấu, nhưng tôi chỉ bị ấn tượng trước sự sâu sắc của Đát đặc la.

MURAKAMI: Asahara có trả đũa gì vì cô từ chối quan hệ thể xác với ông ta không?

Tôi không biết. Sau chuyện kia tôi bị mất trí nhớ. Tôi đã trải qua liệu pháp sốc điện. Tôi vẫn còn sẹo vì điện ở ngay đây. (Vén tóc lên để cho thấy gáy cô, một đường sẹo trăng trắng vẫn còn lại ở đấy.) Tôi nhớ được mọi chuyện cho đến lúc tôi vào Bộ phận Lồng tiếng nhưng sau đó thì trống không cả. Tôi không biết trí nhớ của mình bị xóa đi đến mức nào và vì lý do gì mà lại bị xóa. Tôi hỏi mọi người xung quanh nhưng không ai bảo cho tôi. Tất cả chỉ nói, "Hình như cô với một ai đó đã đi đến một mức độ nguy hiểm." Tôi không thể nhớ nổi một điều gì như thế, nên tôi ép họ cho tôi biết nhiều hơn nữa. "Nó đã bị xóa đi nên chúng tôi không thể nói về nó được," họ đáp lại tôi.

MURAKAMI: Nhưng giữa cô và cái người họ nhắc đến ấy không có gì đặc biệt cả chứ?

Tôi không nhớ gì hết. Tôi từng rất thích một ai đó và người ấy đã bị ông Asahara cảnh cáo, nhưng cái người nam họ nhắc đến lại là một ai đó hoàn toàn khác, cho nên tôi hoang mang. "Tại sao lại là anh ta?" tôi nghĩ.

Ông Asahara rất nghiêm trọng việc nắm bắt những lời đồn đại về quan hệ nam nữ, và cặp nào mà quá thân mật là ông ta cố phá vỡ ra ngay. Ông ta cũng đã gọi tôi tới, hỏi, "Cô Iwakura, có phải cô đang phá giới luật với anh XYZ phải không?" Ông ta nói giọng tự tin như thể biết hết những gì đang xảy ra, nhưng tôi tuyệt đối không có liên quan gì với người đàn ông ấy hết. "Sao cơ ạ?" tôi đáp. "Tôi không làm chuyện gì cả." Và ông ta nói, "Ô, thật ư? Hiểu rồi," rồi đặt máy. Khá là lạ lùng.

Tóm lại trí nhớ của tôi đã bị xóa và khi tôi tỉnh táo lại thì đã đến đầu năm xảy ra vụ đánh hơi độc rồi [1995]. Tôi vào làm ở Bộ phận Lồng tiếng năm 1993, hai năm sau đó là tuyệt đối trống không. Trừ khi trong đầu tôi chợt lóe lên cảnh mình làm việc ở một siêu thị của Aum tại Kyoto. Cảnh này trở lại với tôi hoàn toàn bất ngờ: Mùa hè, tôi mặc áo phông cộc tay và đang dán mác giá lên những gói ramen. Các hộp chất giặt tẩy xếp thành hàng trên giá. Thật đáng sợ. Tôi không biết mình ở đâu và làm gì suốt cả trong thời gian ấy.

Rồi tôi choàng dậy thấy mình ở trong một gian bí thất tại Kamikuishiki. Bí thất ban đầu là nơi để các Sư phụ tu luyện nhưng trong trường hợp của tôi thì nó giống nhà tù hơn. Bí thất không tới một mét rộng và hai mét dài, không có cả mắt nhòm ở cửa. Cũng may khi ấy đang mùa đông nên còn đỡ chứ nếu mùa hè thì sẽ không thể chịu nổi. Phòng bị khóa trái bên ngoài và tôi chỉ được cho ra để đi vệ sinh hay tắm.

Một người xuất gia sau tôi lúc ấy đã trở thành người canh gác tôi nên tôi hỏi chị ta, "Chuyện gì ở đây vậy? Tôi không hiểu đang xảy ra chuyện gì," nhưng chị ta không thể kể được gì cho tôi. Tôi thấy một Sư phụ quen, tôi hỏi, "Tại sao tôi ở đây?" "Đây là nghiệp chướng do vô minh," ông trả lời như vậy. "Nghiệp chướng súc sinh đang nổi lên." Nhưng tôi nghĩ ông ta hoàn toàn nói dối. Đây không thể là lý do để họ đối xử với tôi theo cách này.

Vali của tôi để trên gác, khi tôi đang định lên lấy vài thứ trong đó thì ông Murai tình cờ đi qua. "Cô vẫn ổn đấy chứ?" ông hỏi và tôi trả lời: "Tôi không biết đang xảy ra chuyện gì." Ông cho tôi biết số phòng của ông, và nói, "Tôi sẽ bảo họ không khóa phòng cô tối nay. Hãy đến chỗ tôi và ta sẽ nói chuyện." Nhưng người trông coi tôi nói: "Chúng tôi không được cho phép gặp gỡ."

Tôi quyết định chạy trốn trong lúc được ra ngoài đi vệ sinh và bằng cách nào đó đã tìm thấy ông Murai nhưng người canh gác đã chộp được tôi, chúng tôi giằng co, họ xé rách chiếc áo phông của tôi. Kinh khủng. Nếu họ bắt lại được mình thì thôi xong, tôi nghĩ, nên lấy hết sức kêu váng lên. Mọi người đều đổ xô ra ngoài. Kể cả ông Murai, ông bảo tôi vào phòng ông và tôi vào.

Trước kia ông Murai là một người rất tốt nhưng nay ông đã thay đổi. Ông rất lạnh lùng. Ông chỉ nói với tôi thế này, "Đừng làm thế nữa đi… hãy bình tâm lại."

Đây là khoảng thời gian cảnh sát sắp bắt đầu vây ráp nên họ không thể thoải mái nhốt người trong xà lim khóa trái được. Tôi được đưa đến Satyam số 6 rồi được phái tới văn phòng Phú Sĩ. Ông Asahara đang sắp bị bắt đến nơi nên không có công việc văn phòng thật sự nào để mà làm cả, tôi được thoải mái.

MURAKAMI: Vụ đánh hơi độc được tiến hành vào khoảng ấy, với tất cả những náo loạn xảy ra sau đó. Cô có tin là Aum đã làm gì sai trái không?

Không, tôi không tin. Tôi chỉ nghĩ cảnh sát đã bày đặt ra toàn bộ câu chuyện để lấy cớ moi được nhiều dữ liệu hơn về những người theo Aum thôi. Đã trải qua nhiều chuyện thật kinh khủng, nhưng tôi vẫn không mất lòng tin vào Aum. Dĩ nhiên tôi cũng băn khoăn không biết đang xảy ra chuyện gì, hay tại sao ông Murai lại hóa ra một người hoàn toàn khác. Tôi biết có cái gì đó kỳ quặc.

Tôi rời Kamikuishiki vì tất cả Sư phụ đã ngộ đều bị bắt, các vị Sư phụ còn lại chỉ là mới bắt đầu ra lệnh theo kiểu được đâu hay đấy. Khi thấy sự tình thế này tôi nghĩ, "Thế đấy. Mình ngán rồi." Ông Asahara đã chẳng còn quan trọng nữa thì cũng là cùng đường mạt lộ rồi. Tôi bỏ đi cũng chẳng thành vấn đề. Tôi quyết định đã đến lúc, rồi thì bỏ đi.

MURAKAMI: Quay về với thế giới bên ngoài cô có chút lo sợ nào không? Lo sợ rằng mình không thể hợp với nó?

Không, tôi không nghĩ thế. Tôi biết tôi có thể quay về với nó. Tôi về nhà mẹ và ở đó chừng một tháng. Mẹ thật sự lo lắng cho tôi. "Ngày nào tivi cũng nói về vụ đó," mẹ nói, "mẹ lo phát ốm lên đây." Ban đầu khi xem các bản tin về vụ đánh hơi độc trên tivi, tôi còn bảo mọi người, "Chớ tin những gì nghe thấy," nhưng sau khi thấy những người bỏ Aum đi đều khai giống nhau thì tôi bắt đầu nghĩ: "Harumi, mày biết đấy, xem chừng đúng là Aum làm thật."

Độ một tháng sau đó, tôi quyết định phải kiếm việc làm. Tôi biết tôi về ở nhà thế này thì quá gay go cho mẹ. Tôi thấy thương bà. Mẹ cho tôi 100.000 Yên để giắt lưng, và tôi rời nhà đi, kiếm được chân hầu phòng ở một khách sạn suối nước nóng. Tôi đang nghĩ làm thế nào mà tự lực sống được nổi với khoản tiền thuê nhà trả sau nặng như thế ở đất nước này thì nảy ra ý hay mình tìm tới một nhà nghỉ ở suối nước nóng. Tôi có thể làm việc tại đó và ở tại chỗ luôn, không mất tiền trọ.

Dĩ nhiên lúc phỏng vấn xin việc tôi không nói trước đây mình đã ở Aum cho nên họ thuê tôi. Nhưng chẳng bao lâu sau, một sĩ quan Cảnh sát xuất hiện và tất cả hé lộ. Chủ nhà nghỉ bảo tôi đừng lo về chuyện này – bà sẽ không nói với ai, bà hứa – và tôi cứ nên làm việc tiếp, nhưng tôi thấy thật kinh khủng. Tôi làm ở đấy bảy tháng. Lương không cao lắm – khoảng 200.000 Yên một tháng, nhưng tiền boa đỡ cho nhiều. Tôi làm quần quật suốt ngày hy vọng nhận được nhiều boa hơn. Có lần tôi được một vị khách boa cho ba lần trong ngày. Thường thường tôi nhận boa lúc khách đến và lúc khách đi. Tôi để dành tiền, thi lấy bằng lái rồi mua một chiếc xe.

MURAKAMI: Nghe có vẻ cô là một người rất lạc quan, một người dám hành động.

Chả có lựa chọn nào khác. Tôi làm thế vì tôi buộc phải thế. Nhìn lại hồi ấy tôi nghĩ mình đã làm tốt công việc hầu phòng.

Nay tôi làm việc ở một thẩm mỹ viện. Cảnh sát cũng có đến đây một lần. Chuyện đó làm tôi cáu quá. Tôi muốn nói là trí nhớ của tôi đã bị xóa sạch, và tôi cảm thấy mình cũng là nạn nhân. Nhưng nghĩ lại thì thấy mình không phải là nạn nhân mà là ở phía thủ phạm nhiều hơn. Cho nên tôi thôi tỏ thái độ khó chịu với cảnh sát và bắt đầu nói hết với họ những gì mình biết.

Nay tôi đã hoàn toàn khỏe mạnh, chỉ có trí nhớ là vẫn chưa trở lại. Tôi không còn liên lạc với người của Aum nữa. Tôi chả luyến tiếc gì cái thời ở Aum cả.

MURAKAMI: Cô khá là thân với một vài Sư phụ đã ngộ. Cô có nghĩ có khả năng họ đã dính líu vào vụ đánh hơi độc không?

Tôi nghĩ nếu họ được lệnh làm thì chắc họ sẽ làm. Đặc biệt ông Niimi thì dứt khoát làm. Tôi thỉnh thoảng cũng chuyện trò với Ken’ichi Hirose, ông này là một người rất đơn giản. Nói thế nào nhỉ? Tôi thấy thông cảm với họ. Ở họ không toát lên cái vẻ làm vì không thể không tuân lệnh, mà là cái cảm giác "Tôi sung sướng được làm việc ấy" nhiều hơn.

MURAKAMI: Ở tòa, nhiều bị cáo khai họ muốn kháng lệnh nhưng sợ như thế sẽ bị ám sát cho nên đành miễn cưỡng làm. Nhưng thật ra không phải là như thế sao?

Ừm… tôi đang nghĩ… Tôi nghĩ dưới tác động của hoàn cảnh ở Aum, nếu được chọn thì họ cũng sẽ vui vẻ làm thôi.

MURAKAMI: Cô về với thế giới thế tục và đang làm việc. Trước kia cô ngờ vực về cuộc đời mình, nghĩ mình chẳng chuyên chẳng thạo thứ gì. Bây giờ cô cảm thấy sao?

Tôi đành chấp nhận sự thật là mình không có tài gì đặc biệt. Trước khi vào Aum, tôi không thể nói về những gì mình cảm thấy, ngay cả với những người thân thiết. Nhưng nay tôi cởi mở hơn nhiều.

Họ hàng tôi đã bố trí cho tôi gặp một số người đàn ông trẻ tuổi để tôi có thể tìm được một người mà lấy làm chồng. "Đã đến lúc cháu lấy chồng rồi đó," họ bảo tôi, nhưng tôi nghĩ những người đã ở trong Aum, đã gây ra những tội ác tàn bạo như tôi thì không nên kết hôn. Dĩ nhiên, bản thân tôi không hề gây ra tội ác nào, tôi chỉ làm hết sức phần việc của mình mà thôi.

Đôi khi chuyện đó cũng làm tôi buồn. Tôi ăn tối ở bên ngoài với bạn bè, hoặc làm gì đó cho vui nhưng nhiều ngày tôi không làm gì hết, chỉ về đây một thân một mình. Mùa hè qua, khi xem pháo hoa – giữa đám đông thích thú trước cuộc trình diễn còn mình thì hoàn toàn cô quạnh – tôi đã khóc. Nhưng nay tôi đã vượt qua được.

Có nhiều người rất hấp dẫn ở trong Aum. Hoàn toàn khác với những người mà tôi biết ở thế giới bên ngoài. Các quan hệ xã hội luôn quá… hời hợt, nhưng trong Aum, chúng tôi tất cả sống cùng với nhau tại một nơi, gần như một gia đình.

Tôi yêu trẻ con. Các con của chị tôi rất đáng yêu; nhưng lấy chồng, lập gia đình, có con thì lại rất khó đối với tôi, một người từng là thành viên của Aum. Khi nghĩ đến việc ông hẹn hò mà lại nói về chuyện cũ thời Aum của mình ra, tôi không nghĩ mình có thể… Gia đình của tôi quá lủng củng, chính sự ấy là một nhân tố lớn. Những người lớn khôn trong các gia đình hạnh phúc thì chắc sẽ không gia nhập Aum đâu.

"Bộ mặt Asahara hiện ra có lố lăng đến thế nào, tôi cũng đúng là không thể gạt được ông ta đi."

Hidetoshi Takahashi (sinh 1967)

Anh Takahashi sinh năm 1967 ở thành phố Tachikawa tại khu vực Tokyo. Anh học địa chất ở Cao đẳng Khoa học thuộc Đại học Shinshu và học tiếp lên cao học, chuyên về thiên văn học mặt đất. Anh luôn yêu quan sát các vùng trời qua kính viễn vọng. Vụ đánh hơi độc là một cú sốc với anh nên anh rời bỏ Aum. Anh đã xuất hiện trên tivi phê phán Aum và viết một quyển sách – Trở về từ Aum – trong đó bàn nhiều đến việc tại sao anh gia nhập giáo phái này và tại sao lại rời bỏ nó.

Khi còn là sinh viên, Takahashi đã có cơ hội nói chuyện với Shoko Asahara khi ông ta đến diễn thuyết tại Đại học Shinshu. Sau đó, Yoshihiro Inoue giục anh ra nhập và anh đã ra nhập. Nhưng chương trình cao học chiếm hầu hết thời gian của anh nên anh dần xa Aum và cuối cùng bỏ giáo phái. Nhưng anh thấy mình không thể tập trung vào học được nên lại gia nhập Aum lần nữa, lần này xuất gia hẳn. Đó là thời điểm ngay trước vụ Matsumoto tháng Năm năm 1994.

Ở Aum anh được phân vào Bộ Khoa học và Công nghệ dưới quyền Hideo Murai. Asahara trực tiếp chỉ đạo anh phát triển phần mềm máy tính dự báo động đất. Dữ liệu của phần mềm này có thể dự báo trận động đất Kobe năm 1995 và Asahara cơ ngợi anh vì sự nỗ lực đó. Anh nói rất rành mạch và logic – một đặc điểm thấy ở nhiều tín đồ và cựu thành viên Aum – anh chỉ chịu tin một cái gì đó khi nó logic. Dĩ nhiên, nếu nhìn mọi sự theo cách của anh thì thế giới chúng ta thực sự có vẻ là một nơi phi logic, bị gieo rắc đầy rẫy các mâu thuẫn và rối ren, một nơi khó sống.

Nay anh làm việc cho một công ty nghiên cứu và sống cuộc đời hoàn toàn bình thường. Anh tâm nguyện sẽ dành hết đời mình để trả lời câu hỏi "Aum là gì?" Vậy nên đến tận giờ, khi thì giờ cho phép, anh vẫn đến tòa án để theo dõi các phiên xét xử.

° ° °

Ở đại học tôi cảm thấy cái Bản ngã ngoại tại và cái Bản ngã nội tâm của tôi xa lìa nhau sâu sắc. Tôi là một người vui vẻ, nhiệt tình, có nhiều bạn, nhưng khi ở một mình trong phòng, tôi lại chìm vào nỗi cô đơn, tôi không có ai đó để cùng chia sẻ cái thế gian này.

Từ bé tôi đã thế. Tôi nhớ hồi nhỏ tôi vẫn hay trốn trong tủ. Tôi không muốn nhìn thấy bố mẹ và ngay ở trong phòng riêng của mình, tôi cũng không cảm thấy có không gian riêng. Hồi bé, ta cảm thấy như bố mẹ luôn can thiệp. Với tôi, chỗ duy nhất để trốn tránh chuyện đó và tìm thấy yên bình là ngăn tủ. Cứ coi đó là một thói quen lạ lùng đi, nhưng một mình trong bóng tối ở đó tôi có thể cảm thấy ý thức của tôi trở nên sắc như lưỡi dao vậy. Chỉ có một mình, mặt đối mặt với bản thân trong bóng tối. Theo một nghĩa nào đó, ngay từ bé tôi đã có xu hướng thích những nơi ẩn nấp như kiểu ở Aum.

Ở trung học tôi thích nghe progressive rock. Chẳng hạn như bản The Wall của Pink Floyd. Dứt khoát không phải thứ âm nhạc tôi sẽ giới thiệu cho ông trừ phi ông muốn một cái gì đó làm cho ông thấy u ám. [cười] Qua ban King Crimson tôi phát hiện ra Gurdjieff. Robert Fripp, cây ghi ta của họ, là một người theo Gurdjieff. Sau khi anh ta gia nhập nhóm, nhạc của anh thay đổi hẳn. Tôi nghĩ nhiều phần trong nhân sinh quan của tôi đã chịu ảnh hưởng của kiểu âm nhạc này.

Ở trung học phổ thông tôi thích chơi thể thao, bóng rổ và cầu lông, nhưng sau khi vào đại học tôi cảm thấy mình cần kẻ một cái vạch ngăn bản thân tôi với xã hội. Tôi là cái mà ta gọi là "Con người Tạm dừng hoạt động": một kẻ không muốn lớn lên. Thế hệ của chúng tôi lớn lên sau khi Nhật trở thành một nước giàu có và chúng tôi nhìn xã hội qua lăng kính của thịnh vượng. Tôi đúng là không thể thích nghi được với "xã hội của người lớn" mà tôi nhìn thấy ngoài kia. Không hiểu sao với tôi nó hình như bị biến dạng. Chẳng lẽ không có cách nào khác để sống cuộc đời của mình sao, không có cách nào khác để nhìn cái thế giới này sao? Trong thời gian học đại học tôi có nhiều giờ rảnh và những câu hỏi này choán hết đầu óc tôi.

Khi ông mang ở trong đầu một kiểu quan niệm lý tưởng nhưng lại phải đối mặt với hiện thực của chính đời mình, việc ấy sẽ khiến ông nhận ra mình non dại nhường nào. Tôi thấy rất nản.

Để giải thoát cho mình, để làm một cuộc mở đầu tươi mới, tôi chõ mũi vào đủ thứ, hy vọng tìm ra cái năng lượng tôi cần có để sống. Cuộc đời đầy những đau khổ, và các mâu thuẫn trong thế giới thực tại làm cho tôi khó chịu. Để trốn khỏi chúng, tôi tưởng tượng ra kiểu xã hội không tưởng của bản thân tôi, điều này đã làm cho tôi có phần thấy dễ dàng hơn khi tham gia vào một nhóm tôn giáo cũng tán thành một cái nhìn tương tự.

Khi vấn đề Aum nổi lên, người ta bắt đầu hễ mở mồm ra là nói đến sự thoái hóa của các mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái, sự bất hòa trong gia đình, nhưng quy thành đơn giản quá như thế là không được. Tất nhiên, một trong những điểm hấp dẫn của Aum nằm ở chính những thất vọng của con người với hiện thực, với sự bất an của gia đình, nhưng một nhân tố quan trọng nhiều hơn nữa lại nằm ở những cảm giác mang tính khải huyền về "tận thế", những cảm giác mà tất cả chúng ta đang có về tương lai. Nếu ông để ý đến cái cảm giác phổ biến của tất cả chúng ta, tất cả người Nhật – thậm chí tất cả loài người – thì ông không thể giải thích việc Aum hấp dẫn nhiều người đến thế bằng cách bảo tất cả đều dựa trên những mối bất hòa gia đình.

MURAKAMI: Xin khoan một chút. Anh thực sự nghĩ rằng tất cả người Nhật đều nhìn nhận thế giới là đang kết thúc?

Đem khái quát hóa rồi nói tất cả đều thế cả thì có lẽ là khó, nhưng tôi nghĩ ở bên trong mỗi người Nhật đều có một quan điểm về tận thế: một nỗi sợ hãi vô hình, vô thức. Khi nói tất cả người Nhật đều có nỗi sợ này, tôi muốn nói một số người đã vén lên được tấm mạng che, trong khi những người khác thì vẫn chưa. Nếu bất ngờ giật tấm mạng ấy đi thì ai cũng sẽ cảm thấy kinh hoàng cho tương lai trước mắt, cái phương hướng mà thế giới chúng ta hiện đang nhắm tới. Xã hội là nền tảng cho cuộc đời con người, nhưng họ không biết rồi đây trong tương lai cái gì sẽ xảy ra với nó. Một đất nước càng giàu thì có cảm giác này càng mạnh lên. Nó như một bóng tối lù mù hiện ra ngày một lớn hơn.

MURAKAMI: Theo cách nào đó thì hình như chữ "suy vi" hay "sụp đổ" nghe trúng hơn chữ "tận thế".

Có lẽ là thế, nhưng xin nhớ là hồi tôi còn đi học, cuốn Sấm truyền của Nostradamus đã trở nên nổi tiếng và qua báo đài, cảm giác "Tận thế đang Đến gần" đã tự nó ăn sâu vào ý thức tôi. Mà tôi không phải là người duy nhất cảm thấy điều đó. Tôi không muốn làm giảm giá trị của điều này bằng một lý thuyết đơn giản hóa nào đó về "thế hệ của tôi", nhưng tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng thời kỳ ấy, cái ý rằng 1999 là năm tận thế đã khoan sâu vào trong đầu óc mọi người Nhật. Những người xuất gia theo Aum đã chấp nhận, trong nội tâm mình, rằng thế giới đã kết thúc, và khi xuất gia họ đã phế bỏ hoàn toàn bản thân họ, do đó vứt bỏ thế giới. Nói cách khác, Aum là một bộ sưu tập những người đã chấp nhận sự kết thúc. Những người còn lại đang hy vọng vào tương lai gần thì vẫn giữ mối ràng buộc với thế giới. Nếu ông có các ràng buộc thì ông sẽ không phế bỏ Bản thân ông, nhưng với những người xuất gia thì tựa hồ như họ vừa nhảy thẳng từ trên vách đá xuống vậy. Và một cú nhảy vĩ đại như vậy thì sẽ đem lại cảm giác rất tuyệt. Họ mất một cái gì đó – nhưng nhận về một cái gì đó.

Cho nên cái ý về "Tận thế" chính là một trong những trục mà Aum Shinrikyo xoay quanh. "Trận quyết chiến đang đến, nên hãy xuất gia đi," họ giục giã. "Hãy ủng hộ tiền của bạn cho Aum" – và khoản đó dĩ nhiên trở thành nguồn thu nhập của họ.

MURAKAMI: Nhưng có nhiều nhóm tôn giáo khác đã dùng nhãn quan tận thế làm tâm điểm để thu hút tín đồ. Chẳng hạn như Những Nhân chứng của Jehovah, giáo phái The Branch Davidian ở Waco. Aum khác ở chỗ nào vậy?

Robert Ray Lifton từng nói có nhiều giáo phái tin vào ngày tận thế nhưng Aum là giáo phái duy nhất đã tiến thẳng đến đó, coi đó là một phần cương lĩnh của họ 17. Điều này thì tôi hiểu.

Nhưng ngay bây giờ vẫn có một yếu tố ở Aum tôi không thể hiểu đầy đủ, đó là động cơ và phương hướng của nó. Nó có một năng lượng mạnh đến thế, lôi kéo được nhiều người đến thế - dĩ nhiên gồm cả tôi. Nhưng nó làm chuyện đó như thế nào cơ chứ?

Hồi tôi học đại học, có nhiều tôn giáo mới từng cố thuyết phục tôi tham gia, nhưng về mặt đấu tranh với cái phương hướng mà thế giới đã theo, nghiêm túc hình thành nên một thế giới quan tôn giáo, nghiêm túc tìm ra một lối sống phù hợp với quan điểm đó rồi đem ra thực hành một cách mạnh mẽ thì Aum cao hơn các tôn giáo mới đó hẳn một cái đầu. Aum là nhóm tuyệt vời nhất trong số đó. Tôi đã thật sự khâm phục họ về cách họ thực hành những cái họ tuyên giảng. So với Aum, các tôn giáo khác là nhẫn chịu, đầm ấm, thoải mái, thụ động. Việc tu hành của Aum rất khổ ải. Quan điểm tôn giáo của họ - trước khi cải tạo thế giới, ông phải cải tạo chính cơ thể ông – mang trong nó một kiểu chủ nghĩa hiện thực gây ấn tượng mạnh. Tôi nghĩ nếu có cơ may cứu rỗi nào đó thì nó phải bắt đầu như thế.

Để thí dụ cho ông thì nói thế này, lương thực trên thế giới hiện đang thiếu hụt, nên mọi người, từng chút một, giảm tiêu thụ của họ xuống theo cách chay tịnh của Aum thì lúc ấy vấn đề lương thực có thể được giải quyết. Không phải bằng cách tăng cung lên mà bằng cách thay đổi cơ thể, vì thành viên Aum ăn có một lượng nhỏ lương thực thôi. Nếu loài người định sống hài hòa với trái đất thì đã tới cái thời chúng ta buộc phải bắt đầu tư duy theo cách ấy rồi.

MURAKAMI: Điều này làm tôi nhớ đến tiểu thuyết Trò Hề của Kurt Vonnegut trong đó người Trung Quốc thu nhỏ kích thước bình thường của mình xuống một nửa để giải quyết nạn thiếu lương thực trên thế giới.

Cũng khá buồn cười. Thực tế tôi đã gia nhập Aum hai lần. Lần thứ hai tôi cảm thấy bạo lực phủ bóng lên Aum. Ngày đầu tiên quay lại, tôi nghĩ: "Ô hô, ta đã mắc phải một sai lầm lớn mất rồi." Ở các trụ sở chi nhánh, Aum đeo một chiếc mặt nạ vui vẻ, do những người ở đó vẫn sống cuộc đời bình thường. Nhưng đến Kamikuishiki, nơi chỉ có người xuất gia, những người đã gạt bỏ mọi thứ, thì ông có thể cảm nhận được ngay cái cảm giác tuyệt vọng bức bách này.

Khi gia nhập tôi được phân công ngay vào việc chế tạo các máy làm sạch Vũ trụ. Aum tuyên bố bị tấn công bằng hơi độc sarin từ bên ngoài và các máy làm sạch Vũ trụ này được thiết kế để giảm bớt độc hại. Ngay trước hôm tôi phát thệ, Giáo chủ lên giảng về đạo pháp. "Tôi đã bị tấn công bằng hơi độc," ông nói với chúng tôi mà cứ ho hoài. Ông ta giật cục như một con búp bê bằng vải vụn, mặt ông ta tối sầm. Có vẻ rất thật. "Tôi chỉ kéo dài được một tháng nữa thôi," ông ta nói, "và đến bước này thì Aum sẽ bị hủy diệt. Trước khi chuyện đó xảy ra, tôi muốn những người tin tưởng tôi hãy tập hợp ở quanh tôi. Tất cả các người sẽ là tấm mộc cho chắn cho tôi." Bài giảng này đầy sức mạnh. Nó buộc những người đi theo ông nhưng còn thế tục phải cật vấn lòng tin của mình: Giáo chủ đang lâm vào tình cảnh khốc liệt như thế này mà các ngươi chỉ biết ngồi quanh đây thôi sao? Ngay lập tức khoảng ba trăm người phát thệ và tôi là một trong số đó, bị làn sóng ấy cuốn theo. Mọi sự bắt đầu có vẻ lạ với tôi khi tôi buộc phải trải qua cái việc mà họ gọi là "Khai tâm Chúa Cứu thế". Tất cả tín đồ đều phải dùng ma túy. Nhìn bằng cách nào đó thì toàn bộ chuyện này cũng thật phi lý. Nhân danh tôn giáo dùng ma túy để bước vào một trạng thái nâng cao nào đó thì tự việc đó đã là khả nghi rồi, nhưng dù cho ông có chấp nhận nó là một thứ gần với LSD, tôi ngờ như vậy, và với phần lớn mọi người thì đây là lần đầu tiên nếm mùi này. Một vài người hóa điên và rồi bị bỏ mặc tự xoay xở lấy ra sao cũng kệ. Cái này thật sự làm tôi rối trí. Ngay cả nếu Giáo chủ định lấy cái này làm phương pháp nâng cao trạng thái tâm linh chúng tôi lên thì cách ông sử dụng nó cũng còn nhiều điểm chưa ổn.

Tôi cảm thấy cơn kháng cự mãnh liệt trước toàn bộ việc "Khai tâm Chúa Cứu thế" này, và sau khi trải qua, tôi đã phải đấu tranh có nên bỏ Aum hay không. Nó là một cú sốc mạnh đến mức khiến tôi phải khóc. "Họ nghĩ họ đang làm cái quỷ gì thế này chứ?" tôi nghĩ thầm. Không chỉ mình tôi – ngay cả một số người trong ban lãnh đạo, một số người tu hành đã ngộ bám lấy từng lời của Asahara, cũng dao động về kiểu khai tâm này. Cảm giác như Aum đang rã ra từng mảng.

Tôi nghĩ mình gia nhập Aum giống như làm một kiểu phiêu lưu vậy. Ông cần khoan dung đôi chút với một hệ thống được tổ chức nên nhằm mở ra cho ông một thế giới chưa từng biết – nhập gia tùy tục mà – cho nên tôi đã chấp nhận hệ thống Aum. Một phần trong tôi muốn điều chỉnh mình cho hợp với lối sống của Aum và lao theo nó về phía trước, nhưng phần khác lại lùi lại, quan sát tất cả bằng con mắt tỉnh táo.

Vậy là tóm lại, sau vụ "Khai tâm Chúa Cứu thế" này, tôi đã có quá nhiều nghi ngờ với Aum nên không thể làm công việc được giao. Tôi không thể nuốt ngon học thuyết Mật thừa. Tôi không thể trình bày các nghi ngờ của tôi với bất cứ tín đồ nào của Aum, còn Giáo chủ thì lại ở quá cao cho nên tôi không thể trực tiếp nói chuyện được. Mà ngay cả khi tôi có nói với ai đó rằng tôi nghĩ Aum đang sa vào một số chuyện nghi vấn thì tôi cũng sẽ chỉ nhận được một câu trả lời dập khuôn: "Anh Takahashi này, chúng ta chỉ làm được mỗi việc là làm theo Aum thôi." Tôi quyết định nếu muốn làm rõ thêm chút nào thì phải nói với ai đó trong ban lãnh đạo.

Trong khi những chuyện này đang diễn ra thì ông Niimi, Eriko Iida và Naropa [Fumihiko Nagura] yêu cầu tôi đến gặp họ và như một kiểu khai tâm khác, họ trói gô tôi lại rồi hét to lên các kiểu với tôi: "Tại sao anh không theo được cách cách chúng ta đang sống ở Aum?" "Anh đang sao nhãng tu hành, đúng không?" "Anh không dốc hết lòng với Giáo chủ!"

Nghĩ đây là dịp hay, tôi quyết định nói ra vài nghi ngờ của mình. "Xin hãy khoan đã," tôi nói. "Tôi gặp vấn đề về những chuyện đang diễn ra trong nhà thờ chúng ta, chính vì thế mà tôi không toàn tâm được cho các hoạt động của chúng ta." Tôi nói rõ những gì mình cảm thấy, rồi Iida nói: "Tất cả chúng tôi đều cảm thấy như thế nhưng con đường duy nhất cho chúng ta là đi theo Giáo chủ."

Tôi dấn một bước xa hơn: "Tất cả các ông không biết nhiều về Giáo chủ, thế thì sao có thể đi theo ông ta được. Tôi cũng tin Giáo chủ, nhưng không biết ông ta thực sự thế nào nên tôi không thể mù quáng theo ông ta được." Nhưng bất kể tôi gây sức ép thế nào, câu trả lời vẫn luôn là: "Chúng ta chỉ có làm được mỗi việc là tin Giáo chủ và đi theo ông."

Tôi không thể tả xiết mình đã thất vọng đến thế nào. Một người giống như cô ta [Eriko Iida] – một người tu Đại Thủ Ấn đã ngộ và được mọi người kính trọng – mà chỉ nói được có bấy nhiêu thế thôi ư? "Thế mà cô lại nhận mình là người tu hành đắc đạo à?" tôi hỏi cô ta. Nếu tất cả những gì tôi được nghe trả lời chỉ có thế thì hỏi chỉ phí thì giờ. Tôi quyết định hỏi cấp trên ở Bộ Khoa học và Công nghệ, Hideo Murai, nhưng ông không đáp lại gì cả. Hoàn toàn im lặng. Vậy bước cuối cùng của tôi sẽ là phải hỏi chính Giáo chủ thôi. Tôi quyết định bỏ cuộc và dốc lòng tĩnh tâm tu hành.

Ở Aum, Yoshihiro Inoue là người duy nhất tôi cảm thấy gần gũi về mặt tâm linh nên tôi muốn hỏi anh ta chuyện này nhưng anh đang đi vắng vì vài công việc bí mật nào đó nên tôi không liên lạc được. Kết quả là tôi đã sống mấy tháng trời trong cơn bấn loạn.

Một năm sau khi tôi gia nhập Aum, Murai lệnh cho tôi thu thập dữ liệu về địa chấn, nhưng trong tình trạng bối rối và hoàn toàn hoang mang không biết hướng của Aum là gì, tôi biết mình không thể tập trung vào công việc. Tôi không rõ Aum đang định đi đến đâu nên đã hỏi thẳng thừng Murai: "Hình như Aum có một mặt được giấu kín. Chuyện các ông đang làm là gì vậy?" Lúc ấy tôi đang tham gia vào vài công việc thiên văn nên được gần Giáo chủ hơn, có thể trông thấy các vị cốp kẻ đến người đi. Nó giống như – nói sao nhỉ? – tất cả các hoạt động của họ được giấu kín sau một tấm mạng hay một cái gì đó. Người giữ chìa khóa của cái vùng bí ẩn này là Murai cho nên tôi phải hỏi thẳng ông ta. Tôi không thể nói trực tiếp nên đành hỏi qua điện thoại. Ông im lặng một hồi, rồi nói: "Anh làm tôi thất vọng quá." Lúc ấy tôi biết cuộc sống của tôi ở Aum đã chấm dứt.

Tôi không coi các tội ác của Aum chỉ đơn giản là các hành vi vô ý thức. Dĩ nhiên, một phần của nó là vô ý thức, nhưng đã có một quan điểm tôn giáo thấm nhuần trong các hành động này. Đó là điều tôi muốn biết nhiều nhất về Aum. Chắc chỉ có Asahara và Murai giải thích được đầy đủ chỗ này. Những tín đồ Aum khác chỉ là những con tốt, nhưng hai người kia thì không – họ ra lệnh và quyết định mọi sự với một cái nhìn rõ rệt về mục tiêu của mình. Đối thủ mà tôi buộc mình đứng lên đấu tranh chống lại, thực sự chính là các động cơ đích thực của hai người này.

Phần lớn những người bị bắt trong vụ đánh hơi độc đều là người tuyệt đối tông sùng Giáo chủ, họ sẽ không để bất cứ nghi ngờ nào về Aum khiến họ ngừng làm chính xác những điều họ được sai làm. So với họ thì Toru Toyoda vẫn còn có thể nghĩ cho bản thân mình. Mỗi lần tôi nói ra mối nghi ngờ về Aum, anh ta thật sự cũng có suy nghĩ đến ý của tôi. Nhưng rồi anh ta nói, "Được rồi, nhưng Hidetoshi à, thế giới đang ở trong cuộc quyết chiến rồi, cho nên những thắc mắc của anh đã hơi quá muộn."

Tôi biết rất rõ Toyoda vì chúng tôi vào Aum cùng thời gian; chỉ một đêm sau khi phát thệ, anh ta đã được đề bạt ngay vào ban lãnh đạo. Anh ta lên nhanh như thế. Đó là cách Aum đã sử dụng anh ta. "Ngay bản thân tôi cũng không thật sự hiểu tất cả những gì đang diễn ra ở đây," anh ta bảo tôi, "nhưng vì tôi đã vào ban lãnh đạo, thì tốt hơn là tôi xử sự như người lãnh đạo." Nghe nói thế tôi đã nghĩ: "Chà, anh ta nghiêm túc quá. Còn tệ hơn mình." Thời điểm này vẫn chưa xảy ra vụ đánh hơi độc. Tôi đã lái xe cho anh ta một dạo.

MURAKAMI: Nếu Murai bảo anh thả sarin anh có bất tuân lệnh không?

Tôi nghĩ là có, nhưng cũng phải có mánh. Những người thi hành tội ác này đã bị đặt vào một tình huống bất ngờ và không thể trốn thoát. Họ tụ tập ở buồng của Murai, và rồi đột nhiên ban lãnh đạo sẽ mở rộng chủ đề đang nói chuyện, bảo họ: "Đây là lệnh tối cao." Lệnh từ tối cao – câu này giống như một thần chú trong Aum. Những người được chọn thi hành tội ác này thuộc trong nhóm những tín đồ có niềm tin mạnh mẽ nhất. "Các người đã được đặc biệt lựa chọn," – họ được bảo như thế. Mấy người lãnh đạo kêu gọi ý thức nghĩa vụ của họ. Lòng tin trong Aum có nghĩa là dâng hiến hoàn toàn.

Đó là lý do vì sao tôi không được chọn để thi hành tội ác này. Tôi vẫn ở dưới cùng trong đám này và chưa đạt tới ngộ. Nói cách khác là Aum chưa đủ tin tôi.

MURAKAMI: Có một điều tôi không hiểu. Khi tôi phỏng vấn nạn nhân của vụ đánh hơi độc, nhiều người trong số họ bảo tôi rằng cứ theo cách làm việc của họ cho các công ty thì nếu họ ở trong Aum mà được lệnh thả sarin, họ cũng có thể thả tốt. Nhưng anh thực sự ở trong Aum mà lại nói mình sẽ bỏ chạy. Tại sao lại thế?

Nói tôi sẽ bỏ chạy có lẽ không được trung thực lắm. Nếu tôi thực sự tự vấn lòng mình thì có thể nói trong trường hợp Murai bảo tôi làm, có thể nhiều lần là tôi sẽ bỏ chạy. Nhưng nếu Yoshihiro Inoue bảo tôi, "Hidetoshi, đây là một phần của quá trình cứu rỗi" rồi trao cho tôi cái túi có sarin thì tôi sẽ rất phân vân. Nếu anh ta bảo đi cùng với anh ta, tôi có thể đi. Nói cách khác, xét đến cùng, đó là vấn đề mối quan hệ giữa cá nhân với nhau.

Murai là sếp của tôi nhưng ông ta lạnh lùng và cao cao tại thượng quá ở trên tôi. Nếu ông ta bảo tôi làm, tôi sẽ hỏi ông ta vì sao, và nếu ông ta nài tôi, nói, "Đây là một việc bẩn thỉu nhưng vì lợi ích của Aum và tôi thật sự muốn anh làm," thì tôi nghĩ rằng mình sẽ giấu cảm giác thật của mình, nói OK, rồi đến phút chót tìm cách lách khỏi. Như [Ken’ichi] Hirose đã dao động mà xuống tàu điện ngầm vậy. Tôi nghĩ tôi sẽ đấu tranh xem mình nên làm gì nhưng cuối cùng thế nào cũng tìm được lối ra.

Nhưng ở Ionue có một cái gì đó mê hoặc tôi. Anh ta toát ra một cảm thức mạnh mẽ về nghĩa vụ tôn giáo. Nếu thấy anh ta đang khổ sở trước một tình huống, tôi nghĩ mình sẽ làm điều gì đó để giúp anh. Anh ta có ảnh hưởng lớn tới tôi. Cho nên nếu anh ta gây sức ép đối với tôi, nói đó là sứ mệnh chỉ chúng ta mới làm được thì có thể tôi sẽ rất vui mà làm cùng anh ta. Tôi sẽ có thể hành động ở một bình diện khác. Ý tôi là, phân tích cho đến cùng, thì logic không hề đóng vai trò gì quan trọng trong động cơ của con người ta. Tôi ngờ rằng những người làm việc đó thậm chí khó có thể suy nghĩ logic được khi họ nhận lệnh đi thả sarin. Họ không còn khả năng suy nghĩ, bị kẹt giữa các sự kiện, hoảng loạn, và thế là được bảo làm gì thì họ cứ thế làm. Ai đủ sức suy nghĩ logic về việc đó thì đã chẳng làm chuyện đó. Trong các trường hợp sùng bái sư phụ cực đoan, các hệ thống giá trị của cá nhân đều bị xóa sạch. Trong các tình huống như thế, tâm trí người ta đúng là không đủ sức mạnh để liên kết hành động của mình với cái chết của nhiều người.

Bất chấp ông cưỡng lại ra sao và có ngăn chặn mọi sự đến thế nào, sự thật vẫn là ở trong một tổ chức như Aum, nhận thức của ông về Bản thân đã dần phai nhạt. Cấp trên buộc vào ông những việc phải làm và ông liên tục bị đả kích vì không chấp nhận nguyên trạng, vì không đủ sức sùng bái và đương nhiên tinh thần ông không tránh khỏi suy sụp. Tôi thì không hiểu sao đã có thể bảo toàn, chứ nhiều người gia nhập cùng thời đã có kết cục là bị suy sụp.

MURAKAMI: Được rồi, nhưng nếu đích thân Shoko Asahara ra lệnh cho anh thì sao? – "Takahashi, tôi muốn anh làm việc đó!", anh sẽ làm gì?

Tôi nghĩ tôi sẽ nói chuyện với ông ta. Nếu ông ta có thể giải thích hợp lý với tôi thì tôi sẽ nghe. Nhưng nếu ông ta không thể thì tôi cứ đặt câu hỏi mãi cho đến khi ông ta thuyết phục được tôi. Riêng chỉ thế thôi tôi đã bị loại ra khỏi công việc đó rồi. Trước kia tôi đã nói thẳng những gì tôi nghĩ với ông ta và bảo tôi là một típ người rất thẳng thắn bộc trực. Tôi nghĩ Shoko Asahara hay Hideo Murai đều không thể lung lạc được tôi vì họ không bao giờ nói hết cho tôi biết.

MURAKAMI: Khoan khoan. Vừa nãy anh dùng câu "trong các trường hợp sùng bái sư phụ cực đoan", điều ấy ngụ ý rằng bản thân anh không ở trong hệ thống này, đúng không? Nếu ở trong Aum Shinrikyo lòng tin về thực chất là sùng bái sư phụ thì về logic đó có phải là một mâu thuẫn?

Như trên tôi đã nhắc tới, khi chúng tôi trải qua "Khai tâm Chúa Cứu thế," tôi đã bắt đầu nghi ngờ nghiêm trọng các phương pháp của Aum. Cái vực thẳm ở giữa tín đồ và Giáo chủ đã làm tôi vỡ mộng hoàn toàn.

MURAKAMI: Vậy cái gì giữ anh ở Aum? Có Shoko Asahara, có học thuyết và các bạn tín đồ của anh. Cái nào trong ba cái ấy giữ anh lại?

Tôi gần như chẳng còn gì. Tôi đặt hết niềm tin của mình vào Inoue. Tôi cô độc trong Aum, biệt lập. Họ bắt tôi làm nghiên cứu về thiên văn ở Bộ Khoa học và Công nghệ, một món tôi không hề thích thú chút nào. Không đời nào tôi lại muốn nhìn thấy các dữ liệu khoa học về sự vận động của các ngôi sao được dùng vào việc khả nghi nào đó như bói toán. Một chủ đề thường xuyên của Aum là ước muốn có quyền năng siêu nhiên nhưng tôi không thể hiểu được đầu óc của những người mê mẩn chuyện này. Với tôi, đó là một chuyện hoàn toàn phí thì giờ.

Quay lại câu ông hỏi, tại sao tôi ở lại? Tôi đã gần như vứt bỏ mọi thứ khác. Khi vào Aum, tôi đốt hết các album ảnh tôi có. Tôi đốt nhật ký của tôi. Tôi chia tay bạn gái. Tôi quăng hết mọi thứ đi.

MURAKAMI: Nhưng khi ấy anh mới chưa đầy 20. Anh có thể bắt đầu lại. Nói thế này anh đừng giận, nhưng ở tuổi anh thì có gì nhiều lắm để mà vứt bỏ đâu, đúng không?

Ừm, xem ra chắc là không nhiều lắm thật… [cười] Nhưng ông biết đấy, tôi nghĩ tôi là một người khá bướng, một nét có chung ở những người theo Aum. Một sự kiên trì bướng bỉnh với những thứ thật sự chẳng mấy quan trọng với người khác khi chúng tôi thực hiện sứ mệnh của mình. Ngoài ra, khi tập trung như thế, ông sẽ có cảm giác mãn nguyện. Và Aum đã có thể lợi dụng tối đa điều này. Chính vì thế mà họ bắt ông tu luyện cực như vậy. Tu càng cực khổ thì cảm nhận về sự mãn nguyện càng lớn.

Khi gia nhập Aum rồi phát thệ, tôi say sưa cái cảm giác mình đã gạt bỏ thế giới, dù vẫn thắc mắc liệu chuyện phát thệ ấy có thực sự là do ý nguyện của tôi dẫn dắt hay không. Có lẽ tôi chỉ muốn tin như thế thôi. Vụ đánh hơi độc đã làm cho tôi bừng tỉnh và tôi bỏ Aum. Những cái tôi nghĩ là thần bí đã trở thành các ảo tưởng vụt tan biến đi không dấu vết. Cứ như ông đang ngủ say thì có người hét "Cháy!" rồi tự dưng ông thấy mình đang ở ngoài phố vậy. Có cảm giác như thế đó. Tôi sẽ còn nhớ mãi vụ này cho đến hết đời. Tôi không muốn chúng nhạt nhòa đi.

MURAKAMI: Tôi xin hỏi anh chút nữa cái ý về tận thế. Tận thế mà Aum nói có giống tận thế của đạo Do Thái hay đạo Cơ Đốc không? Cái ý về thiên niên kỷ xét cho cùng là một khái niệm của phương Tây, còn Nostradamus thì không liên quan gì đến đạo Phật.

Dù Aum có áp đặt quan điểm gì lên cái ý của nó về Trận quyết chiến cuối cùng thì tôi nghĩ nó cũng không thể cạnh tranh được với ý Tận thế của đạo Cơ Đốc. Nó chìm nghỉm trong cái ý Tận thế của đạo Cơ Đốc. Chính vì lẽ đó mà nếu chỉ nhìn vào cái hạt nhân tạo nên Aum – tức là đạo Phật và tôn giáo thần bí của Tây Tạng – thì ông sẽ không thể thực sự giải thích được các sự cố liên quan đến Aum.

Lúc trước tôi đã nói tôi không nghĩ rằng nhãn quan tận thế chỉ giới hạn trong mỗi tôi với tư cách một cá nhân, điều tôi muốn nói là ông có theo đạo Cơ Đốc hay không thì tất cả chúng ta đều không tránh khỏi phải mang cái định mệnh tận thế giống nhau.

MURAKAMI: Thật thà mà nói thì tôi thực sự không hiểu cái mà nãy giờ anh gọi là nhãn quan tận thế kia nó là gì. Nhưng tôi có cảm giác rằng, nếu nhãn quan ấy phải có một kiểu ý nghĩa nào đó thì ý nghĩa ấy phải nằm trong việc anh giải kiến nó thế nào trong nội tâm anh.

Ông nói đúng hoàn toàn. Tận thế không phải là một ý niệm có sẵn mà đúng hơn là một quá trình. Sau nhãn quan tận thế luôn diễn ra một quá trình gột rửa hay thanh lọc. Ở ý nghĩa này, tôi nghĩ vụ đánh hơi độc là một kiểu gột tẩy, một cuộc phóng thích về mặt tâm lý tất cả những cái gì đã được xây dựng nên ở Nhật – sự độc ác, ý thức méo mó của chúng ta. Không phải là vụ Aum đã tống khứ được mọi cái đi. Vẫn còn đó hình dung bị đè nén về tận thế, giống như một loại virus đang xâm nhập xã hội mà chưa bị xóa bỏ hay hiểu rõ.

Dù ông có tống khứ nó đi được ở phương diện cá nhân thì ở phương diện xã hội, loại virus này vẫn cứ tồn tại.

MURAKAMI: Anh nói đến xã hội như một tổng thể nhưng ở trong cái gọi là thế giới thế tục, người bình thường – tôi muốn nói những người vẫn duy trì được sự cân bằng tương đối  trong đời sống của họ - đang giải kiến theo cách riêng của họ cái kiểu nhãn quan tận thế giống như virus như anh nói kia, và dĩ nhiên họ cũng thay thế nó bằng một cái gì đó. Anh không nghĩ thế sao?

Vâng, chuyện thực sự rút gọn về bản chất của quá trình giải kiến. Một cái gì giống như thế chắc chắn phải xảy ra. Shoko Asahara đã không thể giải kiến và đã thua trắng trước các ý tưởng tận thế. Do đó ông ta phải tự mình tạo ra khủng hoảng. Nhãn quan tận thế của Shoko Asahara – với tư cách một nhân vật tôn giáo – đã bị một nhãn quan còn lớn hơn nữa đánh bại.

Tôi đã chật vật cố thỏa hiệp với các sự cố liên quan đến Aum này. Bất cứ khi nào có thể, tôi lại đến các phiên tòa xét xử. Nhưng khi nhìn và nghe Asahara ở tòa, tôi cảm thấy ông ta đang biến tôi thành thằng ngốc. Tôi thấy buồn nôn và thực sự đã nôn một lần. Một cảm giác buồn, ngán ngẩm. Đôi khi tôi nghĩ nó chả đáng gì mà xem nhưng tôi vẫn không sao rời mắt khỏi ông ta được. Bộ mặt Asahara hiện lên có lố lăng đến thế nào, tôi cũng đúng là không thể gạt được ông ta đi. Chúng ta không bao giờ nên quên, dù trong một thời gian ngắn, rằng cái con người tên là Shoko Asahara ấy đã hoạt động trong thế giới này, đã mang đến những sự kiện bi thảm này. Nếu không thể vượt qua "Sự cố Shinrikyo" ở bên trong mình, tôi không bao giờ có thể tiếp tục tiến lên được nữa.

1 Lysergic acid diethylamide: một loại ma túy tổng hợp gây ảo giác. [BT] 2 Mật thừa (Vajrayana) rất giống với Phật giáo thông thường; khác cốt yếu là nó cho những tín đồ của mình một "lối tắt" đến sự cứu rỗi thay vì đi theo con đường chậm như Phật giáo Đại thừa (Mahayana). Con đường ngắn hơn này cũng đã được một số người hiểu rằng không coi giết người là một tội ác cũng là một cách giúp cho sự giải thoát. [ND] 3 Đát đặc la là cách phiên âm Hán-Việt từ thuật ngữ tantra trong tiếng Phạn. Trong Phật giáo Tây Tạng, Đát đặc la là chỉ tất cả các kinh sách về nhiều ngành khác nhau, nhưng trong nghĩa hẹp, Đát đặc la chỉ tất cả các sách vở nói về phép tu thiền định của Mật thừa (còn gọi là Mật tông, Kim cương thừa…) và cũng được dùng để chỉ chính phép tu này. [BT] 4 Theo quan điểm của Phật giáo Tây Tạng, trước hết hành giả phải phát triển sự ổn định của nội tâm bằng các phương pháp Tiểu thừa. Sau đó là Đại thừa rồi mới được nhập môn thực hành các phương pháp của Mật thừa. [BT] 5 Hayao Miyazaki là một họa sĩ manga, một nhà làm phim hoạt hình và đạo diễn thành công. Các phim của ông gồm Nausicaa của Thung lũng Gió, Công chúa Mononoke và Porto Rosso. [ND] 6 Là một tông phái Phật giáo không chính thức đi theo triết học và giáo huấn của Nichiren, một nhà hiền triết và học giả Nhật Bản theo đạo Phật ở thế kỷ 13. Có hơn 10 triệu thành viên của Soka Gakkai ở Nhật và 76 tổ chức trên khắp thế giới làm nên Quốc tế Soka Gakkai. [ND] 7 The Bridge on the River Kwai là một phim vào hàng kinh điển về thế chiến II của đạo diễn David Lean dựa trên tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Pháp Pierre Boulle. Bộ phim xoay quanh chuyện xây dựng một trong những chiếc cầu trên sông Kwai của tuyến đường sắt Miến Điện để hỗ trợ chiến dịch xâm lược Miến Điện của quân Nhật. [BT] 8 Tiếng của vùng đảo miền Nam Nhật Bản chỉ một kiểu pháp sư. [ND] 9 Fumihiro Joyu là thành viên cấp cao và người phát ngôn của Aum Shinrikyo. Năm 1997, y bị kết án ba năm vì tội giả mạo và khai man; tháng Chạp năm 1999 y được thả và quay lại giáo phái. [ND] 10 Máy làm sạch Vũ trụ là thiết bị lọc khí do thành viên Aum thiết kế để cản phá các vụ tấn công bằng hơi độc, ngoài ra còn có một số chức năng khác. [ND] 11 Shingon (Chân Ngôn) là một phái Phật giáo lớn ở Nhật Bản, và là một nhánh của Phật giáo Kim cương thừa bên cạnh Phật giáo Tây Tạng. Kukai, còn gọi là Hoàng Pháp Đại sư, là hòa thượng, học giả, nghệ sĩ người Nhật đã sáng lập ra phái này. Núi Koya (Cao Dã Sơn) ở Osaka là tổng đàn của phái. Đền Koji (Đông Tự) ở Kyoto cũng thuộc phái này. [BT] 12 Shoko Asahara đã tiên đoán rằng lịch sử đang tập hợp động lực cho một tai họa khủng khiếp, thậm chí còn lớn hơn Thế chiến II. Hắn gọi đó là Trận Quyết chiến (Armageddon). [BT] 13 Tên thật của Shoko Asahara là Chizuo Matsumoto. [ND] 14 Nguyên bản: "vegetarian". Trong tiếng Anh, "vegeratian" được dùng để chỉ người ăn chay không ăn thịt gia súc, gia cầm, thủy sản nhưng vẫn có thể ăn các sản phẩm từ động vật như trứng, sữa… Phân biệt với "vegan" là người tuyệt đối không ăn bất cứ sản phẩm động vật nào, kể cả trứng, sữa, thậm chí một số còn không ăn mật ong hay mặc đồ có thành phần xuất xứ từ động vật. [BT] 15 Sau vụ đánh hơi độc mười một ngày, Takaji Kunimatsu, giám đốc Cảnh sát Tokyo bị một người không nhận dạng được bắt chết ở bên ngoài nhà ông, kẻ gây án đã đạp xe chạy thoát. [ND] 16 Ít ngày sau khi Takaji Kunimatsu bị giết, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Aum, Hideo Murai bị đâm chết. Ông ta có thể bị các thành viên Aum ám sát vì biết quá nhiều. [ND]

« Lùi
Tiến »