Người Chết Biết Điều Gì

Lượt đọc: 94265 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 8
những tên đồ tể với gương mặt trẻ thơ

Tôi là người vô thần, ít nhất là vô thần khi có ai đó đang nhìn tôi. Hay có thể nói tôi giống một con chiên sa ngã hoặc kẻ báng bổ Công giáo hơn, bởi tôi không thể chấp nhận quan niệm của nhà thờ về đồng tính, phụ nữ, tội tổ tông... và rất nhiều thứ tương tự. Có rất nhiều người trong số chúng ta như vậy. Tuy nhiên, tôi vẫn ghi nhớ một số giáo lý của nhà thờ, chẳng hạn như việc cấm nói dối cha mẹ hay đặt viên đá đầu tiên[*]. Tôi cũng chưa bao giờ quên sự khác nhau giữa tội ủy thác (những việc bạn đã làm) và tội thiếu sót (những việc bạn biết phải làm mà không làm), mặc dù đối với tôi tất cả những điều đó nghe có vẻ giống như một lỗ hổng trong giáo lý.

Tôi luôn tìm kiếm câu trả lời và rất muốn tin rằng có một trật tự nào đó cho mọi thứ, một mục đích cao cả mà tất cả chúng ta đều đang góp sức hoàn thành. Tôi cần thứ gì đó để tin tưởng, đó gần như là lý do tôi tìm thấy tư tưởng ở AA về một quyền lực tối cao hấp dẫn hơn thế nhiều. Thật yên tâm khi nghĩ rằng có ai đó ngoài vũ trụ đang dõi theo, một thực thể mơ hồ nhưng nhân từ, mạnh mẽ và thông tuệ hơn rất nhiều so với chính tôi hiện tại. Một người nào đó có kế hoạch diễn thuyết với chất giọng nam trung dịu dàng và dễ chịu như của Nat King Cole[*] vậy.

Sự yên tâm, đúng vậy, nhưng thật khó để có niềm tin, khi xác chết xuất hiện ở khắp mọi nơi, ngay cả trong những công viên đáng yêu của chúng ta cũng có. Tôi từng điều tra về vụ một phụ nữ bị đâm nhiều nhát qua cái túi ngủ của mình trong một căn lều nhỏ ở khu rừng thuộc công viên Trung tâm, hiện trường có rất nhiều lông vũ đẫm máu bay tứ tung khắp nơi, dính cả lên cây cối. Tôi không thể tản bộ lâu hơn qua rừng Bắc hoặc khu Rambles mà không suy ngẫm về việc có xác người được giấu đâu đó trong các đầm lầy. Thỉnh thoảng có những cái xác lộ thiên, thường là mấy gã nghiện ma túy ngồi trên ghế băng để hít thở bầu không khí ngọt ngào, ấm áp trong lúc phê pha và sau đó lặng lẽ sốc thuốc mà chết. Họ có thể ngồi đó chết hàng giờ đồng hồ, mặc những cư dân New York “chẳng phải việc của tôi” vẫn thản nhiên qua lại.

Ai đó đã gọi 911 để báo về một người đàn ông tự thiêu trên ghế băng ở công viên Morningside, vạt xanh ấn tượng nằm đối diện vách đá phiến dốc đứng của bãi đá cổ Manhattan schist, nơi đánh dấu biên giới giữa Morningside Heights và Harlem. Tôi đến ngay sau khi cảnh sát dập tắt đám cháy trên người anh ta bằng bình cứu hỏa, bởi tôi cũng đang ở gần đó để kiểm tra một cái tủ quần áo, nơi một người khác bị giam giữ và tra tấn trong một vụ bắt cóc đòi tiền chuộc. Người đàn ông trên băng ghế ở trong tư thế ngồi sụp xuống, đầu anh ta cúi sâu, trên tay trái cầm chiếc bật lửa Bic. Vùng đùi anh ta bị bỏng nặng, quần dài và cái áo jacket nylon đã cháy đen thành nhiều mảnh. Xác anh ta bị bao phủ một phần bởi thứ bột trắng từ bình cứu hỏa nên rất khó để nhìn thấy các vết bỏng. Tôi trộm nghĩ có lẽ nào người này chơi thuốc rồi vô tình tự thiêu chính mình. Chuyện như thế không phải chưa từng xảy ra trước đây. Thế nhưng có lẽ ngày hôm đó tôi đã hy vọng quá nhiều, chỉ là tôi không muốn tin rằng có ai lại cố tình phóng hỏa một người nào đó.

Tới giờ tôi đã làm việc được gần 5 năm. 5 năm với những vụ giết người, tự tử, tai nạn và cả tá thảm kịch phổ biến khác. Tôi mòn mỏi đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi. Sao trẻ em phải chết oan? Sao phụ nữ bị giết hại chỉ vì thú tiêu khiển của kẻ biến thái nào đó? Sao con người lại đói khát, khốn khổ và cô đơn?

Vì sao thế?

Chỉ một vài từ đơn giản, nhưng hàm chứa cả một thế giới đau thương, đầy hối tiếc và hỗn loạn. Tôi từng muốn được giải thoát khỏi sự chắc chắn, tìm niềm an ủi từ mục đích lớn lao. Tôi từng muốn tự tin mà nói rằng: “Mọi thứ xảy ra đều có lý do của nó.” Tôi từng muốn có những câu trả lời.

Nhưng công việc này đã không cho tôi thứ tôi muốn.

Một ngày tháng Năm năm 1997, tôi nhận cuộc gọi của Mende từ bộ phận liên lạc thông báo về một vụ mới. Như thường lệ, anh mở đầu bằng màn chào hỏi rườm rà: “Jorge Mendez từ Văn phòng Giám định Y khoa Thành phố New York gọi Điều tra viên Barbara Butcher. Có phải cô Butcher đang nghe máy đó không?”

“Vâng, là tôi, Mendie. Lại chuyện xúi quẩy nào thế?”

“Tôi có một vụ cho cô đây.”

“Vâng, vâng, tôi biết. Vụ đó ở đâu? Chuyện xảy ra như thế nào vậy?”

“Là cuộc gọi từ phân khu công viên Trung tâm. Người ta thấy một xác nam giới trong hồ. Có vẻ là giết người đó.”

“Được rồi, mất bao lâu để Đội điều tra hiện trường[*] tới nơi vậy?”

“Họ đang trên đường tới đó rồi. Cô có muốn tôi điều một lái xe tới đón không?”

“Vâng tốt quá, Mendie, anh gọi giúp tôi một lái xe và bảo người đó đi nhanh lên nhé.”

“Được thôi, tôi sẽ chuyển yêu cầu của cô tới lái xe. Tôi cũng sẽ in biên bản vụ việc cho cô. Thế nhé. Cảm ơn!”

Trong công việc, Mendie xử lý mọi thứ rất ổn, nhưng có vẻ anh ta đã học thuộc lòng toàn bộ giáo trình đào tạo của chúng tôi nên hành xử tỉ mỉ đến mức cứng nhắc. Ngay cả khi Mendie quên mất điều gì đó và gọi lại cho bạn trong vòng 30 giây, anh ta sẽ vẫn lặp lại toàn bộ chu trình giới thiệu tên họ và nơi công tác. Anh ta cũng là một người đàn ông ngọt ngào và đầy tự hào với công việc, nhưng điều đó đôi khi có thể làm bạn sôi máu.

Không mất quá nhiều thời gian để chúng tôi tới nơi cần đến. Thật tốt khi người đồng hành lần này của tôi là bác Wells bởi bác ít khi làm ca tối. Tôi nhớ bác lắm luôn.

“Cháu khỏe chứ, Barbara?”

“Dạ cháu khỏe, nhưng từ nửa đêm tới 8 giờ sáng là một thế giới khác biệt hoàn toàn. Điều tồi tệ thường xảy ra về đêm, bác nghe câu này chưa?”

“Bác hoàn toàn đồng ý. Đêm tối là lúc yêu ma quỷ quái lộng hành mà.”

Hai người chúng tôi đỗ xe ở đường bờ Tây gần lối vào Đường 70-2[*]. Trên đường tới cái hồ, tôi bắt gặp thám tử Hal đang theo dấu một vệt máu dài dọc lối ra đường lớn. Tôi biết anh từ khóa Hiện trường vụ án.

“Chào Barbara, khỏe chứ? Cô mau lại đây nhìn tất cả những giọt máu này đi. Chắc hẳn chúng rơi ra từ người hung thủ hoặc từ hung khí lúc hắn bỏ trốn. Cô thấy chúng có tính định hướng không? Máu hung thủ, cũng có thể là máu nạn nhân, hoặc cả hai người đó. Liệu tôi có nên cắt vài đoạn mặt đường ra để làm bằng chứng không nhỉ? Có lẽ vài mẫu là đủ?”

Tôi định trả lời thì chợt nhận ra anh ta chỉ đang nói một mình.

“Đúng vậy, tôi sẽ đánh dấu hiện trường này lại, chụp ảnh, lấy mẫu. Được đó, hợp lý.”

Hal thuộc kiểu nói nhanh và nghĩ gì nói nấy, điều khiến tôi rất thích các lớp học pháp y của anh. Hal là người đầu tiên cho tôi xem các giọt máu trông như thế nào khi bị tác động bởi chuyển động: máu nhỏ từ một người đứng yên sẽ có dạng tròn và có các giọt nhỏ xung quanh, máu từ người đang di chuyển sẽ có đỉnh nhọn và kéo về phía trước, theo hướng di chuyển của anh ta.

Bỏ lại Hal vẫn mải miết với dòng suy tư của mình, tôi tiến tới cái hồ và thấy thám tử của Đội tuần tra ban đêm cùng vài sĩ quan cảnh sát đang đứng trên một vọng lâu bằng gỗ. Hồ công viên Trung tâm là nơi lãng mạn nhất New York, địa điểm lý tưởng cho những đôi yêu nhau tới chèo thuyền hoặc cùng nhau tản bộ quanh mấy chỗ kín đáo. Cầu Bow Bridge bắc qua hồ cũng là địa điểm các cặp đôi hay tới để cầu hôn.

Vị thám tử chỉ vào một hình thù lớn màu trắng dập dềnh ở mép nước nông, trông nó giống như một chiếc thuyền bị lật.

“Anh chàng của cô đó Barbara. Tên khốn đáng thương bị cắt vụn và xẻ thịt. Cô gái nào đó, một đứa trẻ thì đúng hơn, đã gọi báo cho chúng tôi. Ngoài mọi người ở đây, những người còn lại đang ở nhà cô bé để lấy lời khai. Đội cứu hộ khẩn cấp đang tới, họ sẽ kéo nạn nhân lên và bố trí thêm ánh sáng cho chỗ này?”

Cô bé tội nghiệp, bất ngờ gặp phải xác người như thế, thật không dễ gì để bình tĩnh xử lý mọi chuyện.

Một sĩ quan chiếu đèn pin của mình vào khung cảnh kỳ lạ trước mặt chúng tôi. Nước và máu người hòa vào nhau thành màu đỏ gạch, ruột nạn nhân kéo từ cái bụng mở lớn ra ngoài, nổi lềnh phềnh giữa đám cỏ sậy. “Móc ruột” là một thuật ngữ kỹ thuật (và lịch sự) để nói về trường hợp này, nhưng nó không thể hiện được nỗi kinh hoàng khi thấy một thi thể đàn ông phơi ra đó như một thứ bày ra trên sạp hàng của người đồ tể. Tôi tới gần hơn một chút. Rìa các vết thương trong sạch sẽ, không bị rách chút nào, cho thấy anh ta bị tấn công bởi một con dao sắc lẹm. Chúng tôi sẽ phải đợi giám định pháp y để xác định được rõ hơn các đặc tính của hung khí. Ví dụ như có mũi quắm hay lưỡi thẳng, là dao găm hay bản rộng, rộng bao nhiêu, dài chừng nào... Ở chỗ này quá tối để nhìn rõ mọi thứ, vì thế tôi chụp một vài bức để xác lập hồ sơ vị trí nạn nhân và toàn cảnh hiện trường, trước khi kiểm tra xem Hal đã tìm thấy gì khác. Tôi sẽ làm các khám nghiệm sau khi đội cứu hộ hoàn thành phần việc nặng nhọc.

Khoảng 5 giờ 30 phút, mặt trời sớm mai bắt đầu ló rạng sau những tán cây sẫm màu. Khi tôi đang đứng đó, cả cái hồ dần sáng lên trong sắc cam hồng dịu, những gợn sóng lăn tăn lấp lánh dưới nắng sớm. Thật quá đáng làm sao, dưới ánh sáng vàng trong trẻo, cái xác nam giới nhợt nhạt bị xẻ thành nhiều mảnh đã làm hỏng toàn bộ khung cảnh tựa như bích họa ấy. Một cảnh phim bị làm lố, và tôi ý thức được vai trò của mình trong đó là gì. Một phụ nữ điềm tĩnh, tóc vàng hoe, với cái áo choàng nâu bên ngoài áo đen cổ lọ. Chẳng khác gì một cảnh cũ mèm và sáo rỗng, nhưng lại là thực tế. Đúng thế, tất cả những chuyện này đều quá đỗi chân thực.

Mộng tưởng vỡ vụn khi một tiếng động bất chợt báo cho tôi biết trong bụi rậm có thứ gì đó. Tôi huých nhẹ một cảnh sát và chỉ cho anh ta chỗ bán đảo nhỏ phía bên kia hồ. Việc một gã nào đó đang sục sạo trong bụi cây lúc 5 giờ 30 phút sáng có chút đáng ngờ, nhưng sau đó ánh đèn chớp nháy của máy ảnh cho chúng tôi biết đó chỉ là một tay phóng viên báo lá cải. (Phóng viên của tờ Thời báo New York thì thường không trốn chui lủi trong bụi cây như vậy.) Một trung sĩ phải miễn cưỡng đuổi anh ta đi chỗ khác, dù biết như vậy là tốn công vô ích. Sẽ thật tốt nếu bảo vệ được sự riêng tư của nạn nhân, nhưng tay phóng viên không can thiệp vào hiện trường vụ án, thế nên chúng tôi chẳng làm gì được anh ta.

Đội cứu hộ cẩn thận kéo xác người đàn ông lên khỏi mặt nước rồi đặt ông ta nằm trên bờ. Đến lúc này, tôi đã có thể thấy gương mặt nạn nhân, bộ ria mép màu đen nằm bên dưới cái mũi gần như đứt lìa, máu vón thành từng tảng trong miệng. Người này bị rạch cổ. Tôi chụp vài bức cận cảnh, đeo bao tay lên và bắt đầu kiểm tra, lập hồ sơ khám nghiệm. Ngón của một bên tay chỉ còn nối với cơ thể bằng những mảnh mô vụn, trong lòng bàn tay thì chằng chịt những vết rạch. Bàn tay còn lại gần như đứt lìa, treo lủng lẳng trên cổ tay. Những vết thương này có từ việc nạn nhân tự vệ bằng cách giơ tay lên đỡ lấy những nhát chém. Ông có thân hình to lớn và chắc hẳn hạ gục được người này chẳng phải việc dễ dàng. Người đàn ông tội nghiệp chắc đã đánh nhau dữ lắm. Ông ta bị đâm, chém và cắt khắp nơi, từ cánh tay tới ngực, lưng, bụng. Vết thương nhiều đến độ đếm không xuể.

Khi tôi ghé lại gần hơn cái bụng mở toang của người chết, mùi rượu bốc lên khiến tôi thoáng vui mừng. Thật tốt khi nghĩ rằng nạn nhân đã say khướt trong lúc bị tấn công, vì như thế có nghĩa ông đã không phải chịu quá nhiều đau đớn và sợ hãi. Nhưng tôi biết sự thật không đơn giản như vậy. Bạn sẽ tỉnh rượu rất nhanh trước cú sốc của cơn đau nhức nhối và bỏng rát như cắt dây thần kinh ập đến, và bạn phải chiến đấu để sinh tồn, theo đúng nghĩa đen. Tôi từng được một người bạn võ sĩ chia sẻ rằng khi ở trong trận chiến, “bộ não động vật” của bạn sẽ tiếp quản và cơn đau sẽ bị chặn lại để bạn không cảm nhận được gì, nhưng là một điều tra viên pháp y, tôi không biết về điều ấy. Tôi thoáng thấy nỗi kinh hoàng của người chết và phải gạt nó khỏi đầu mình để tiếp tục công việc.

Tôi kiểm tra thân nhiệt ông ta, so sánh nó với nhiệt độ của nước và không khí. Co cứng tử thi sẽ không chính xác bởi các bộ phận cơ thể đã được nâng lên và di chuyển bởi Đội cứu hộ khẩn cấp. Ông chết chưa được bao lâu, có thể chỉ mới vài giờ trước đó. Tôi có thể nói như thế bởi xác chết không giảm nhiệt nhiều mặc dù bị ngâm dưới nước. Tôi bọc bàn tay không nguyên vẹn của người chết lại và dán chặt chúng vào cẳng tay bởi băng dính chuyên dụng. Có thể tôi sẽ tìm thấy tóc hoặc thịt của ai đó dưới móng tay ông. Chúng tôi cũng tìm kiếm dưới nước và quanh bờ hồ xem có thấy thứ gì liên quan tới nạn nhân không, sau đó gom đống quần áo rách nát của người này lại. Mọi thứ đều là vật chứng, cho đến khi chúng không phải vật chứng nữa.

Trên đường trở ra, tôi bị chặn lại bởi một tay phóng viên. Anh ta hỏi tôi liệu có thể nói bất cứ điều gì về nạn nhân hoặc tình trạng của ông ấy hay không.

Mặc cho tôi đã nhã nhặn từ chối trả lời, anh ta vẫn bám riết: “Cô hãy nói bất cứ điều gì cũng được!”

Tôi nhớ tới điều Tiến sĩ Hirsch luôn nói: “Cách duy nhất để đối phó với một phóng viên là dùng cái mũ của bạn, hãy đội nó lên và đi thẳng.” Tôi liền làm như vậy. Thật mừng khi cuối cùng cũng thấy bác Wells đang đợi tôi trong xe.

Trong lúc đó, những thứ liên quan đến vụ án đang diễn ra cách đó vài dãy nhà, tại một tòa chung cư sang trọng ở Central Park West. The Majestic là một công trình kiến trúc kiểu Grand Art. Theo thời gian, nơi này tiếp đón cả tá cư dân nổi tiếng về lưu trú, trong đó có thể kể tới Fred Astaire[*] và Lucky Luciano[*]. Trong cái đêm định mệnh đó, cảnh sát đã nhận được hai cuộc gọi từ Majestic: một cuộc gọi cho 911 đến từ người thuê nhà trẻ tuổi, Daphne Abdela mới lên 15 tuổi, và một cuộc khác đến từ người gác cửa.

Thành phố New York vốn được biết đến với những người gác cửa – những người lính canh mặc đồng phục chịu trách nhiệm thông báo cho du khách, ký nhận các gói hàng và ngăn cả thế giới bên ngoài tòa nhà. Bạn có thể giữ bí mật với bạn đời của mình, nhưng không thể giấu bất cứ điều gì khỏi những người đàn ông (và một số phụ nữ) đảm nhiệm công việc đó. Chính người gác cửa ban đêm đã báo cảnh sát về việc cô Abdela người đầy máu và một người nam giới trẻ tuổi tên Christopher đã đến một phòng tiện ích nằm phía sau tòa nhà để gột rửa sạch sẽ.

Kết quả là cảnh sát tìm thấy cả hai khi chúng đang cố rửa sạch những vết máu trên người, mà theo lời chúng là từ một tai nạn trượt patin ở công viên Trung tâm. Không mất quá nhiều thời gian để các thám tử chỉ ra lỗ hổng trong khẩu cung của hai thanh niên, từ đó sự thật được tiết lộ.

Nạn nhân là Michael McMorrow 44 tuổi, ông này đã gặp Daphne ở hồ, trong một chương trình phục hồi cai nghiện. Là một người vui vẻ và ham chè chén say sưa, McMorrow có sở thích tụ tập trong công viên vào chiều tối, địa điểm thường là Strawberry Fields, khu đất nhỏ được dành để tưởng nhớ John Lennon. Vào ban ngày, khu đó đầy khách tham quan và người hâm mộ tới thắp nến cũng như để lại hoa tưởng niệm người nhạc sĩ quá cố. Nhưng điều này thay đổi khi hoàng hôn buông, giống như nhiều thứ khác cũng vậy. Daphne và bạn của cô ta Christopher Vasquez cũng đến Strawberry Fields đêm đó, chúng tình cờ gặp một vài khách quen của công viên, một đám thanh niên trượt patin và một nhóm khoảng 8 người lớn đang cùng nhau uống rượu và nghe đài. Daphne mang theo một ít Heineken và có vẻ cô ta rất nhiệt tình chia sẻ nó với cả nhóm. “Nàng tiên bia”, tờ New York Times hẳn sẽ ví von như vậy. Khi đưa chai rượu cho người đàn ông trung niên với thân hình to lớn ấy, cô ấy nhận ra ông ta tới từ chương trình phục hồi cai nghiện. Họ bắt đầu nói chuyện, và chẳng mấy chốc McMorrow theo bọn trẻ vào sâu hơn trong công viên, rời xa đám đông.

Không ai biết được cả ba đã nói những gì. Không ai biết điều gì đã khiêu khích kẻ thủ ác, chỉ biết rằng Daphne, kẻ luôn tỏ vẻ cau có, đã nói với mọi người: “Trước khi ngày hôm nay kết thúc, tao sẽ giết một người.” “Cắt thành từng lát mỏng” là từ cô ta đã sử dụng. Trước khi dẫn người đàn ông chẳng mấy chốc đã phải chết đến hồ nước, rõ ràng cô ta đã thách đấu với những người khác trong công viên. Daphne thừa nhận có mặt tại hiện trường vụ án, cô ta đã đá vào chân McMorrow từ bên dưới và khiêu khích những hành động của Christopher, thậm chí còn ra lệnh cho cậu ta moi ruột người bị hại.

“Ông ta béo ú.” Daphne đã khai như vậy. “Ông ta sẽ chìm nghỉm thôi.”

Tuy nhiên cô ta phủ nhận việc tham gia vào vụ giết người.

Khó có thể tin Christopher và Daphne là một cặp. Daphne là con gái của một người mẫu gốc Pháp và một giám đốc gốc Israel. Cặp vợ chồng giàu có nhận nuôi Daphne từ khi còn là một đứa trẻ đỏ hỏn, nhưng cô ta lại lớn lên thành một cô nàng rắc rối. Là một người nghiện rượu nặng ở tuổi 15, Daphne đã từng tham gia chương trình cai nghiện và tất cả các liệu pháp có thể mua được bằng tiền. Christopher Vasquez thì sống trong một khu phố giản dị ở Upper East Side. Cậu này là một cậu bé giúp lễ[*] và có sở thích tìm nhà cho những chú chó hoang. Hàng xóm chia sẻ rằng cậu ta là người ít nói, thường xuyên phiền muộn và vô cùng gần gũi với mẹ – người từng là thư ký của một trường học.

Vậy thì trong trường hợp này kẻ nào phải chịu trách nhiệm? Con gái nhà triệu phú hay đứa trẻ thuộc tầng lớp lao động đây? Daphne nói rằng Christopher phụ trách phần giết người. Christopher thì khẳng định đó là Daphne. Một ca “anh ta nói, cô ta nói” điển hình.

Tôi chưa từng gặp Daphne, nhưng tôi đã gặp qua Christopher, thám tử trưởng đã gọi điện yêu cầu tôi đến tác nghiệp trong khi họ nhận lệnh từ tòa án để lấy mẫu máu của cậu ta. Hai chúng tôi cùng ngồi trong phòng tiểu đội. Tôi thì yên lặng chờ đợi, còn Christopher nhìn quanh, một “cậu bé sợ sệt” giống như vẻ bề ngoài của cậu ta bấy giờ. Một đứa trẻ gầy gò, nhẹ cân với khuôn mặt trẻ thơ và đôi má có lông tơ màu hồng đào, trông không giống kẻ gây ra một vụ giết người tàn ác. Lúc này đây, tôi rõ hơn ai hết là không nên tin người nào đó có thể “trông giống” một kẻ giết người. Dù vậy, đó là suy nghĩ đầu tiên của tôi khi nhìn thấy Christopher. Rằng cậu ta trông không phải loại như vậy.

Chúng tôi đang đợi lệnh từ tòa án thì Christopher gọi một sĩ quan lại và nói: “Cháu đói”

Tôi cảm thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc xương sống khi cậu ta đưa ra yêu cầu với viên cảnh sát: “Cháu muốn bánh mì kẹp thịt, làm ơn. Với thịt chín tái và thêm sốt cà chua nhé.”

Tôi trao đổi với Christopher cùng thái độ lịch sự, như tôi đã làm với tất cả những kẻ tình nghi khác. Tôi giải thích những gì mình sẽ làm, cách tôi sẽ lấy máu cậu ta. Có lẽ tôi đã hơi mỉm cười, một phản ứng bảo vệ bản năng để trấn an một đứa trẻ. Đối diện tôi là khuôn mặt của một cậu bé giúp lễ, một cậu bé giúp lễ theo nghĩa đen. Đột nhiên, đôi bàn tay nát bấy của Michael McMorrow lóe lên trong tâm trí khiến tôi nhất thời bối rối, rốt cuộc ai mới là người cần được bảo vệ? Tôi tự xốc lại tinh thần và hỏi Christopher liệu tôi có thể tiếp tục công việc. Cậu ta gật đầu, nói không sao, rồi kéo chiếc mũ bóng chày xuống che mắt. Tôi tự hỏi việc thấy máu chính mình liệu có làm cậu ta khó chịu không?

Khi vụ việc được đưa ra phiên tòa xét xử, tôi được gọi tới để làm nhân chứng bên nguyên. Tôi ở đó để nói về các sắc màu tôi đã thấy, có lẽ vậy, để mô tả lại cảnh tượng kinh dị đã diễn ra ở góc nhỏ xinh xắn của công viên. Theo yêu cầu của công tố viên quận, tôi nhắc lại lời Christopher cho bồi thẩm đoàn, những lời khi cậu ta yêu cầu về bữa ăn hôm đó. Christopher ngước nhìn tôi trên bục nhân chứng, vẻ mặt bối rối như muốn nói: “Chuyện đó có gì sai?”

Đó là một phiên tòa không ồn ào, bất chấp việc giới truyền thông sục sôi với câu chuyện gốc – người dân New York phẫn nộ về một vụ giết người ở công viên Trung tâm và hoang mang về việc thủ phạm là trẻ em. Báo chí hào hứng giật những cái tít: “Đồ tể có khuôn mặt trẻ thơ”, “Những mảnh đời đan xen trong thế giới ẩn của công viên Trung tâm”.

Cha của Daphne thuê Benjamin Brafman, vị luật sư từng biện hộ cho Michael Jackson làm đại diện pháp lý cho cô ả. Daphne đã thỏa thuận nhận tội, và được phán quyết tội ngộ sát cấp độ một.

Cô ta thú tội trước tòa như sau: “Tôi đã sai khi tới công viên vào buổi tối. Tôi đã sai khi uống rượu mà chưa đủ tuổi thành niên, và những hành động tôi đã thừa nhận thực hiện là sai trái. Tôi ao ước biết bao rằng mình có thể quay lại quá khứ, nhưng tôi cũng đang giải quyết các tình huống theo cách tốt nhất hiện giờ.”

Liệu đó có thật là một tội thiếu sót không?

Trước khi vụ án xảy ra, Daphne thỉnh thoảng tham gia các cuộc gặp mặt của AA ở tầng trệt của Hiệp hội Thanh niên Cơ Đốc (YMCA) nằm trên Đường 63 bờ Tây. Tôi cũng từng tới đó. Điều này không làm tôi ngạc nhiên, chúng tôi là một mớ hổ lốn những thành phần khác nhau, từ bệnh nhân tâm thần tới bác sĩ tâm thần đều có đủ. Có thể lúc nào đó hai chúng tôi đã lướt qua nhau, nhưng có lẽ tôi sẽ không nhớ ra cô ta dù đã từng gặp. Đó chỉ là một cô bé mới lớn như bao đứa trẻ khác, đầy lo lắng và phẫn nộ, muốn trở thành một ai đó khác, và chọn uống rượu để vượt qua nỗi buồn.

Trước khi tuyên án, không bị cáo nào tỏ ra ăn năn hối lỗi ngoài những lời quanh co mà chúng đưa ra, Christopher lấy giọng điệu “tôi thật tội nghiệp với sự xui xẻo của mình”. Việc Daphne lặp đi lặp lại khẳng định rằng mình đã làm hồi sức tim phổi để cứu Michael, có thể chỉ là sự thừa nhận tội lỗi nhỏ nhất nếu việc đó có thật, nhưng như thế là vô nghĩa. Với chiếc mũi đứt lìa chỉ còn treo lủng lẳng và máu tuôn ra khắp mặt và miệng nạn nhân, hồi sức tim phổi sẽ là một nhiệm vụ khó nhằn.

Tôi thấy buồn vì hành động của những đứa trẻ này không bao giờ được giải thích, rằng không có lý do nào được đưa ra, không điều gì có thể giúp chúng tôi hiểu được những hành vi đó. Những vụ án không thể lý giải được “tại sao”. Đó chỉ có thể là ma quỷ, và hiểu theo cách này càng khiến mọi việc trở nên đáng sợ hơn. Tôi ghét phải thừa nhận điều này, nhưng cái ác đã xảy ra một cách vô nghĩa. Nó chỉ đơn giản là một sức mạnh với mục đích duy nhất là hủy diệt mà thôi. Tôi không thích dùng từ này, nhưng đôi khi câu trả lời duy nhất là chấp nhận cái ác vẫn luôn tồn tại. Nếu không thì điều gì có thể giải thích cho việc những cậu bé 12, 13 tuổi phóng hỏa giết người đàn ông ở Công viên Morningside, và tuyên bố rằng chúng đẩy một người tới cái chết chỉ vì “không có gì làm vào đêm hôm đó”? Và điều gì khác có thể giải thích cho Daphne và Christopher, hai đứa trẻ đã tấn công dã man một người đàn ông... khi chúng đang trượt patin?

« Lùi
Tiến »