Người Chết Biết Điều Gì

Lượt đọc: 94266 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 9
thành phố khác

Tôi từng có thời gian làm việc khá dài ở khu Lower East Side, nơi mọi người hoặc rất trẻ, hoặc rất già, hoặc vô cùng nghèo – khổ. Thành phố Alphabet – hay như một số người gọi là Loisaida để vinh danh những người Puerto Rican đầu tiên tới nơi đây định cư vẫn còn lưu giữ lại những tàn tích từ gốc gác Đông Âu của nó. Ngày nay ở gần khu Chinatown, những người nhập cư thường chen chúc từng nhóm 8 người trong một phòng, mỗi phòng lại gắn thêm giường tầng cho tiết kiệm diện tích. Một vài người mắc võng giữa các cột giường, vậy là dồn thêm được hai hoặc nhiều người hơn nữa. Người sống ở khu đó làm việc 16 tiếng mỗi ngày với những công việc như bồi bàn hay rửa bát thuê cho các quán ăn địa phương, họ chắt chiu từng xu lẻ để đưa thành viên tiếp theo của gia đình cùng tới đó. Đức hy sinh này đã làm tôi kinh ngạc bởi nơi đây trước nay vốn luôn là vùng đất của chủ nghĩa cá nhân. Tôi thấy ghen tị với mục đích rõ ràng, sự vô tư cống hiến hết mình để giúp đỡ người khác của họ. Đó là thứ tôi cũng muốn có cho bản thân mình. Ở khu Little Italy cũng từng xảy ra tình trạng tương tự, nhưng những người nhập cư ở đó đã định cư thành công, và rồi họ chuyển tới Staten Island, New Jersey, hoặc những vùng ngoại ô của Long Island. Khi họ rời đi, các chuyên gia trẻ tuổi chuyển tới và khu vực lân cận bị thu hẹp lại, một phần diện tích của nơi đó được giao bán trên thị trường với cái tên “Nolita”, gọi tắt của “North of Little Italy” – tức là phía Bắc của nước Ý thu nhỏ trong lòng nước Mỹ. Các cuốn cẩm nang du lịch thì mô tả nó với những từ ngữ mỹ miều: “Một khu vực cao cấp, quyến rũ với phong cách thời thượng.”

Tôi trầm ngâm suy nghĩ về những biến thiên của nơi đây trong dòng chảy lịch sử khi đang đỗ xe trước cửa hàng Ray's trên phố Prince để mua cho mình một miếng bánh và một lon Coke. Đúng lúc này thì bộ đàm réo ầm lên, và theo sau là giọng Charlene thông báo cho tôi về một trường hợp trên phố Rivington, có vẻ là dùng thuốc quá liều.

“Chết tiệt, Charlie, tôi đang dùng bữa. Như thế là tệ cho tiêu hóa lắm đấy nhé!”

“Cô không cần vội đâu, Barbara, cô biết là anh ta đâu thể rời đi nơi khác được nữa.” Cô nàng cười khúc khích với trò đùa của mình trước khi đưa cho tôi địa chỉ.

Bác Wells cũng cười vang. “Tuyệt, bởi giờ bác phải đi rửa ráy đây!”

Bác ấy học được cụm từ này từ khi tôi nói với bác “đi rửa ráy” có nghĩa là đi tiểu.

Chúng tôi tới một tòa nhà của người nhập cư bất hợp pháp, gần như bỏ hoang, với mỗi cửa sổ được bít lại bởi những khối xỉ và một sợi xích nặng vòng qua hai lỗ ở cửa trước. Tôi đã từng thấy tình huống như thế này trước đây, khi những người vô gia cư lang thang trên phố đã tìm đường vào một căn nhà bỏ hoang và dựng trại trong đó. Họ ăn cắp điện từ ConEd bằng cách đấu dây vào chân các cột đèn tín hiệu. Họ cũng có thể đã bán các ống đồng của tòa nhà để cứu cánh (nếu không có ai khác nẫng tay trên từ trước rồi), vì thế để có nước uống, họ sẽ dùng xô hứng nước từ vòi cứu hỏa hoặc chậu rửa ở phía sau một cửa hàng rượu vang. Một số người nhập cư bất hợp pháp ở khu East Village tập hợp lại thành các cộng đồng, ở đó họ chia sẻ trách nhiệm về việc vận chuyển nước và lục lọi thùng rác để tìm đồ thừa từ các nhà hàng. Người nhập cư ở những vùng trung tâm khác thì sống theo kiểu “vô pháp vô thiên”, ai biết việc người nấy. Từ lâu tôi đã hứng thú với việc người ta chết như thế nào, nhưng tôi lại nóng lòng muốn tìm hiểu cách những người nhập cư này duy trì sự sống. Họ làm thế nào để giữ ấm vào mùa đông? Họ giải quyết nhu cầu vệ sinh cá nhân ở đâu? Họ có thân thiện với những người nhập cư khác? Họ có hẹn hò không? Tôi không bao giờ có cơ hội được hỏi, bởi hễ thấy cảnh sát là họ tản đi ngay.

Một sĩ quan dẫn tôi vòng ra phía sau, qua một con hẻm hẹp đến một cửa sập bằng gỗ có tựa để mở. Anh rọi đèn pin vào khoảng trống rộng khoảng nửa mét vuông, để lộ ra một khoảng không nhét đầy rác, rác sặc sỡ đủ màu và trộn thành một mớ bòng bong như những chùm hoa giấy. Những chiếc cốc nhựa màu đỏ tươi, những hộp spaghetti màu xanh quý tộc, cả hộp đựng đồ mang đi màu trắng toát... Chúng đều là rác, nhưng đẹp đến bất ngờ. Thật đúng là “nghệ thuật” có thể được tìm thấy ở bất cứ nơi nào.

Tôi phải bò vào trong để tới chỗ người đàn ông gầy gò mặc áo khoác xanh đang nằm trên đống gỗ, đôi mắt nâu của anh ta đờ đẫn nhìn chằm chằm vào xà nhà. Một lớp bọt màu trắng đã khô bám quanh mũi và miệng người chết, là bọt phổi do dùng thuốc quá liều. Chiếc garo cao su vẫn còn buộc quanh tay anh ta, nhưng ống tiêm đã chẳng thấy đâu nữa – xi lanh, kim tiêm và mồi giả. Chẳng có gì lạ để đoán rằng người nào đó quanh đây đã lấy đi những thứ ấy. Tôi từng chứng kiến mấy người nghiện vội vã chạy đi mua cùng một loại heroin mà bạn họ vừa chơi quá liều. Hẳn là một kiểu tư duy kỳ cục rằng: Thuốc đó phải là hàng tốt lắm thì mới giết được anh ta.

Cánh tay và chân anh ta chi chít những vết kim tiêm. Có lẽ giữa các ngón tay cũng vậy, chỉ là tôi chẳng thể chứng thực được nữa vì lũ chuột đã rỉa sạch thịt trên bàn tay người này rồi. Tôi kể cho người cảnh sát đi cùng mình về trường hợp gần đây tôi gặp về một cái xác khỏa thân bị chuột ăn sạch nội tạng, nhưng ngón tay và mặt mũi lại còn nguyên. Anh cho tôi hay có thể bởi thời tiết băng giá vào thời điểm nạn nhân chết, nên thay vì gặm nhấm bên ngoài như trường hợp trước mặt chúng tôi đây, những con chuột sẽ chui vào trong lồng ngực ấm áp, nơi chúng có thể thoải mái ăn uống mà không lo lắng về nhiệt độ bên ngoài.

Chúng tôi ngồi chồm hổm trên đống rác và thảo luận về cuộc sống của loài chuột. Tôi cũng hỏi anh liệu có nhận ra những thứ rác đầy màu sắc quanh chúng tôi trông có nét hấp dẫn riêng không.

“Không, tôi chẳng thể thấy như thế chút nào. Đó đơn thuần là rác.” Anh ta nói.

Nhưng cách đánh giá sự vật, sự việc của tôi đã thay đổi kể từ khi xem cận cảnh những bức họa ở Đại lộ 5 đó. Trên thực tế, nó đã thay đổi trước đó rồi, nhờ vào vị nữ bác sĩ pháp y, người từ những ngày đầu trong quá trình đào tạo của tôi đã bảo tôi phải tìm kiếm cái đẹp. Cô có thể không nghĩ đến điều này, nhưng tôi đã trở nên giỏi trong việc tìm kiếm vẻ đẹp ở những nơi đổ nát. Điều đó mang lại niềm vui và mở rộng thế giới của tôi, giúp tôi nhận thức về những cuộc đời khác.

Giống hầu hết người dân New York, tôi sống trong một căn hộ cao tầng, không biết gì về một thành phố ở sâu bên dưới, nơi những cư dân sống chui lủi như loài chuột chũi dưới lòng đất vậy. Nhưng có cả một thế giới ở dưới đó. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó bên dưới Ga đường sắt bờ Tây khi chúng tôi nhận được cuộc gọi từ Rob, một thám tử ở Midtown South, người đang chịu trách nhiệm cho nhóm tìm kiếm một bộ xương trong hang động. Tất nhiên, tôi liền xung phong tham gia cùng. Không có gì thú vị hơn một cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn[*]. Chúng tôi gặp nhau bên ngoài một đường hầm Amstrak[*] bỏ hoang gần Đại lộ 10 ở khu Tây 30, khi đang lách qua hàng rào dây xích đã đứt gãy nhiều đoạn để nhập bọn với một hội mấy nhân viên tuần tra, hai thám tử và một phụ nữ nhỏ nhắn, rất xinh đẹp đứng ở giữa. Trông cô nàng khoảng 21 tuổi, tóc đẹp, quần áo đẹp, và nụ cười biết nói. “Barbara, đây là Jessica. Cô ấy sẽ dẫn đường cho chúng ta tới chỗ một nạn nhân bị sát hại trong hang động.”

Đội cứu hộ khẩn cấp đã tới trước đó, họ mang theo đèn và dẫn chúng tôi băng qua đường ray vào một hang sâu bằng đá đen, với những vách đá nhô ra và đá ngầm cắt thành cạnh phẳng. Những anh chàng cứu hộ khẩn cấp chính là MacGyver[*] của sở cảnh sát. Họ là các siêu chuyên gia của NYPD, được tập hợp lại để thực hiện các nhiệm vụ cứu nạn đòi hỏi nhiều kỹ thuật và chiến thuật, cũng như các hoạt động đặc biệt khác. Họ có thể bố trí trang thiết bị, hoặc đưa ra giải pháp cho các vấn đề kỳ lạ nhất chỉ trong nháy mắt. Những công việc kiểu như đu dây để cứu một ai đó mắc kẹt trên nóc cầu Brooklyn Bridge, hoặc lặn tìm vũ khí bị phi tang dưới lòng sông Đông chẳng hạn. Họ đều là những anh chàng có vóc người cân đối và gợi cảm, phong thái tự tin, thoải mái cùng bờ vai rộng và nụ cười dễ mến. Tôi cảm thấy dễ chịu khi ở cùng những người này, thứ cảm giác an toàn khi biết rõ lỡ như những tảng đá trong động có bất chợt rơi xuống, họ sẽ chẳng ngần ngại bước ra chắn trước mặt để bảo vệ cho mình. Họ làm như thế không phải để khoe mẽ ra oai, mà chỉ đơn thuần là bảo vệ một người bạn.

Sau khi vào trong hang, ánh đèn pha của đội cứu hộ chiếu sáng những viên đá xám và đen lấp lánh xung quanh chúng tôi. Bãi đá cổ Manhattan schist, nền tảng của hòn đảo. Những đường hầm và hành lang ở đây dẫn theo các lối khác nhau. Chúng tôi chọn lối đi chính dẫn thẳng vào sâu hơn trong trung tâm của Manhattan. Trong lúc đó, Rob đã kể cho tôi câu chuyện bằng cách nào chúng tôi có chuyến thám hiểm này cùng Jessica.

“Jessica là dân chuyên, một người giỏi thực sự, xét về mọi mặt đấy. Cô ta du lịch khắp nơi cùng mấy tay cao thủ. Cô nàng thậm chí còn nói được tiếng Nhật và từng làm việc ở Tokyo một thời gian. Jessica bị bắt trong cuộc đột kích vào căn hộ của một tên khốn giàu nứt vách. Tay này buôn cocain, và cô ả bị bắt quả tang khi trên tay vẫn đang cầm chiếc túi chứa tang vật. Ngay tại đó, cô nàng nói với Danny rằng mình có thông tin về một vụ giết người, và có thể chỉ điểm cho anh ta về cái xác và mọi thứ liên quan tới nó. Cô biết không, thỏa thuận thành công!”

Rob hất đầu về phía Danny, một thám tử có vẻ ngoài điển trai đang nắm tay Jessica, hai người họ đi phía trước chúng tôi. “Họ lẽ ra phải là một cặp dễ thương!”

Khi đường hầm trở nên hẹp lại, tôi dừng lại trước một căn phòng – một cái hang hình tròn thụt vào trong vách đá và có trần cao cỡ ba nhân ba mét. Căn phòng được thắp sáng bởi những ngọn nến và được bày biện tươm tất. Trong bóng tối chập chờn, chúng tôi thấy một chiếc giường hẹp cùng chiếc chăn lông vịt kẻ ô màu vàng, một chiếc ghế thư giãn nhồi bông, cùng một giá sách xập xệ bày kín những cuốn sách bìa mềm. Dựa trên một gờ đá nhỏ là một tờ quảng cáo rượu vang con mèo đen Dubonnet đã được đóng khung. Tôi cũng từng có một tấm áp phích giống như thế.

“Không biết chủ của nơi này đâu rồi. Sẽ thật thú vị nếu chúng ta được gặp những người sống ở đây!”

“Không có cơ hội đó đâu.” Rob trả lời tôi. “Họ chạy tán loạn khi thấy chúng ta. Tất cả mọi thứ ở đây thuộc sở hữu của Amstrak. Vậy nên họ bị đuổi đi, và những ai ở lại sẽ bị bắt vì tội xâm phạm.”

“Tệ nhỉ! Trông đâu có vẻ như họ làm hư hại thứ gì.”

“Đúng vậy, với tôi thì họ cũng chẳng gây rắc rối gì đáng kể. Người ta nói có khoảng 2000 người sống dưới này, bên trong các hang động và đường hầm. Một số những người đó sống chui lủi như loài chuột, một số khác tự thiết kế những ngôi nhà xinh xắn cho chính mình.”

Tiến sâu vào trong, tôi được thấy thêm hai “căn phòng” khác nữa, dù không đẹp như căn đầu tiên, nhưng tiện ích đủ dùng: một chồng chăn trên sàn, một cái bàn gấp và một vài hộp đồ đạc. Một trong số đó có thêm một cuốn lịch, bên trên đánh dấu ngày tháng. Chủ nhân nơi ấy đang chờ đợi điều gì?

Cuối cùng, chúng tôi dừng bước trước một căn phòng lớn nằm ở trung tâm, nơi đó trông giống một khu sinh hoạt chung.

Khi Đội cứu hộ khẩn cấp đang thắt dây đai an toàn để leo lên mỏm đá, tôi bắt chuyện với Jessica. “Cô đến từ đâu?”

“Từ khắp nơi.” Cô nói với một cái nhún vai và nụ cười nhẹ.

“Tôi thấy cô nói tiếng Nhật. Ngôn ngữ ấy khó lắm à?”

“Không quá khó nếu cô đắm chìm trong nó. Tôi từng sống ở đất nước ấy một thời gian và gặp rất nhiều người không thể nói tiếng Anh, vì thế tôi buộc phải học thôi.”

Jessica rất thu hút, với kiểu quyến rũ đến từ sự tập trung cao độ vào người đối diện. Cô ta nói một chút về cuộc sống ở Nhật, rằng ở khu Ginza có những khu mua sắm và câu lạc bộ thú vị hơn hầu hết các thành phố của Mỹ – trừ New York ra. Ở New York thì thứ gì cũng tuyệt.

Tôi không thể nào hiểu được cô nàng. Người phụ nữ này thông minh, hoạt bát và xinh đẹp theo bất cứ tiêu chuẩn nào. Cô ta có thể làm mọi thứ, có thể là mọi thứ. Điều gì đã xảy ra để mang cô tới đây, ở cùng chúng tôi, trong cái hang động u ám này? Điều gì khiến cô thành gái mại dâm? Cuộc sống đó đầy khó khăn và rủi ro, thậm chí với cả gái mại dâm cao cấp – những người dẫn đầu ngành công nghiệp ấy.

Danny bị Jessica hớp hồn, và cô nàng biết điều đó. Cô làm việc đó rất giỏi là đằng khác, đẩy đưa một chút với anh ta, mỉm cười, nói năng nhỏ nhẹ khiến anh chàng phải chú ý tới mình.

Khi Jessica hỏi xin Danny một điếu xì gà, cô nhìn thẳng vào mắt anh ta khi anh châm lửa. Vô cùng hiệu quả.

Cô nàng dẫn đường cho chúng tôi, ngang qua những đống lửa trại đã tắt được bao quanh bởi một vài thùng sữa bằng nhựa, một đống rác, những chai rượu rỗng dựa vào tường và những hộp đồ ăn. “Đây rồi!” Cuối cùng cô nói. “Tôi đã dự tiệc ở đây. Xương được giấu khắp nơi, trên các gò đất và đằng sau những góc đó.”

Đội cứu hộ khẩn cấp nhanh chóng phát hiện ra một bộ xương ức và nhiều xương sườn. Bộ xương ức có một cái lỗ hoàn hảo ở trung tâm và những vết khía hình chữ V xếp xung quanh. Đó là lần đầu tiên tôi thấy một thứ như vậy, tôi hỏi lớn xem liệu có lỗ đạn ở khu trung tâm không, điều đó khiến mọi người thích thú. Có vẻ chúng tôi đã không dấn thân vào một cuộc tìm kiếm vô vọng. Trên một mỏm đá cao, chúng tôi tìm thấy một số xương dài, bao gồm cả xương đùi loại dày nhất mà tôi từng thấy. Liệu đó có phải là xương của một người đô con với một vài dị dạng cơ thể? Tôi vẫn còn khá non trong công việc, có lẽ tôi nên gọi cho nhà nhân chủng học. Những chiếc xương này trông không “đúng” chút nào.

Jessica quay lại nhìn Danny và mỉm cười ngọt ngào. “Tôi cần đi vệ sinh, nhịn không nổi nữa rồi.” Sau đó cô ả chỉ vào hành lang bên cạnh và nói: “Tôi qua đó nhé.” Anh ta dẫn cô đi, và Jessica bước qua một góc trong đó. Về phần mình, tôi bắt tay vào việc cùng đội cứu hộ, chụp ảnh và thu thập bất cứ mẩu xương nào chúng tôi có thể tìm thấy, và đặt chúng trên một tấm bạt nhựa màu vàng.

Một lát sau, tôi nghe thấy Danny nổ súng.

“Dừng lại ngay! Quay lại đây! Mẹ kiếp!” Anh hét lên và biến mất sau hành lang, hai sĩ quan khác theo ngay phía sau.

Họ không quay trở lại, và sau đó tôi biết được Jessica đã đề nghị Danny quay lưng lại để cô ta có chút riêng tư, và, bởi luôn là một quý ông lịch thiệp, anh đã làm như vậy. Jessica biết rõ lối đi trong đường hầm và trốn thoát dễ dàng, nhưng cô nàng bị tìm thấy ba ngày sau, cùng với khách hàng của cô ở nhà nghỉ Travel Inn trên Đại lộ 10. Danny tội nghiệp nhận kỷ luật, và tôi thì phát ngại khi nhận được kết quả về bộ xương người to lớn dị dạng mà chúng tôi tìm được trong hang hóa ra lại là của một con bê. Vì chuyện này, tôi đã phải chịu đựng những lời trêu chọc hết sức vô duyên trong một thời gian, chẳng hạn kiểu: “Sao đồ tể (Butcher) lại không nhận ra một con bò khi thấy nó nhỉ?”

Tôi đã khám phá những hang động khác bên dưới thành phố, bao gồm cả những cái phía gần Giáo hội Trưởng lão[*] Columbia trên sông Hudson, nơi tôi từng xử lý một vài ca giết người ngày trước. Tôi nghe nói cư dân ở đó thô lỗ lơn, ít người có giá sách, nến và áp phích cổ điển. Dù vậy, họ vẫn có một nơi để ở, một chốn nương náu khỏi thế giới bên ngoài. Không giống như trường hợp của rất nhiều người vô gia cư khác trên toàn thành phố, một vài người tới đó do bất hạnh, như mất việc làm, hỏa hoạn, hoặc một khủng hoảng sức khỏe đã ngốn sạch mạng lưới an toàn[*] của họ. (Và hãy thẳng thắn đối diện với điều này, rất nhiều người sống theo kiểu “kiếm đồng nào, tiêu đồng nấy” mà chẳng có mạng lưới an toàn nào cả.) Những người khác thì đang phải đối mặt với bệnh tâm thần hoặc nghiện ngập, không thể đương đầu với việc nỗ lực duy trì một công việc hay giữ một căn nhà.

Cuộc sống này không dễ dàng, và đôi khi chỉ cần một lần vấp ngã là bạn đã rơi xuống vực thẳm. Quá nhiều người không thể vực dậy được. Khi còn thanh niên, tôi tình cờ nghe được những người hàng xóm ngồi lê đôi mách bên bàn trà trong căn bếp của mẹ tôi bằng tiếng Đan Mạch.

Anh ta là đồ ăn bám, chính thế. Anh ta lẽ ra đã có việc làm nếu anh ta muốn. Chỉ là anh ta lười biếng thôi.

Tôi chẳng rõ, Gail à, có thể anh ta có vấn đề về đầu óc từ hồi ở Việt Nam. Người ta vẫn hay nói về mấy gã bị “sốc vỏ đạn” (PTSD) đó.

Thế thì nên đi khám chứ. Dây thần kinh của tôi bị ngắn hơn so với bình thường, nhưng bà đâu thấy tôi ngồi ở bến xe buýt như một con ma cà bông phải không nào.

Thật dễ dàng để đồng tình với những người phụ nữ đó. Ít nhất thì tôi sẽ không phải thương cảm cho bất hạnh của người khác. Tôi đoán ở một khía cạnh nào đó họ cũng sợ hãi như tôi mà thôi. Tất cả chúng ta đều phải sống với nhận thức rằng mọi thứ có thể thay đổi trong tích tắc, rằng số phận có thể đến và bất ngờ cướp đi mọi thứ, kể cả với một bà nội trợ an nhàn ở vùng ngoại ô. Một lúc nào đó trong một ngày bình thường, khi bạn đang mua kem đánh răng và mấy đồ cọ rửa, một chuyện nào đó bất ngờ xảy ra và đột nhiên bạn trở thành “những người đó”. Dễ dàng gọi đó là suy đồi đạo đức – thứ có thể vượt qua bằng cách làm việc chăm chỉ và làm những điều đúng đắn. Nhưng xui xẻo thì chẳng thể tránh được bao giờ.

Người lớn trong khu phố của tôi lớn lên trong thời kỳ Đại khủng hoảng[*], họ đã nỗ lực để thoát khỏi giai đoạn đen tối ấy và cho rằng người khác cũng nên như vậy. Tôi không đồng tình với những người phụ nữ ngồi lê đôi mách đó, nhưng không dám nói bất cứ điều gì có thể phơi bày thiếu sót của bản thân để chuyển những phán xét của họ lên người tôi. Cuộc sống vốn không công bằng. Chúng ta đều biết thế.

Dĩ nhiên, có một vài người chọn sống ngoài rìa xã hội, ở ẩn, lang thang bên ngoài và sống theo những nguyên tắc riêng của chính họ. Tôi nhớ cách mà, vào cuối những năm 70 đầu những năm 80[*], những cầu tàu bỏ hoang ở trung tâm thành phố dọc sông Hudson trở thành nơi trú ẩn cho những nhóm người nhỏ sống ngoài khuôn khổ chung của xã hội. Nhóm ưa thích của tôi sống ở một cái cầu tàu đổ nát gần đường Christopher ở West Village. Tôi thường đi ngang qua khúc quanh khu đó vào buổi đêm, quan sát những tảng đá được thắp sáng ấm áp và tự hỏi sẽ thế nào nếu mình sống như thế, giữa những đồ nội thất đẹp đẽ và các tác phẩm nghệ thuật. Sau đó, tôi vòng lên sông Hudson. Từ phía sau những cột thép rỉ sét bên dưới xa lộ bờ Tây[*] bỏ hoang, tôi ngắm nhìn những nữ hoàng hóa trang[*] trong trang phục lộng lẫy kéo nhau ra khỏi các lều và lán nhỏ để chuẩn bị đi chơi đêm. Họ mặc những bộ kimono in hoa rực rỡ vào những đêm hè, bày bộ dụng cụ trang điểm lên những tấm ván kê trên thùng sữa và chải những bộ tóc giả được đặt trên cái đầu giả bằng xốp không có khuôn mặt. Đôi khi gió sông mang theo giọng nói của họ vẳng đến chỗ tôi: “Puh-leeze, Mary!”[*]

Khi mặt trời lặn trên sông Hudson, bóng những người này in trên nền trời cam sẫm, họ nhảy múa và tạo dáng theo điệu nhạc từ những chiếc loa Boombox[*]. Cả nhóm đang khiêu vũ, còn tôi thì hạnh phúc đứng xem. Nhưng thực tế cuộc sống không dễ dàng gì với những người đàn ông mặc đồ như phụ nữ này. Một vài trong số họ bán dâm trên đường, gạ gẫm mấy gã mua hoa đi dọc đường bờ Tây và đường Washington để kiếm bạn tình, trên những chiếc ô tô mui kín mang biển số Jersey[*]. Những người này bị bắt thường xuyên và cảnh sát rất thô bạo với họ. Thanh thiếu niên từ các quận xa hơn thì hay đến bằng những chiếc xe nêm cứng người và đánh họ để mua vui. Những vị khách bất ngờ hoặc những “giao dịch thô bạo” đôi khi giết chết họ. Nhưng họ vẫn tụm lại cùng những cô nàng bán dâm xe tải[*] bên dưới xa lộ trên cao, tự bảo vệ mình bằng những con dao giấu trong bộ ngực nhồi căng cứng, hoặc dao lam giấu bên dưới những mái tóc uốn phồng.

Rốt cuộc, xa lộ bờ Tây và những cầu tàu đổ nát đã bị phá dỡ để xây dựng một công viên xinh xắn dọc bờ sông. Những cô gái và nữ hoàng hóa trang này cùng khách hàng của họ đã bị quét sạch. Họ không thể tự bảo vệ mình chống lại những nhà phát triển bất động sản và nhà đầu tư nhắm đến vùng đất. Tôi thường tự hỏi họ đã đi đâu, họ có thể sống cùng nhau nữa không. Những người đó từng là hàng xóm của tôi, và tôi nhớ họ.

Nhiều năm sau, khi đã là một điều tra viên pháp y, một lần nữa tôi lại nghĩ về những người đó khi nhìn thấy những khu trại của dân đường phố khác trên sông Đông, phía dưới đường FDR Drive[*]. Tôi có thể thấy người ta chui rúc trong những túp lều làm bằng bìa cứng, gỗ vụn và vải bạt mỗi khi đi xuống những con dốc bê tông xám xịt của xa lộ khi di chuyển tới bờ sông để vớt một “người nổi”– tiếng lóng của giới cảnh sát để ám chỉ một nạn nhân được tìm thấy dưới nước.

Một buổi chiều giữa tháng Chạp lạnh thấu xương, tôi tới sông Đông để chứng kiến một cặp vợ chồng trung niên bị chính đứa con trai bạc bẽo của mình siết cổ tới chết do tranh chấp tiền bạc. Hắn bọc xác cha mẹ mình trong những túi rác công nghiệp cỡ lớn rồi ném ra đập chắn sóng. Một vụ đủ dễ, nhưng khiến tôi rợn đi và nghĩ mãi về những người tôi vừa băng qua, những người cuộn mình trong đống quần áo rách rưới và nấp sau những tấm bạt mỏng để tránh gió lùa.

Giáng sinh đã gần kề, và tôi nảy ra một ý hay ho. Tôi có thể mua cho những người vô gia cư đó một ít quà, chẳng hạn như chăn len và găng tay ấm áp. Điều đó có thể giúp họ cảm thấy khá hơn, đồng thời giúp chính tôi cảm thấy dễ chịu với niềm mong đợi và ý niệm rằng tôi thực sự có thể làm được điều gì đó. Sau ca làm, tôi ghé qua tiệm Macy's trên Đường 30-4, một nơi được trang hoàng hết sức lộng lẫy với những ông già Noel đang rung chuông, những ô cửa sổ tuyệt đẹp trưng bày đồ chơi và đèn lễ sáng rực, mọi thứ đều lấp lánh, tươi tắn và hạnh phúc. Nhưng tôi chẳng vui nổi khi thấy giá của một cái chăn trông có vẻ tử tế. Có cả tá người vô gia cư. Tôi không thể nào chu cấp được hết cho họ với mức giá này.

Ngày tiếp theo ở chỗ làm, tôi hỏi Randy xem mình có thể mua năm mươi cái chăn len tốt với mức giá hợp lý ở đâu. Reuven ló đầu lên khỏi tờ báo của anh ta và nói: “Mua sỉ đi. Đừng mua với giá bán lẻ cho số lượng lớn làm gì.” Sau đó anh ta lại tiếp tục chúi mặt vào tờ báo. Và rồi anh ta cho tôi số điện thoại chú Sol của anh, người này kinh doanh hàng may mặc, sau đó ông chú này lại cho tôi số của một nhà sản xuất ở đảo Rhode. Tôi gọi tới và nói cho họ lý do tại sao tôi muốn mua tới năm mươi chiếc, và nhân viên kinh doanh tốt bụng đã giảm giá cho tôi. Sau đó họ gửi hai thùng chăn lông cừu màu xám dày cộp tới văn phòng chúng tôi, mỗi chiếc chăn có một cái nhãn nhỏ màu đỏ in logo của công ty đó, kiểu như Christmassy.

Sáng thứ Bảy hôm đó, một trong số đồng nghiệp từ phòng Bảo an lái xe đưa tôi đi dọc khu sông Đông, đỗ xe ở FDR để xuống cầu vượt hoặc ra sau những bức tường đang phá dỡ dở, nơi mọi người trú ẩn khỏi những cơn gió sông và xây dựng những căn nhà đơn sơ từ phế liệu. Chúng tôi tiếp cận từng nhóm nhỏ một cách từ từ, nói xin chào đầy thân thiện để không làm ai giật mình. Những người đó nhìn chúng tôi đầy cảnh giác như muốn dò xét liệu chúng tôi có phải cảnh sát không hay là những nhà hoạt động xã hội. Nhưng chúng tôi tới đây với những món quà, và tặng chăn ấm kèm găng tay cho những người trong lều. Họ ngạc nhiên và biết ơn lắm, một vài người còn xin thêm chăn cho bạn bè. Tất cả họ đều nói “Giáng sinh vui vẻ!” và ngày hôm đó chúng tôi đã rất hạnh phúc. Một kỳ nghỉ tốt đẹp được tạo nên từ đó.

Hai tuần sau, tôi đi tuần đêm cùng bác Wells, giai đoạn hậu Giáng sinh tạm yên ắng trước khi những trò quái quỷ của năm mới bắt đầu. Cả hai chúng tôi đều làm thêm giờ để có tiền chi trả cho những chi tiêu dịp lễ. Khoảng 9 giờ 30 phút tối hôm đó, chúng tôi ra ngoài vì một vụ giết người, chỉ mất một quãng ngắn lái xe từ văn phòng tới đường PDR phía dưới đoạn dốc nối với Đường 40-2. Trời lạnh kinh khủng, và tôi rùng mình khi chúng tôi đỗ xe và đi bộ. Trong quầng sáng của những chiếc đèn cầm tay, một nhóm cảnh sát đang đứng đó, bên trên là xa lộ trên cao. Hai thám tử đang nói chuyện với một người đang khóc nấc lên từng hồi. Dù đã uống say mèm tới độ đứng không vững, anh ta vẫn cố giải thích điều gì đó đến tuyệt vọng.

“Tôi không nhớ điều đó. Tôi không nhớ đã làm như thế. Đó là bạn tôi, bạn tôi các anh hiểu không?” Anh ta hét lên trong tiếng nức nở.

Các thám tử trao nhau ánh nhìn hoài nghi trước khi quay lại với tôi.

“Chào các anh, tôi là Butcher từ ME. Bạn anh ta đâu rồi?”

Họ chỉ vào một cặp chân lở loét bên dưới những hộp bìa cứng đã được kéo phẳng. Chúng tôi tới đó và tôi chụp vài bức trước khi nâng tấm bìa lên, màn trập máy ảnh tạo ra những tiếng tách tách chậm chạp, buồn tẻ vì bị đóng băng. Ở đó là một người đàn ông được bọc trong chiếc chăn quân đội xám dày cộp, với cái nhãn nhỏ ở trên. Máu từ cái cổ bị rách và khuôn mặt bị cắt xẻo thấm qua sợi vải, nhuộm thành một vệt đỏ sẫm. Tôi há hốc mồm khi nhận ra món quà đó: “Là chăn của tôi!”

“Gì cơ? Ý cô là gì?” Người thám tử mặc áo parka màu đen hỏi.

“Không, không có gì hết. Anh đừng để ý. Chuyện là thế nào vậy?”

“Cậu nhóc khóc lóc đằng kia nói đó là bạn cậu ta, cả hai sống bên dưới đường Drive này. Chúng uống cả ngày để giữ ấm và rồi bắt đầu giành nhau cái chai. Cậu ta nói mình bất tỉnh nhân sự, sau đó tỉnh dậy với chai Heineken bị vỡ trên tay, còn bạn mình thì đã chết. Cậu ta nói chẳng nhớ gì cả. Thật nhảm nhí!”

Một cảnh sát hiện trường đang cúi xuống cái chai màu xanh lá lởm chởm răng cưa, anh ta chụp thêm vài tấm cận cảnh cái cổ người chết. Tôi biết anh sẽ dễ dàng tìm ra dấu tay của cậu bé mít ướt kia trên mảnh thủy tinh đẫm máu, cũng như tôi biết cậu ta đã nói sự thật. Tôi quá rõ mọi thứ về chứng mất trí nhớ do say rượu. Cậu ta sẽ chẳng bao giờ nhớ nổi mình đã làm gì đâu.

« Lùi
Tiến »