Tôi làm việc với một nhóm người khá giỏi. Chúng tôi xây dựng một tình bạn thân thiết khá dễ dàng chứ không có sự phân cấp như trong bệnh viện, nơi các bác sĩ điều trị chuyên khoa được xếp hàng đầu trong khi nhân viên nhà xác thì đâu đó hạng thấp nhất. Chúng tôi chia sẻ những trải nghiệm không thể kể với ai, và điều đó giúp chúng tôi xích lại gần nhau. Dẫu vậy, không phải lúc nào cũng chỉ có mấy vụ giết người và hỗn loạn. Chúng tôi cũng có những phút giây giải trí khi nhận được cuộc gọi từ những người bị ám ảnh với việc họ biết về một vụ giết người hoặc một âm mưu giết người nào đó. Một anh chàng đã gọi để nói với chúng tôi rằng tổng thống Lincoln thực ra không bị ám sát – anh ta có thể chứng minh rằng đó là một tai nạn dựa trên đường đạn và góc vết thương. Một lần khác, chúng tôi nhận được một cuộc gọi vào sáng sớm từ một người phụ nữ, bà ta yêu cầu có một cuộc điều tra ngay lập tức. Với chất giọng Queens đặc sệt, bà đã mô tả lại hiện trường như sau:
“Có một con ruồi chết trên bậu cửa sổ. Nó không hề ở đó đêm qua.”
“Vâng, thưa bà. Bà chắc là nó đã chết chứ?”
“Chắc. Chân cẳng nó giơ thẳng lên không trung và nó không thở.”
Tôi bấm nút loa ngoài để các đồng nghiệp có thể cùng nghe. “Được rồi, có một con ruồi chết trong nhà. Chúng tôi có thể giúp gì cho bà?”
“Chà, nó phải chết vì thứ gì đó và cho dù đó là thứ gì, nó vẫn có thể còn lưu lại trong không khí. Thứ đó cũng có thể sẽ giết chết tôi!”
“Ừm, ruồi chỉ sống được vài tuần, nên có thể đó là cái chết tự nhiên thôi.”
“Chết tiệt! Mày không biết được! Tao cần ai đó đến và xem xét! Nhỡ đó là khí độc thì sao?”
“Bà có ngửi thấy mùi gì kỳ lạ không?”
“Tao không ở trong nhà, đồ ngu. Tại sao tao phải ở lại đó? Điều đó có thể rất nguy hiểm.”
“Thưa bà, chúng tôi không xử lý côn trùng, chỉ xử lý con người. Xin lỗi nhưng có lẽ bà nên nhờ một người hàng xóm nào đó giúp kiểm tra căn nhà.”
“Mày là một điều tra viên, mày phải đến và điều tra! Làm việc của mày đi chứ!”
“Địa chỉ của bà ở đâu?”
“Tao ở Rego Park.”
“Ồ, vậy là thuộc phụ trách của văn phòng Queens, để tôi chuyển máy của bà sang đó.”
Diane, điều tra viên mới, cười đến mức phát ra tiếng khụt khịt. Cô ấy hẳn sẽ hòa nhập rất nhanh thôi.
Vì chúng tôi cần bổ sung thêm nhân viên, nhiều nữ điều tra viên được đưa đến, làm văn phòng MLI trở nên tử tế và bao dung hơn. Nơi làm việc trở nên ấm áp đôi chút, thêm vài phần cảm thông, một chút mềm mại cho những khía cạnh gai góc. Tôi rất vui khi có những phụ nữ khác cùng làm việc, vì bạn rất dễ gặp phải thái độ cứng rắn chiếm ưu thế trong môi trường toàn nam. Tôi nhận thấy mình đang trở nên nhẫn tâm hơn trong cách nhìn nhận, phớt lờ những điều mà bình thường sẽ khiến tôi bận lòng, ví dụ như việc dùng thuốc quá liều của một thiếu niên hay những cái chết do xe tải đâm vào người đi bộ đã xảy ra không biết bao nhiêu lần. Với sự xuất hiện của những người phụ nữ khác trong văn phòng, đám nam giới bớt trêu chọc nhau hơn một chút, ít so kè hơn về việc ai đã gặp cái chết lố bịch nhất trong ngày. Nhưng không phải chỉ có những điều đó đã thay đổi.
Diane là nữ điều tra viên đầu tiên được đưa đến: một cô gái trẻ tự tin với khiếu hài hước kèm chút ranh mãnh. Không có nhiều vẻ phô trương, nhưng Reuven đã lưu ý: “Ồ, tuyệt, giờ có họ nhiều hơn trong văn phòng, chúng ta phải cẩn trọng lời nói của mình.”
“Nhiều ai hơn cơ, hả đồ tội nghiệp? Nhiều người thông minh hơn ấy hả?” Tôi trả lời trong lúc Diane bật cười.
Richard, Giám đốc văn phòng điều tra, đã yêu cầu tôi đào tạo cho Diane, điều này khiến Randy bực bội. Anh ta tự thấy mình là nhân viên có thâm niên và nên chịu trách nhiệm đào tạo lính mới. Một hôm, khi chúng tôi đi ra ngoài để xử lý một vụ việc, anh ta cạnh khóe:
“Các cô đi vui vẻ nhé. Nếu cần giúp thì cứ gọi cho tôi.”
Diane ngừng lại. “Thực ra thì, tôi muốn xin lời khuyên của anh, Randy ạ.” Diane đáp.
Anh ta cười mỉm, liếc mắt nhìn tôi. “Ồ chắc chắn rồi.”
“Với màu da của tôi, anh nghĩ tôi hợp với tông màu đất hay tông pastel hơn?”
Reuven và Joey, cậu chàng lính mới, cười phá lên khi hai chúng tôi bước ra khỏi cửa. Tôi biết tôi và Diane sẽ trở thành bạn bè.
Tôi nhận ra có thêm phụ nữ trong văn phòng khiến mình nói nhiều về bản thân hơn thay vì chỉ xoay quanh chuyện công việc. Trước đây, tôi luôn cảnh giác để không làm vậy khi ở cạnh các đồng nghiệp nam – thể hiện sự yếu đuối trước mặt Randy hay Reuven chẳng khác nào đưa con dao găm cho một ninja cả. Dù thế, chẳng ai trong số chúng tôi là người yếu đuối: Micki là bà mẹ lái xe mô tô phân khối lớn Harley, có hai đứa con trai nghịch ngợm mà cô rất cưng chiều, và Diane đã từng làm tình nguyện viên cho một tổ chức phi chính phủ, cô từng đi bộ băng rừng để cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế ở Đông Nam Á. Giờ đây, cô ấy lén tuồn mấy chú mèo con được giải cứu vào văn phòng để chúng tôi có thể cho chúng bú bình.
Trong một buổi tối ngồi tại văn phòng Tiến sĩ Hirsch, tôi kể cho ông nghe họ giỏi tới mức nào, rằng Diane đã sẵn sàng để có thể làm việc độc lập.
“Bác chẳng bất ngờ chút nào. Cháu biết đấy, bác nghĩ phụ nữ làm công việc điều tra tốt hơn nam giới.”
“Tại sao vậy ạ, thưa sếp?” Tôi hỏi.
“Phụ nữ ít quan tâm đến việc mình phải đúng hơn đàn ông.” Ông nói. “Nên họ có thiên hướng giữ một tâm trí cởi mở, để dành sự phán xét về sau. Hay nói một cách thô thiển hơn, họ không tham gia vào mấy cuộc tranh luận kiểu ai có cái ấy to hơn với bên cảnh sát.”
Tiến sĩ có lý. Đó không phải lần đầu ông đề cao phụ nữ. Charles Hirsch yêu phụ nữ, nhưng hơn cả thế, ông trân trọng họ. Ông thích cách họ nghĩ và nói hơn so với đàn ông – những người luôn bị chi phối bởi cái tôi cá nhân quá lớn.
Tôi luôn cảm thấy những người rối loạn nhân cách chống đối xã hội và căn nhà của họ thật hấp dẫn, kiểu “chỉ cần nhìn một lần là biết”. Không chỉ bắt đầu bằng việc bịt kín các cửa sổ bằng giấy thiếc, hành vi của họ sẽ ngày càng leo thang hơn nữa. Một ngày nọ, họ về nhà sau khi tan sở và quyết định lắp cho cánh cửa cái ổ khóa thứ ba. Vài tuần sau, họ trang bị thêm một thanh chặn cửa. Khi gã ở tầng 2B vui vẻ nhìn họ, họ sẽ về lấy băng dính che lại lỗ mắt mèo. Họ đổ rác sau nửa đêm – không thể để hàng xóm trông thấy – và không trả lời khi ai đó gọi cửa, thực ra, họ phải làm cho bản thân trở nên vô hình.
Bọc cửa sổ bằng giấy thiếc thường là bước tiếp theo.
Lần đầu tiên tôi thấy một căn hộ chống súng năng lượng[*] là trong một vụ liên quan đến cái chết tự nhiên: người phụ nữ nọ gọi đến 911 để yêu cầu một xe cứu thương và nói rằng mình đang lên cơn đau tim. Khi tới nơi, cảnh sát đã phải phá cửa để kỹ thuật viên cấp cứu tiếp cận được bà này. Nhưng tới lúc họ vào được bên trong thì đã quá muộn, người phụ nữ đã chết. Căn nhà được khóa chặt và xác chết không có dấu hiệu chấn thương. Không có gì bất thường khiến cơ quan chức năng phải tạm ngừng lại để điều tra trong vụ đó cả: không khung cửa nào vỡ vụn, kính không vỡ và cửa sổ cũng chẳng bị kẹt. Cơ thể bà ta không chảy máu, cũng không có vết bầm tím hay các chi bị vặn xoắn một cách kỳ quặc. Có rất nhiều thuốc trợ tim ở xung quanh, như để xác nhận cho sự tự chẩn đoán của bà. Mọi thứ đều có vẻ hợp lý, trừ việc căn hộ tối tăm một cách lạ lùng so với thời điểm lúc đó – buổi trưa một ngày tháng Năm.
Đó là một căn hộ phổ thông không có gì đặc biệt trong tòa nhà gạch trắng Midtown East. Tường được sơn trắng trong toàn bộ các phòng, một phòng ngủ, một phòng tắm lát gạch trắng, phòng bếp rộng rãi, không có bàn ăn, sàn nhà giả gỗ. Căn nhà hướng Nam nên lẽ ra nó phải sáng sủa. Đúng, “lẽ ra”, nếu không phải thực tế là chủ nhân của nơi đó đã bịt kín tất cả cửa sổ bằng giấy thiếc, hết cả bốn phía cạnh cửa, ra tận bản lề bằng băng dính. Mặt trong của cửa ra vào cũng được bọc trong giấy thiếc, trông nó mượt mà và sáng bóng hơn so với phần bọc nhàu nhĩ trên cửa sổ. Chỉ cần thêm một cái nơ đỏ là căn hộ sẽ giống hệt như một hộp quà đang đợi được mở ra.
“Tất cả mấy thứ này là thế nào vậy?” Tôi hỏi một cảnh sát.
“Để chặn mấy cái súng năng lượng ấy mà.”
Phải rồi. Anh ta đang chọc tôi, ăn miếng trả miếng cho những câu bông đùa tôi đã dùng cho viên cảnh sát.
“Thôi nào tôi nghiêm túc đấy, anh nghĩ mấy thứ đó dùng để làm gì thế? Bà ấy đã khám phá ra thiếc giúp chặn khí lạnh hay khí nóng à?” Tôi phải hỏi cho ra nhẽ, cho dù lúc đó là cuối xuân và thời tiết đang tuyệt đẹp.
“Tôi nghiêm túc mà.” Anh ta đáp, mặt tỉnh bơ. “Nó dùng để chặn phóng xạ và súng năng lượng, chặn luôn cả việc người ta đọc được suy nghĩ của cô nữa.”
Anh ta giải thích thêm việc cảnh sát nhận được nhiều cuộc gọi đến thế nào từ những người than phiền về việc có ai đó muốn giết họ bằng phóng xạ, hoặc tố cáo hàng xóm đang cố đánh cắp suy nghĩ của họ. Tương truyền rằng tín ngưỡng bọc giấy thiếc này thực tế được một cảnh sát thông minh nghĩ ra, như một giải pháp hữu hiệu sau khi anh ta đã quá mệt mỏi với những cuộc gọi than phiền kiểu đó.
Được rồi, anh bạn, bây giờ thế này nhé. Anh hãy kiếm cho mình ít giấy thiếc, khoảng vài cuộn, và ít băng dính nữa. Sau đó lấy giấy thiếc bọc cửa sổ lại, dán giấy thật kĩ, như vậy tia năng lượng sẽ bị phản chiếu ngược lại. Tia năng lượng thì không thể xuyên qua kim loại được, đúng không nào? Và nhớ bọc cả cửa ra vào nữa, cho an toàn tuyệt đối, được chưa?
Và thế là không có thêm một cuộc gọi nào nữa.
Tôi từng thấy vài căn hộ kiểu vậy trong nhiều năm. Một căn thì được bọc giấy thiếc trên toàn bộ bức tường chung với gã hàng xóm mà chủ nhân căn hộ đang có mối thù hằn. Nếu chỉ thế thôi thì việc bọc giấy thiếc cũng có thể được coi là một lối trang trí vào những năm 70, nhưng đặc biệt là căn hộ đó có một tờ ghi chú được dán trước cửa ra vào: “KHÔNG ĐƯỢC NHÌN VÀO ĐÂY” và “TẠO SẼ KỂ VỀ MÀY CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI”. Chủ nhân một căn hộ khác thì bọc giấy thiếc quanh một ngọn đèn gắn tường và các ổ điện. Chị gái của người chết kể với tôi rằng anh ta lo lắng căn nhà có thể bị rò điện, nên đã bọc kín tất cả mọi nguồn có thể, theo một cách kĩ càng, đẹp mắt và ấm cúng. Cô cho hay, chủ nhân đã chết của căn nhà thực ra cực kì thông minh, anh ta tin rằng ion rò rỉ và khu vực từ trường xung quanh dòng điện có thể ảnh hưởng đến sóng não. Đó là một nỗi sợ đặc biệt dựa trên một sự thật khoa học. Chúng ta luôn bị bao quanh bởi các tia và sóng, nên có lẽ chúng có ảnh hưởng gì đó. Nếu việc bọc giấy thiếc làm cho người ta bớt sợ hãi về thế giới này hơn, thì có hại gì đâu? Tôi không thể chứng minh là họ sai. Và tôi cũng không bao giờ phán xét những nạn nhân đã chết về cách mà họ đã sống, về những nỗ lực họ đã làm để tách bản thân ra khỏi nỗi sợ của mình.
Cuộc sống có thể rất đáng sợ. Tôi đã biết điều đó từ rất lâu rồi.
Tôi được sinh ra trong khu Park Slope ở Brooklyn. Giờ đây, nơi ấy đã trở thành khu nhộn nhịp, với dân cư chủ yếu là các gia đình trẻ có nghề nghiệp và những hàng dài bất tận loại xe đẩy trẻ em Bugaboo trị giá 1.300 đô la. Nhưng hồi đó, khu này tập trung dân lao động Ireland và Ý, chủ yếu là cảnh sát, lính cứu hỏa và các chủ cửa hàng. Thời những năm 50 đó, trẻ em còn chơi trên vỉa hè, trong khi mẹ của chúng ngồi trên những bậc thềm nặng nề bằng đá, hút thuốc với những câu chuyện phiếm.
Tôi vẫn còn hình dung ra cảnh những người phụ nữ đang độ rất trẻ vừa tạo dáng, vắt tréo chân rồi kéo hờ váy của họ. Ngầu đấy, nhưng cũng thật kỳ quặc, vì tất cả bọn họ đều có cùng một kiểu tạo dáng để thể hiện sự thanh lịch, với cánh tay trái khoanh trước ngực, đỡ lấy khuỷu tay phải để bàn tay cầm điếu thuốc có vẻ sành điệu hơn, miệng thì vẽ ra một làn khói thuốc. Cứ như thể những phụ nữ đó đã ký một hiệp ước, một thỏa thuận ngầm rằng tất cả bọn họ đều nên làm như thế nào.
Và cả cái cách mà họ nói chuyện như thể không có gì được coi là vượt quá giới hạn hết.
Chà, dĩ nhiên là Alice đang có một chỗ dựa chẳng mấy tốt đẹp, nhìn vóc dáng của anh ta đi.
Nhìn cô ả mà xem, cô ta nghĩ mình là ai với đôi giày rẻ tiền đó.
24 giờ sinh nở. Theo như tôi lo ngại thì từ giờ anh ta có thể phải ngủ trên xô pha rồi.
Tôi từng cảm thấy hạnh phúc trong khu phố ồn ào và lôi thôi đó. Nhưng mọi thứ đã thay đổi. Sự khó chịu đã len lỏi vào trong giọng nói của những người phụ nữ ấy, một nỗi sợ hãi mà tôi đã không thể hiểu được. Tôi nhớ mình đã nhìn ra ngoài cửa sổ chỗ sân chơi PS 321, hỏi mẹ rằng lúc nào tôi sẽ đến trường. “Con sẽ không đi học ở đây, lạy Chúa!” Bà đáp. “Tình hình chung đang trở nên tồi tệ.”
Thế nên bố mẹ tôi rời thành phố để chuyển đến một căn nhà vùng ngoại ô, gom góp khoản thanh toán đợt đầu từ khoản lương 45 đô la mỗi tuần của bố tôi với tư cách là cảnh sát thành phố New York. Lúc gia đình tôi chuyển đến căn nhà gần như hoàn thiện ở Massapequa Park, Long Island, tôi mới 5 tuổi. Khu nhà mới của chúng tôi không có lịch sử gì mấy. Chỗ đó từng là đại dương, rồi biến thành sa mạc, sau đó là tàn tích của dòng chảy sông băng, cuối cùng nhà cửa dần được dựng lên ở đó. Tôi từng nghe kể vào năm lớp 7 rằng thổ dân da đỏ Massapeag đã đi bộ qua khu vực này.
Khu nhà mới đó đã từng là “thứ gì đó tốt hơn”, nhưng nó làm tôi khiếp sợ. Đường phố thì rộng và trống trải quá mức, như thể những dãy nhà trải dài trên một bãi cát trống khổng lồ. Mũi Cod nhỏ bé của chúng tôi cũng có màu xám trắng như tất cả những bán đảo khác, ngoại trừ những tấm cửa chớp với màu sắc trang trí lặp đi lặp lại. Không có bảng hiệu đường phố hay số nhà, chỉ có một cái cây non mọc um tùm trước mỗi ngôi nhà. Tôi chưa từng thấy bầu trời rộng lớn đến thế, trong xanh và bất tận. Tôi sợ hãi ôm lấy những bậc thang trước nhà, tôi đã từng là một đứa trẻ đầy sợ sệt với nỗi lo sợ mơ hồ rằng ngôi nhà sẽ biến mất trong rất nhiều rất nhiều những ngôi nhà giống nhau trên phố.
Mẹ chẳng thể hiểu rằng nếu tôi buông cánh cửa và bước ra khỏi ngôi nhà, tôi có thể bị lạc mãi mãi. Làm sao tôi có thể tìm được đường về nhà một lần nữa khi mà có đến bốn ngôi nhà khác cùng khu đều có cửa chớp đen như nhà chúng tôi? Làm sao tôi có thể chơi ở sân sau khi mà không có hàng rào để đánh dấu giới hạn của tôi? Nhỡ tôi bước qua đường ranh giới vô hình thì sao?
Người dân New York biết rất rõ về những đường ranh giới vô hình, về việc nó khác biệt như thế nào giữa người này với người kia. Chúng tôi chấp nhận sự lo lắng mà không cần giải thích, chấp nhận nỗi sợ mà không phán xét. Bạn sẽ không bao giờ sống ở tầng mười ba ở New York. Có tầng mười hai, rồi tầng mười bốn. Tại sao lại phải thử thách số phận cơ chứ? Không ai lấy tờ báo đầu tiên trên chồng báo, phải lấy tờ nằm dưới tờ đó. Đơn giản là vậy. Chúng tôi không ngạc nhiên khi bị chen lấn trên sân ga tàu điện ngầm bởi một gã phải lên bằng được toa thứ ba từ cuối lên, bất kể toa đang dừng ngay trước mặt anh ta có trống trải và sạch sẽ đến mức nào. Chúng tôi ổn với bất cứ việc gì để có thể vượt qua một ngày. Sống ở New York đồng nghĩa với việc bạn sống giữa những người như vậy – mỗi người trong chúng ta đều là một mảnh ghép tạo dựng nên tập thể đó.
Tôi chấp nhận những điều kỳ lạ trong cuộc sống đô thị của mình. Trong quá trình làm việc, tôi chấp nhận, quan sát và học cách phân loại. Đó là nhu cầu mà hầu như ai trong chúng ta cũng có, một cách để thiết lập trật tự cho thế giới và tìm ra những mối liên hệ ngầm, để tạo những kết nối, để hiểu nhau. Công việc điều tra cho tôi cơ hội được tiếp xúc mọi thứ, kể cả với hằng hà sa số những lối sống mà tôi chưa từng biết đến trước đó. Tôi đã cố gắng để hiểu tất cả. Tôi từng thấy tàn tích của những cộng đồng nghệ thuật trong các tòa nhà và căn hộ bỏ hoang, những nơi từng là địa điểm tín ngưỡng, với đầy ắp những biểu tượng sắc màu và bàn thờ Santería[*], cùng cả một số mẩu nhỏ còn sót lại từ xác động vật tế thần cỡ nhỏ. Tôi cũng từng thấy những “phòng phê pha” của đám nghiện ma túy, nơi mà một người có thể nằm một chỗ trong nhiều ngày liền, trước khi có ai đó phát hiện ra anh ta đã chết từ lâu. Dù đẹp, xấu hay trông xoàng xĩnh, tất cả những nơi kể trên đều có một điểm chung là chúng mang con người lại gần nhau hơn.
Ở New York, có rất nhiều người sống một mình và không có bạn bè. Một vài trong số đó là những người chuộng sống ẩn dật, kiểu người muốn ở một mình nhưng lại quá lo lắng nếu phải sống đâu đó trong rừng. Ít nhất thì nếu ở thành phố, khi bạn la hét, sẽ có ai đó nghe thấy. Khi những người sống đơn độc chết đi, sẽ không có ai nhận ra cho đến khi mùi hôi thối làm phiền hàng xóm xung quanh, thứ mùi mà Tiến sĩ Hirsch gọi là “mùi hôi thối của sự cô đơn”. Có một lần, tôi điều tra về cái chết của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, độc thân và sống một mình trong căn hộ nhỏ với đồ đạc đơn giản. Căn hộ ngăn nắp nhưng đơn điệu, ngoài những đồ thiết yếu thì không bày biện thêm bất cứ thứ gì. Một tủ đông trữ đầy đồ ăn cho các bữa tối trước ti vi, một túi xúc xích trong tủ lạnh, một lọ cà phê hòa tan. Không có thuốc trong tủ, không ma túy hay rượu, cũng không chấn thương. Không có bất cứ thứ gì giúp phân biệt ông với người khác, một người đàn ông nhạt nhòa như chính nơi mà ông ta ở. Đó có vẻ là một cái chết tự nhiên, nhưng tôi vẫn phải đưa xác người đó đi làm khám nghiệm tử thi. Trong lúc tìm kiếm đồ đạc để nhận dạng, tôi tìm thấy thẻ căn cước trong một cái ví mới. Trong ngăn ví nơi mà bạn sẽ viết tên của anh chị em hoặc bạn thân để liên hệ trong trường hợp khẩn cấp, ông ấy chỉ viết duy nhất dòng chữ 911. Có điều gì đó làm cho tôi thấy phiền lòng. Người đàn ông này thực sự không có một ai thân thiết sao? Một người bạn ở chỗ làm, vài người để chơi bài cùng vào thứ Tư hàng tuần chẳng hạn? Tại sao ông ấy lại chết trong tình trạng như vậy?
Tôi có thể dự phòng cho mình rất nhiều việc. Tôi lắp pin vào máy báo cháy trong nhà và tránh mặt những người hàng xóm bất hảo vào đêm muộn, nhưng để tránh việc phải chết theo cách như vậy thì tôi không biết mình cần làm thế nào, và điều đó khiến tôi sợ hãi.
Thường thì tôi sẽ vào phòng, nhìn thấy những cuộc đời cô đơn này và nghĩ rằng họ đã luôn sống như thế. Nhưng không phải lúc nào điều đó cũng đúng. Cuộc sống luôn thay đổi. Hoàn cảnh luôn thay đổi. Bạn bè chuyển đi nơi khác, bạn đời chết. Đó là điều tôi phải luôn tự nhắc nhở bản thân khi đến hiện trường và chứng kiến một cái chết cô đơn. Câu chuyện cuộc đời của mỗi người thay đổi theo thời gian, và tôi luôn có mặt vào lúc nó kết thúc.
Cảnh sát được gọi đến căn hộ phố 36 bờ Đông trên đồi Murray, nơi những người hàng xóm đã phàn nàn về một mùi hôi khó chịu. Cảnh sát phá cửa vào và tìm thấy xác chết một phụ nữ khoảng 60 tuổi đang nằm dài trên ghế xô pha, cơ thể đã bắt đầu phân hủy nhẹ trong thời tiết mát mẻ. Bà trông mảnh dẻ và nhợt nhạt như sáp, trên người mặc một bộ đồ ở nhà màu xanh đã bạc màu, có vẻ như đã chết được khoảng một tuần trước khi được phát hiện.
Căn hộ có an ninh tốt và phần lớn trống trải. Sàn trơn, tường trơn, một chiếc xô pha xanh lá sẫm, một chiếc bàn ăn màu nâu kiểu có thể gấp gọn lại với hai chiếc ghế không được êm cho lắm. Một chiếc giường đơn với một chiếc khăn trải bàn mỏng màu xanh lá bên trên, một chiếc tủ đầu giường nhỏ và một bàn làm việc. Không có ảnh, không có lịch treo tường với những đánh dấu lịch hẹn bằng bút chì, không có thứ gì vui vẻ. Thậm chí còn không có lấy một bình hoa. Cũng không có gì trong tủ thuốc. Căn hộ giống như một phòng giam, đặc biệt là với những bức tường – có lẽ chúng đã từng có màu trắng nhưng giờ đã ngả màu xám xịt theo thời gian.
Tôi nhìn khắp nơi để tìm kiếm lý do, thứ trả lời cho câu hỏi vì sao người phụ nữ này chết đơn độc trong một căn hộ khóa kín. Nhưng không có đơn thuốc, không có danh thiếp bác sĩ, không có dấu hiệu rõ ràng của việc rò rỉ khí cacbon monoxide[*]. (Nếu tất cả các cảnh sát và điều tra viên trong phòng đều bị đau đầu, chúng tôi sẽ tìm kiếm một bình nước nóng với chiếc đèn báo cháy đang có màu vàng mờ hoặc có thể là một cái bếp hỏng.) Có thể bà ấy đã chết vì cô đơn.
Sau đó tôi nhìn vào trong bếp, đáng chú ý là không hề có đồ gia dụng và đồ ăn. Thường thì đa số mọi người sẽ có một chai siro bánh kếp hãng Log Cabin với vết nham nhở quanh nắp, một lọ nước sốt spaghetti hiệu Ragú còn chưa mở, hay một giá gia vị mà một nửa trong số chúng đã hết hạn. Còn bà ấy, không có gì hết. Rồi tôi mở tủ lạnh và tìm thấy một mỏ vàng: hàng trăm gói nhỏ màu trắng, kích cỡ khoảng 9x4cm, mỗi gói được buộc chặt ngang và dọc bằng dây chun. Thậm chí còn có nhiều hơn nữa trong ngăn tủ phía dưới.
“Này, các anh!” Tôi gọi với ra mấy anh cảnh sát đang chán chường đứng chỗ cửa ra vào. “Tôi nghĩ đây là nhà của một đầu nậu ma túy!”
Tôi chỉ cho họ thấy tủ lạnh chứa những gói nhỏ được chất đầy không chừa một khoảng hở và không có đồ ăn. Hẳn đây là chỗ sản xuất. Đó là lý do vì sao nơi này không có tiện nghi để sống. Tôi đã rất phấn khích: đây là vụ ma túy lớn đầu tiên của tôi. Với mỗi túi nặng khoảng 1g, chỗ này có thể trị giá hàng triệu đô la. Có thể bà này là thành viên của một tổ chức, nhà phân phối nào đó cho một đường dây quốc tế. Mấy anh chàng bên Lực lượng phòng chống ma túy (DEA)[*] sẽ rất thích thú với phát hiện của tôi, bởi việc tìm thấy một nơi tàng trữ ma túy như vậy ở đồi Murray là một điều đáng ngạc nhiên: chỗ đó trước nay luôn là một khu dân cư yên tĩnh với tỷ lệ tội phạm thấp, thông thường thì không phải là địa bàn của các đầu nậu ma túy. Có thể bà ta là kiểu bán sỉ, chứ không phải dạng sẽ để nhiều người đến mua ít một.
“Theo các anh thì chúng ta có nên mở thử một túi không? Hay là phải đợi một lệnh khám xét?” Tôi hỏi.
Một cảnh sát nhún vai và trả lời: “Cứ xem thử đi, tôi không muốn bày ra một rạp xiếc trừ khi đó là điều bắt buộc.”
Anh ta dường như không quá hào hứng. Có lẽ người cảnh sát đã nhìn thấy cảnh này hàng tá lần, nhưng chắc chắn với số lượng này thì đây là một vụ lớn. Bởi nhiệm vụ của điều tra viên pháp y là tìm kiếm thông tin y tế hay manh mối để điều tra cái chết chứ không phải một lý do để buộc tội ai đó, nên thường thì chúng tôi không cần lệnh khám xét.
Tôi tháo dây chun, rồi từ từ mở một gói bằng tay có đeo găng để đề phòng trường hợp cocain còn nguyên chất và chưa được pha trộn. Bên trong mỗi túi có một tờ giấy gói trắng được gấp phẳng phiu làm vài lần. Đây rồi. Nước sốt vịt, nước tương, mù tạt cay. Tôi mở một túi khác, và một túi khác nữa, túi nào cũng chứa thứ tương tự, mấy đồ gia vị ăn kèm với đồ ăn Trung Quốc được mua gói mang về. Một nghìn túi như vậy hoặc hơn. Hóa ra người phụ nữ này chỉ toàn ăn đồ ăn gọi mang về. Điều đó giải thích cho sự thiếu vắng của bát đĩa và đồ dao dĩa. Nhưng tại sao lại phải giữ lại các gói gia vị? Tại sao không vứt chúng đi? Bởi vì bạn sẽ không bao giờ biết lúc nào mình sẽ cần đến chúng, thế đấy. Một món đồ có thể hữu ích vào một ngày nào đó – có thể không phải hôm nay, không phải ngay bây giờ, nhưng có lẽ là trong tương lai. Vứt đồ còn đang dùng tốt thì không hay chút nào.
Tôi biết rõ về những người mắc “hội chứng đồng nát”[*] (người thích tích trữ) từ rất lâu trước khi đến nhà họ với tư cách điều tra viên pháp y, phần lớn là do thường xuyên nghe mẹ tôi phàn nàn kiểu: “Con là ai thế, em trai nhà Collyer[*] à?” Bà ấy đã nói vậy lúc tìm thấy cái kho nơi tôi giấu những đồ chơi nhỏ sau tủ quần áo để tránh bị các anh chị em của mình tìm thấy và phá hỏng mọi thứ. Tất cả chỗ đó đều là những món đồ chơi rẻ tiền mà bạn có thể mua được từ bất cứ chiếc xe bán tải bán hàng rong nào chạy vòng quanh khu phố, ví dụ như chiếc ô tô đồ chơi có thể chạy vòng vèo trong 5 phút, kéo theo một giỏ hàng kim loại sơn những mảng màu đỏ và vàng đã bong tróc, hoặc một chiếc dù vải có dây nối với một hình người bằng bìa cứng, một cái còi nhựa, hay một người lính nhỏ màu xanh. Đó có thể là đồ bỏ đi từ một tầng hầm nào đó, nhưng với tôi chúng là báu vật, vì vậy tôi đã giấu chúng đi. Đó là một trong những hiện tượng thường gặp ở những người thích tích trữ, họ nghĩ rằng những thứ họ đang bắt buộc phải giữ là báu vật, rằng nó có giá trị hoặc có thể được sử dụng cho một mục đích nào đó. Việc tích trữ không bị giới hạn ở bất cứ nghề nghiệp hay mức thu nhập nào, và hiếm khi trở nên tồi tệ đến mức như anh em nhà Collyer, những người đã khiến cho đá nâu Harlem cũng phải sụp đổ dưới sức nặng của 120 tấn rác, bao gồm trong đó 14 chiếc đàn piano, 25.000 cuốn sách, và khung gầm của một chiếc ô tô Ford Model-T.
Một lần, tôi gặp vụ của một nhà thần kinh học thành đạt (nhưng đã chết), ông ta đăng ký nhận qua đường bưu điện mọi loại catalog mua sắm mà loài người từng có, và có tất cả các tập catalog từng được xuất bản, trong khi không hề mở bất cứ một cuốn nào. Tôi trèo vào căn hộ qua một chồng giấy cao hơn 60cm và phủ kín mọi chỗ trống trên sàn nhà. Ông này chỉ đơn giản giẫm lên chồng sách để ra chỗ ghế ngồi, ti vi hay bàn ăn. Đó là một căn hộ đắt tiền, và đồ đạc thì đẹp đẽ, nhưng nhìn nó giống như phòng chứa đồ không người nhận ở một bưu điện nọ. Tôi hiểu được việc không muốn mở chúng ra xem. Bản thân tôi cũng đã từng trải qua một giai đoạn như vậy – trốn tránh là một cách để đối mặt với lo âu. Nhưng tại sao lại là tất cả những cuốn catalog này để rồi nhận được hàng tá rác? Tôi còn nhớ những lần nhận được catalog hàng năm của Sears[*] ngày còn nhỏ và sự phấn khích của tôi khi nghiền ngẫm nó... trong một chốc lát. Nhưng một khi bạn đăng ký để nhận những thứ này, dừng lại là điều không thể. Họ sẽ bán thông tin của bạn cho một danh sách khách hàng khác, và cứ tiếp tục cho đến khi mọi chuyện vượt ngoài tầm kiểm soát.
Một số người thích tích trữ luôn sống trong quá khứ, họ không thể vứt bỏ bất cứ thứ gì nhắc họ nhớ về khoảng thời gian hạnh phúc đã qua. Họ giữ lại quần áo cũ đã không còn vừa nữa, những bức ảnh phai màu, đồ chơi hỏng, thư từ, sách vở, đồ đạc không dùng được, đĩa hát không có máy đọc. Mỗi món đồ, bất kể bị hư hại hay không có giá trị sử dụng đến đâu, đều gắn liền với một kỷ niệm. Đối với họ, việc vứt bỏ bất kì món đồ nào cũng gây đau đớn về mặt cảm xúc, như thể giáng một đòn vào ký ức được lưu giữ về những người yêu quý, về khoảng thời gian mà họ cảm thấy hạnh phúc. Một số người khác tích trữ đồ đạc để có thể dùng đến vào một ngày nào đó trong tương lai vô định, khi mà chỉ có Chúa mới biết điều gì có thể xảy ra. Con dao xếp có lưỡi gãy đó có thể là một dụng cụ hữu ích để trốn thoát khỏi một cánh cửa tầng hầm bị khóa chẳng hạn.
Tôi có một cái hộp đựng các loại dây – thực ra là hai hộp, mà tôi chẳng hề dùng đến. Nhưng tôi sợ phải vứt chúng đi. Đống dây đó trông cái nào cũng có vẻ là hàng chuẩn và là thứ quan trọng. Có một lần tôi vứt bỏ một vài cái, sau đó phát hiện ra rằng một trong số đó là dây cáp nối chức năng fax cho máy in của tôi. Tôi chưa từng thực sự sử dụng đến máy fax, nhưng dù sao đi nữa, tôi cũng đã học được một bài học. Tôi không phải là một người tích trữ, nhưng tôi vẫn bị FOTO – nỗi sợ phải vứt thứ gì đó đi.
Tuy nhiên, tôi vẫn cẩn thận. Tôi luôn dọn giường và giấu đi tất cả những vật phẩm cực kì riêng tư trong trường hợp mình phải chết ở nhà. Tôi muốn đọc được trong bản báo cáo về cái chết của mình rằng: “Người quá cố được tìm thấy trong một căn hộ đầy đủ tiện nghi, an toàn, không có dấu hiệu của ma túy hay rượu.” Đó là lời cầu nguyện của một điều tra viên pháp y, cùng với: “Làm ơn, Chúa ơi, đừng để con trở thành một cái xác phân hủy.” Dẫu cho tôi rất yêu công việc của mình và cái cách mà nó cho phép tôi nhìn vào cuộc sống cũng như nơi ở của người khác, tôi cũng mừng vì được lui về khoảng không gian riêng và cuộc sống nhỏ bé của mình. Việc ở lại trong không gian an toàn của riêng mình luôn có sức hút mạnh mẽ, tôi có chứng sợ khoảng rộng dạng nhẹ. Và tôi thích những gì mình có, tất cả những bức tượng chuột Mickey mới nhất, khuy măng sét và chiếc bốt gãy gót mà một ngày nào đó tôi sẽ sửa lại. Có thể đó cũng là một dạng tích trữ, giữ lại để tạ ơn Chúa và bù trừ cho người bạn đời thích vứt bỏ mọi thứ.
Ban đầu thì hành động tích trữ có vẻ hợp lý, nhưng với một số người, nó lại bị đẩy đi quá xa. Khi ta còn trẻ, ta bị thôi thúc bởi ham muốn, và khi ta già hơn, ta bị thôi thúc bởi nỗi sợ. Có thể là do khi cuộc sống tiếp diễn và trái tim bạn đã bị tan vỡ một vài lần, việc gắn bó với đồ vật trở nên dễ dàng hơn so với gắn bó cùng con người. Trong trường hợp nào đi chăng nữa, việc tích trữ khiến người tích trữ cảm thấy an toàn và được bảo vệ khỏi nỗi đau hiện tại. Tôi có thể hiểu được điều đó.
Trường hợp tồi tệ nhất mà cá nhân tôi từng thấy là của một anh chàng được đặt biệt danh “Waldo” bởi một cảnh sát luôn ra vẻ biết tuốt. Anh cảnh sát này đã gợi ý chúng tôi chơi trò “Waldo ở đâu?”[*] vì chúng tôi không thể tìm được thi thể. “Nào mọi người, hãy chỉ tập trung tìm một chiếc mũ sọc và một chiếc áo len.” Anh ta nói.
Cảnh sát đã không thể mở cánh cửa ra vào nhiều hơn 10cm vì đống đồ tích trữ được nén chặt ra đến cửa và cách trần nhà chỉ khoảng 61 – 91cm. Vậy nên Đội cứu hộ khẩn cấp đã đến và đưa tôi lên bằng thang thoát hiểm hỏa hoạn, họ phải dỡ ra một chiếc cửa sổ, làm cho một số rác bật ra ngoài và rơi xuống nền đất bên dưới. Làm sao anh ta có thể sống trong một không gian mà rác rưởi được chất đến tận xà nhà như vậy?
Đội cứu hộ khẩn cấp luôn có cách tìm ra giải pháp tức thời cho những vấn đề kỳ quặc. Làm thế nào để có thể vào một căn hộ chất đầy rác để tìm kiếm thi thể của một người đàn ông? Ta lấy một thanh gỗ dài, kích cỡ 0,5 x 1,2m, luồn nó vào qua cửa sổ và đặt lên trên đống đồ. Một nhân viên cứu hộ leo lên tấm ván, dùng nó để trượt trên nóc đống đồ đạc để đến được chỗ cánh cửa. Sau đó, họ đào xuống phía dưới, giải phóng sao cho đủ chỗ để có thể tháo cánh cửa ra khỏi bản lề. Voilà! (Vậy đấy!)
Người đàn ông nằm ngay trong tiền sảnh, chết ngạt ngay dưới đống đồ của mình. Tài sản của anh ta thực sự lấp đầy gần như mỗi cm vuông của căn hộ, chỉ trừ một đường hầm mà anh ta đã tạo ra để đến được phòng tắm và giường ngủ. Cảm thấy rằng kho báu của mình rất có giá trị và có thể hấp dẫn bọn cướp, anh ta đặt trong đường hầm bằng những dây bẫy có khả năng kéo sập đống đồ xuống kẻ trộm nếu có dấu hiệu khả nghi. Như để tri ân anh em nhà Collyer, anh ta vấp phải bẫy của chính mình và bị đè chết bởi đống đồ đạc mà anh ta yêu quý. Đồ đạc sẽ giết bạn.
Dù vậy, vẫn có những vấn đề tâm lý khác có biểu hiện bề ngoài giống “hội chứng đồng nát” này. Một công ty quản lý tòa nhà liên tục gửi thông báo nợ quá hạn cho một cổ đông công ty, một phụ nữ trẻ sống một mình trong căn hộ nằm trên tầng cao nhất tại một khu sang trọng của SoHo. Vào những năm 70, các nghệ sĩ đã thổi luồng gió mới vào các nhà máy bỏ hoang, bằng cách biến chúng thành những tòa nhà bằng gang khang trang ở phía Nam đường Houston. Thông thường thì, nghệ sĩ đi đến đâu, người giàu sẽ theo đến đó. Sau nhiều tuần liên lạc bất thành, một nhân viên quyết định gọi cảnh sát để yêu cầu kiểm tra phúc lợi của người phụ nữ. Tòa nhà mở sẵn cửa cho cảnh sát, và tôi được gọi đến khi chủ nhân được tìm thấy khi đã chết. Đó là một căn hộ rộng, thoáng khí, sáng sủa và trống không, chỉ trừ hàng chục túi rác khổng lồ chứa đầy bình nước Deer Park rỗng và hộp bơ Land O’Lakes. Trong khu vực nhà bếp là một giá treo quần áo bằng kim loại, trên đó là mười một chiếc váy hoa hiệu Laura Ashley, tất cả đều cỡ số hai[*]. Ban đầu, tôi nghĩ rằng đây hẳn là người thích tích trữ đặc biệt nhất mình từng thấy, vì không còn gì khác trong nhà ngoài những thứ đó.
Phía sau nhà, chủ nhân nằm trên sàn, sau bức tường bằng chai nước rỗng. Người phụ nữ gầy đến khó tin và da thịt gần như đã được ướp xác ấy có màu xanh lam. Bao quanh đầu cô là mái tóc dài màu xám bạc như một vầng hào quang tráng lệ. Hiệu ứng tổng thể khá hấp dẫn, nhưng sau đó lại bị hủy hoại bởi việc chúng tôi phát hiện ra xác chú chó nhỏ màu trắng bên cạnh. Chú chó cũng mang vẻ tiều tụy với bộ lông xơ xác và đôi mắt trũng sâu.
Các thám tử gõ cửa hàng loạt căn hộ xung quanh cho đến khi họ tìm thấy một người đàn ông biết cô gái này. Đó là cách mà người phụ nữ muốn mình được biết đến. Anh ta kể rằng cô luôn nói về việc giảm cân và sẽ thử bất kì chế độ nào. Mặc cho thực tế là bản thân cô đã khá gầy rồi. Tôi đặt nghi vấn về việc thiếu vắng đồ đạc và tài sản, điều đó làm anh ta trở nên bối rối như tôi, bởi cô nàng là người rất giàu. Vậy là nạn nhân chết đói trong khi bản thân cô ta là một người phụ nữ giàu sang, sống trong một khu dân cư cao cấp ở thành phố đắt đỏ nhất thế giới.
Điều ngạc nhiên là cô ấy cũng đã bỏ đói chú chó nhỏ của mình. Không có đồ ăn cho chó hay bất kì loại thức ăn nào khác được tìm thấy trong nhà, ngoại trừ bơ. Kế bên chú chó nhỏ là một hộp Land O’Lakes trống rỗng, đã được liếm sạch từ lâu.
Các cảnh sát rầu rĩ vô cùng, đặc biệt là Ortiz. “Ai lại làm vậy với một sinh vật nhỏ chứ? Con khốn? Sao con chó không ăn luôn cô ta đi?”
“Tôi biết, thật tệ.” Tôi đáp.
“Nhưng để tôi cho anh hay, tôi đã từng thấy cảnh này rồi. Một con chó sẽ nhịn đói tới chết thay vì ăn thịt chủ của chúng. Mèo thì không như vậy, chúng sẽ ăn mũi, môi, ngón tay, tất cả những phần dễ bị cắn đứt.”
“Nhưng nó đã rất đói! Nó không muốn sống hay sao?”
“Ừ, nhưng chó là động vật bầy đàn và nó sẽ làm bất cứ điều gì có thể để bảo vệ thủ lĩnh, kể cả nếu phải chết. Mèo thì không phải vậy, chúng đơn độc, như một kẻ săn mồi, chúng sẽ làm mọi cách để có thể để sống sót, đó là bản năng của chúng. Nhưng chó thì sẽ trung thành cho đến chết.”
Chúng tôi đều đứng xung quanh chú chó nhỏ, rơi vào trầm tư.
“Chúng tốt đẹp hơn con người.” Ortiz nói và bước đi.
Tôi thường không đồng tình với điều đó, cho đến khi gặp một vụ về sau này – vụ “người sưu tập”. Những người sưu tập dễ bị nhầm lẫn với người thích tích trữ. Một vài người bị ám ảnh với đồ đạc và không thể ngừng mua chúng, ngay cả khi không còn đến 1cm trống để đặt bất cứ thứ gì.
Người sưu tập đặc biệt trong vụ này là một người cực kì ngăn nắp, những vật phẩm của anh ta được xếp gọn gàng trên những chiếc kệ dài vô tận và trong những chiếc hộp xếp chồng lên nhau khắp nhà. Mọi thứ đều được cẩn thận phân loại trong những cặp hồ sơ cỡ lớn: video, ảnh chụp, sách. Những chiếc hộp được dán nhãn tỉ mỉ và chứa những tập hồ sơ với mã số được ghi trên đó. Đĩa mềm được xếp riêng trong các túi hồ sơ và xếp chồng lên nhau cạnh máy tính. Tất cả chỗ đó đều là phim khiêu dâm trẻ em. Tôi sẽ không thể tin nếu không tận mắt nhìn thấy cảnh ấy. Những đối tượng trong đó không phải là người trưởng thành nhưng vẻ ngoài lại quá đỗi phổng phao, thực chất chỉ là những trẻ em còn rất nhỏ, và chúng... Thôi, dừng ở đây được rồi. Tôi không thể chịu được mỗi khi nghĩ về nó, thậm chí cho đến tận bây giờ.
Người sưu tập đang trong tư thế ngồi ở bàn làm việc, trước màn hình video với khóa quần đang mở, dương vật trong tay, và đã chết. Thế là tốt. Tôi ném một tấm vải lên đùi hắn ta để hàng xóm có thể vào và nhận dạng. Cô ấy nói hắn là một người đàn ông rất tốt, ít nói. Hắn ta đối tốt với những đứa trẻ trong khu và cho chúng kẹo mút. Chúa ơi! Tôi gọi xe chở xác để đưa thi thể đi và nhanh chóng rời khỏi nơi địa ngục đó, bỏ lại các thám tử tự vượt qua nỗi kinh hoàng. Tôi nhớ mình đã quay lại văn phòng và ước. Ồ, tôi ước sao người phụ nữ với con ruồi chết ở Queens sẽ gọi lại cho chúng tôi.