Người Chết Biết Điều Gì

Lượt đọc: 94268 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 11
người bị giết và những tên giết người

Đó là vào tháng Chín năm 1997, khi tôi được gọi đến George Washington Houses[*] ở Đông Harlem. Hạ đi thu đến, và chiều hôm đó nhiệt độ vừa phải ở mức 75°F, kiểu thời tiết dường như khiến mọi thứ trở nên dễ chịu. Tôi chỉ vừa hoàn thành báo cáo về một ca chết tự nhiên và không biết gì nhiều về vụ tiếp theo tôi sắp thụ lý – ngoài việc một người thuê nhà đã gọi 911 để báo cháy ở chiếu nghỉ cầu thang trên cùng của tòa nhà. Lính cứu hỏa Fred Zvinys đã có mặt và dập tắt đám cháy mà ban đầu anh ta nghĩ xuất phát từ một đống rác.

Khi tới nơi, bác Wells dừng lại gần xe cứu hỏa. Sau đó chúng tôi đi bộ vòng quanh những con đường ngang dọc lộn xộn cho tới khi tìm thấy địa chỉ cần tới giữa một mê cung các tòa nhà được xây dựng giống hệt nhau trong khu dự án. Tôi rung chuông, sau đó bấm đủ loại mã ra vào để mở cửa trước khi nhận ra ổ khóa đã bị phá rồi. Bác Wells lấy tay cản tôi lại khi bác mở cửa.

“Chậm đã, để bác xem có gì bên trong.”

Trước tiên bác ló đầu vào trong, thận trọng quan sát hành lang lát gạch xanh được thắp sáng bởi ánh sáng lờ mờ, đề phòng đám trấn lột có thể đang nấp ở đó và làm hại những người yếu thế. Bác nhìn quanh một lượt trước khi ra hiệu cho tôi tiến vào.

Ánh mắt chúng tôi chạm nhau, tôi nói: “Cảm ơn bác, bác Wells.” Bác chỉ gật đầu.

Chúng tôi vào thang máy, nơi được vài cư dân mặc định là bồn tiểu di động, và di chuyển lên tầng mười lăm. Hành lang dài màu nâu công nghiệp cáu bẩn được chiếu sáng bởi những chiếc bóng đèn huỳnh quang kêu vo ve chập chờn, một nửa số bóng ấy đã tắt hẳn. Bác Wells đưa tôi tới chỗ cảnh sát, sau đó trở xuống trông xe, còn tôi leo bộ thêm một đoạn cầu thang ngắn để lên vách ngăn mái nhà.

Tôi hít vào một hơi sâu khi chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng trước mắt. Trong chốc lát, tôi thậm chí phải nhìn đi chỗ khác để giữ bình tĩnh. Với tôi, những cái xác cháy sém trông thật kinh khủng, chúng không còn giống hình thù của con người nữa mà biến dạng như đến từ một hành tinh khác vậy. Việc con người bị lửa hủy diệt thật ghê tởm và đáng sợ, kiểu chết này khiến đầu óc tôi choáng váng. Tôi sẽ chẳng bao giờ quen được với tình trạng khủng khiếp kiểu này. Không thể nếu tôi còn muốn giữ cho mình chút nhân tính. Dù vậy, tôi vẫn vươn thẳng vai và chuẩn bị vào việc. Mạnh mẽ lên nào Barbara!

Tôi quan sát hiện trường. Ở đó có một thiếu niên, nửa người dựa vào bức tường bê tông, cơ thể nhỏ bé, vặn vẹo của cô một phần đã cháy đen và phần khác thì thành than hẳn. Một quầng bồ hóng phác thảo những đốm trắng lên nơi cô bé đáng thương này đã ngồi trước khi hơi nóng nấu chín các cơ và khiến tay chân em co rút, xoay chuyển khỏi vị trí vốn có. Chân của em đã rời hẳn ra.

Tôi ngửi bầu không khí đầy khói, mùi xăng dầu nồng đậm tràn vào cổ họng, vậy là chất gây cháy đã được tìm thấy. Một thám tử với khuôn mặt nhăn nhó hất đầu về phía một thùng chất đốt nằm ở gờ cửa sổ. Một căn phòng trống rỗng, chỉ có tường bằng xỉ, sàn xi măng, và bụi ở khắp nơi. Một ô cửa sổ xám xịt dầu mỡ, một bóng đèn trần trụi trong chiếc lồng nhựa đã bị nung chảy treo trên trần nhà, ánh sáng của nó hầu như không chiếu tới chỗ cái xác đã bị hủy hoại.

Không một lời chào hỏi thông thường, không một câu nói về ngày hôm đó đã đẹp thế nào, không tám chuyện về đội Yankees hay đội Mets[*]. Thậm chí không có nổi một câu hỏi xã giao kiểu: “Này, Bard (Barbara), ngày hôm nay của cô thế nào?” Chỉ có báo cáo sơ bộ từ thám tử trưởng: nữ giới, chưa rõ danh tính, khoảng 18 tuổi, được đội cứu hỏa phát hiện sau cuộc gọi 911 từ người hàng xóm. Rõ ràng là một vụ giết người.

Người lính cứu hỏa đứng sang một bên, anh ta cuộn vòi nước lại trong khi cố gắng hết sức để tránh chạm phải xác cô bé. Anh chàng tội nghiệp cứ quay đầu vào tường và ho suốt. Đội điều tra hiện trường vừa tới nơi, họ bố trí thêm ánh sáng cho căn phòng để tránh bỏ sót bất cứ dấu vết nào có thể tìm được. Đội tuần tra đã phong tỏa nơi này và bố trí một sĩ quan đứng gác ở cửa cầu thang. Tất cả chúng tôi lặng lẽ làm việc, chụp lại những tổn thương trên cái xác nhỏ bé và trong căn phòng trống đầy bụi, cố gắng lý giải những dấu vết hình lưới bất thường trên phần đùi không bị cháy của em. Khuôn mặt bị hủy hoại của cô bé dường như đông cứng lại với một nụ cười toe toét đầy quái gở, đôi môi bị kéo ra phía sau, siết chặt lấy hàm răng trắng đều tăm tắp. Đây là hình ảnh nhiễu bởi hỏa hoạn, có nghĩa là tác động của ngọn lửa khiến cho một phát hiện hoặc biểu hiện ban đầu của hiện trường bị sai lệch đi. Trong trường hợp này là cơ và gân của nạn nhân bị sấy khô trong nhiệt độ cao, khiến chúng co rút lại. Tứ chi của cô bé bị vặn xoắn và cong gập, lưng cũng khom xuống. Hai bàn tay em nắm lại thành nắm đấm, cánh tay uốn cong lên trên, đầu gối khuỵu xuống – đây được gọi là “tư thế võ sĩ” vì nó trông giống như người đang đánh nhau. Nhưng thực tế đứa trẻ đó đã không chiến đấu. Em không bao giờ có cơ hội làm vậy.

“Này, Barbara.” Vị thám tử hắng giọng trước khi nói tiếp.

“Cô có nghĩ cô bé này còn sống khi bị thiêu không?” Anh hỏi, nhưng tôi không nghĩ anh muốn biết câu trả lời.

“Một vài vết bỏng có vẻ như xảy ra sau khi cô bé chết.” Tôi đáp. “Dù vậy tôi thấy có bồ hóng trong lỗ mũi và miệng. Điều đó cho thấy có vẻ nạn nhân còn thở vào lúc hỏa hoạn. Chúng ta sẽ biết nhiều hơn vào buổi khám nghiệm tử thi ngày mai.”

“Kẻ gây ra chuyện này là đồ cặn bã.” Một sĩ quan tuần tra lầm bầm.

Khi một người sống bị thương hoặc bị thiêu, cơ thể sẽ có “phản ứng sinh tồn”. Máu và bạch huyết dồn đến khu vực bị thương, khiến nơi đó đỏ, sưng, phồng rộp, chảy máu và viêm. Ngược lại, khi một người đã chết bị thiêu cháy, hệ thống phòng vệ của cơ thể sẽ không phản ứng. Vết bỏng xảy ra sau khi chết vì lẽ đó trông khác hẳn, thường có màu vàng nâu và sần sùi như da thuộc. Nếu nạn nhân thở trong đám cháy, bồ hóng sẽ được hít vào trong lỗ mũi hoặc miệng, sau đó xuống thanh quản, khí quản và phổi.

Lenny rút tập giấy phác thảo của mình ra và bắt đầu vẽ, trông anh giống một sinh viên mỹ thuật ở Metropolitan đến kỳ lạ. Bên cạnh việc chụp các bức ảnh cho vào hồ sơ vụ án, đội điều tra hiện trường còn phác thảo lại khung cảnh nơi đây và ghi chú vị trí của từng đồ vật trong phòng. Sau đó, khi trở lại nơi làm việc, họ sẽ tạo một bản sao hoàn chỉnh để chia tỷ lệ cho bản vẽ. Điều này định hướng người xem, từ đó giúp họ phân tích được nhiều thứ hơn từ các bức ảnh, đồng thời giúp dựng lại bối cảnh hiện trường cho bồi thẩm đoàn. Đội điều tra hiện trường cần chúng tôi tránh đường để thực hiện công tác đo đạc, do đó tôi cùng một vài cảnh sát khác ra bên ngoài mái vòm.

“Chúng tôi sẽ làm vài ly khi kết thúc ca trực!” Một sĩ quan lên tiếng. “Chúng ta sẽ cần thứ đó. Bác sĩ, cô nên đi cùng tụi này.”

Tôi cũng muốn đi lắm chứ. Thật đấy. Tôi muốn đi cùng những chàng trai này, vào một quán bar đèn mờ nào đó và chỉ cần để mặc cho những cảnh tượng khủng khiếp này bị gột sạch. Không phải vì tôi thèm được uống, mà là tôi muốn ở cùng với những người cùng thấy thứ tôi đã phải nhìn. Thứ tồi tệ mà chúng tôi vừa chứng kiến... đó là tội ác tàn bạo, man rợ và mất hết nhân tính. Nó quá nhẫn tâm. Có lẽ đi cùng những cảnh sát này sẽ khiến tôi thấy khá hơn đôi chút. Chúng tôi sẽ chẳng nói gì về vụ này. Khả năng cao mấy anh chàng sẽ chòng ghẹo nhau hoặc cằn nhằn về “công việc”.

Người thông minh nhất ở Sở, và là người đầu tiên nói cho cậu biết chuyện đó.

Còn lâu tôi mới làm theo nhé! Tôi sẽ chẳng bao giờ làm mấy công việc ở Bộ Nội vụ đâu. Cả đám ở đó là lũ chuột cống hết.

Thế là gã ma cô đó cho tôi xem ảnh bạn gái anh ta, ôi thề có Chúa, Phil ạ, cô nàng trông giống cô gái cậu từng dẫn tới chỗ Jimmys racket. Cậu còn hẹn hò với cô ả chứ?

Đúng vậy, như thế sẽ tốt hơn cho tôi, lúc này đây tiếng cười là điều tôi chắc chắn cần tới, nhưng tôi sẽ không thử thách sự tỉnh táo của mình trước thể loại kinh dị đó. Tôi đã tỉnh táo trong 6 năm mà không tái nghiện rượu. Dù không tham gia nhiều cuộc họp như trước, nhưng tôi vẫn làm chương trình cho AA.

Tôi không thấy phiền khi người xung quanh uống còn tôi thì không. Với tôi, đó không phải là vấn đề lớn nữa. Nhưng kiểu buông thả như tới quán bar là một cái cớ tốt để làm tê liệt bản thân bằng cồn, và thật lòng tôi không muốn mạo hiểm. Tôi đã phải chiến đấu với những cái bẫy cảm xúc trong suốt thời gian dài. Vậy nên, không có đi bar gì hết. Không phải vào hôm nay.

Tôi tới bên lan can, phóng tầm mắt ra khung cảnh thành phố, và sau đó cầu nguyện. Cầu mong cho cô bé ấy đã chết trước khi ngọn lửa bùng lên, cầu cho em không phải chịu đựng quá nhiều. Cũng cầu nguyện cho tôi luôn duy trì được sự tỉnh táo. Đây là một trong những phút giây tôi tha thiết muốn thoát ra khỏi chính mình, để không nhìn thấy thứ tôi đã thấy, để xóa chúng khỏi tâm trí tôi. Uống vài ly sẽ giúp ích đấy, nhưng chỉ trong chốc lát thôi. Tôi đã từng cảm thấy như thế trước đây, trong những vụ bi kịch khác, nhưng có điều gì đó về cái chết của bé gái này khiến tôi khổ sở hơn bình thường.

Cô bé được xác định danh tính nhờ vào chiếc lắc chân bằng kim loại đã bị đốt thành than, với một nửa trái tim còn treo trên đó. Đó là món quà Rosa Castro tặng cho con gái cô – Johalis, 19 tuổi, sinh viên ngành Khoa học máy tính, và là niềm tự hào của cả gia đình. Một cô gái xinh đẹp, đầy sức sống, người mà từ giờ sẽ mãi mãi chỉ được nhắc đến ở thì quá khứ mà thôi.

Khám nghiệm tử thi cho thấy Johalis đã bị cưỡng hiếp, sau đó bị bóp ngạt, và cuối cùng là hỏa thiêu. Những vết bỏng là sự kết hợp của bỏng trước và sau khi chết, có nghĩa là Johalis vẫn còn sống lúc bị thiêu. Em có nhận thức được chuyện gì đang xảy ra không? Chuyện này thật vượt quá sức chịu đựng. Không lý nào cô bé vẫn có thể ngồi yên tựa vào tường khi da thịt đang bỏng rát. Cơ thể chúng ta sử dụng cơn đau như một lời cảnh báo chống lại sự hủy diệt, chúng gửi tới chúng ta những tín hiệu đầy đau đớn như muốn hét lên: Dừng lại, biến ngay, mau làm gì đó! Vết thương càng trầm trọng, đau đớn càng nhiều. Mục đích của cơn đau thực ra để giúp ta sống sót.

Những vết hằn hình lưới màu đỏ trên da của nạn nhân cho chúng tôi một manh mối. Cảnh sát tìm thấy những thước phim từ máy quay an ninh ghi hình một người đàn ông đẩy một chiếc xe đẩy chở hàng đầy ắp đồ đạc vào tòa nhà, bên trên đó được phủ một tấm vải. Những thứ đồ này chính là Johalis Castro, đã bất tỉnh và bị nhét trong xe đẩy, nơi các mặt lưới thép để lại dấu vết trên chân và tay em – một phản ứng sinh tồn. Cô bé đã bị bóp ngạt tới gần như chết hẳn, sau đó bị đốt như một đống rác ngoài sân.

Kẻ giết người vẫn ở đâu đó ngoài kia.

Tôi đã vượt qua ngày hôm đó, và những ngày tiếp theo, vẫn tỉnh táo và làm công việc của mình. Tôi cũng tìm kiếm tin tức về vụ sát hại Johalis Castro trên các mặt báo, ôm ấp niềm hy vọng đọc được tin nghi phạm đã bị bắt. Nhưng tôi đã làm chuyện tốn công vô ích. Nếu đây là một cô bé ở đại lộ Park, tin tức giật gân về vụ việc sẽ lan khắp thành phố. Sẽ có những phẫn nộ trong công chúng và chính quyền phải cảnh báo về tình trạng này. Nhưng cô bé da nâu xinh đẹp đến từ khu dự án thì không được quan tâm như vậy. Không có phản ứng nào kiểu như thế dành cho em.

Vài tháng sau, Randy trở lại văn phòng sau một vụ mới. Anh ném cái túi du lịch xuống bên cạnh bàn làm việc để làm tôi chú ý.

“Có phải cô xử lý vụ trên tầng thượng ở khu dự án không? Chỗ Đông Harlem ấy?”

“Phải rồi, cô bé bị hỏa thiêu, Đường 104. Sao thế?”

“Tôi vừa có một vụ như thế ở khu dự án trên Đường 112 bờ Đông, nạn nhân cũng bị đối xử tương tự, cưỡng hiếp và bóp cổ. Nhưng không có hỏa hoạn. Cô bé ở tầng trên cùng chỗ chiếu nghỉ cầu thang, dựa lưng vào tường. Lenny đã ở đó, anh ấy cũng tham gia cùng cô ở vụ trên Đường 104. Chính Lanny nói hiện trường gợi nhớ cho mình về vụ trước.”

Lần này là Rasheeda Washington, một sinh viên thời trang làm việc trong một tiệm quần áo. Cô bé chết ba ngày sau sinh nhật tuổi 18 của mình. Có thêm nhiều vụ tấn công hơn, một nạn nhân 14 tuổi, và hai cô bé mới 15. Một bé gái 13 tuổi với những chiếc kẹp tóc nhỏ màu đỏ cũng trình báo về việc một gã đàn ông đã giao hợp qua hậu môn của em như thế nào mặc cho em gào khóc, và cách hắn nói em “hãy cư xử như một phụ nữ đi”. Kẻ tấn công cũng đã nói với một trong số các các cô bé rằng em thật “may mắn” vì được tấn công bởi một anh chàng đẹp mã đến vậy, trong lúc hắn chĩa dao vào người em. Trước đó cũng có một vụ sát hại cô bé Paola Illera 13 tuổi. Một đứa trẻ hơi gầy với nước da nhợt nhạt và mớ tóc xoăn sẫm màu. Sau khi tan trường, Paola trở về nhà như thường lệ. Em gọi điện cho mẹ để vào bên trong tòa nhà, sau đó đi vào thang máy. Kẻ sát nhân cũng theo em vào trong. Xác của cô bé sau đó được tìm thấy bởi một người chạy bộ gần FDR Drive, trong tình trạng bị cưỡng hiếp qua hậu môn và bị đâm chết. Khi được phát hiện, trên tay em vẫn đang đeo một chiếc đồng hồ in hình ban nhạc New Kids on the Block.

Tinh dịch tìm thấy bên trong các nạn nhân là của cùng một người. Nhưng kẻ đó là ai?

Vào năm 1997, trước khi được phép sử dụng hồ sơ DNA của tất cả những tội phạm nguy hiểm, cơ sở dữ liệu của những kẻ từng bị kết án ít ỏi vô cùng. DNA được tìm thấy ở hiện trường sẽ trở nên vô dụng nếu không tìm được mẫu tương thích.

Từ năm 1991 tới năm 1998, có ít nhất bảy vụ tấn công giống nhau, cùng xảy ra ở Đông Harlem, tất cả đều có liên hệ tới một hung thủ. Các nạn nhân đều là những cô gái trẻ với tương lai đầy hứa hẹn, họ bị cưỡng hiếp vô cùng tàn nhẫn, ba trong số họ phải nhận những cái chết oan nghiệt, và hung thủ còn thản nhiên ném xác họ đi mà chẳng mảy may đắn đo gì. Thế nhưng tại sao chúng ta không đọc được những điều này trên báo chí? Sao chính quyền không đưa ra bất cứ cảnh báo nào cho công chúng hoặc yêu cầu về một cuộc điều tra trên quy mô rộng? Phải chăng họ bỏ lỡ vụ này bởi chính bộ máy nhà nước cũng đang hỗn loạn khi Sở Cảnh sát Cư trú[*] bị sát nhập vào cơ quan lớn hơn – NYPD? Thật khó để lý giải sự thờ ơ của chính quyền và truyền thông với những trường hợp như vậy. Cha mẹ các nạn nhân dán tờ rơi khắp các khu phố để tìm kiếm sự giúp đỡ, nhưng đã chẳng có gì xảy ra. Tiến sĩ Hirsch vẫn luôn nói: “Chúng ta vì hạnh phúc của các gia đình mà phục vụ.” Thế nhưng tôi đã không thể làm bất cứ điều gì để xoa dịu nỗi đau của những bậc cha mẹ ấy hoặc chí ít để bảo vệ những đứa trẻ khác. Tôi chỉ có thể thu thập bằng chứng giúp cảnh sát tìm ra kẻ giết người và sau đó chứng thực cho những gì tôi đã chứng kiến mà thôi. Nhưng ngoài kia, con quái vật vẫn còn ở đó.

Năm 1999, tám năm sau cuộc tấn công, cuối cùng cảnh sát cũng đưa ra được một tấm áp phích truy nã với bản phác thảo chân dung kẻ tình nghi cùng khoản tiền thưởng khiêm tốn cho ai báo án – 11.000 đô. Một sự sỉ nhục. Dẫu vậy, tấm áp phích đã giúp họ nhận được chỉ điểm để tìm ra Arohn Kee 25 tuổi, sống cùng tòa nhà với Paola Illera. Hồ sơ cho thấy hắn đã từng bị cảnh sát thẩm vấn trong vụ đầu tiên năm 1991, nhưng khi đó hắn dùng một cái tên khác. Người chỉ điểm đã cung cấp lời khai về một gã đáng sợ tên Ace Kee, còn Arohn lại dùng họ của mẹ vào ngày hôm đó. Chỉ với sự thật nho nhỏ ấy thôi, con dã thú đã được tự do để lang thang khắp các khu dự án – vùng đất đầy màu mỡ cho hắn săn mồi.

Các dự án nhà ở ban đầu là một ý tưởng hay. Chính quyền thành phố bắt đầu cho xây dựng những tòa tháp khổng lồ vào những năm 1945, họ xóa bỏ các khu ổ chuột và tạo ra hàng nghìn ngôi nhà cho các gia đình có thu nhập thấp. Nhưng chúng trông vô hồn, nằm ở vị trí biệt lập, không tiện cho đi lại và cũng chẳng gần các khu vực lân cận – nơi đã có sẵn cộng đồng dân cư cũ ở đó rồi. Các tòa nhà bị bỏ quên khi vốn đầu tư cạn kiệt, Cảnh sát Cư trú thì thiếu nhân lực nên phân công rất ít lực lượng trị an tại khu này. Ma túy và ma túy đá lây lan như bệnh dịch, biến các khu dự án thành hang ổ cho bọn tội phạm buôn bán ma tuý công khai, tấn công những người dễ bị tổn thương và bắn nhau trong các cuộc tranh giành địa bàn. Arohn Kee có thể đã phát triển địa bàn của mình ở đó, hắn rình rập những nữ sinh chạy về nhà trên các cầu thang tối tăm và qua những hành lang không người canh gác.

Dựa trên những chỉ điểm mới, Kee bị triệu tập lần nữa để lấy lời khai nhưng được thả ra sau đó, bởi không có bằng chứng đủ mạnh để chống lại tên này. Không dấu vân tay, không nhân chứng nhận dạng, chỉ có sự tương đồng về ngoại hình với bản phác thảo kẻ tình nghi trước đó. Nhưng cảnh sát vẫn theo dõi tên này và chỉ một thời gian ngắn sau, hắn bị bắt vì ăn trộm ổ cứng máy tính. Các thám tử đã cố lừa hắn ta cho mẫu DNA, nhưng hắn từ chối – với lý do hắn theo đạo Nhân Chứng Giê-hô-va[*] và việc đó trái với đức tin của hắn. Vì thế họ lấy cốc nước tên này sử dụng trong phòng tạm giam trước khi hắn được thả vì phạm tội nhẹ và gửi nó đi phân tích. (Bất cứ ai xem truyền hình cũng biết, nếu một vật bị nghi phạm vứt bỏ, bạn có thể lấy mẫu DNA trên đó mà không cần lệnh của tòa án.) Kết quả cho thấy mẫu DNA của Kee trùng khớp với mẫu DNA vật chứng trong tất cả những vụ cưỡng hiếp và giết người trước đó: bõ công tám năm ròng.

Sau khi Kee được thả, hắn trốn tới Florida với một cô gái khác, Angelique 15 tuổi đến từ Brooklyn. Cô bé nói hắn rất tốt bụng, hắn tặng quà và giúp cô bé làm bài tập về nhà. Đứa trẻ ấy đem lòng yêu hắn và cho rằng Kee sẽ cưới mình. Cha mẹ của cô bé gọi cho cảnh sát sau khi thấy tên này trên báo, mà giờ đây gây chú ý với tiêu đề Kẻ giết người hàng loạt đang tự do. Cô bạn gái chính thức khác của Kee nổi giận vì hắn ngoại tình nên đã báo cho cảnh sát vị trí của tên này. Kee bị bắt ở khách sạn Miami Sun Hotel, khi đang trốn dưới gầm giường trong một căn phòng tồi tàn trên tầng sáu.

Trong quá trình thẩm vấn, các thám tử nhận thấy Kee là người thông minh và ăn nói lưu loát. Hắn trông sạch sẽ và khá đẹp trai. Ngoài ra, hắn còn sử dụng máy tính thành thạo. Các cuộc ghi âm điện thoại cho thấy có hàng tá cuộc gọi giữa hắn và Johalis Castro trong quãng thời gian trước khi hắn hỏa thiêu cô bé. Hắn có đề nghị giúp đỡ Johalis làm bài tập không? Hắn có quyến rũ cô bé, trao cho cô những lời tán dương và đưa Johalis đi hẹn hò trước khi hủy loại cô bé ấy không?

Tôi biết điều đó đã xảy ra như thế nào. Tôi gần bằng tuổi Johalis khi gặp một anh chàng lớn tuổi hơn trong quán bar, một nam sinh đại học tự tin, có khuôn hàm sắc sảo. Anh ta đưa câu hỏi, mỉm cười và chạm nhẹ vào tay tôi, đặt toàn bộ sự chú ý lên người tôi – một kiểu quyến rũ con mồi. Đối với tôi, anh ta nằm ngoài tầm với. Vì thế tôi đã rất ngạc nhiên khi anh ta mời tôi một ly. Tôi thậm chí còn cho rằng mình đã thấy một vài cô nàng nổi bật trong quán mỉm cười tán thưởng tôi, như thể tôi là một trong số họ. Phải, đúng thế. Với căn cước giả và đôi Weejuns hàng nhái trên người. Có một cảm giác khó chịu mơ hồ dâng lên trong tôi, nhưng phải cố nén nó xuống để có thể tận hưởng khoảnh khắc đó.

Anh ta xin số và nói “có thể” sẽ hẹn tôi vào một dịp nào đó. Tôi không mong đợi có buổi hẹn tiếp theo như lời anh ta nói. Tôi chẳng còn lạ gì hai từ “có thể” nữa. Tuy vậy, tôi vẫn phấn khích khi nghĩ rằng người này “có thể” gọi cho mình, rằng tôi có thể có một người bạn trai như thế. Chỉ khi một người bạn thắc mắc, tôi mới chợt nhận ra mình chẳng biết gì về người đó ngoài tên và tuổi của anh ta. Chắc hẳn là bởi anh rất lịch sự. Tôi từng đọc ở đâu đó rằng những người lịch sự thường không nói về bản thân mình.

Nhưng anh đã gọi lại, và chúng tôi tới một bãi chiếu bóng phục vụ khách ngồi trong ô tô. Ở đó, anh hỏi tôi có muốn ăn bỏng ngô không, sau đó mời tôi uống bia. Phía sau xe có một thùng đá, anh lấy từ đó ra hai chai rồi mang lên ghế trước. Anh uống cả hai khi chúng tôi xem một bộ phim của James Bond, và cười khúc khích tán thưởng mỗi khi có ai đó bị đánh bại. Anh lấy thêm hai chai nữa, sau đó trượt tới gần hơn trên băng ghế, rồi vòng tay quanh người tôi. Mùi bia quen thuộc trong hơi thở của anh khiến tôi thích thú. Anh hôn tôi vài lần, sau đó lại tiếp tục xem phim. Bộ râu thô ráp của anh cọ lên mặt khiến tôi hơi khó chịu.

Sau một lúc, chúng tôi bắt đầu nghiêm túc làm tình, anh ta hôn mạnh bạo hơn và cạy mở miệng tôi. Tôi không thích như thế chút nào nên cố lùi lại, nhưng đối phương vẫn không từ bỏ. Bất chợt, anh ta luồn tay xuống thắt lưng và kéo hông tôi lên trong khi ấn vai tôi xuống và nằm đè lên người tôi. Tôi bị trọng lượng của người đó ghìm xuống, hông anh ta ghì chặt lấy cơ thể tôi. Liền sau đó, anh ta thọc tay vào trong và giật mạnh áo ngực tôi xuống, cùng lúc đó dùng đầu gối đẩy hai chân tôi ra. Mọi thứ diễn ra quá nhanh khiến tôi không thở nổi và vô cùng bối rối. Tôi đã làm gì? Tôi cảm thấy đôi môi sưng tấy lên dưới sức ép từ răng gã đó và mặt tôi bỏng rát vì bị những sợi râu cứng kia cào phải. Tôi vùng vẫy để đứng dậy, để đẩy hắn ra khỏi người tôi. Dừng lại, dừng lại đi! Hắn ta lầm bầm “Thôi nào, thôi nào…” và kéo quần tôi xuống. Sức nặng của đối phương làm tôi ngạt thở, tôi phát hoảng lên được. Tôi cố gắng hét lên nhưng miệng đã bị miệng gã kẹp chặt. Tôi dùng hai tay đẩy hắn ra, quờ quạng phía sau lưng, rồi – tạ ơn Chúa – tôi vơ được tay nắm cửa. Tôi liền kéo mạnh, và cánh cửa bật mở.

Gã trai nhìn cái cửa đầy ngạc nhiên, trong khi tôi vặn vẹo bên dưới để cố gắng trốn thoát. Đầu tôi chúi xuống đất khi tôi gập gối và ấn mạnh gót chân vào ghế. Tôi gần như đã ra khỏi cửa khi hắn đứng dậy. Tôi ngã xuống đất, sỏi găm vào vai tôi đau nhói. Tôi lồm cồm bò dậy và chạy vào phòng vệ sinh nữ khóc nức nở vì sợ hãi, xấu hổ và tức giận. Các cô gái ở đó vây quanh tôi, giúp tôi ấn những chiếc khăn ướt mát lạnh lên đôi môi và khuôn mặt trầy xước rướm máu.

“Hắn đã cố cưỡng hiếp em.” Tôi nói với một trong số các cô gái ở đó, trong tất cả họ đều lớn hơn tôi, chừng 25 – 26 tuổi.

“Nhưng em trốn thoát rồi. Em ổn rồi, em đã làm rất tốt.” Chị gái đó cùng bạn trai của chị đã đưa tôi về nhà, và tôi thì lầm lì giận dữ trong im lặng suốt dọc đường đi.

Ngày hôm đó tôi đã gặp may. Nhưng vận may không đến với tất cả mọi người.

Nó đã không đến với Johalis.

Arohn Kee đang bị hai thám tử giam giữ trong phòng quan sát, nơi duy nhất chúng tôi có thể lấy mẫu DNA. Hắn ngồi ở bàn, hai tay đã bị còng lại. Rất yên lặng. Rất điềm tĩnh. Hắn ta đẹp trai, với nụ cười ngượng ngùng, hơi cúi mặt như cách mà Công nương Diana đã sử dụng để tạo ra hiệu ứng lớn. Hèn chi tên khốn này có thể lừa được tất cả các cô bé ấy; hắn là một chú cún con đẹp trai đi lạc cần được chăm sóc.

Tôi đã ở đó để lấy mẫu máu và tóc hắn. Khi Paola 13 tuổi bị giết, lông mu đã được tìm thấy và được lưu trữ làm bằng chứng trong suốt tám năm. Giờ đây chúng tôi đã có cơ hội để xem liệu nó có khớp với gã không. Tôi thấy biết ơn vì có thể làm gì đó cho những cô bé tội nghiệp ấy.

“Anh Kee, tôi cần lấy lông mu từ đũng quần của anh, và điều đó có thể gây khó chịu. Tôi sẽ cố gắng để làm thật nhanh, được chứ?”

Kee mỉm cười ái ngại khi thám tử giúp tôi kéo quần hắn xuống, như thể đó là một sự xúc phạm đối với một quý cô như tôi.

“Vâng thưa cô,” tôi hiểu. Cô cứ làm việc cô cần làm. Hắn hợp tác, thậm chí còn cảm ơn tôi lúc bị dẫn đi.

Tôi đã nghĩ mình có thể đọc vị mọi người. Tôi đã thấy những gì Kee có thể làm với một bé gái, đã thấy kết quả từ hành vi bạo dâm và từ mong muốn hủy diệt sự trong trắng một cách tàn nhẫn, xấu xa của hắn. Nhưng tôi không thể phát hiện ra sự tàn bạo đó trong cách hành xử của hắn ta, và cũng giống như với George Cobo, tên giết người hàng loạt lớn tuổi tôi từng kể tới trước đây, trong những hoàn cảnh khác, tôi có thể đã thấy Kee quyến rũ.

Bản chất thật của Kee lộ ra không lâu sau đó tại phiên tòa, khi hắn ngồi trên bục nhân chứng và say sưa huênh hoang về âm mưu của một bác sĩ pháp y muốn đánh cắp nội tạng, một âm mưu mà hắn ta đã “phát hiện ra”. Hắn vừa cười vừa khóc, và hét “Mẹ kiếp tất cả các người!” trong phòng xử án. Tôi phải làm phần việc của mình để tống cổ hắn đi, làm chứng với tư cách là nhân chứng bên nguyên vào tháng Giêng năm 2001.

Tới phiên tòa, tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy luật sư của Kee hóa ra lại là một người mà tôi biết rõ và rất khinh bỉ. Luật sư bào chữa hình sự George Goltzer là người đã làm rất tốt công việc của mình. Tôi biết điều này từ kinh nghiệm trước đây, anh ta đã bắt bẻ và chỉ trích rất gay gắt khi tôi đứng trên bục nhân chứng vào năm 1998, trong phiên tòa xét xử Corey Arthur, kẻ bị buộc tội giết một giáo viên trường Bronx tên là Jonathan Levin. Levin, con trai của Giám đốc điều hành Tập đoàn Time Warner, Gerald Levin, là một chàng trai tốt bụng, kiểu giáo viên giúp đỡ học sinh sau giờ học và hướng dẫn họ kể cả sau khi tốt nghiệp. Corey Arthur là một trong những người được hưởng lợi như vậy. Hắn đã đến căn hộ của Levin cùng với một người bạn để xin lời khuyên. Cả hai đền đáp lòng tốt của người thầy bằng cách tra tấn anh bằng một con dao bít tết để lấy mã PIN ngân hàng, sau đó bắn chết Levin. Tất cả để đổi lấy 800 đô. Cái chết của Levin đã được các hãng thông tấn lớn của quốc gia đưa tin, như thế là đúng. Còn cái chết của Johalis Castro không một bên nào đoái hoài, như thế là sai.

Trong quá trình thẩm vấn thẳng[*], tôi đã mô tả một vết cắt trên gan bàn tay của Corey Arthur, được chụp lại bởi cảnh sát khi hắn ta bị bắt. Nó có những đường và điểm đứt quãng của một vết cắt bằng dao có lưỡi răng cưa, một con dao thái bít tết chẳng hạn. Nó cũng có hướng đi, tôi có thể nói rằng con dao đã cắt gan bàn tay của hắn theo hướng đi lên về phía ngón cái. Tôi giải thích rằng khi Corey Arthur ấn con dao xuống cơ thể Levin, nó đã va vào một thứ gì đó cứng, ví dụ như xương, khiến tay hắn trượt xuống lưỡi dao, và thế là gan bàn tay của hắn bị cắt thành như vậy. (Có một bản phác thảo phòng xử án[*] trên tờ New York Times mô tả cảnh tôi chứng minh điều này cho bồi thẩm đoàn, trông tôi trong đó giống như một tên giết người loạn trí.)

Khi thẩm vấn chéo[*], Goltzer đưa ra một lời giải thích khác, rằng Corey Arthur đã thực sự bị cắt vào tay khi cố gắng giật lấy con dao từ bạn mình, nhằm bảo vệ người thầy yêu dấu khỏi tên giết người thực sự. Được rồi, đó là một giả thuyết, nhưng Goltzer đã chọn cách công kích vào uy tín và tính xác thực trong lời tôi nói. Điều đó làm tôi nổi giận, từ đó dẫn tới một sai lầm tồi tệ ở phía tôi.

“Cô Butcher, cô đã bao giờ viết một cuốn sách về vết thương do dao đâm chưa? Thậm chí là một chương thôi? Chưa từng phải không? Tuy nhiên, cô đang tự cho mình là một chuyên gia về vết thương do bị đâm đấy.” Goltzer chế nhạo.

Tôi trả lời: “Không, tôi chưa từng viết sách, nhưng tôi đã chứng kiến hàng trăm vết thương do dao đâm rồi.”

Tôi có thể cảm nhận được bồi thẩm đoàn nghiêng về phía tôi một cách tế nhị, và sau đó anh ta trả đũa.

“Cô Butcher... cô thậm chí không phải là bác sĩ, đúng chứ?”

“Không, tôi không phải là bác sĩ, nhưng…” Thật vô ích. Tôi có thể cảm nhận toàn thân đỏ bừng lên vì tức giận, và phần còn lại trong lời khai của tôi về thời gian tử vong đã bị hủy hoại bởi cảm xúc của tôi đã bị tấn công và điều đó khiến tôi thực sự xấu hổ. Tôi trả lời một cách đề phòng, điều đó làm cho lời khai của tôi trở nên khó tin và kém chắc chắn hơn. Rõ ràng Goltzer là một người biết cách đọc vị người khác và nhắm vào điểm yếu của họ.

Tôi trở lại chỗ làm sau phiên tòa và tới gặp Tiến sĩ Hirsch. Ông đang đứng bên cửa sổ, chăm chút những cây bonsai với một cặp kìm nhỏ. Tiến sĩ ra hiệu cho tôi ngồi xuống.

“Thưa sếp, cháu làm hỏng việc rồi. Luật sư bên bị làm cháu khó chịu, và cháu tỏ ra phòng thủ, như thể bản thân không chắc chắn về những gì mình nói. Cháu thấy thật kinh khủng!”

Tiến sĩ đốt tẩu thuốc – vật bất ly thân của ông, và mỉm cười đầy sâu xa. “Bác chắc rằng cháu vẫn ổn, Barbara, đừng tự dằn vặt mình như vậy.”

“Nhưng cháu không ổn chút nào, còn lâu mới ổn. Anh ta giễu cợt và khinh thường cháu. Điều đó làm cháu vô cùng tức giận.”

“Vậy là cháu đã rơi vào cùng một cái bẫy mà hầu hết mọi người đều mắc phải.”

“Cháu đã khiến mọi thứ trở nên thật tệ hại. Như một tay nghiệp dư vậy, cháu nghĩ thế.”

“Công việc của luật sư bào chữa là đặt câu hỏi về lời khai của cháu. Công việc của cháu là nói lên sự thật và bằng chứng như những gì cháu đã thấy, đồng thời đưa ra những diễn giải dựa trên kinh nghiệm của mình. Chính cách cháu làm điều đó như thế nào tạo nên sự khác biệt.”

Tôi cảm thấy khá hơn ngay lúc đó. Tiến sĩ luôn có thể khiến tôi như vậy.

“Bác có thể chia sẻ với cháu một vài thứ bác học được qua nhiều năm, nếu cháu muốn. Đầu tiên, hãy đối xử với luật sư bên nguyên và bên bị với thái độ giống hệt nhau, bằng sự quan tâm và nhã nhặn. Cháu không đứng về phe nào cả, hãy là một nhân chứng chí công vô tư. Sau khi nghe câu hỏi, đừng trả lời ngay, hãy tạm dừng trong mười giây đã.”

“Mười giây ạ? Như vậy là im lặng lâu đó.”

“Vậy tối thiểu là năm. Nó sẽ có vẻ dài vô tận, nhưng điều đó giúp cháu có thêm thời gian để chuẩn bị cho câu trả lời và tránh việc phản ứng với những câu nói được thiết kế để làm cháu bối rối. Sau đó, hướng về phía bồi thẩm đoàn, và đưa ra câu trả lời của mình cho họ, chứ không phải luật sư. Họ là người phán xử và xứng đáng được cháu quan tâm đầy đủ. Hãy nhìn vào tất cả họ và kể cho họ câu chuyện hay nhất trong khả năng mà câu hỏi cho phép.”

“Thỉnh thoảng họ sẽ ngắt lời và nói Chỉ cần trả lời câu hỏi, có hoặc không.

“Và đó là những gì cháu làm. Luật sư càng công kích, thì cháu càng cần nhã nhặn và nhẫn nại. Các thành viên bồi thẩm đoàn sẽ tôn trọng sự chuyên nghiệp của cháu và lắng nghe cháu nói.”

Tôi biết ông đã đúng, ước gì tôi đã tới gặp ông trước khi sự việc diễn ra. Tiến sĩ không phải là người đưa ra lời khuyên không mong muốn cho bất kì ai.

“Nào, giờ thì hãy trở về nhà và tự thưởng cho mình một bữa tối ngon lành. Cháu xứng đáng được như thế sau một ngày khó khăn nhường đó.”

Tôi rời văn phòng của ông với tâm trạng tốt hơn, nghĩ về cách tiến sĩ có thể xử lý nếu ông không phải là một quý ông như vậy. Ông biết rằng dù ông có nói gì cũng không thể khiến tôi cảm thấy tệ hơn những gì tôi đã làm trước đó, vì vậy, tiến sĩ chọn cách làm cho tôi cảm thấy tốt hơn – không phải bằng cách phủ nhận rằng tôi đã làm rất tệ, mà bằng cách chỉ cho tôi làm thế nào để làm tốt hơn vào lần sau.

Vì vậy, tôi ở đây, bên ngoài phòng xử án nơi Arohn Kee sẽ bị xét xử, và chẳng bao lâu nữa tôi sẽ bị George Goltzer thẩm vấn chéo. Cảm thấy lo lắng nên tôi vào phòng vệ sinh nữ để trấn tĩnh lại. Tôi nhìn lên trần nhà và cầu nguyện: Xin Chúa giúp con hoàn thành tốt công việc. Sau đó, tôi nghĩ về Tiến sĩ Hirsch và những gì ông đã dạy tôi. AA đã dạy tôi “hành động như thế.” và vì vậy tôi quyết định hành động như thể tôi là tiến sĩ. Không chính xác như những gì tôi nghĩ về chương trình đó, nhưng nếu cách đó hiệu quả, thì tại sao không? Tôi sẽ thật ngầu, nhã nhặn và điềm tĩnh.

Tôi mặc bộ com lê đẹp nhất của mình vào ngày hôm đó, một chiếc Brooks Brothers màu đen với áo sơ mi trắng tươm tất cùng đôi giày cao gót màu đen. Nó làm tôi trông giống như một luật sư vậy. Tôi cảm thấy mình trông quyền lực trong bộ đồ đó và tự soạn cho mình vẻ mặt phù hợp: nghiêm túc, tự tin, bình tĩnh.

Ủy viên công tố quận (DA)[*] bắt đầu phiên tòa với thủ tục thẩm tra sơ khởi[*], quy trình mà một nhân chứng chuyên môn được xác minh có đủ tư cách trước tòa hay không. Anh ta hỏi những câu hỏi về lý lịch và các thông tin xác thực của tôi. Sau đó thì tới lượt Goltzer. Khi được hỏi về học vấn, tôi nói rằng mình đã có bằng thạc sĩ y tế công tại Đại học Columbia. Goltzer nhanh chóng hạ thấp uy tín của tổ chức tốt đẹp đó: “Cô Butcher, tấm bằng Đại học Columbia đó không liên quan gì đến công việc của cô trong vụ án này, phải không?” Vậy là tôi biết anh ta sẽ lại tấn công bằng cấp và uy tín của tôi, nhưng lần này tôi đã chuẩn bị sẵn sàng.

Tôi trưng ra một biểu cảm dễ chịu. “Không, nó không có liên quan gì tới vụ này.”

Thẩm phán Sudolnik chấp thuận tôi là chuyên gia điều tra tử vong và DA Plansky bắt đầu thẩm vấn thẳng, yêu cầu tôi mô tả những gì mình đã thấy và giải thích chúng cho bồi thẩm đoàn ý nghĩa của từng phát hiện một. Vị trí của Johalis Castro, cơ thể vặn vẹo của cô bé, những vết bỏng khủng khiếp... Tôi do dự một chút, bởi tôi biết gia đình của em đang có mặt trong phòng xử án. Hít một hơi sâu, tôi mô tả cảnh tượng kinh hoàng một cách chính xác và không có cảm xúc nhất có thể. Việc đó thật khó, nhưng phải làm như vậy. Tại một thời điểm, DA đưa những bức ảnh lên màn hình lớn và yêu cầu tôi giải thích tại sao tôi nghĩ Johalis Castro đã bất tỉnh khi em bị hỏa thiêu. Bức ảnh mô tả bức tường cô bé đã tựa vào, một khối xỉ xám nhạt với đường viền màu trắng ma quái nơi lưng và đầu của em đã từng ở đó. Nó được bao quanh bởi một quầng bồ hóng đen sẫm từ cơ thể đang bốc cháy của em.

Tôi chỉ nó cho bồi thẩm đoàn và giải thích. “Bóng đen cho thấy cô bé đang ngồi dựa vào tường, đầu gục xuống vai. Nếu cô bé hoàn toàn nhận thức được khi ngọn lửa thiêu đốt mình, thì sự đau đớn và thống khổ tột cùng sẽ khiến cô bé cử động chứ không phải ngồi đó gục xuống.” Tôi lắng nghe câu hỏi, dừng lại, và hướng về phía bồi thẩm đoàn, giống như tiến sĩ đã dạy tôi. Tôi nói với họ về bồ hóng trong mũi và cổ họng của cô bé, điều đó thể hiện việc thở trong đám cháy như thế nào. Công tố viên đã cho tôi tất cả thời gian cần thiết để giải thích những phát hiện trên cho bồi thẩm đoàn.

Sau đó tới lượt Goltzer thẩm vấn chéo tôi.

“Cô Butcher, lính cứu hỏa Zvinys đã làm chứng hôm nay rằng anh ấy đã dập lửa. Phải chăng việc sử dụng vòi nước của anh ta đã rửa trôi bồ hóng khỏi tường, để lại chính thứ hoa văn mà cô mô tả là bóng của cơ thể cô Castro đó?”

Tôi lắng nghe và suy nghĩ một lúc trước khi hướng về phía bồi thẩm đoàn.

“Nếu anh chị đã từng lau chùi lò nướng hoặc cửa kính của bếp lò củi, anh chị sẽ biết rằng bồ hóng là chất nhờn và không thể rửa trôi bằng nước. Rất khó để loại bỏ nó và cần phải dùng chất tẩy rửa mạnh. Ngoài ra, tôi không biết lính cứu hỏa đã sử dụng vòi nước hay dùng bình chữa cháy trước, vì chúng ta biết đó chỉ là một đám cháy nhỏ. Điều này thì anh sẽ phải hỏi anh ấy.”

Khi tôi nói, một vài bồi thẩm viên gật đầu đồng tình, chắc chắn là họ đã từng vệ sinh lò nướng rồi.

Sau đó, Goltzer thách tôi chứng minh rằng cái bóng đó là từ cơ thể Johalis.

“Có thể nào cái gọi là “bóng” này là từ một thứ khác không?”

“Tôi không nghĩ vậy.”

“Nhưng điều đó là có thể, phải không?”

“Phải, có thể.”

Goltzer đưa ra một loạt câu hỏi, yêu cầu tôi so sánh kích thước cơ thể cô bé với kích thước gần đúng của những khối xỉ. Điều đó chẳng có ý nghĩa gì nhiều, nhưng anh ta đã tuyệt vọng ở thời điểm hiện tại. Tôi không biết kích thước trung bình của một khối xỉ là bao nhiêu, và bạn cũng không thể làm chứng cho điều gì mà bạn không biết. Kee nhìn chằm chằm vào tôi với đối mắt chết chóc.

“Cô Butcher..” Goltzer nói, luôn nhấn giọng vào từ “cô” để nhắc bồi thẩm đoàn rằng tôi không phải là bác sĩ.

“Cô nói rằng mình ngửi thấy mùi chất dễ cháy hydrocacbon khi cô đến hiện trường. Hãy cho chúng tôi biết, cô có phải là một chuyên gia về mùi không?”

“Không, thưa ngài.” Tôi trả lời, sau đó hướng về phía bồi thẩm đoàn một lần nữa. “Nhưng tôi tự bơm xăng cho mình.”

Một số bồi thẩm viên đã mỉm cười.

Có nhiều lời qua tiếng lại, khi Goltzer cố gắng ám chỉ bằng cách nào đó rằng Johalis Castro đã tự tử bằng cách tự thiêu. Duy trì phong thái bình tĩnh, dễ chịu, chuyên nghiệp, tôi cung cấp cho các bồi thẩm viên các bằng chứng, giải thích phản ứng quan trọng, sự lắng đọng bồ hóng, hình ảnh nhiễu bởi hỏa hoạn – mọi thứ họ cần biết để đưa ra quyết định sáng suốt.

Goltzer đã làm hết sức mình để khiến bằng chứng DNA của Kee bị tuyên bố là bất hợp pháp. Anh ta nói: “Công chúng cần được biết tòa án này đã phát hiện ra các nhân viên cảnh sát có thể theo dõi xung quanh bạn, và không cần có bất kì sự báo trước hoặc chấp thuận nào của thẩm phán để lấy dịch cơ thể của bạn.”

Đó quả là một nỗ lực tuyệt vời, nhưng Thẩm phán Sudolnik không đồng ý. Cô phán quyết rằng bằng chứng đã được thu thập một cách hợp pháp.

Kee bị kết tội với tất cả tội danh và phải nhận ba án tù chung thân cho tội giết người, cộng thêm 400 năm tù giam cho tội hiếp dâm. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm trước phán quyết và hài lòng với bản án – Kee sẽ không bao giờ được tự do nữa. Nhưng cho tới hôm nay, tôi vẫn còn tức giận cho những cô bé đã gặp phải con quái vật này. Những gì đã xảy ra với Johalis, Rasheeda, Paola và tất cả những người khác mà hắn đã hủy hoại sẽ không bao giờ bị xóa bỏ.

Một thời gian dài sau phiên tòa, tôi vẫn không thể gạt hình ảnh Johanlis ra khỏi đầu mình. Khi cô bé nhận ra gã đàn ông đẹp trai hóa ra không thực sự thích em, rằng hắn chỉ muốn làm tổn thương, lợi dụng em, lúc đó em đã nghĩ gì? Cảm giác thế nào khi biết rằng không có ai giúp đỡ, không thể tự bảo vệ mình? Ngay trước khi nỗi kinh hoàng và đau đớn ập đến, tôi tưởng tượng nỗi buồn đó bao trùm lấy cô bé, nỗi đau vì sự trong trắng bị phản bội.

Hãy yên nghỉ nhé, Johalis.

« Lùi
Tiến »