Người Chết Biết Điều Gì

Lượt đọc: 94269 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 12
entenmann's[*] chết tiệt

Đêm Giáng sinh năm 1998. Sinh nhật của tôi. Tôi làm ca từ 12 giờ đến 8 giờ tối hôm đó, thừa thời gian để ăn tối với cô bạn Anne và thậm chí là cả dự buổi Thánh lễ nửa đêm – khó hiểu thay lại bắt đầu lúc 10 giờ tối. Anne và tôi gặp nhau vào khoảng cuối thập niên 70 ở một câu lạc bộ khiêu vũ nào đó, hình như là sau một vài đường ma túy trong nhà vệ sinh nam. Đám bạn bè thời thượng của Anne hẳn phải ngạc nhiên lắm khi biết cô là một tín đồ Công giáo Ireland cực kì ngoan đạo. Nhưng tôi thì không. Tôi đã chứng kiến lòng tốt ở người phụ nữ sắc sảo và hút thuốc liên tục ấy. Thiếu tiền thuê nhà? Một phong bì với vài trăm đô la sẽ xuất hiện giữa những miếng đệm xô pha. Không có việc làm? Anne sẽ giới thiệu và nói tốt về bạn trước các khách hàng như thể cô ấy đang giúp họ. Anne đã bí mật giúp đỡ những người xung quanh, và nếu bị bắt gặp, cô ấy sẽ chỉ nhún vai như thể sự dịu dàng đó là đương nhiên.

Vào thời điểm đó, tôi đang sống một mình trong một ngôi nhà nhỏ ở Catskills cách thành phố khoảng một tiếng rưỡi lái xe. Để tránh mất nhiều thời gian đi lại khi làm việc ca đêm, tôi sẽ thuê lại một phòng ngủ của một người bạn ở East Village. Trước kia, chỗ đó từng là một căn hộ lớn có phòng riêng cho người giúp việc ở bên ngoài nhà bếp. Carla sử dụng phòng đó để trữ một bộ sưu tập những con rối bụi bặm, đó là một tập hợp kỳ dị những chiếc mặt nạ trắng có đôi môi đỏ và những con vật giống con lửng mà cô kiếm được từ một chỗ bán đồ bất động sản nào đó. Ừ thì ai thì cũng có sở thích riêng. Cô ấy đã kê vào đó một chiếc giường tầng nhỏ, phía trên kệ trưng bày để tôi có thể ngả lưng sau một ca làm việc dài. Đó là một nơi tồi tàn và không mấy dễ chịu. Tôi luôn cố gắng để không phải ở lại đó lâu.

Anne dường như luôn biết khi nào một người bạn đang có khoảng thời gian khó khăn, và tôi đặc biệt vui mừng khi được cô mời đi ăn tối và đi lễ nhà thờ. Tôi cảm thấy mình trở nên đặc biệt khi là người mà Anne muốn cùng chia sẻ những truyền thống đêm Giáng sinh. Cô chọn nhà thờ St.Luke trên phố Hudson ở West Village. Một pháo đài an toàn nơi chấp nhận mọi sự khác biệt và tội lỗi, chấp nhận cả những người đồng tính như chúng tôi. Đó là một buổi lễ đẹp đẽ theo phong cách Tân giáo cùng những bộ lễ phục lộng lẫy, ánh nến và hương trầm được thắp trong những chiếc bình nặng bằng vàng treo đung đưa trong không trung. Tôi đã ngừng tới nhà thờ khi cha mẹ không còn ép buộc được chúng tôi nữa – họ từng tin tưởng tuyệt đối vào việc để chín đứa con đi đâu đó bên ngoài để họ có thể có chút thời gian riêng tư. Nhưng tối nay, khi được bao quanh bởi ánh sáng linh thiêng và những nghi lễ của đức tin, tôi cảm nhận được hy vọng đang dâng trào trong lồng ngực. Tôi nhìn quanh giáo đoàn và cảm nhận được lòng biết ơn và một điều gì đó gần như là hạnh phúc khi để ý thấy hai người phụ nữ lớn tuổi trong trang phục đuôi cáo và mái tóc nhuộm đỏ ngồi vắt vẻo trên băng ghế cạnh những người bạn tóc xù, xỏ khuyên. Gương mặt họ bừng lên trong ánh sáng ấm áp của buổi lễ và giữa những cái nhìn chằm chặp của những đứa trẻ hiếu động. Lúc gần nửa đêm, dàn đồng ca bắt đầu cất giọng – giọng hát vút qua trần nhà hình vòm trên cao dường như cũng nâng tôi lên theo. Đột nhiên, máy nhắn tin của tôi reo lên.

Tôi ra ngoài tiền sảnh và gọi bộ đàm về văn phòng.

Deena xấu tính nhận được tín hiệu. “Có án mạng ở Bronx. Đợi chút.”

Tôi giữ máy, bối rối vì chỉ nghe tiếng rè rè.

Tôi nhắc lại: “Điều tra viên số 2 gọi trung tâm. Ừm, Deena, vụ của tôi ở đâu thế?”

“Trung tâm gọi Điều tra viên số 2. Tôi đã bảo là chờ chút!”

“Lạy Chúa ban hòa bình xuống Trái Đất và cả những điều thiện lành cho cô nữa, Deena ạ.”

“Các bộ phận của thi thể được tìm thấy trong thùng trữ lạnh ở phân khu Bốn Ba. Cô muốn Nathan đón ở đâu?” Chết tiệt, hôm nay bác Wells nghỉ lễ.

Sự xuất hiện của chiếc xe OCME màu trắng với chữ vàng và đèn nháy trên nóc đã gây ra chút xôn xao cho những người đang làm lễ. Cùng lúc đó, Nathan hạ cửa kính xuống để đám đông có thể thấy anh ta đang mặc chiếc áo khoác đồng phục ME. Nathan tự hào về công việc và mọi thứ liên quan. Anh ta thậm chí còn đeo ở cổ một dây chuyền với cái huy hiệu MLI giả. Trừ lúc anh ta đi với tôi, thế đấy. Tôi hiểu cảm giác cần được thuộc về – tôi cảm thấy vinh dự khi được đeo chiếc huy hiệu vàng của mình nhưng tôi không thể tiếp tay cho việc Nathan dối trá, và anh ta biết điều đó. Ví dụ như việc anh ta giả làm một sĩ quan và làm những người khác ở hiện trường phải bối rối và hỏi lại tôi: “Tôi tưởng anh ta là tài xế của cô?”

Tôi mở cửa xe và thấy da anh ta có vết rộp lên do vừa cạo râu. Tuyệt vời. Nathan chưa tắm. Anh ta từng giải thích cho tôi một lần cái mẹo nhỏ đó khi tôi yêu cầu anh ta bớt nước hoa đi và mặc thêm quần áo vào. Thế nhưng, anh ta vẫn vậy, lông nách mọc thò ra khỏi chiếc áo ba lỗ bẩn thỉu, mùi nước hoa Grey Flannel bốc ra đến mức người ở tận trên thiên đàng cũng phải ngửi thấy. Chúa ơi, tôi nhớ bác Wells, sẽ thật tuyệt nếu có thể trải qua ngày sinh nhật của mình với bác ấy.

Chúng tôi tăng tốc chiếc FDR Drive đến Bronx. Quận này đã bị phá bỏ vào những năm 70 và vẫn còn mang nét đặc trưng của những tòa nhà bị đốt cháy với những khu đất đầy gạch vụn, khiến nó trở thành biểu tượng cho sự thất bại của xây dựng đô thị. Trong những lần làm việc ở khu đó vào những năm 80, tôi từng mạo hiểm ra khỏi bệnh viện St. Barnabas cho các cuộc hẹn, hoặc thỉnh thoảng để ăn bánh empanadas[*] chính hiệu từ một người bán hàng rong tên là Papi. Chuyến đi ra ngoài đòi hỏi bạn phải đi dọc theo mấy chỗ trông như thế ở nước Đức thời hậu Thế chiến thứ hai – bị ném bom tan hoang và đổ nát. Vào thời điểm ấy, tôi chẳng nghĩ gì xa hơn, bởi Bronx lúc nào cũng trông như vậy. Tôi chưa bao giờ ngừng nghĩ về việc tình trạng ấy nói lên điều gì về cuộc sống của những người ở đó. Giờ thì tôi đã hiểu rõ hơn.

Nathan rẽ vào một cánh đồng đầm lầy khu Soundview. Chúng tôi thấy một nhóm cảnh sát trong quầng sáng của ánh đèn pin và chạy xe về phía họ, chiếc xe xóc nảy trên những vết bùn đóng băng. Khung cảnh hoang tàn dưới ánh đèn trông thật tráng lệ. Không khí lạnh, tối và trong suốt nên ánh đèn chớp nháy xanh đỏ được phản chiếu cực kì sắc nét.

Các thám tử chào đón tôi.

“Này, cô Butcher kìa! Cô làm gì ở khu ổ chuột Bronx này thế? Tôi chưa gặp lại cô từ dạo cái gã u ám đã đánh mẹ mình ở phân khu Hai Bốn.”

“Chà, Giáng sinh mà.” Tôi đáp. “Là dịp để tụ họp với nhau còn gì.”

“Nào, xem chúng ta có gì ở đây nhé, Barbara, có hai thùng trữ lạnh đầy xác người. Cô nhìn đi.”

Vị thám tử nhấc cái nắp của chiếc thùng trữ lạnh Coleman cỡ đại màu xanh lá lên, loại được thiết kế để sử dụng trong buổi dã ngoại cho chục người. Tôi thấy đùi và chân đầu tiên, bị thiếu mất một bàn chân và bị chặt một cách thô bạo. Tôi hiểu ra vì sao các thám tử lại mừng khi thấy tôi. Báo cáo DD5[*] của họ sẽ có nội dung: “Điều tra viên Butcher nhận công việc và phụ trách phần thịt còn lại[*].”

Phần ngực đã được gói chặt, nhưng nhờ ánh sáng lạnh lẽo xuyên qua, tôi có thể thấy một thân hình nam giới, hai cánh tay đã mất bàn tay, một bên vai nối lên phần cổ bị cụt và một chiếc chân phải. Không có đầu. Tôi đã không mở cái túi tại đó. Tốt hơn là làm việc ấy trên một tấm bạt ở nhà xác để tránh làm mất bất kì chứng cứ nào. Hơn nữa, chiếc thùng đá cũng được thiết kế để có thể vận chuyển dễ dàng.

Eddie của Đội tuần tra ban đêm thông báo: “Và trong thùng thứ hai, chúng ta có…” Anh ta lùi ra xa vài bước, để lộ chiếc thùng thứ hai đã được hé mở sẵn bởi một cánh tay thò ra ngoài. Như vậy là có tất cả ba cánh tay. Tôi chụp ảnh sao cho lấy đủ bốn phía đầm lầy xung quanh chiếc quan tài nhỏ trước khi tập trung vào chiếc thùng trữ lạnh và những thứ bên trong.

Đeo găng xong, chúng tôi mở cái thùng thứ hai để xác nhận rằng có nhiều bộ phận cơ thể ở bên trong, chúng là của hai người đàn ông. Tôi chạm vào mớ hỗn độn đó để nhấc một chân phải khác sang một bên, trong giây lát, tôi quên mất nó có thể nặng đến mức nào và không điều chỉnh lại lực nắm.

“Này, Eddie, giúp tôi một tay nào? Ồ, thôi đừng lo, tôi tìm được một tay rồi.”

Tiếng xì xầm vang lên xung quanh.

Sự hài hước này không liên quan đến nạn nhân mà thực ra là dành cho bản thân tôi. Đó là một cách để giảm thiểu căng thẳng và sợ hãi, bởi làm việc trong im lặng không thoải mái chút nào. Tôi không muốn phải nghĩ về những suy đồi của con người vào dịp Giáng sinh, và chắc chắn tôi không muốn nghĩ đến việc cái chết đã đến với những người này một cách kinh khủng đến thế nào. Nhưng tôi vẫn phải làm. Bởi đó là công việc của tôi.

Tôi tìm những phần đầu và tay còn lại để cảnh sát có thể nhận dạng và bắt đầu việc điều tra. Không may thay, ở đó chỉ có rất nhiều chi và thân mình gộp lại thành hai người đàn ông đã chết. Thậm chí còn không có đến một bàn chân để treo thẻ ngón chân lên.

Tôi để Nathan chụp vài bức ảnh cận cảnh những phần còn lại. Như thế thì tiện hơn vì tôi sẽ không phải tháo găng tay. Anh ta thích làm việc đó bởi nó giúp tăng độ tin cậy cho lời nói dối của anh ta với bạn gái, rằng anh ta là một điều tra viên. Nathan tội nghiệp không thể chấp nhận bản thân mình. Anh ta đã bị kỷ luật hai lần, mất ngày nghỉ phép và tiền lương, nhưng vẫn không thể là chính mình và dẹp bỏ ham muốn trở thành một ai đó khác. Chính lòng ham muốn đó đã dẫn Nathan đến với việc hút ma túy đá. Nathan là một kẻ nghiện đầy mộng mơ. Tôi không ưa anh ta, có lẽ là bởi tôi không dám thừa nhận rằng hai chúng tôi có nét tương đồng. Anh ta lười biếng và thông minh, đó là một sự kết hợp tồi tệ. Rốt cuộc sau này Nathan bị sa thải, sau đó chỉ sạch sẽ và tỉnh táo duy nhất một lần ngay trước lúc chết. Tên khốn tội nghiệp.

Sau khi Đội điều tra hiện trường kết thúc việc chụp ảnh và quét bụi để lấy dấu vết, một sĩ quan tuần tra ném những tấm bạt sạch phủ lên những chiếc thùng. Chúng tôi rời khỏi đó, gọi điện đàm về trung tâm để một chiếc xe chở xác tới nhận chúng.

“Giáng sinh vui vẻ nhé các anh! Hẹn sang năm gặp lại.”

Quay trở vào trong xe, tôi rùng mình mặc dù điều hòa đang sưởi hết công suất. Đó là một hiện trường rùng rợn, và giờ đây không còn ai xung quanh để làm tôi phân tâm khỏi những ý nghĩ u ám len lỏi vào tâm trí. Liệu các nạn nhân có còn sống lúc bị chặt tay không? Liệu có ai trong số họ phải chứng kiến người kia bị chặt xác? Trước khi kịp chặn lại dòng suy nghĩ đó, tôi hình dung ra cảnh một người đàn ông gào lên đau đớn khi một con dao chặt thịt giáng xuống cổ tay anh ta. Tôi cảm thấy một nỗi kinh hoàng thoáng qua khi nghĩ tới việc người còn lại có thể đã biết rằng anh ta sẽ là nạn nhân tiếp theo. Ý nghĩ về sự bất lực trong tình huống như thế, khi người ta không thể tự bảo vệ chính mình khỏi kẻ khác, làm tôi sốc nặng. Tôi phải tách biệt cảm xúc của mình, không được nghĩ đến con người, mà chỉ được tập trung vào những chứng cứ hiện hữu và các tình tiết. Vì vậy, tôi cố gắng gạt những hình ảnh đó đi bằng việc hát cho chính mình nghe hoặc tưởng tượng ra thứ gì đó vui nhộn. Lần này, tôi tưởng tượng ra cảnh một nữ tu già đang chơi đu quay.

Đừng chùn bước. Đừng suy nghĩ. Đừng cảm nhận.

Chúng tôi còn chưa kịp về lại văn phòng thì máy điện đàm đã lại reo vang.

Cissy bé nhỏ gọi, Deena xấu tính bao nhiêu thì cô ấy ngọt ngào bấy nhiêu. “Bánh pudding[*] ngọt ngào của tôi ơi, tôi rất tiếc nhưng cô có thêm một vụ nữa, phân khu Ba Hai, đó là một vụ giết người. Đội điều tra hiện trường nói rằng họ còn chục phút nữa thì tới nơi.”

Đa số công việc của tôi ở Manhattan đến từ những khu ngoại ô nghèo, quanh các vùng Harlem và Washington Heights. Nghèo đói dẫn đến ma túy, ma túy dẫn đến bạo lực.

Một khu chung cư xuống cấp khác, một lần nữa phải leo lên chiếc cầu thang lót vải đã sờn rách, một vụ khác nữa trong một căn hộ tồi tàn. Tôi thấy một nhóm cảnh sát đang đứng trong hành lang hẹp trên tầng bốn và tìm gặp người phụ trách vụ án.

Tôi không quen người đội trưởng chịu trách nhiệm lần này, vậy nên tôi tự giới thiệu và hỏi có gì bên trong.

“Nam, tuổi đôi mươi, rõ ràng là một vụ giết người. Tôi muốn đợi Đội điều tra hiện trường xong việc trước khi để cô vào.”

Được thôi, anh ta muốn tiến hành theo thủ tục.

“Chắc chắn rồi, không vấn đề gì, miễn là họ không chạm vào thi thể. Cái xác là của tôi.”

Quy định là sĩ quan đầu tiên đứng ở cửa là người chịu trách nhiệm ngăn ngừa mọi xáo trộn hiện trường có thể gây ra bởi những người bên ngoài. Mỗi người đều phải được ghi lại trong cuốn sổ của anh ta, và họ phải có phận sự ở đó: nhân viên cấp cứu, thám tử, Đội điều tra hiện trường, Đội cứu hộ khẩn cấp. Hầu hết các giám sát viên đều nghĩ rằng bác sĩ pháp y nên ở trong đó ngay từ đầu, nhưng anh chàng này thì không. Hoặc có thể anh ta chỉ ra vẻ đàn ông, kiểu: “Đứng sang một bên đi, quý cô nhỏ bé?” Tôi hiếm khi gặp phải thái độ đó, tôi đã giành được sự tôn trọng của các thám tử từ rất lâu trước đây. Họ đã quen với tính cách hơi kỳ quặc và sự hứng thú với các vết thương bất thường của tôi, họ biết rằng tôi ham học hỏi và chia sẻ các ý tưởng với họ. Sẽ chẳng hại gì khi tôi thích phiêu lưu, sẵn sàng trèo lên sân thượng hay đạp xe dọc đường ray thứ ba[*] trong một đường hầm tàu điện tối tăm để tìm một bộ phận cơ thể bị thất lạc. Tôi cũng biết rõ cách nói chuyện, cách sử dụng thái độ đúng mực trong môi trường cảnh sát – nhờ có bố tôi, người đã từng là cảnh sát vào thời mà một kẻ lạm dụng tình dục trẻ em đang bị bắt sẽ vô tình bị ngã cầu thang... tận hai lần. Mọi thứ bây giờ đã khác, nhưng sự hoài nghi và khó chịu vẫn còn đó. Tôi thích những anh chàng khó gần và hoài nghi này. Họ dũng cảm, chân thật và tốt bụng, ánh mắt nghiêm khắc của họ dành cho tội phạm và những kẻ lừa đảo – những loại phạm tội nhỏ. Tôi thậm chí còn ăn mặc giống họ – chà, gần như là vậy. Họ chỉn chu trong những bộ com lê và cà vạt, cùng áo choàng màu nâu với đôi giày bóng loáng. Tôi cũng mặc những bộ đồ công sở xinh xắn của phụ nữ nhưng khoác áo choàng đen để tạo sự khác biệt. Tuy vậy, vị đội trưởng này dường như không nhận thấy điều đó. Anh ta không tin tôi và chặn mọi người lại bên ngoài hiện trường.

Tôi dựa vào chiếc lan can gỗ đã lung lay và chào hỏi các sĩ quan tuần tra. Bữa ăn gần nhất của tôi là bữa tối vốn đã trôi qua từ lâu, và tôi bắt đầu cảm thấy đói. Vì sẽ phải chờ đợi một lúc, tôi bảo Nathan xuống quán nhỏ bên dưới mua cà phê và bánh vòng. Điều đó làm mọi người hào hứng hơn. Mọi người, ngoại trừ DeSantis, người lấy cái bánh cuối cùng. “Tại sao họ còn đóng hộp mấy thứ này cơ chứ?” Anh ta nói, nhìn chiếc bánh vòng trơn trong tay. “Ý tôi là, ai cũng muốn có bánh phủ sô cô la hoặc bột đường. Bột quế thì tôi cũng tạm chấp nhận được, nhưng thế này là sao? Entenmanns chết tiệt.”

Sau 20 phút nhai ngấu nghiến, húp xì xụp và nói chuyện phiếm, điều tra viên Al của Đội điều tra hiện trường ló đầu ra ngoài hành lang.

“Ồ, này Barbara, tôi không biết là cô ở đây, mời vào.” Anh ta nói, ném ánh nhìn về phía đội trưởng như thể giải thích rằng tôi là người quen và biết mình phải làm gì nên không cần phải để cho tôi đợi như vậy.

Al bước sang một bên cạnh lối vào, để lộ ra một cây thông Giáng sinh lớn và lộng lẫy, choán gần hết diện tích của căn phòng khách nhỏ. Những quả bóng đỏ và vàng ngoại cỡ, dây kim tuyến màu bạc cùng những dây đèn màu nhấp nháy mỗi sợi theo một nhịp điệu khác nhau treo đầy trên cây. Cái cây nhân tạo quá cao so với căn phòng, nên phần ngọn và ngôi sao trang trí bị uốn cong 45 độ. Đó là một cây thông hạnh phúc, và ai đó đã vui vẻ dựng nó lên, kê nó ở giữa sân khấu.

Khi mắt đã quen với ánh sáng chói, tôi thấy những món quà được xếp chồng lên nhau dưới gốc cây – những chiếc hộp được bọc giấy vàng với đầu dây nơ cuộn lại. Trong đó rõ ràng có một quả bóng được bọc trong giấy gói quà hình ông già Noel. Dựa vào chồng quà là một người đàn ông trẻ, hai tay và chân bị trói ra sau, nửa dưới khuôn mặt bị quấn lại bằng băng dính. Đôi mắt nâu của anh ấy lồi ra, và những lọn tóc xoăn ướt đẫm mồ hôi. Đó là một cái chết khó chịu đến là ngột ngạt.

Một cái “thẻ quà tặng” đã thu hút sự chú ý của tôi: một tấm biển bìa cứng lớn được dán trước ngực nạn nhân với dòng chữ viết bằng bút dạ Magic Marker: “MARIA, MÀY SẼ LÀ ĐỨA TIẾP THEO.”

Al và tôi xem xét các chi tiết trong vài phút, nói về cách mà người đàn ông này được tìm thấy, khả năng lấy được dấu vân tay từ băng dính, xác định thời điểm tử vong, và làm cách nào tôi làm việc mà không làm xáo trộn phần việc của Al – những vấn đề bàn luận thông thường. Liệu nạn nhân đã bị giết dưới gốc cây hay bị đặt ở đó sau khi chết? Có thể là trường hợp thứ hai, vì cái cây không bị xáo trộn do việc cơ thể nạn nhân bị xô đẩy và kéo giật dữ dội.

Tôi bị phân tâm bởi tiếng hét của một phụ nữ vọng lên từ dưới sảnh.

“Cái quái gì thế?” Tôi hỏi một cảnh sát gần đó.

“Ồ, đó là Maria.”

Lúc chúng tôi quay lại thành phố, tôi nghĩ về việc điều tra để đánh lạc hướng bản thân. Có lẽ Đội điều tra hiện trường sẽ thu thập được dấu vân tay trên thùng trữ lạnh Coleman hoặc từ miếng băng dính trên người cậu trai trẻ dưới gốc cây, có thể sẽ có một hoặc hai vụ bắt giữ. Nhưng những vụ giết người liên quan đến băng đảng hay ma túy hiếm khi được giải quyết trọn vẹn, và trong lúc việc điều tra diễn ra, những kẻ phạm tội đã chết bởi chính lối sống của chúng. Đó là những ca tai nạn nghề nghiệp.

Có thêm hai vụ nữa vào ban đêm, đều là cái chết tự nhiên chỉ là những người già ốm yếu sống một mình và chết hiu quạnh vào Giáng sinh. Tôi cũng cô đơn. Đó là một buổi sáng trong lành lạnh giá, không có ai trên đường ngoại trừ tôi, không ai nói về những điều tôi đã thấy vào đêm trước đó. Mọi người khác trong thành phố đều nhét mình trong những căn hộ được sưởi ấm, mở những hộp quà trong lúc đang bận trên mình bộ pajama bằng vải nỉ mỏng. Ít nhất thì tôi tưởng tượng vậy.

Tôi thích đêm Giáng sinh. Mọi thứ đều được dự liệu từ trước và không gì có thể làm ngày trọng đại ấy trở nên tồi tệ. Đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Nhưng chẳng vui vẻ gì khi lớn lên với ngày sinh nhật như vậy. Đâu có gì vui khi phải là cái bóng của Chúa Giêsu bé bỏng.

“Mẹ ơi, con có thể tổ chức tiệc sinh nhật được không?” Tôi ai oán yêu cầu hàng năm.

“Không, đang dịp Giáng sinh và không ai đến đâu con.” Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn không thể tổ chức một bữa tiệc nào, bởi dù là vào bất cứ thời điểm nào trong năm, tôi cũng chắc chắn rằng sẽ chẳng có ai đến dự.

Vậy nên, đêm Giáng sinh yêu thương chắc hẳn không phải dành cho ngày sinh nhật của tôi. Đó là lời hứa về sự ra đời của một vị cứu tinh, một người đem đến cho chúng ta hy vọng. Tôi cứ chờ đợi một sự thay đổi khi mỗi mùa Giáng sinh đến, và dù sự thay đổi đó chưa bao giờ đến, tôi vẫn yêu ý nghĩ rằng một ngày nào đó nó sẽ đến. Những nghi thức của hy vọng cứ tiếp diễn, bất chấp những trải nghiệm tăm tối của tôi với thế giới xung quanh. Nhưng năm đó thì khác, không chỉ vì đã có phần nhiều cái ác hiện diện. Cuộc chia tay gần đây với một nhà văn xinh đẹp và hài hước nhưng lại thích ở bên đàn ông hơn đã khiến tôi tổn thương. Tài năng chọn phụ kiện phù hợp và vấn tóc kiểu Pháp bằng một chiếc đũa của Carolin lẽ ra đã có thể cho tôi biết rằng cô nàng không thực sự đồng tính. Chúng tôi vẫn là bạn bè, như việc mà những người đồng tính nữ (và bán đồng tính nữ) vẫn làm. Vì vậy, tôi đồng ý đến trông căn hộ của cô ấy ở East Village khi cô nàng bận đi nghỉ và đổi chác những con rối bụi bặm lấy con mèo hoang của mình.

Tôi đi vào trung tâm thành phố để đến chỗ Carolin, với trái tim nặng trĩu và buồn bã. Sau vài năm làm việc, tôi đã đóng cửa trái tim, tiếp nhận nhiều vụ việc bi kịch hơn mức tôi có thể chịu đựng. Rõ ràng, tách biệt cảm xúc và sử dụng khiếu hài hước đen tối không phải lúc nào cũng hiệu quả. Tôi ước có ai đó để nói chuyện. Tôi nên đùa với ai đây? Tôi không bao giờ được kể về công việc với ai, và nếu bạn ngừng nói về một nửa cuộc đời của mình, chẳng mấy chốc bạn sẽ ngừng nói về mọi thứ. Tôi nhận ra rằng công việc có ảnh hưởng không tốt đến các mối quan hệ của tôi, nhưng đó đã là tôi mất rồi. Một tối nọ, tôi về nhà Carolin, cởi hết quần áo và kéo chăn trùm lên đầu. Tôi chỉ có thể kể cho cô ấy rằng tôi muốn quên hết những gì mình đã thấy, quên đi chính bản thân mình, nhưng tôi không thể giải thích gì thêm. Thường xuyên ủ rũ và ít giao tiếp, tôi không mang lại niềm vui cho những người xung quanh. Tôi mong đợi mọi người sẽ cảm nhận được bằng trực giác, nhưng làm sao để ai đó có thể hiểu được thứ gì đang làm tôi phiền muộn?

Sáng Giáng sinh năm đó, tôi nhớ đến câu khẩu hiệu của AA: “Đừng để bản thân bị đói bụng, giận dữ, cô đơn hay mệt mỏi.”

Tôi đang có ba trong bốn thứ đó. Tôi không thể giải quyết vấn đề cô đơn, đặc biệt là vào giờ đó. Tôi cũng sẽ cần làm giãn cơ thể trước khi có thể đi ngủ, nên tôi vẫn phải chịu đựng sự mệt mỏi thêm một chút nữa. Nhưng rồi tôi có thể mua cho bản thân món gì đó ngon để ăn. Một chiếc bánh muffin[*] ngô tươi là một lựa chọn tốt. Có một cửa tiệm bánh ngọt trên Phố 12 Đại lộ 2, cửa tiệm đó có sàn bê tông và không có đồ trang trí, được tận dụng từ không gian của một nhà hàng bị bỏ trống. Tất cả những gì họ cần là mang vào vài giá nướng bánh, một quầy ăn và quầy thanh toán. Đây là loại bánh muffin mà người New York sẵn sàng xếp hàng để mua bánh ẩm, xốp với phần bề mặt giòn hoàn hảo. Cánh cửa lúc đó đang được hé mở, tôi bước vào và thấy một phụ nữ trẻ đang lấy những chiếc bánh nướng vàng óng ra khỏi lò và đặt chúng lên giá. Mùi thơm tỏa ra đến là ngây ngất. Tôi có thể ngửi được mùi bơ trong không khí. Nó giống như mùi của hy vọng vậy.

“Cửa hàng đang đóng cửa.”

“Ồ, tôi xin lỗi.” Tôi nói. “Nhưng tôi thấy cô có sẵn bánh ở đây và tôi có chính xác số tiền lẻ cần để trả, ba đô phải không? Tôi không cần túi đựng đâu.”

Tôi cười thân thiện nhất có thể.

“Không được, chúng tôi chưa mở cửa. Cô ta bận bịu xếp bánh lên giá và không thèm nhìn tôi.”

“Là thế này, tôi vừa trải qua một đêm tồi tệ, tôi đói và lạnh, tất cả những gì tôi muốn làm là ăn một cái bánh muffin và đi ngủ. Làm ơn, làm ơn hãy bán cho tôi một cái bánh thôi, tôi sẽ trả thêm tiền.”

“Chúng tôi vẫn chưa mở cửa, mời cô ra ngoài.”

Cô ta đi vòng ra từ sau quầy để đuổi tôi ra ngoài. Mắt tôi cay cay và rơm rớm vì giận dữ, nhưng tôi vội chớp mắt để chúng qua đi. Giờ đây tôi có cả “giận dữ” nữa. Tôi lùi ra khỏi lối vào khi cô ta đóng cánh cửa kính ngay trước mặt. Tôi nhìn cô ta bỏ đi một cách tự mãn như thể mình vừa thắng được cái gì đó. Nếu chỉ cần có một chút lòng tốt thôi, cô ta đã có thể giúp tôi xoay chuyển mọi thứ, nhưng cô ta đã không chọn làm vậy.

Tôi khịt mũi và băng qua Đại lộ 2 đến cửa hàng bán đồ ăn nhanh Hàn Quốc và mua được ở đó một chiếc bánh muffin hiệu Entenmann's dở tệ. Nó được đựng trong chiếc túi nhỏ màu xanh lam và đã ra lò được ít nhất một tuần. Tôi sẽ phải ăn một cái bánh có chứa glycerin[*], quả việt quất khô và xanthan gum[*].

Tôi lê thân mình vào căn hộ của Carolin và đối phó với con mèo hoang đang nhào tới mắt cá chân của tôi. Tôi đổ đầy đĩa thức ăn cho nó, tự pha cho mình một tách trà rồi ngồi xuống bàn và gặm chiếc bánh thảm hại. Con mèo nhìn tôi chằm chằm từ chỗ nó trên ghế xô pha, sau đó trong nháy mắt nhảy lên không trung và chộp lấy cái bánh. Con mèo ngoạm lấy cái bánh bằng răng, chạy vào phòng tắm và dùng chân đập nát nó, làm vương vãi bữa sáng của tôi cùng với cát vệ sinh cho mèo khắp sàn nhà tắm.

Chỉ khi đến lúc đó, sau một đêm gặp phải những người đàn ông bị chặt xác một cách dã man và vứt đi như vứt rác, một người thanh niên trẻ bị chết ngạt một cách chậm rãi, một người phụ nữ la hét trong nỗi sợ hãi rằng mình sắp bị sát hại, những người già bị lãng quên và chết một mình mà không ai nhớ tới, đến lúc đó tôi mới bật khóc.

« Lùi
Tiến »