Tôi đặt chân tới văn phòng đúng lúc Randy đang thuật lại vụ việc bất thường mới đây nhất của anh ta, trong tình trạng kiệt quệ và phát bệnh vì làm việc trong quá nhiều giờ. Trên một chuyên mục thường niên của tờ New York Post có tên Mười nhân vật kiếm thêm hàng đầu! nhằm xếp hạng thu nhập ngoài giờ của công chức toàn thành phố, bước sang năm thứ hai liên tiếp, tôi đã “đứng chễm chệ” ở vị trí thứ ba. Nhưng ít ra nghiện công việc vẫn tốt hơn nghiện rượu, chưa kể còn có thêm khoản lương lậu.
Randy hai tay chống nạnh, tạm ngừng câu chuyện chờ tới khi tôi chú ý mới tiếp tục.
“Vậy, hai người đang đứng dưới sân của tòa chung cư, thời điểm mà chỉ có Chúa mới đoán được thì bỗng... Rầm!”
Nói tới đây, Randy đập tay xuống bàn phụ hoạ nhằm tạo hiệu ứng tốt hơn cho đám sinh viên y khoa dạo gần đây loanh quanh theo chúng tôi học việc – một phần trong chương trình sáu tuần luân phiên lâm sàng của họ. Randy kể tiếp. “Một bộ tóc giả đẫm máu rơi xuống mặt đất, cách chỗ họ chưa tới một găng tay. Người trẻ tuổi hơn, rất hồn nhiên, lau vội vết máu trước khi nó kịp vấy bẩn đôi giày Air Jordans cậu ta mang. Thế nên người còn lại đã đứng dậy, kiểm tra xem rốt cuộc thứ gì vừa rơi xuống. Mấy nhóc thân yêu, đây thật sự là rắc rối lớn. Thứ rơi xuống không phải tóc giả – mà là một cái đầu người.”
Randy lúc này đang bật chế độ khoa trương hết mức, phản ứng từ đám sinh viên khiến anh mãn nguyện vô cùng.
“Liền sau đó là những tiếng la hét, anh ta ngước lên thì phát hiện bóng người bên cửa sổ, hắn đang vung cánh tay ra sau tạo tư thế chuẩn bị ném bóng, có điều không phải loại bóng dùng để đá... Một thứ trông giống trái bóng tennis màu vàng. Quả bóng bị ném đi, thẳng tới vị trí anh ta đứng. Anh ta nghiêng người né rồi nghe thấy một tiếng “bép” nho nhỏ khi vật kia tiếp đất. Vẫn không phải một trái bóng tennis…” Randy ngắt nghỉ rồi kết: “Là đầu một con vẹt!”
Một cậu chàng ngẩng mặt lên từ món nui xào. “Thật kinh tởm, loại điên khùng nào lại làm vậy với một con chim chứ?”
Randy nhướng mày hướng về phía cậu ta rồi nhanh chóng quay lại. Anh ta ghét bị ngắt mạch. Lính mới Joey cười nịnh nọt, còn Reuven thì ném cho Randy ánh mắt nghi hoặc. Anh ta phát hiện Randy thường cố tình tạo kịch tính một cách thừa thãi. Và rõ ràng, không chỉ mình Reuven nghĩ thế.
“Hóa ra có một đối tượng trên tầng bốn, một gã 34 tuổi nhưng vẫn sống cùng mẹ. Gã bị con vẹt của mẹ mình làm cho phát điên: cả ngày ầm ĩ, kêu quang quác và liên tục nói leo. Gã bắt đầu nghĩ, con chim đang mắng chửi mình. Thế rồi hắn lao tới, tóm lấy con chim trong lồng, ấn xuống bàn bếp và chặt đầu nó bằng một con dao khắc[*]”
“Ôi, lạy Chúa tôi. Đám người đó bị sao vậy?” Bob lắc đầu chán nản.
Randy hắng giọng. “Như tôi đã nói, khi gã giết con vẹt, mẹ gã điên tiết và bắt đầu la hét. Giết người! Đồ giết người! và bà ta sẽ không dừng ngay việc chửi bới lại. Hắn liền vô lấy con dao và cứa ngang họng bà. Sau đó, hắn ngồi bệt xuống sàn, chặt đầu, rồi vèo... ném qua cửa sổ.”
Vẫn là người mới Joey lắc đầu ngán ngẩm. “Anh thử nói xem vì sao hắn làm vậy?”
“Tôi biết thế quái nào được? Thằng đó đã nói gì khi ném đầu con vẹt ra ngoài cửa sổ, mọi người đoán nổi không?” Dừng lại mấy giây, Randy nói. “Của mẹ đó, đừng bỏ quên con chim khốn kiếp!”
Đây là một vụ án giật gần xét trên mọi phương diện: một cái chết bất thình lình, một cú bẻ lái hài hước kết hợp màn đối thoại súc tích – nhưng tôi không cười nổi. Mọi yếu tố bắt đầu ảnh hưởng đến tôi, nhất là từ những vụ giết người.
Dưới góc độ pháp y, “homicide” – “giết người” hiểu đơn giản là “cái chết gây ra bởi người khác”, định nghĩa này không giống với những quy phạm pháp luật về tội giết người, trọng tội giết người, hay ngộ sát... mà ủy viên công tố quận sử dụng để luận tội. Không phải cứ giết hại một ai đó thì sẽ đều bị khép vào tội giết người. Binh lính buộc phải giết người theo yêu cầu của nhiệm vụ. Những người thực thi pháp luật được phép giết những kẻ đe dọa tính mạng người khác. Một công dân bình thường cũng có thể giết người để tự vệ. Mấu chốt nằm ở ý định gây án và việc biện hộ. Đây là những yếu tố cần cân nhắc thêm dưới góc độ pháp lý. Hầu như trong ca làm việc nào tôi cũng gặp ít nhất một người bị giết chết. Mọi việc thường diễn ra theo kịch bản dễ đoán thế này. Buổi sáng bạn đánh răng, nhấm nháp tách cà phê cùng bánh nướng, bạn đọc báo, thấy ai đó bị giết hại, rồi bạn bị bắn chết. Điều đó dường như đã trở thành quy luật, khiến tôi bắt đầu lo sợ tất cả mọi người quanh tôi hoặc là kẻ sát nhân hoặc sẽ trở thành nạn nhân một ngày nào đó. Cái ác bủa vây khắp nơi khiến tôi nhìn đâu cũng thấy nguy hiểm rình rập. Bản thân tôi đã có sự kiểm chứng cho điều này.
Tôi luôn tự dặn lòng mình có thể chịu đựng được, bằng cách áp dụng “liệu pháp tự phơi nhiễm”[*]. Càng chứng kiến nhiều vụ án mạng thì tình trạng lo âu của tôi sẽ càng giảm đi đồng thời tăng khả năng thích ứng. Khi thấy tôi xuất hiện trên bản tin buổi tối với hình ảnh uống cà phê và ăn bánh mì cuộn ngay tại hiện trường một vụ án mạng, bạn bè tôi còn cho rằng tôi đang xây dựng cơ chế miễn nhiễm, nhưng thực tình không phải vậy. Đó là vụ án hai người đàn ông bị còng tay vào bánh lái của một chiếc xe Jeep, sau đó bị thiêu chết. Sự việc diễn ra ngay trên đại lộ xinh đẹp Henry Hudson gần phố Dyckman. Sau khi biến chiếc Toyota Land Cruiser đời mới thành một đống sắt vụn bốc khói, ngọn lửa dữ dội thậm chí đã thiêu rụi cả một sườn đồi. Tôi đặt những xác chết cháy đen lên tấm bạt lớn màu vàng trải trên mặt đất, bày ra một khung cảnh ấn tượng khi trực thăng tới đưa tin. Suốt cả buổi sáng bận rộn, tôi chạy tới chạy lui đến nỗi không có thời gian dùng bữa. Đó là lý do vì sao cảnh tôi ngồi gặm bữa sáng được giao nhanh tới trong lúc chờ đội hiện trường lọt vào ống kính.
“Thì đã sao?” Trước ánh mắt dò xét của bạn bè, tôi phản bác. “Chẳng nhẽ các cậu chưa ăn tại bàn làm việc bao giờ chắc?”
Những vụ giết người với tôi cũng chỉ là một ngày làm việc như bao ngày khác.
Trước vụ việc của Randy ít bữa, tôi đã tiếp nhận một vụ án mạng khủng khiếp tại một căn hộ ở Washington Heights, nơi một gia đình người Dominica trẻ tuổi bị giết hại một cách tàn nhẫn. Cặp vợ chồng và cậu con trai 10 tuổi bị bắn chết ở chính nơi họ cho là an toàn nhất. Đứa trẻ 3 tuổi sống sót nhờ trốn sau tấm rèm phòng khách. Lần theo những vết máu hình bàn chân bé xíu, cảnh sát tìm thấy đứa nhỏ run rẩy và câm lặng sau lớp vải gấm màu vàng nặng trịch. Những dấu chân để lại là máu của chính cha mẹ nó... Hình ảnh ấy khiến tôi hồn bay phách lạc. Nó xé rách lớp ngụy trang cứng rắn và làm tôi khiếp sợ. Ngoài tôi ra, không một ai bị ám ảnh nặng nề như thế, điều ấy làm tôi càng thấy mình lạc lõng hơn. Nhưng một khi còn đang ở trong phòng khách với cảnh sát và thám tử, tôi vẫn sẽ nhẫn nhịn chịu đựng.
Chỉ cần làm công việc của mình, lần lượt từng nạn nhân một.
Điều tra viên Al của Đội điều tra hiện trường đang phân chia nhiệm vụ – mọi thứ trở nên hỗn loạn khi có tới ba nạn nhân cần được xử lý.
“Này, Barbara, cô có muốn vào phòng ngủ chụp xác đứa bé không? Ba mẹ chúng ngoài này cứ để tôi lo.”
“Được Al, không vấn đề gì. Chụp xong chúng ta chia sẻ hình ảnh.”
Một mình tôi tiến vào bên trong phòng ngủ. Cậu bé với mái tóc nâu mềm mại gợn sóng, từng sợi xõa trên gò má với nước da bánh mật, chiếc ba lô in hình “Cuộc chiến giữa các vì sao” còn đeo trên vai, cậu nằm úp mặt trên sàn với một vết đạn ngay giữa trán. Cảm xúc lo lắng tột độ như một luồng điện nóng bỏng chạy dọc cơ thể tôi. Những kẻ có thể làm ra loại hành vi man rợ này còn nhởn nhơ ngoài kia, đang săn lùng đứa con trai 17 tuổi từng là người của chúng. Những tên buôn lậu ma túy. Một lũ máu lạnh. Bọn chúng xuất hiện ở bất cứ đâu.
Tôi không thể làm được.
Tôi trở ra bên ngoài phòng khách, nói: “Này, làm phiền chút, cho tôi một cảnh sát vào đây được không?”
Cảnh sát viên Russo ngước mắt lên nhìn tôi.
“Ừm... để phòng hờ.” Tôi nói tiếp.
Cậu ta trông đầy bối rối như muốn hỏi – Phòng hờ cái gì mới được chứ? – Song cậu vẫn ngoan ngoãn theo tôi vào trong, canh chừng để tôi bắt tay làm nhiệm vụ.
Có người bên cạnh, tôi đã có thể tác nghiệp. Tác phong chuyên nghiệp. Kỹ năng thành thạo. Biểu hiện lạnh lùng. Một cái nhíu mày lo lắng, một cái nhăn trán suy tư, một cái gật gù vì tìm ra manh mối. Giả bộ như thể bạn không kinh hoàng. Hành động như thể bạn không hề sợ hãi. Bạn chỉ đang làm đúng chức trách thôi.
Công việc của tôi ấy mà. Ngay từ những ngày đầu tiên tôi đã yêu thích nó. Nó tạo cơ hội cho tôi trở thành người có ích. Tôi đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tư pháp. Tôi giúp đỡ mọi người. Tôi tự kiểm điểm hàng ngày, quyết theo đuổi những điều mới mẻ và luôn sẵn sàng học hỏi. Hồi mới vào nghề, tôi từng tham dự một buổi thuyết trình của bác sĩ tâm thần pháp y về những vụ giết người hàng loạt, tôi thắc mắc một điều đã từng hỏi qua rất nhiều đồng nghiệp.
“Anh đối phó với nó bằng cách nào? Làm sao để tiếp tục sống bình thường sau khi chứng kiến những điều khủng khiếp ấy?”
“Vạch ra ranh giới.” Vị bác sĩ đó nói. “Hãy tưởng tượng ra một vách ngăn vững chãi, tách bạch giữa công việc và cuộc sống cá nhân của cô.”
Tách mình ra khỏi công việc – tôi chưa bao giờ làm tốt điều đó, bản tính của tôi từ trước tới nay vốn đa phần là như vậy. Tôi là Butcher, số hiệu 1-11.
Cho tới một ngày kia, công việc và cuộc sống cá nhân của tôi hòa với nhau làm một.
Thời điểm đó, tôi đang sống cùng một nữ diễn viên khả ái, người đảm đương vai chính trong một vở kịch tại Nhà hát WOW Café[*] trên phố East Fourth, khu East Village, cách căn hộ của chúng tôi trên phố East Fifth đúng một dãy nhà. Vở kịch Nhà tắm đồng tính nữ là một tác phẩm châm biếm về những ảo tưởng của đàn ông về phụ nữ, mà theo tôi điều đó quả thực tức cười. Một người phụ nữ là thợ sửa chữa – với chiếc quần đùi bó sát và mũ cứng đội đầu – di chuyển những bước quyến rũ trên mặt sàn bên chiếc tủ ti vi điều khiển từ xa đời 1950, dưới ánh nhìn say sưa, đầy khát khao của một bà nội trợ đang khoác trên mình chiếc đầm ngủ. Một cô gái giao bánh pizza đội mũ bóng chày tựa vào ngưỡng cửa. “Chị có đói không? Bởi vì trông chị đang thèm lắm?” Cô hỏi người phụ nữ trong khi mân mê hàng cúc áo. Vị khách hất rơi chiếc bánh pizza, cả hai cùng ngã nhào xuống sàn trong nụ hôn say đắm. Buổi biểu diễn nào tôi cũng tới và thậm chí còn được đóng thế khi diễn viên nào đó bị ốm. Tôi học thuộc phân vai trong vòng hai tiếng trước giờ diễn, vừa tắm vừa tập thoại với đạo diễn ngồi kè kè trên nắp bồn cầu, thầm cầu nguyện mình sẽ không phải tiếp nhận một cuộc gọi báo án nào khi đang trên sân khấu.
Tôi đã trải qua một đêm thật tuyệt vời. Cơ hội được sống dưới thân phận một người khác dù chỉ trong một thời gian ngắn ngủi cũng vô cùng thú vị. Tôi yêu thích cảm giác trở thành một phần của cộng đồng cũng như tận hưởng những buổi tụ tập sau mỗi đêm diễn bên một nhóm người tài năng và hài hước. Chúng tôi loanh quanh gần khu nhà, ngồi bên những chiếc bàn dài trong một tiệm mì Ý, làm một diễn viên giữa thành phố New York này. Với tôi, điều đó giống như một lối thoát, một niềm vui nho nhỏ giữa những chết chóc, tuyệt vọng và tàn ác mỗi ngày.
Tham dự mỗi buổi biểu diễn còn có Manny, một chàng trai trẻ tuổi ngọt ngào và chăm chỉ, người đã nhận thêm công việc tạp vụ để trang trải cho hai đứa con nhỏ. Manny đưa khán giả lên tầng bốn bằng cách kéo chiếc thang máy ọp ẹp, sửa chữa nó thường xuyên và đôi khi kiêm luôn bảo vệ nếu xuất hiện sự vụ ồn ào. So với sân khấu Broadway thì chúng tôi còn cách xa đến mấy tầm đại bác, điều đó có nghĩa hầu hết mọi người đều phải đảm đương nhiều nhiệm vụ khác nhau – dựng cảnh, chỉnh sửa trang phục, quét dọn sân khấu. Chúng tôi là một gia đình, chỉ là vai trò có chút khác thường so với một gia đình tiêu chuẩn. Mọi người đều phụ thuộc vào Manny và hiển nhiên đều yêu mến anh ấy.
Sau buổi diễn đầu tiên, Manny nhìn tôi tán thưởng. “Làm rất tốt, Barbara. Thực sự tốt.”
Tôi đã đắm chìm trong tiếng vỗ tay của khán giả. Linh hồn của vở kịch đây rồi. Manny là một người chăm chỉ, một trong số rất nhiều con người ở thành phố này làm một lúc nhiều việc kiếm sống. Manny là chuẩn mẫu người đàn ông của gia đình. Anh từng khoe tôi bức ảnh cậu con trai mới vào lớp một có nụ cười tươi cùng chiếc răng khểnh trông giống hệt anh. Cậu bé đủ thông minh để tương lai vào đại học. Đó là những gì Manny nói với tôi.
Khoảng thời gian sau, khi đang trong ca trực 8 4[*] ở Manhattan, hy vọng gần những ngày cuối sẽ không phát sinh vụ án nào trùng ngày biểu diễn. Tôi cần một khoảng lặng để “đổi vai”. May mắn đã mỉm cười với tôi trong đa phần các cuộc gọi tới ngày hôm đó. Cho tới khi vận xui gõ cửa.
“Chúa ơi, Charlie, cô không thể cố thêm 5 phút à, giả bộ rơi bút hoặc mất sóng gì gì đó?” Cuộc gọi lúc 3 giờ 25 phút chiều, tôi hết ca vào 3 giờ 30 phút. Khốn kiếp.
Cô nàng Charlene khúc khích. “Xin lỗi tình yêu, có một vụ giết người ở khu số Chín, cử luôn tài xế cho tình yêu nhé.”
Chí ít vụ mới phát sinh ở khu East Village, xong việc tôi có thể lập tức trở về nhà. Tôi ra sảnh gặp bác Wells, nhận lấy tập hồ sơ, trên đó ghi hiện trường vụ án: 59 – 61 phố East Fourth, giữa Đại lộ 2 và Đại lộ 3.
Là địa chỉ của nhà hát WOW Café.
Tầng năm, ngay phía trên không gian biểu diễn. Tôi đã nghĩ nơi đó là tầng bị bỏ trống, giống như hầu hết các tòa nhà khác ở nơi này. Chúng tôi tấp vào con phố quen thuộc và vào trong tòa nhà, chiếc thang máy không hoạt động. Chết tiệt, tôi hy vọng Manny có thể sửa xong nó trước giờ công diễn. Cảm giác có chút khác lạ khi đứng giữa tiền sảnh một mình vào ban ngày, cả tôi cũng trở nên lạ lùng trong bộ đồ công sở, com lê và đồng phục thẳng thớm. Tôi phiên bản sân khấu buổi tối sẽ là quần da và áo cổ lọ màu đen. Bất chợt tôi cảm thấy hơi lạc lõng và mất phương hướng, như thể tôi đến đúng buổi diễn nhưng lại đóng nhầm vai. Tôi phải tận dụng chút thời gian lúc đi lên cầu thang để trở về với vai trò chính thống – Điều tra viên Barbara.
Lên tới tầng năm, tôi đã thấy hai thám tử chờ sẵn. Đó là một căn gác xép thiếu ánh sáng, ngoại trừ một vài đồ đạc cũ và dụng cụ nằm rải rác thì toàn bộ trống không. Tia nắng chiều chiếu qua ô cửa sổ mát lành, màu xanh trong do phản chiếu từ những tán cây rợp lá. Khung cảnh đẹp đẽ, không khí thoang thoảng mùi mùn cưa. Nạn nhân nằm úp mặt trên một chồng gỗ 2 x 4 với tư thế dang hai chân, đầu ngón hướng vào bên trong như kiểu trẻ con thường hay nằm ngủ.
“Ôi chào Lou, vụ này là sao?”
“Người thuê nhà mới đang tiến hành cải tạo. Lúc tới gặp quản lý tòa nhà vào khoảng 3 giờ chiều, họ phát hiện người đó nằm chết trên sàn và gọi 911, Đội cứu hộ y tế thông báo cái chết lúc 3 giờ 7 phút. Bọn họ chắc đang đợi ở tầng dưới chứ? Dẫu sao cũng tìm thấy ít nhất hai vết đạn bắn, khá rõ cho một vụ giết người. Thông tin cá nhân tạm thời xác định là Manuel…”
Tôi chỉ nghe được tới đoạn “quản lý tòa nhà”. Hồi chuông cảnh báo vang lên trong đầu, hai mắt tôi tối sầm cả lại. Tôi căng mắt nhìn thi thể đang nằm đó xuyên qua quầng tối trước mắt, cố chờ cho hô hấp bản thân bình thường trở lại. Mãi cho tới khi âm thanh ong ong bên tai lắng xuống, tôi mở túi du lịch và khóa chặt mọi sự xúc động bên trong. Mọi giác quan dường như tê liệt, tôi không còn cảm nhận được bất cứ điều gì.
“Lou, tôi biết anh ấy.”
“Ai cơ, người chết ấy hả?”
“Ừ. Các bạn tôi đang biểu diễn ở nhà hát ngay phía tầng dưới. Anh ấy đã giúp đỡ rất nhiều.”
“Đúng vậy chứ? Đó hẳn là một lớp vỏ bọc của gã ta thôi. Bọn tôi biết rõ gã. Một tay buôn lẻ các loại ma túy, cần sa và thuốc phiện.”
“Các anh có chắc là cùng một người không? Manny rất chín chắn, anh ấy có vẻ là một công dân tốt.”
“Không sai, chính là hắn ta. Cung cấp ma túy ở một địa phận, có gì làm khó được gã. Có thể gã ém hàng, chọc giận một tay buôn lớn hơn. Cô biết đấy, bọn chúng không chừa cơ hội lần hai cho ai cả.”
Lại một vụ thôn tính thị trường. Hầu hết những tên giết người và nạn nhân là người quen biết và đã từng có một mối liên hệ cá nhân nào đó. Mọi người bị giết vì họ bị tổn thương hoặc cáu giận, tham lam hoặc cuồng bạo. Sự kết nối sẵn có khiến mọi việc được giải quyết dễ dàng hơn. Kể từ khi ma túy tràn ngập vào thành phố, tỷ lệ giết người không những tăng vọt mà còn trở thành một chiến lược kinh doanh hiệu quả. Một chiến lược cực kì chuyên nghiệp, cách giao dịch giữa những kẻ xa lạ không hề xuất hiện yếu tố cá nhân. Làm ăn là làm ăn.
Tôi nắm phần vai và hông để lật thi thể lại, não không ngừng la hét: Đây là Manny. Đây là chuyện cá nhân. Những kẻ giết người đã xông vào không gian riêng tư, vào lối thoát hạnh phúc duy nhất mà tôi có. Bọn chúng làm ô nhiễm và hủy hoại nó. Dường như tôi thấy cả những giọt nước nóng hổi và giận dữ đang làm mắt tôi bỏng rát, khiến tôi phải liên tục chớp mắt để chúng trôi đi. Tôi đóng sập cảm xúc lại rồi nhanh chóng kiểm tra thi thể Manny. Tôi chẳng cảm thấy gì cả, tôi chỉ làm đúng bổn phận vậy thôi.
Hiếm khi tôi xúc động về những vụ án mạng, tôi đã sống khá trầm lặng. Trừ trường hợp có một khung tham chiếu hay một vài trải nghiệm để tôi kết nối bản thân, đồng thời giúp tôi xác định rõ con người mình. Trong tất cả nỗi sợ hãi – và nhiều điều khác nữa – tôi thường không tự đặt mình vào hoàn cảnh người bị hại. Trước khi bắt đầu công việc này, hiểu biết duy nhất của tôi về cái chết tàn bạo là khi cha tôi, một cảnh sát mang về cuộn phim dương bản 35mm có hình ảnh một người phụ nữ bị đâm chết. Không rõ bằng cách nào nó bị lẫn vào ảnh gia đình tôi. Trong những năm tháng tuổi thơ, chị em chúng tôi đã xem nó hết lần này đến lần khác: thi thể người phụ nữ trên sàn nhà với chiếc đai lưng màu trắng in hình bàn tay đẫm máu. Khi đó tôi đã nghĩ “đó là manh mối” nữa kìa.
Cảm giác lúc này thật khó diễn tả. Nó là của riêng tôi. Tôi sẽ không còn thấy nụ cười toe toét của Manny hoặc bắt gặp anh vẫy tay tít phía sau hàng ghế khán giả. Manny đã trở thành một “vụ án”. Không phải cha, chồng hay đồng nghiệp mà chỉ là một vụ án mà thôi. Với kinh nghiệm làm việc của mình, tôi hiểu truy tìm kẻ sát hại Manny không phải ưu tiên hàng đầu của cảnh sát địa phương. Anh ta làm ăn phi pháp nên phải chấp nhận rủi ro. Rồi khi những người bạn diễn biết về vụ việc, tôi phải nói gì đây? Ồ đúng, tôi phụ trách trường hợp đó. Xấu hổ chết đi được. Tôi không thể chia sẻ với họ cảm giác tức giận trong tôi lúc này. Đúng hơn là tôi không thể nói gì, vì không biết bắt đầu từ đâu. Sự tức giận luôn dễ dàng sẻ chia hơn nỗi buồn, tôi hiểu.
Nếu ai đó hỏi: “Công việc hôm nay thế nào?” Tôi có thể đưa ra nhiều câu trả lời cho họ.
“À, buổi sáng tôi tới một căn lều cháy rụi ở bãi hoang gần đường sắt, có một anh chàng tự dựng cho mình một ngôi nhà xinh xắn ở đó. Anh ta chết cháy khi trốn dưới cái võng của chính mình. Vụ này giống như cố ý phóng hỏa.”
“Ồ, hôm nay tôi có một ca suýt nữa thì thoát chết. Một người đàn ông bị bịt chặt miệng, mũi bằng băng keo, bị bóp cổ rồi trói vào bồn tắm. Hung thủ còn ném máy sấy tóc cắm điện đang hoạt động vào đó – nhằm giật chết nạn nhân. Ừm, và cả một chiếc đài nữa.”
Không cần nói cũng biết vết nhám đen trên bức tường cạnh bồn tắm cho thấy nạn nhân đã đau đớn vật lộn ra sao trong một quãng thời gian dài. Cũng không cần kể về những cô gái điếm bỏ mạng trong các nhà chứa hay những con hẻm tối tăm. Càng không cần nói gì về hai thi thể chỉ còn là bộ xương khô với trang phục và mái tóc được tìm thấy sau bức tường giả trong tủ quần áo trên Đường 121.
Tôi không nhắc tới bất kì ai trong số họ. Không một ai trong cuộc sống thực biết về những gì tôi chứng kiến hằng ngày. Tôi chỉ nói với họ khi công việc của tôi xuất hiện trên mặt báo dù điều đó hiếm gặp vô cùng. Chỉ khi xuất hiện một nạn nhân giàu sang hay người da trắng bị giết ngay ở khu dân cư khá giả thì chúng tôi mới được nêu danh trên báo với một dòng tít gây sốc, như Vụ thảm sát ở Carnegie Deli[*].
Nhà hàng Carnegie Deli là một địa danh nổi tiếng của New York, nằm ở quận Theater, nơi bạn sẽ được thưởng thức món thịt bò muối, thịt bò ướp hun khói, dưa chua và những chiếc bánh bao nhồi thịt khi buổi biểu diễn kết thúc. Sảnh nhà hàng được thắp sáng bằng những ngọn đèn đỏ vàng sặc sỡ cùng với một hàng khách du lịch đang trố mắt vì mức giá trên trời, thế nhưng phía bên trong quán, những tín đồ ẩm thực lại đang nhai ngấu nghiến những chiếc bánh mì kẹp nhân thịt đầy ụ, ngon đến trật khớp hàm. Phương châm ở đây là: “Nếu bạn có thể xong bữa, tức là chúng tôi sai ở đâu rồi.”
Phía trên tòa nhà còn có khu căn hộ, từ cầu thang bộ dẫn lên tầng năm chính là nơi ở của một nữ diễn viên hết thời, Jennifer Stahl, một chủ doanh nghiệp buôn bán cần sa phát đạt. Không có gì nhiều nhặn ngoài những vai phụ – và vai trong Vũ điệu hoang dã là điểm sáng duy nhất trong nghiệp diễn của cô, Jennifer chuyển hướng sang làm kinh doanh để duy trì cuộc sống cũng như nuôi dưỡng ước mơ trở thành nhạc sĩ của mình. Không phải kiểu làm ăn nhỏ lẻ như xử lý cần sa bằng giấy bạc, Jennifer cung cấp cần sa chất lượng cao và bán chúng với số lượng lớn cho bạn hàng trong giới âm nhạc. Các khách hàng hài lòng ở cô về sự hiếu khách, trong lúc bản thân họ ngồi thưởng thức một ly rượu vang và lựa món trên thực đơn viết tay dán sẵn trên tường. Một cô gái trẻ thông minh đang cố gắng kiếm sống giữa lòng thành phố, Jennifer muốn là người giỏi nhất trong lĩnh vực của cô.
Vào một buổi tối tháng Năm năm 2001, hai người đàn ông quen biết cô Stahl từ trước đã leo lên căn hộ của cô để cướp bóc, một phi vụ dễ dàng vì cô không thuê bảo vệ. Nhưng sau đó mọi thứ trở nên tồi tệ và như thường lệ, tôi được gọi tới hiện trường. Hai trong số các khách hàng được đưa đi bằng xe cấp cứu, để lại cả vũng máu và ba người anh em kém may mắn của mình.
Bước vào phòng vài bước, tôi ngay lập tức thấy vệt máu dài hình chữ nhật không đều màu trên sàn nhà, kéo tới vị trí của hai người đàn ông quỳ gối, úp mặt vào thứ chất lỏng đỏ đặc, tay chân bị trói quặt ra sau bằng băng keo. Bên cạnh họ chính là vết máu loang lổ của hai người đã bị bắn vào đầu, nhưng đã được cứu hộ y tế đưa đi vì ơn Chúa họ vẫn còn mạch đập.
Trong lúc quỳ gối ở đó, hẳn tất cả bọn họ đều nghe thấy tiếng súng đầu tiên, phát đạn đã thổi tung Jennifer thành một đống bất động ở góc phòng thu âm trong chính căn hộ cô đang sinh sống. Phần hành quyết theo nhóm sau đó, bốn người bị trói thành hàng, không thể phản kháng khi tên sát nhân nã súng lần lượt vào đầu từng người. TẠCH – PẰNG – Chấm hết. Trước khi bắt mình ngừng tưởng tượng xa hơn, tôi tự hỏi cảm giác khi nghe tiếng súng, chứng kiến hộp sọ bạn bè nổ tung và biết mình là người kế tiếp sẽ ra sao? Có lẽ là như thế này, bởi cậu thanh niên bảnh bao xếp cuối hàng phía trước đũng quần âu có vết loang ươn ướt. Đó là người cuối cùng.
Thời điểm bước vào phòng, tôi lập tức ngửi thấy năm loại mùi: mùi nồng của rượu vang đỏ, mùi tanh tưởi của máu, mùi khai của nước tiểu mới, mùi ngai ngái của cần sa và mùi của sự sợ hãi. Ngay sau cánh cửa bên phải, một ly rượu được đặt trên tấm chắn tản nhiệt loại cao, bên trong chứa đầy thứ chất lỏng màu hồng lựu bốc mùi mốc meo phả thẳng vào mặt tôi. Bất chợt, tôi thấy thèm một ly Concha y Toro[*], thật đáng sợ. Khắp nơi đều có mùi thảo mộc từ cần sa chưa sấy, nếu so với mùi rượu thì thứ mùi này dịu hơn nhiều. Xuyên qua từng lớp, từng lớp mùi ấy là mùi của nỗi sợ hãi dai dẳng. Nó là một hỗn hợp phức tạp của đồng hoặc kẽm mà bạn có thể nếm ngay đầu lưỡi, quyện lẫn với mùi hôi nồng từ những lát hành tây mục nát. Tôi không thích mùi đó chút nào, nó con người quá.
Năm thứ mùi ấy quyện lại trong đầu tôi, mùi thê lương của cái chết vô nghĩa. Kinh nghiệm của tôi cho hay, mùi khai sẽ biến mất khi tôi đến nơi có không khí trong lành, mùi cần sa cũng sẽ sớm biến mất. Hồi tưởng về rượu sẽ nhanh chóng tiêu tan, tôi hiểu điều này khá rõ. Còn về mùi máu, với tôi nó quen thuộc tới nỗi tôi còn chẳng bận tâm. Nhưng mùi của sự sợ hãi – sẽ còn đeo bám tôi trong suốt một thời gian dài, rất lâu sau này.
Tôi cảm thấy duy trì cuộc sống thực chẳng dễ dàng. Tình bạn. Tình thân. Các mối quan hệ dây mơ rễ má. Ranh giới cần thiết để tôi hoàn thành chức trách đã lấn sang phần đời sống cá nhân còn lại. Tôi dường như vô tâm với cả người bạn đời lẫn bạn bè. Thật khó để đồng cảm với những rắc rối cỏn con thường nhật, trong khi tôi phải chứng kiến bi kịch 8 tiếng mỗi ngày. Tôi gom góp toàn bộ lòng trắc ẩn cho gia đình người thiệt mạng.
Nó tạo ra động lực, là lý do dựng tôi dậy mỗi sáng, ngay cả khi lý do ấy khiến tôi suy sụp biết bao lần. Vẫn còn may khi chính điều đó lại giúp ích trong việc đưa ra lời khuyên hoặc cái vỗ lưng động viên dành cho thế hệ MLI kế nhiệm. Tôi thích đóng vai một đàn chị dày dạn kinh nghiệm – Ừ thì, ít nhất cũng lớn tuổi hơn – và tôi chắc đám đàn em biết hết. Vì lẽ đó nên Pam, một điều tra viên còn khá non trong nghề, muốn tham khảo ý tôi về một câu hỏi khó.
“Chị Barbara, em có người nhà nạn nhân trong phòng quan sát. Họ muốn biết liệu chúng ta có thể tiến hành điều tra trong trường hợp người đó còn sống hay không. Em đã trả lời họ là không, căn bản chúng ta chỉ điều tra xác chết.”
Xét về chuyên môn, cô bé nói đúng, nhưng tôi đã bị thu hút. “Đó là con gái họ, tình trạng hôn mê sâu. Nguyên nhân em chưa rõ.”
“Nào, chúng ta gặp họ nói chuyện.”
Tôi giới thiệu bản thân với cặp vợ chồng trung niên đang quẫn bách rồi ngồi xuống nghe câu chuyện của họ. Ông bà Grove, từ Vermont cấp tốc đến New York vào tuần trước khi nhận được thông báo cô con gái 38 tuổi của họ, Leah, rơi vào tình trạng hôn mê. Cặp cha mẹ tận tụy, ngày lại ngày đến bên giường bệnh ở Bellevue, mới tình cờ ngang qua văn phòng chúng tôi trên đường về khách sạn. Khi thấy tấm biển ghi chữ “Văn phòng Giám định Y khoa”, họ đã ôm hy vọng ai đó có thể giúp kiểm tra sự việc dẫn tới tình trạng con mình cận kề cái chết.
Leah từng vật lộn với chứng trầm cảm nhẹ và mất phương hướng vì áp lực công việc khi ngồi ở vị trí giám đốc kinh doanh máy tính. Cô muốn nhiều hơn cho cuộc sống nhưng lại không biết thứ mình muốn là gì. Thông qua bạn mình, cô biết tới Tiến sĩ James Watt, một “thần y tâm thần học” ở Đường 40-6 bờ Đông, người có thể giúp cô thải mọi độc tố và kim loại nặng ra khỏi cơ thể, giúp thoải mái tinh thần, tỉnh táo đầu óc. Ông ta còn có khả năng tạo dịch truyền tĩnh mạch giúp ngăn chặn quá trình lão hóa. Với những ca khó, vị thần y cho khách hàng một loại “trải nghiệm tái sinh”. Tức là làm bệnh nhân bất tỉnh bằng carbon dioxide (CO₂) và nitơ oxit (N2O)[*], chụp mặt nạ cho bệnh nhân quẫy đạp, thở hổn hển, vật lộn hay co giật. Sau đó sẽ từ từ kéo họ trở lại ánh sáng, rũ bỏ từ gốc rễ mọi ức chế và rắc rối. Quá trình trị liệu kéo dài hai lần mỗi tuần cho đến khi bệnh nhân khá hơn hoặc rỗng túi.
Leah đã trải qua một vài liệu trình, một số lần kéo dài 3 tiếng. Trong một lần điều trị, cô đã quá khích và đánh bác sĩ Watt. Ông ta yêu cầu lần tới cô phải dẫn bạn đến hỗ trợ, vì vậy trong vài buổi gần đây, bạn trai Leah nhận nhiệm vụ giữ chân tay cô. Tiến sĩ Watt bơm cho cô CO₂ 60%[*] (bình thường CO₂ chỉ chiếm dưới 1% không khí trong phòng), khiến cô bị co giật, giãy giụa rồi mềm oặt. Ông ta chỉ cách để người bạn trai kiểm tra huyết áp cho Leah. Huyết áp bằng KHÔNG. Ông ta nói tiếp: “Kiểm tra lại đi.” Tiến sĩ Watt không biết thao tác hồi sức tim phổi (và cũng quên luôn cách bấm 911), ông ta luống cuống chân tay trong khi bạn trai Leah gọi cấp cứu. Leah bị ngưng tim đột ngột[*] và dù được EMS tiến hành hồi sức trên đường đến bệnh viện thì não bộ cô vẫn tổn thương do thiếu oxy và hôn mê kể từ đó.
Tôi yêu cầu Groves dừng lại ít phút để tôi báo cáo với lãnh đạo cấp trên. Thẩm quyền của chúng tôi giới hạn ở người chết, tôi không muốn phá hỏng bất kì thủ tục pháp lý lẫn quá trình điều tra nào đang chờ cảnh sát thụ lý. Tôi thuật lại cho Tiến sĩ Hirsch, ông không một chút do dự khuyên tôi: “Giúp họ, những thứ thuộc thẩm quyền để bác lo. Xin tha thứ bao giờ cũng dễ hơn xin phép.”
Tại Bellevue, tôi nhìn thấy một người phụ nữ trẻ đẹp nhưng tái nhợt, bị bao quanh bởi máy móc và ống dẫn đến khắp các bộ phận cơ thể. Cô ấy nằm im lìm, và tôi biết nằm đó không thực sự là Leah. Bác sĩ cho biết chức năng thân não dưới đang duy trì mức tối thiểu và cô đã ở trong tình trạng thực vật. Cô ấy chỉ hơn một cơ thể có nhịp tim chút đỉnh.
Tiến sĩ Hirsch đã làm việc với luật sư của chúng tôi, theo đó, tôi liên hệ tới Văn phòng Ủy viên công tố quận Manhattan. Câu chuyện lần nữa được thuật lại và được tiếp nhận bởi hai trợ lý ủy viên công tố quận, Gail Heatherly và Anne Schwartz. Giống như tôi, họ vô cùng tức giận và ngay lập tức xin lệnh khám xét văn phòng của Watt. Tôi gọi cho Tiến sĩ Watt, lịch sự đề nghị ông ta cung cấp thông tin, bất cứ điều gì hữu ích có thể giúp Leah – ví dụ như chuyện gì đã xảy ra hôm đó, loại thuốc hoặc khí nào đã được sử dụng. Đổi lại, tôi nhận được câu trả lời: “Còn tùy mức độ nghiêm trọng.” Ông ta chỉ cung cấp thông tin khi có luật sư đại diện.
“Tốt thôi!” Tôi đáp. “Ông sẽ cùng luật sư đến đây ngồi với chúng tôi ít phút chứ?” Tôi thậm chí còn đề nghị cử người tới đón, nhưng bị ông ta từ chối.
Chỉ vài ngày sau, Leah chết.
Ngày kế tiếp, tôi cùng trợ lý ủy viên công tố quận Heatherly, bác sĩ pháp y Jim Gill và sáu thám tử tiến hành đột kích văn phòng của Watt, căn hộ một phòng ngủ trong một tòa nhà sang trọng. Tiến sĩ Watt mái tóc trắng tinh đứng ngoài sảnh lớn, nổi trận lôi đình vì bị xâm phạm quyền riêng tư. Nhà bếp kiêm luôn phòng thí nghiệm, la liệt các mẫu máu và nước tiểu. Phòng khách là khu vực trị liệu với sáu chiếc ghế tựa nghiêng bằng da, bên cạnh là cây truyền dịch. Phòng ngủ kê đúng một chiếc giường và một chiếc ghế, đầu giường đặt một cỗ máy tự chế tạm bợ từa tựa món đồ yêu thích của lũ trẻ mới lớn. Ống truyền dịch rối nùi cắm vào một mặt của chiếc hộp nhựa và được gom lại trong ống đàn accordion màu trắng nối với một mặt nạ cao su màu đen. Đồng hồ đo áp suất không nhãn mác dán vào mặt bên kia của chiếc hộp lòi van, mỗi van và hộp số nối với các ống cao su công nghiệp xoắn thành đống trên sàn nhà. Mọi thứ đều cũ kĩ và bẩn thỉu, như được nhặt nhạnh từ bãi phế liệu rồi chế thành cỗ máy tái sinh thần kỳ. Tôi lần mò theo các ống nén đến một tủ quần áo, mở ra thì phát hiện sáu bình gas bằng kim loại cỡ lớn, có dán tên nhà cung cấp thiết bị hàn xì. Cỗ máy khoa học điên rồ chính là một thứ vật tư công nghiệp.
Tôi đã kiểm tra một số loại thuốc xung quanh, những thứ cần dùng khi cấp cứu. Potassium[*] và epinephrine[*] đều đã hết hạn từ 5 năm trước. Một thiết bị hút khí chứa đầy nước bẩn màu xám đặt trên xe đẩy mini. Không có xe đẩy khẩn cấp cơ bản dùng cấp cứu trong tình huống ngưng tim. Không có hộp thuốc khẩn cấp cho phản ứng dị ứng. Không có nguồn cung cấp oxy sạch.
Chúng tôi tìm hiểu một chút về Tiến sĩ James Watt, người đã bị thu hồi giấy phép hành nghề y ở bang California vì hành vi thiếu chuyên nghiệp từ năm 1972. Ông ta cũng bị buộc tội sử dụng bất hợp pháp LSD, một loại ma túy gây ảo giác cực kì mạnh cho bệnh nhân của mình ở một tiểu bang khác. Tuy nhiên, ông ta có giấy phép hợp lệ của bang New York. Mỗi tiểu bang khác nhau sẽ vận hành một hội đồng y tế riêng, tạo ra khe hở cho lũ lang băm hoạt động. Khi có bất cứ trường hợp tổn thương hoặc thậm chí giết chết bệnh nhân bị phát giác, bọn chúng vẫn có thể đến và đi một cách ung dung.
Trên kết quả khám nghiệm tử thi, nguyên nhân cái chết của Leah là “biến chứng do não thiếu oxy gây ra bởi khí carbon dioxide và nitơ oxit được y tế cấp phép”. Cách thức của cái chết là giết người. Trong phần “Thương tích xảy ra như thế nào”, bác sĩ Gill đã viết: “Do sơ suất nghiêm trọng về mặt y tế”.
Watt cuối cùng bị truy tố hình sự với tội danh “vô ý giết người”. Ông ta còn thỏa thuận với bên công tố để nhận tội, chấp nhận bị tước giấy phép hành nghề ở bang New York để không phải ngồi tù một ngày nào. Giàu cộng (+) với học thức nhân (x) da trắng đồng nghĩa với việc thoát khỏi tội giết người.
First, do no harm.[*] Phải rồi!