Người bảo trợ ở AA của tôi nói rằng nếu bạn muốn làm tê liệt một nhóm cảm xúc, tất cả các nhóm khác cũng đều tê liệt. Gạt hết nỗi buồn thì bạn cũng sớm không tìm thấy niềm vui trong những chuyện nhỏ bé thường ngày nữa. Cảm xúc chỉ tồn tại ở dạng có hoặc không. Bạn không có lựa chọn với nó. Tôi đoán rằng đó là lý do tại sao cảm xúc của tôi sau 9 năm xoay vần quanh những cái chết chỉ còn là thờ ơ, tê liệt và giận dữ. Theo người bảo trợ của tôi thì: “Tức giận là một cảm xúc thứ cấp. Nó bảo vệ bạn khỏi những cảm xúc yếu đuối hơn, như những muộn phiền và tuyệt vọng nguyên bản mà bạn không muốn đối mặt.” Sao cũng được.
Tôi thích năng lượng được tiếp thêm từ cơn giận, và tôi cũng chẳng phải người dễ bị tổn thương. Đương nhiên, tôi muốn trốn tránh khỏi đau buồn và phiền muộn, mặc dù tôi chợt nhận ra điều đó đáng lẽ phải là một phần trong bản mô tả công việc của mình: “Ứng viên lý tưởng sẽ có năng lực đối mặt với mọi điều kinh hoàng và tiếp tục công việc mà không bị tổn thương.” Dù vậy, tôi nhận ra thật khó để vô cảm trước những vụ tự tử. Có gì đó khác len lỏi khi tôi được gọi tới điều tra một cái chết do tự trừng phạt. Tôi cảm nhận sâu sắc những thảm kịch của người chết, sự tuyệt vọng, nỗi nhức nhối của việc từ bỏ và mất đi. Đó là nỗi đau ở cấp độ sống còn, và nỗi đau ấy cũng đang gặm nhấm tôi mỗi ngày.
Tiến sĩ Hirsch hiểu điều đó. “Đó là giết người, Barbara. Giết chính mình, và như thế thật bi kịch. Hãy tưởng tượng cháu đau buồn tới độ phải kết thúc cuộc đời mình, phá hủy thế giới bé nhỏ của cháu để trốn tránh khỏi thương tổn, hoặc nỗi kinh hoàng vì phải chịu đựng những giọng nói bên tai dụ dỗ cháu tự giết chính mình. Trầm cảm chính là một tên giết người như thế.” Tôi biết ông nói đúng, qua những trải nghiệm của cá nhân tôi, bao gồm cả việc tự tử bằng cách dìm mình trong men rượu. Tôi thấy giận vô cùng khi phải chứng kiến quá nhiều người tự lấy đi mạng sống của họ – tại sao không có ai can thiệp, đưa họ đi khám bệnh hoặc điều trị tâm lý?
Tôi đồng cảm với những người ấy, cảm thấy như thể tôi quen biết họ. Một vài người tôi ước mình từng biết, chẳng hạn như người đàn ông nhảy xuống từ tầng 25 của tòa cao ốc nơi anh ta làm việc xuống nhà thờ Chúa Ba Ngôi nổi tiếng nằm gần phố Wall. Có phải anh ta đang mỉa mai không? Tôi nghĩ là có, và thích anh ta vì lẽ đó. Một người đàn ông 28 tuổi, lao vào một mộ phần 300 năm tuổi, làm nứt lớp sa thạch màu nâu đã mài mòn theo năm tháng. Cú va chạm đã làm bật lớp rêu xanh màu ngọc lục bảo bao phủ các chữ khắc, để lộ ra từ sự sống. Đầu và cơ thể anh ta nát bét, mang đến sự hỗn loạn cho nhà thờ nhỏ xinh nằm giữa phố Wall và khu Broadway nhộn nhịp. Nơi này vốn là hòn đảo yên tĩnh trong khu Tài chính[*] đầy náo nhiệt, tuy nhiên, ngày hôm đó thì khác. Một đám đông các nhà môi giới chứng khoán, thư ký và khách du lịch túm tụm lại bên ngoài hàng rào sắt đen cũ kĩ để xem “phần còn lại” của chàng trai trẻ. Hai “lính mới” đang chụp ảnh, họ đã phải vội vã mua máy ảnh dùng một lần giá rẻ ở một cửa hàng lưu niệm bên kia đường và trở lại trước khi đám đông lấy điện thoại di động ra. Mọi người đứng bên ngoài hàng rào, đợi tôi vén tấm vải lên và phơi bày những gì còn sót lại của một con người tuyệt vọng.
Tôi bắt đầu công việc, mở tấm vải phủ ra trong tiếng xì xầm mong đợi của đám đông bên ngoài. Tôi liền dừng lại và yêu cầu cảnh sát giúp giữ tấm vải để che xác người đàn ông khốn khổ lại. Người chết xứng đáng được tôn trọng, bất kể điều gì từng xảy ra trong cuộc đời trước đây dẫn anh ta đến hành động tuyệt vọng này. Khán giả tỏ ra không đồng tình, họ la ó, bực bội vì bị chắn mất tầm nhìn. Giọng nói của họ chồng chéo lên nhau, vang vọng trong không gian nằm lọt thỏm giữa những tòa nhà cao tầng xung quanh chúng tôi.
“Ê! Ê ê!”
“Này! Thôi nào! Cho tôi xem anh ta!”
“Ê! Cô giấu cái quái gì?”
Có vấn đề gì với những người này vậy? Đó đều là những người đàn ông, phụ nữ bình thường, những người lao động phổ thông vẫn mua vé tàu và vé số, những người uống cà phê trong cốc giấy như bạn và tôi. Tại sao họ lại hành xử như thế? Tôi điên tiết trừng mắt vào đám đông trong lúc hộ tống cái xác đến một chiếc xe công vụ đang chờ sẵn. Tôi gấp tấm vải bọc xung quanh người chết trên cáng, bảo vệ khoảnh khắc tôn nghiêm cuối cùng của anh ta. Anh đã có thể là bạn, là anh trai, là đồng nghiệp của tôi. Chắc chắn anh là người như thế của một ai đó khác khác. Sẽ có người nào đó nhớ đến người đàn ông này. Điều gì đưa anh tới cảnh ngày hôm nay? Tôi thấy rối bời. Làm thế nào những người hoàn toàn bình thường lại có thể trơ trơ trước một người trẻ bị tổn thương như vậy?
Cơn giận của tôi lớn dần, đau khổ trong tôi cũng thế. Dù vậy tôi đã gắng cho những kẻ bàng quan đó một vài lợi ích của sự ngờ vực. Họ có thể cảm thấy không thoải mái với ý niệm ai đó muốn tự tử và coi vụ việc như một cảnh tượng để giảm thiểu sự khó chịu của bản thân. Hoặc có lẽ chúng ta đã hình thành thói quen trốn tránh việc thấu cảm để bảo vệ giống loài khỏi tuyệt diệt. Điều đó có thể giải thích tại sao tự tử là bất hợp pháp ở nhiều nơi trên thế giới (mặc dù hình phạt vẫn còn gây tranh cãi). Cho đến năm 1983, Giáo hội Công giáo không cho phép những người tự tử được chôn cất trong khu đất thánh hiến. (Ông nội tôi là một trong những người được chôn cất cô đơn như vậy bên ngoài cổng nghĩa trang St. Agnes. Ông đã treo cổ tự tử khi mẹ tôi mới 12 tuổi, vì quá thất vọng trước việc vợ ông bỏ đi theo người đàn ông khác.) Ngày nay, ngôn ngữ về cái chết do tự tử đã thay đổi trong một nỗ lực loại bỏ các định kiến tiêu cực về hành động này, và để thể hiện lòng trắc ẩn. Bây giờ chúng ta nói “chết do tự tử” thay vì “tự sát có chủ đích” – một cụm từ ám chỉ tội ác. “Nỗ lực tự tử” thay thế cho “tự sát không thành công”, một thuật ngữ khủng khiếp, như thể đang khiển trách nạn nhân vì họ không thể làm đúng. Tôi vẫn nghe người ta sử dụng những cách diễn đạt theo kiểu tự vệ để giảm bớt những tác động về mặt cảm xúc, để chối bỏ việc phải đối diện với sự thực như:
“Cô ấy đã không hạnh phúc. Giờ thì cô ấy khá hơn rồi.”
“Anh ấy chẳng thể gắng gượng được nữa, chúng ta nên để anh ra đi.”
“Đó là lựa chọn cá nhân. Mọi người đều có quyền được chết theo cách mình muốn.”
Tôi cố gắng hết sức để hiểu được kiểu thái độ dửng dưng đó, cũng như cố gắng để hiểu tại sao nhiều người trong chúng ta tự kết liễu đời mình. Hiểu rõ tất cả những điều ấy có thể giúp tôi bảo vệ bản thân, kiến thức có thể ngăn chặn nỗi sợ hãi. Ít nhất, đó là những gì tôi hy vọng.
Có lần Tiến sĩ Hirsch ngỏ ý hỏi tôi về cuộc phỏng vấn với một nghiên cứu sinh tiến sĩ dịch tễ học đang nghiên cứu về các vụ tự tử. Nghiên cứu sinh đó muốn tôi cho ý kiến về việc tại sao New York có tỷ lệ tự tử thấp nhất so với bất kì tiểu bang nào trên toàn quốc.”
“Những quán ăn giá rẻ kiểu Hy Lạp. Tôi cho hay.”
“Xin lỗi, cô có thể giải thích rõ hơn không?”
“New York có hàng tá quán ăn vỉa hè mở cửa 24/7. Trong thành phố, ngoài Long Island, có rất nhiều quán ăn như vậy. Vì thế, nếu anh thức giấc giữa đêm trong nỗi lo lắng và cô đơn, anh có thể đi dạo loanh quanh và mua một cốc cà phê, ngồi giữa mọi người một lúc. Dù cho quán xá có trống không, thì vẫn có người thu ngân nghe anh nói chuyện trong ít phút, giúp anh tự bình tâm lại. Anh có thể dùng bữa ở đó. Đồ ăn rẻ, không gian ồn ào, và anh cùng mọi người chào hỏi. Anh không phải ăn một mình đâu.”
Nghiên cứu sinh tiến sĩ nói luật kiểm soát súng đạn nghiêm ngặt ở New York có thể liên quan trực tiếp hơn tới tỷ lệ tự tử này, nhưng tôi nhận thấy anh vẫn viết ra mọi điều tôi nói về các quán ăn mở xuyên đêm. Tôi biết chúng thực sự đã giúp tôi lấy lại cân bằng sau một ngày vất vả.
Khi nghiên cứu về dịch tễ học tự tử và các phương pháp, tôi luôn tự hỏi bằng cách nào và tại sao con người lại lựa chọn hành động cuối cùng đó. Tôi từng chứng kiến rất nhiều vụ tự tử kể từ khi gia nhập OCME và bắt đầu nhận thấy tự tử được chia thành hai loại: phẫn nộ và buồn bã. Những người phẫn nộ tự tử thường chết một cách công khai, bạo lực, ồn ào và máu me – với một tiếng nổ chứ không phải một tiếng thút thít. Tôi cho rằng họ hành động như vậy để giải phóng nỗi đau mà bản thân đang kìm nén, cái chết với họ là tiếng thét cuối cùng. Người ta sẽ phải chú ý và bị trừng phạt vì sự thờ ơ trước đó. Những người buồn đau mà tự tử sẽ chết lặng lẽ, riêng tư hơn. Có người uống thuốc quá liều và chết trên giường tại nhà riêng sau cuộc hôn nhân tan vỡ, có người chết bởi khí carbon monoxide trong nhà để xe sau nhiều năm chống chọi với cô đơn, có người ra đi vì tự rạch cổ tay sau khi người thân yêu của họ rời xa cõi tạm.
Dù cho tất cả những điều trên chỉ là quan sát của cá nhân, chúng vẫn giúp tôi hiểu những gì tôi thấy mỗi ngày, như vụ nữ sinh viên thanh nhạc trường Juilliard, một cô bé người châu Á đã nhảy xuống từ nóc tòa nhà Chelsea mười sáu tầng của mình. Trong thư tuyệt mệnh cô viết: “Cha mẹ thân yêu và đáng kính nhất của con, con xin lỗi vì đã không giành chơi ghế đầu trong buổi diễn cello. Con đã làm hai người thất vọng, con xin lỗi. Chúc cha mẹ một ngày tốt lành!” Giọng điệu hung hăng ẩn chứa sự tức giận sâu sắc trong đó. Có phải cô hận cha mẹ mình vì đã ép con cái phải thành công, hay cô giận chính mình vì đã “thất bại”?
Tương tự như vậy là trường hợp của người đàn ông đồng tính sống trong căn hộ một phòng ngủ xinh xắn ở một tòa cao tầng khu Upper East Side. Người đàn ông 40 tuổi rất thân thiết với mẹ mình, một phụ nữ đáng yêu đến từ Ohio, người đã giúp anh trang trí căn hộ bằng những bức ảnh gia đình có khung màu bạc, mang đến sự ấm áp theo gu thẩm mỹ hiện đại của anh. Bà thường đến thăm con trai vào cuối tuần, cùng anh đến nhà hát, dùng bữa ở những nhà hàng ngon miệng và cùng nhau đi mua sắm quần áo. Cặp đôi thân thiết và nói chuyện điện thoại hàng ngày. Cuối tuần đặc biệt đó, người đàn ông đã muốn gặp mẹ mình vì anh ta đang chờ kết quả xét nghiệm HIV sẽ có vào thứ Hai và cần sự động viên từ mẹ. Người phụ nữ lo cho con trai mình, nhưng bà muốn đảm bảo rằng anh sẽ có khoảng thời gian vui vẻ và bị phân tâm trong vài ngày.
Khoảng 2 giờ đêm thứ Bảy, họ cùng ngồi trên giường nói chuyện phiếm, uống rượu vang và cười nói vui vẻ, trước khi anh con trai đứng dậy và xin phép vào nhà vệ sinh. Gần 10 phút trôi qua, thấy con không trở ra. Mẹ anh ra phòng khách và cảm nhận một luồng gió lạnh. Cửa sổ lớn mở toang. Bà nhìn khắp căn hộ, nhưng con trai bà không ở đấy. Sau đó, bà thấy một lá thư ở gần giàn âm thanh nổi cạnh cửa sổ, bên trên đề tên người nhận là chính bà. Trong thư, người đàn ông nói bà hãy một lần bận tâm đến việc kinh doanh của mình, hãy để anh ta yên và không thảo luận về kết quả xét nghiệm HIV hay cái chết của anh ta với bất kì ai khác. Giọng điệu đầy khó chịu, đe dọa và khủng khiếp. Tôi đọc lá thư hai lần và vẫn không thể hiểu những gì trong đó. Anh ta thậm chí còn không biết kết quả xét nghiệm, vậy thì sao lại tự kết liễu đời mình? Lá thư thật gớm ghiếc và tôi không thể hiểu nổi tại sao người này lại viết những dòng đó cho mẹ. Đó không phải cách một đứa con hiếu thảo nói chuyện với người mẹ anh yêu quý. Chắc chắn phải có điều gì khác phía sau hành động tự tử và nội dung lá thư, một cơn giận tột cùng mà chỉ mình anh ta biết.
Người phụ nữ tội nghiệp. Bà còn sốc khi tôi tới nơi, và thậm chí không thể nói rành mạch.
“Bác có biết Stephen bị ốm không? Anh ấy có trầm cảm hoặc bị bất kì bệnh nào khác không ạ?” Tôi hỏi.
“Gì cơ? Bệnh gì?”
“Vâng hãy cho cháu biết điều gì cũng được, mọi lý do bác thấy có thể giải thích cho những gì tối nay.”
“Tối nay? Tối nay rất vui. Hai chúng tôi ăn hàu và uống rượu vang ở quán Docks. Chúng tôi cùng cười vang trên giường.” Vừa nói, bà vừa đập đầu vào tường, rất mạnh. Tôi kéo bà lại và giữ lấy vai bà.
“Làm ơn... đừng.” Tôi nói.
“Tôi đang cố tỉnh giấc. Cô chỉ là cơn ác mộng thôi. Cô là cơn ác mộng!” Bà cố gắng với tới bức tường, và tôi phải ôm bà cho tới khi bà rơi vào trầm mặc. Tôi không bao giờ quên được đôi mắt của người phụ nữ ấy, chúng mở lớn và trống rỗng vì sốc. Người mẹ đã vô cùng ủng hộ và yêu thương, dành nhiều thời gian tuyệt vời bên con bà. Sao anh ta có thể làm thế với chính mình? Sao anh ta có thể làm thế với bà ấy? Điều gì đã khiến anh giận dữ tới mức không chỉ giết chính mình mà còn giáng một đòn mạnh vào mẹ mình đầy tàn nhẫn như thế?
Câu trả lời đã chết cùng anh ta.
Nhảy từ độ cao lớn như thế được gọi là “một kết thúc rất công khai cho nỗi thống khổ riêng tư”. Đó chắc chắn là cách gọi trong trường hợp của Stephen, người được tìm thấy nằm bên dưới độ cao mười chín tầng nhà, trên con ngõ phía sau tòa nhà anh ta ở. Tôi coi việc nhảy lầu là một hành vi “phẫn nộ tự tử” bởi mức ảnh hưởng rộng và sự ầm ĩ của mớ lộn xộn, nỗi kinh hoàng mà những nhân chứng phải trải nghiệm, và sự hủy hoại hoàn toàn của cái xác. Tiếng ồn mà một cơ thể có thể gây ra lớn tới ngạc nhiên, một tiếng nổ vang rền. Nhảy xuống một con phố đông đúc là một hành động công kích, có thể làm bị thương hoặc giết chết những người ngoài cuộc. Thỉnh thoảng tôi đọc trong các nghiên cứu của Freud, người cho rằng tự tử là giết người, thay vì giết người khác thì họ tự giết mình. Đó không hẳn giống những gì Tiến sĩ Hirsch nói về tự tử, nhưng quan điểm cũng khá tương đồng. Thật khó để chung sống cùng cơn thịnh nộ, và nhiều người thể hiện điều này bằng cách loại bỏ đối tượng mà họ thù hận. Có phải những người trầm cảm và nạn nhân tự tử ngược lại có xu hướng dồn nén nỗi tức giận của họ vào trong, để rồi nó đột ngột bùng phát? Hoặc có lẽ có điều gì khác khiến một người tự giết chính mình một cách ngoạn mục. Có lẽ đó chỉ là một lời chửi thề thật lớn cho những kẻ dửng dưng ngoài kia.
Đôi khi, người nào đó, có lẽ vì không tiếp cận được phương pháp nào khác mà nhảy lầu tự tử, và điều đó thật đáng buồn. Tôi đã nhìn thấy nhiều di sản xấu xa trong công việc, nhưng không có gì cay đắng bằng hậu quả của một phụ nữ Do Thái lớn tuổi đã nhảy từ mái nhà của tòa nhà 6 tầng ở West Village. Nơi đó là phần khá yên bình của khu Village, cách xa khu du lịch, và hàng xóm bị đánh thức bởi bà đáp xuống phía sau khu vườn bê tông. Bà ăn vận gọn gàng trong bộ váy từng rất hợp thời, những bông hoa sặc sỡ đã phai màu từ lâu. Đôi tất dài và giày cao gót đế vuông của bà gợi nhớ cho tôi tới những năm 1940. Bà có một dải băng mỏng màu vàng đồng ở ngón đeo nhẫn bên tay trái, đã đeo thất thường trong nhiều năm. Cơ thể của bà không bị hủy hoại nặng lắm, và khi tôi nhấc tay bà lên, tôi nhìn thấy những con số vùng Auschwitz[*] được xăm trên đó, một màu xanh xấu xí trên làn da nhợt nhạt của bà. Thực tế qua những con số làm tôi choáng váng. Nó không nhiều nhặn hơn một biểu tượng kinh dị nho nhỏ để nhắc nhở chúng ta về việc con người có thể sa đọa đến mức nào. Người phụ nữ này vẫn sống sót sau khi bị đẩy vào trại tập trung, bị mất nhà và mất nước. Còn điều gì có thể khiến bà muốn tự sát sau từng ấy năm?
Tôi không tìm được gì ở trong sân nên quyết định leo lên căn hộ của bà, cánh cửa được mở ra bởi một cảnh sát, người chẳng biết gì hơn ngoài tên của người chết. Căn nhà của người phụ nữ được bài trí theo phong cách cổ điển và mang hơi hướng châu Âu. Ghế bành bằng gỗ sẫm màu, lớp nhung màu đỏ thẫm đã sờn ở tay vịn. Trên cái kệ sách cổ điển là một bình gốm rỗng và một chiếc đồng hồ Thụy Sĩ để bàn bằng gỗ trắc. Nó kêu tích tắc rất to khi tôi nhìn quanh không gian nhỏ ngăn nắp ấy, nhưng tôi chẳng tìm được lời giải thích nào ở đây. Một lá thư tuyệt mệnh sẽ là dư thừa, cả căn nhà tràn ngập nỗi cô đơn. Không có hình chụp gia đình trong nhà của bà, không một cái tên hay cuộc hẹn nào được đánh dấu trên cuốn lịch. Tôi thậm chí chẳng tìm được một danh sách việc cần làm. Cảnh sát đã hỏi những người hàng xóm trong khu, nhưng họ chẳng thể cung cấp thêm gì cho chúng tôi.
Tôi kết thúc ca làm việc vào khoảng 8 giờ 30 sáng hôm đó và trở về nhà thay đồ trước khi cùng vài người bạn đi ăn sáng. Khi băng qua một giáo đường cách quán ăn vài dãy nhà, tôi quyết định dừng lại. Cửa nơi đó vẫn mở nhưng không có dấu hiệu có người bên trong, ngoài tiếng thì thầm khe khẽ phát ra từ tầng hầm. Tôi gọi lớn: “Xin chào, có ai ở đây không?” Một lát sau, rốt cuộc tôi trông thấy một giáo trưởng Do Thái bước lên cầu thang. Anh dừng lại khi nhìn thấy tôi, bộ dạng có chút lo lắng. Tôi chợt nhận ra mình đang mặc áo khoác mô tô, đi bốt và quần jean đen, trông tôi không giống một tín đồ bình thường. Tôi nói với anh rằng một phụ nữ Do Thái đã chết, rằng bà ấy là người sống sót sau thảm họa diệt chủng Holocaust[*], và tôi mong anh nói Kaddish[*], lời cầu nguyện cho người đã mất. Tôi đã không đề cập đến việc tự tử, với ý nghĩ rằng đó có thể là một tội lỗi theo đạo này. Người giáo sĩ hỏi tôi một số câu về người đã khuất – gia đình, tên thời con gái, tên Do Thái của bà – tôi không biết cái nào trong số đó. Tôi bật khóc. Anh liền ngừng hỏi và nói: “Đừng lo, chúng tôi sẽ nói lời cầu nguyện cho bạn của bạn.”
Đó là tận cùng nỗi cô đơn, khi người bạn duy nhất bạn có bấy giờ lại chính là người xa lạ vừa điều tra cái chết của bạn.
Một vài vụ phẫn nộ tự sát kinh khủng nhất tôi từng thấy diễn ra ở khách sạn Marriott Marquis ở Midtown Manhattan. Giống như cầu Cổng Vàng trong quá khứ hay công trình Vessel ở Hudson Yards ngày nay, nơi đây cũng là một địa điểm nổi tiếng để nhảy lầu tự tử. Khách sạn Marriott có một tiền sảnh thông tầng khổng lồ với thang máy bằng kính được bao quanh bởi các ban công bên trong ở mỗi tầng, cao 48 tầng và hoàn hảo cho một lối ra rất dễ thấy. Nó phổ biến tới mức khách sạn đã phải thực hiện một kế hoạch khẩn cấp, một “mã màu đen”[*] cho các vụ tự tử. Các tấm ván lăn được đặt trong tầm với và sẽ nhanh chóng được bố trí để che chắn cho du khách khỏi những thi thể biến dạng nằm bẹp dí trên tấm thảm trải trong tiền sảnh.
Một ngày tháng Mười một tươi sáng, người đàn ông nọ đứng trên một trong những ban công cao nhất của khách sạn đã gào lên gì đó với cậu bé ở ban công đối diện. “Anh nói gì?” Cậu bé hỏi to. Và khi đó gã đàn ông trả lời: “Bảo bọn họ hãy coi chừng bên dưới!”
Rồi anh ta nhảy xuống.
Những thi thể ở khách sạn Marriott có xu hướng bật ra khỏi lan can ban công và trục thang máy, đứt thành nhiều mảnh trước khi đáp xuống dưới chân những vị khách đang thất kinh. Chiều mùa đông hôm đó, tôi đã vô tình giẫm phải mảnh gan của người nhảy lầu trong lúc bước qua những phần thân thể rải rác khắp nơi của anh ta. Trước khi lên phòng người chết để tìm kiếm bằng chứng và giấy tờ tùy thân, tôi tạt vào nhà vệ sinh nữ để vệ sinh đôi bốt của mình, tránh việc để lại đống hổ lốn đó lên phần còn lại của khách sạn. Tôi đứng trước bồn rửa mặt, chân mang tất, huy hiệu treo trên dây chuyền quanh cổ, lầm bầm chửi rủa trong khi dùng tăm bông lấy những thứ đó ra khỏi bốt mình. Lát sau, một phụ nữ cũng vào trong để tô lại son môi trước gương. Cô nhìn chằm chằm vào những gì tôi đang làm và vô cùng bối rối.
“Cưng à.” Tôi nói. “Em không muốn biết đó là thứ gì đâu. Thật đó, em sẽ chẳng bao giờ muốn biết.”
Khi trở lại văn phòng, tôi kể cho các đồng nghiệp về vụ việc mới nhất ở khách sạn Marriott, cách gã đàn ông đã báo trước cho cậu bé kia thế nào. Tôi gắng rũ bỏ cảm xúc tiêu cực bằng cách khiến mọi thứ đã diễn ra có vẻ thật nhẹ nhàng, thế là tôi tập trung vào những chi tiết trên đôi bốt, chúng đã từng mới ra sao, da nâu tốt thế nào và tôi đã phải trả nhiều tiền để có được chúng. Dĩ nhiên, Randy có một câu chuyện hay hơn, liên quan tới một người mua bất động sản. Một người trầm tĩnh, ăn mặc lịch sự đã vào trong văn phòng bất động sản ở Midtown để yêu cầu được cho xem một số căn hộ. Yêu cầu của anh ta rất đơn giản: một phòng ngủ, trong một tòa nhà hiện đại, trên tầng cao và có ban công. Hàng xóm hay giá cả không phải vấn đề. Đó có thể là một khách hàng dễ tính cho người môi giới, một cô gái dễ mến mới vào làm ở văn phòng bất động sản này.
Cô đưa vị khách đi xem một số căn trong danh sách rao bán ở Midtown và Upper East Side, là những nơi có nhiều khu dân cư cao tầng của Manhattan. Hai cái đầu tiên chưa thỏa mãn được vị khách: một cái không đủ cao, cái kia không có lối đi dễ dàng ra ban công. Ở căn hộ thứ ba, người đàn ông nhìn quanh vẻ hài lòng. “Chuyện này sẽ ổn thôi.” Người đàn ông nói với cô gái, và bắt đầu chạy băng qua phòng khách tới ban công đang rộng mở rồi nhảy qua lan can.
“Xuất sắc!” Randy nói.
Vì vậy tôi kể một câu chuyện khác, về cuộc điện thoại ban đầu có vẻ như chỉ là một cuộc gọi thường nhật. Tôi tới nơi và thấy nạn nhân trên vỉa hè ở sân sau tòa nhà của anh ta. Chân anh ta bị xoay ở những góc độ kì lạ, là kết quả của phần hông bị gãy. Mái tóc sẫm màu óng ả của anh ta rối bù trước trán. Một anh chàng đẹp trai với thân thể bị hủy hoại khủng khiếp.
Căn hộ của anh ta lại chẳng có vẻ gì là của một người muốn tự sát. Nó đáng yêu, sáng sủa, sạch sẽ và được bài trí rất đẹp. Trên bàn trong phòng ăn là những chiếc hộp đựng thiệp mời dự tiệc, tất cả được làm thủ công và được chuẩn bị để gửi tới bạn bè anh ta, rất nhiều bạn. Những chiếc thiệp được cắt từ giấy màu thành những hình thù khác nhau, chúng được trang trí bằng những dòng chữ viết tay và hình vẽ bằng bút chì, bút đánh dấu và chì màu, mỗi người bạn nhận được một chiếc thiệp khác nhau và mỗi chiếc đều khác biệt. Có hàng tá thiệp như thế, và tôi cảm nhận được người quá cố đã vui vẻ tạo ra từng chiếc thiệp ấy. Trên một chiếc có màu vàng sáng là bức tranh ký họa một người đàn ông đang nâng ly chúc mừng, với những chữ màu xanh ghi: “Này, Billy, rất nóng lòng được gặp bạn!” Một tấm khác bằng giấy màu xanh lá được cắt thành hình tròn, tô điểm bên trên là những vòng xoắn màu đỏ ở các góc và cái tên Michael nằm ở trung tâm, trông nó như một món đồ trang trí Giáng sinh được đặt làm riêng vậy. Tất cả đều là thiệp mời tới lễ viếng và lễ truy điệu của người chết.
“Cô có để ý thấy tên tôi trên danh sách khách mời không?” Randy hỏi.
“Không.” Tôi trả lời. “Họ đều là những ngôi sao hạng A.” Randy trợn mắt và rời khỏi phòng.
Reuven bỏ tờ Thời báo New York và tiến đến cạnh tôi.
“Barbara, cô biết đấy, Randy toàn nói nhăng nói cuội. Cái vụ đó, vụ của gã mua bất động sản à? Có phải của anh ta đâu. Vụ đó Barry phụ trách. Cô biết anh ta nói dối để lúc nào mình cũng là người giỏi nhất mà.”
“Ồ, thì cả hai người đều thế cả, luôn cố gắng để vượt qua người kia. Anh cũng nói dối đó thôi.”
Tôi ném cho anh ta cái nhìn sắc lẹm vì đã nghe qua những câu chuyện phức tạp mà anh ta kể với những người phụ nữ trong đời mình.
Anh thở dài. “Barbara, đúng là như thế. Tôi nói dối mọi lúc. Nhưng tôi hứa với cô một điều. Tôi sẽ không bao giờ nói dối cô.” Tôi trố mắt nhìn anh ta một lúc, rồi phá lên cười.
Tối đó tôi kể với bạn đời lúc bấy giờ của mình, Marie, về vụ tự tử của người mua bất động sản, tôi cười một chút khi kể lại chuyện đó. Cô chỉ nhìn tôi chằm chằm rồi sau đó lên phòng xem ti vi. Tôi dọn dẹp căn bếp, vừa làm vừa đá thúng đụng nha để báo hiệu rằng mình đang cáu kỉnh. Cô nàng thất thường hết sức, hầu như chẳng còn nói chuyện với tôi nữa. Tôi bắt đầu cảm thấy mình như người lạ trong nhà, thỉnh thoảng tôi bắt gặp ánh mắt khôi hài cô dành cho mình, như thể tôi thực sự là một người lạ. Tôi đoán rằng bởi cô là một y tá nên nhạy cảm thái quá với cái chết chăng. Không có khiếu hài hước chút nào. Cô không biết đây là cách tôi đối phó với nỗi buồn hay sao? Cô không biết rằng nếu tôi ngưng nghĩ về người phụ nữ tội nghiệp bị kinh hãi vì nhìn thấy gã đàn ông nhảy lầu, hay về điều gì đã khiến một người nhảy khỏi ban công, thì tôi sẽ không bao giờ có thể dậy khỏi giường mỗi sáng?
Marie luôn đòi hỏi tôi giao tiếp nhiều hơn, chia sẻ cảm xúc của tôi với cô ấy. Giờ đây khi tôi làm thế, cô lại quay lưng đi. Thôi kệ, tôi có thể nói chuyện với bạn bè ở chỗ làm.
Đôi lúc việc văn phòng nhàn rỗi, chúng tôi có thể nói về “nguyên do” của tất cả mọi thứ, về điều gì đã khiến người ta làm những thứ họ đã làm. Tôi đặc biệt quan tâm đến ý nghĩa đằng sau các phương pháp tự tử khác nhau. Mỗi người chúng tôi có một quan điểm khác nhau. Joey cho rằng thổi bay đầu đi là để khỏi phải nghĩ những chuyện khùng điên. Bob thì nói tự tử là để thoát khỏi những áp lực của thế giới đáng nguyền rủa, và người ta uống thuốc để ngủ đến chết. Randy thấy tự tử là chính đáng với những người mắc bệnh hiểm nghèo, và nên được pháp luật công nhận.
Reuven nói tất cả những nạn nhân tự tử đều có bệnh tâm thần. Tôi huých anh ta nói. “Anh đã bao giờ bị trầm cảm chưa? Như thể anh không thể rời giường, không muốn tiếp tục nữa?”
“Ai cơ, tôi ấy hả? Làm ơn. Tôi sống ổn lắm.” Reuven trả lời.
Tôi nói với họ về những phân loại tức giận và buồn bã của tôi. Những phương pháp thụ động như dùng thuốc quá liều hoặc ngạt thở bằng khí gas là kiểu tự tử lặng lẽ và buồn bã. Những lá thư tuyệt mệnh, nếu người chết có để lại trong những vụ như thế, sẽ chỉ ghi rất đơn giản: “Tôi xin lỗi.” Tôi cảm thấy như thể họ đang cố gắng thoát khỏi cảm giác đau đớn, chán nản, cô đơn hoặc sầu khổ mà không làm hại hoặc khiến bất cứ ai sợ hãi. Họ không điên, họ chỉ quá buồn.
Dĩ nhiên, các phương pháp tự tử cũng được xác định bởi khả năng tiếp cận, tính dễ sử dụng, sự khác biệt về văn hóa và chỉ những cách gì khiến người chết cảm thấy thoải mái nhất. Ở Mỹ, tự sát bằng cách bắn vào đầu chiếm ưu thế vì chúng tôi có rất nhiều súng. Ở Nhật Bản, nhảy xuống trước đầu tàu phổ biến hơn, hậu quả là giờ cao điểm mọi người di chuyển bị gián đoạn, gây ra một tuyên bố khá hung hăng. Có sự khác biệt về phương pháp theo giới tính, trong đó nam giới có xu hướng sử dụng các biện pháp bạo lực hơn phụ nữ. Vụ tự tử mang tính biểu tượng nhất mà tôi từng chứng kiến là vụ một người đàn ông ngồi trong thùng rác lớn trên phố Hudson, trước căn hộ của vợ cũ, và tự bắn vào sau đầu mình. Đó là một tuyên bố trực tiếp và sáng tạo.
Dù thế, tôi không thể phân loại các vụ treo cổ tự tử. Có thứ gì đó thật đáng sợ khi phát hiện ra ai đó bị treo cổ, mặc dù không phải là cái chết bạo lực nhất được thừa nhận – bóp nghẹt và thiếu khí tới tuyệt vọng, nhảy xuống từ cái ghế để làm gãy cổ bạn. Nếu được làm đúng cách, cái chết vì treo cổ sẽ yên tĩnh và thanh thản. Với lực nén vừa đủ để đóng các tĩnh mạch ở cổ, bạn vẫn có thể thở được. Máu vẫn tiếp tục chảy lên não nhưng không thể thoát ra khỏi đầu, vì thế sức ép lớn dần, lớn dần cho tới khi bạn từ từ bất tỉnh, trong khi trải nghiệm trạng thái hưng phấn kỳ lạ do thiếu oxi và giải phóng hormone endorphin[*]. Và thế nên, đó không phải một kết cục đau đớn – nếu nói về mặt thể xác – nhưng vẫn còn đó những thống khổ đẩy người ta tới việc kết liễu đời mình. Nỗi đau đó không thể coi thường được.
Có một cuốn sách tựa đề Lối thoát cuối cùng hướng dẫn chi tiết tất cả các cách để tự tử, và nó khiến tôi phát bực. Cuốn đó bán đắt như tôm tươi, và tôi tìm thấy nó trong rất nhiều hiện trường tự tử. Tôi hiểu nó có thể giúp ích như thế nào cho những người mắc bệnh nan y, và tôi cũng thấy rất nhiều người bị AIDS giai đoạn cuối đã làm theo hướng dẫn trong cuốn sách để có một cái chết yên bình tại nhà, với bạn bè ở quanh (hầu hết những người đó tản đi trước khi chúng tôi có mặt, vì trợ tử là bất hợp pháp). Nhưng tôi thấy nó không đủ hữu dụng để giúp đỡ những người mắc bệnh tâm thần, hoặc những người trầm cảm và lo âu, những người có thể dễ dàng được điều trị bằng thuốc. Những người giống như tôi.
Cơn trầm cảm đầu tiên đến với tôi ở tuổi 12. Có thể bởi hormone dậy thì và việc cha tôi nói tôi không được quanh quẩn trong xưởng của ông nữa, rằng tôi phải làm những “việc của con gái” đi. Đột nhiên tôi cảm thấy cô đơn khủng khiếp, tôi thấy mình bị bỏ rơi. Tôi ngồi ở dãy ghế cuối cùng ở trường và ngừng nói chuyện. Sau giờ học, tôi tới cửa hàng tạp hóa của mẹ vì tôi phải làm như thế. Ngày lại ngày trở thành vòng tuần hoàn của nghĩa vụ và sự im lặng. Ngoài ra, tôi đọc sách – những cuốn sách có chủ đề khoa học viễn tưởng và huyền bí giúp tôi thoát khỏi bóng tối tâm trí trong một chốc lát. Tôi lặng lẽ khóc trong đêm.
Trong một ngôi nhà đầy trẻ con, không có tiền và hàng tá vấn đề, không một ai chú ý tới tôi. Tôi đã rất rụt rè với cái răng cửa bị vỡ và cặp mắt kính rẻ tiền được trợ cấp từ kế hoạch của công đoàn. Tôi lại chẳng phải kiểu trẻ con thích tranh thủ tình cảm. Không ai nhận ra tôi đang đau khổ thế nào. Tôi từng nghĩ về việc tự kết liễu mình và đã tập dượt với dao lam của bố, vạch nhẹ lưỡi dao Gillette mảnh lên những đường gân xanh. Từ việc nghiên cứu mô hình trực quan cơ thể người, tôi biết nơi nào cần được đặt nhát cắt xuống. Tất cả những gì tôi phải làm là ấn thật mạnh để mở động mạch quay. Là một đứa trẻ thận trọng, tôi lên kế hoạch làm điều đó khi đang tắm để không lưu lại mớ hỗn độn đẫm máu cho mẹ mình. Sau đó, cha tôi thấy tôi đang lãng phí quá nhiều nước trong phòng tắm một mình, nên quyết định bắt tôi phải quay lại tắm với những đứa trẻ khác, theo nhóm ba đứa một. Tính tằn tiện của cha tôi ngày đó đã cản tôi lại, và chẳng bao lâu sau, ma túy và rượu đã làm dịu cơn đau trong tôi một thời gian. Tôi đã thỏa hiệp với những gì có sẵn.
Một số người không thiếu thứ gì và nhận được rất nhiều sự hỗ trợ, nhưng nỗi thống khổ của họ không vì thế mà mất đi. Những người giống như người đàn ông giàu có với vợ đẹp con ngoan, người đã chết cô độc trong căn hộ song lập sang trọng của mình ở đại lộ Park. Đứa con tuổi thành niên của anh ta đi học về và phát hiện cha mình nằm chết trên sàn, bên cạnh là kim tiêm và một lọ nhỏ insulin. Đứa bé gọi cho mẹ, cô này chạy về từ cửa tiệm của mình nằm cách đó ba dãy nhà, trên đại lộ Madison. Người mẹ gọi cho chuyên gia tâm lý, người này đi bộ từ văn phòng của anh ta cách đó bốn dãy nhà. Chỉ tới khi đó họ mới gọi 911.
Một thám tử trẻ tuổi cung cấp cho tôi các tình tiết vụ án. Gần giống tự tử, có thể là dùng insulin quá liều. Gần đây bị trầm cảm. Tôi hỏi vị thám tử sao anh ta biết nguyên do là dùng insulin quá liều.
“Vợ anh ấy cho tôi hay.”
Ồ. Có một lá thư tuyệt mệnh trên giường người chết, một mảnh giấy với dòng chữ bằng mực xanh nguệch ngoạc: “Xin lỗi. Tôi khám nghiệm xác người đàn ông, phát hiện có vài vết kim tiêm ở vùng bụng dưới, phù hợp với việc tiêm insulin cho bệnh nhân tiểu đường. Ngoài ra không còn gì khác.”
Lúc này, Joe G, một thám tử kỳ cựu, ló đầu vào nói: “Này Barbara, tôi đang tính phỏng vấn cô vợ. Có muốn tham gia cùng tôi không?”
Anh ta cúi đầu sang một bên chừng 5cm và nhướn mày, báo hiệu cho tôi biết có điều gì đó không ổn. Ngay trước khi chúng tôi tiến vào phòng khách, anh gạt đi sự ngờ vực trên gương mặt và tỏ vẻ dễ chịu, cởi mở. Tôi cũng làm điều tương tự, tôi trưng ra một nụ cười chuyên nghiệp và đồng cảm.
Trong phòng khách là một phụ nữ tóc vàng xinh đẹp trong bộ đồ hiệu Chanel với những viên ngọc trai đáng yêu. Trông cô trạc tứ tuần, sang trọng và điềm tĩnh. Ngồi phía góc chéo đối diện là một người đàn ông điển trai không kém, với vóc dáng cao gầy và mái tóc màu nắng. Anh ta khoác trên mình bộ com lê được cắt may hoàn hảo, hai chân anh ta bắt tréo, trông bộ dạng hoàn toàn thả lỏng. Vừa đặt chân vào phòng là tôi nhận ra ngay luồng điện giữa hai người này. Phản ứng hóa học giữa cả hai quá mãnh liệt.
Người vợ đưa tay về phía tôi, vừa đủ để tôi ngả người vào siết lấy bàn tay ấy. Bằng một giọng Ý nhỏ nhẹ, cô nói: “Tôi là bà Del Grosso, và đây là bác sĩ tâm lý của chồng tôi, bác sĩ Delaney.” Tôi bắt đầu thấy giống một cảnh phim rồi đấy.
Joe yêu cầu họ mô tả cách họ được báo về vụ việc, họ đã làm gì và mỗi người mất bao lâu để đến căn nhà trước khi gọi cho 911. Khoảng 15 phút. Joe hỏi người vợ vì sao cô không gọi xe cấp cứu ngay.
“Tôi sốc quá. Bản năng đầu tiên của tôi là gọi cho bác sĩ của anh ấy.”
Trông cô ta chắc chắn không có vẻ gì là đang sốc cả. Lớp trang điểm của cô ta không chê vào đâu được. Mascara không bị nhòe, cô ta chưa từng khóc. Không có lấy một vệt lem son môi nào. Hầu hết mọi người chẳng ngần ngại gì mà gọi 911 ngay khi có bất cứ chuyện gì xảy đến, dù đó là một người chồng chết hay một ngón tay bầm tím đi chăng nữa.
“Còn bác sĩ, anh chờ đợi điều gì? Tại sao anh không gọi 911 ngay?”
“Tôi biết anh ấy đã ra đi, không thể làm gì được nữa. Trên hết, tôi thấy lo lắng cho vợ Alberto và con trai của anh.”
Vâng, tôi cá là vậy. Trong đầu tôi vang lên giọng nói của thám tử Columbo trong bộ phim truyền hình cùng tên. Tôi biết mình trông chẳng khác gì cái áo choàng dài và bộ đồ giảm giá mình đang mặc. Tôi hỏi người vợ về bệnh sử của chồng cô.
“Anh ấy cực kì, cực kì chán nản.” Cô nói. “Anh ấy tới gặp bác sĩ Delaney hai lần mỗi tuần trong gần một năm nay và dùng thuốc nữa, nhưng dường như chẳng có ích gì.”
Tôi hỏi thêm về insulin và nhận được câu trả lời người đàn ông bị tiểu đường, vì thế tôi muốn biết tên của bác sĩ nội tiết và bác sĩ nội khoa của anh ta.
Vị bác sĩ đẹp trai ngắt lời tôi nói: “Tôi phụ trách kiểm soát bệnh tiểu đường của anh ấy.”
“Ồ, tôi tưởng anh nói anh là bác sĩ tâm lý mà?”
“Vâng, và tôi hoàn toàn có năng lực điều trị các vấn đề sức khỏe của người bệnh.” Anh ta mỉm cười nhẹ, thần thái vẫn ung dung.
Hai người này là sinh vật siêu đẳng. Còn Joe và tôi chỉ là những rắc rối nho nhỏ của họ mà thôi. Tôi để ý những thay đổi tinh tế trong ngôn ngữ cơ thể của họ, mỗi người đều hướng vai và đầu gối về phía người còn lại, đoàn kết để bảo vệ lẫn nhau. Những ánh nhìn trấn an nho nhỏ từ anh ta dành cho cô ả.
Sau khi hỏi thêm vài câu, chúng tôi đành phải rời đi, sau khi cảm ơn họ đã dành thời gian cho cuộc nói chuyện và gửi lời chia buồn tới cả hai. Thật khó khăn khi phải mất đi một bệnh nhân tự tử.
Khi tới ngưỡng cửa, tôi dừng bước và quay lại hỏi: “À, chỉ thêm một điều nữa thôi. Hai người có thể cung cấp cho tôi thuốc của người đã mất được không, bao gồm cả những lọ insulin nữa?”
“Ồ, lọ đó rỗng rồi, nhưng tôi sẽ cho cô những lọ thuốc của anh ấy nhé.” Người vợ nói.
“Vui lòng cho tôi lọ insulin rỗng đó, và cầm bơm kim tiêm nữa.” Lần này đến lượt tôi mỉm cười. Phòng thí nghiệm độc học là một bộ phận của OCME, và họ sẽ khẳng định được lọ thuốc chứa đúng thứ cần có bên trong.
Tôi nhất định sẽ điều tra vụ này tới cùng, vì quyền lợi của người đàn ông tội nghiệp đang nằm chết trên sàn kia. Có thể ai đó đã đánh tráo insulin nồng độ U-500 cho loại U-100, thứ có thể khiến lượng đường trong máu anh ta tụt xuống thấp quá mức thông thường. Hoặc cũng có thể anh ta tự tiêm quá liều cho chính mình, bởi thất vọng khi vợ và bác sĩ tâm lý đã phản bội anh ta. Hai người mà anh ta cần nhất và tin tưởng nhất trên thế giới này đã vụng trộm sau lưng anh ấy, điều này tôi có thể chắc chắn. Họ sung sướng đắm mình trong nhau khi anh ta phải chịu đựng nỗi đau bị bỏ rơi và bị trầm cảm. Dù có là gì đi nữa, mọi thứ ở đây không đúng chút nào. Có thể tôi đã đặt quá nhiều cảm xúc cá nhân vào vụ việc. Giả như những người xinh đẹp kia không phải người tình, và người chồng bị trầm cảm nặng muốn tự sát thì sao? Từ khi nào bác sĩ tâm lý lại kiểm soát tiểu đường cho người bệnh, một căn bệnh phức tạp và tiềm tàng nguy cơ tử vong? Nếu con trai gọi cho tôi để nói chồng tôi nằm chết trên sàn, liệu tôi có tản bộ về nhà qua Đường 70 bờ Tây không, hay tôi sẽ gọi 911? Những suy nghĩ đó làm tôi phát điên.
Tôi viết báo cáo cẩn thận, và trong buổi khám nghiệm tử thi vào sáng hôm sau, tôi đã nói với nhà nghiên cứu bệnh học về những nghi ngờ của mình. Cô đã vẽ thủy tinh thể (chất lỏng ở trong nhãn cầu) và máu để xét nghiệm chất độc cũng như phân tích hóa học. Đúng như kỳ vọng, anh ta chết vì dùng insulin quá liều. Ống thuốc hoàn toàn trống rỗng, không có gì để kiểm tra cả. Vụ việc được luật định là tự tử, và không có gì để chỉ dẫn tới điều gì khác. Nhưng giống như rất nhiều vụ tử vong tôi từng thấy trước đây, vụ việc ấy làm tôi khó chịu mãi tới tận bây giờ.
Giờ đây tôi có đủ loại cảm xúc, từ A tới A’: giận dữ, đau đớn và lo lắng vì sự an nguy của chính tôi, vì trên hết vụ tự tử này và những vụ khác đều là tai nạn. Cho dù là kết quả của hành vi mạo hiểm hay sự cố ngẫu nhiên của số phận, chúng đều bất biến. Mỗi lần đi dạo loanh quanh đều có thể gặp một chiếc ô tô chạy quá tốc độ lao lên vỉa hè và ghim chặt tôi vào một tòa nhà, trong khi những viên gạch lỏng lẻo do tay nghề kém chất lượng từ trên cao rơi xuống đầu tôi và khói thải làm tôi ngạt thở. Tôi sẽ cảm thấy bất lực. Tôi “sẽ” bất lực, và đó sẽ là điều tệ nhất. Tôi cần phải kiểm soát được, thậm chí cả cái chết.
Công việc tôi từng yêu thích đang nghiền nát tôi. Tôi đã làm điều tra viên pháp y trong 9 năm. 9 năm với khoảng 5.500 ca tử vong, 650 trong số đó là giết người. (Chúng tôi đã cập nhật tới đó.) Chúng tôi không giữ số liệu thống kê về phần còn lại của con số đó, vì thế tôi không biết chính xác có bao nhiêu vụ tự tử, bao nhiêu tai nạn và bao nhiêu cái chết tự nhiên mà tôi đã tham gia điều tra. Tôi chỉ biết mình bắt đầu nghĩ quá nhiều về việc các nạn nhân sẽ ra sao, cảm giác của người sắp chết như thế nào. Tôi thấy ổn khi ở hiện trường, trò chuyện với Jimmy của Đội cứu hộ khẩn cấp khi chúng tôi kéo người nhân viên của công viên trong tình trạng khỏa thân bị nhồi chặt trong đường ống thoát nước của một bể lọc. Làm sao anh ta vào được trong đó? Tại sao anh ta lại vào trong đó? (Rõ ràng anh ta đã bơi khỏa thân trong bể lọc mỗi tối, nhằm tránh xa bể bơi nơi toàn nước tiểu trẻ con.) Anh ta bị mắc kẹt như thế nào? (Hệ thống máy tính thay đổi chế độ cài đặt, hút nước ra khi anh ta đang đầm mình trong bể.) Và làm thế quái nào chúng tôi có thể lôi anh ta ra được? (Chúng tôi dùng máy tời và dây thừng để kéo anh ta lên, trong khi một nhân viên cứu hộ ấn cái chân bị gập lại của anh ta trở lại qua đường ống thoát nước.)
Sau ca trực và khi rảnh rỗi, trí tưởng tượng của tôi hoạt động điên cuồng. Lực hút thực sự mạnh đến độ bẻ gập chân nạn nhân như vậy. Anh ta hẳn đã rất kinh hoàng khi biết mình bị mắc kẹt. Nước dâng lên chậm hay nhanh? Mất bao lâu để anh ta chết đuối? Dù gì đi chăng nữa, điều đó thật kinh khủng, và tâm trí tôi lướt qua những câu trả lời như những con chim choắt thoát khỏi một con sóng biển.
Có một nơi mà tôi có thể giữ một khoảng cách chuyên nghiệp và tận hưởng công việc một cách triệt để – giảng dạy tại Học viện Cảnh sát. Tôi đã bắt đầu giảng dạy các khóa điều tra tội phạm và giết người từ vài năm trước đây, và đã trau dồi, cải thiện bài thuyết trình (phong cách) của mình cho tới khi tôi trở thành một trong số những diễn giả nổi tiếng hơn. Không ai trong số 200 thám tử, chủ yếu là nam, ngủ gật khi tôi đứng lớp. Tôi mặc bộ váy quyến rũ nhất của mình, mang giày cao gót, đồng thời làm sáng tỏ vấn đề bằng khiếu hài hước đen tối mà tôi biết cảnh sát rất thích. Phong cách nói chuyện đặc trưng của tôi đã khiến họ chú ý. (Và đây, thưa quý vị và các bạn, là phần hộp sọ, khối não của chúng ta đến từ nơi đó.)
Có một lần mẹ tôi ngồi ở phía cuối khán phòng nghe tôi giảng về một khóa tội phạm giết người. Bà ngồi cạnh hai thám tử nọ và nghe thấy một người nói với người còn lại về tôi như thế này: “Chà, anh có muốn hẹn cô ấy đi uống martini không?” Bà tự hào lắm. “Đó là con tôi đấy!” Thật xúc động khi thấy tôi trong mắt họ như thế, và điều đó cho tôi biết tôi đã làm tốt công việc của mình, nhắc nhở tôi về những đặc ân mà tôi nhận được.
Tôi từng tự hào về công việc mình làm. Tôi cảm thấy mình thành công. Nhưng tôi trải qua phần còn lại của đời mình đầy lạ lùng và bất an, như thể tôi đang trôi lơ lửng bên trên hơn là sống trong cuộc đời vậy. Ước gì tôi có ai đó để tâm sự. Bạn đời của tôi không muốn lắng nghe, điều ấy khiến cô ấy cảm thấy rất khó chịu. Tôi chẳng thể nói về công việc với ai ngoài những đồng nghiệp điều tra viên pháp y, và họ hầu hết là những kẻ ba hoa – về ai chứng kiến thứ điên rồ nhất, ai giải quyết ca khó nhằn nhất. Tôi phải duy trì sự mạnh mẽ. Tất cả chúng tôi đều phải làm vậy. Giữ cho mình vẻ ngoài cứng cỏi là điều rất quan trọng để làm công việc này, chúng tôi phải bền bỉ hơn người. Đó là văn hóa của chúng tôi. Nhưng thứ văn hóa đó không còn giúp tôi cảm thấy ổn nữa. Sau 9 năm vừa qua, chầm chậm và bất chợt, tôi chuyển từ trạng thái tách biệt cảm xúc một cách hợp lý sang hoàn toàn khép kín, lạnh lùng và khắc nghiệt. Tôi có thể quan tâm rất nhiều thứ cùng lúc, để mọi thứ làm tôi phiền lòng, hoặc chẳng quan tâm gì cả và có thể cảm thấy khá hơn. Tôi không thấy bất cứ điểm chung nào.
Tiến sĩ Hirsch đã cảnh báo tôi về “sự mệt mỏi của lòng trắc ẩn” – việc không thể cảm thông với người khác được nữa. Tôi cho ông hay rằng tôi kiệt sức.
“Cháu cần một kỳ nghỉ vui vẻ, Barbara, một điều gì đó yên bình để nạp lại năng lượng. Sao cháu không cùng Marie dành chút thời gian cho chính mình, đi đâu đó một thời gian chẳng hạn?”
“Cháu không nghĩ Marie sẽ đi đâu đó cùng cháu lúc này. Cô ấy lúc nào cũng giận cháu, và thực tình cháu không biết lý do tại sao.” Người bạn đời liên tục giận dữ với tôi, cô ấy mệt mỏi với sự im lặng và tính cáu bẳn của tôi, cũng như nỗi sợ hãi và bi quan trong tôi. Tôi đã không quan tâm điều đó. Nhưng tôi vẫn níu kéo mối quan hệ này vì niềm vui thực sự trong đời mình – đứa con trai út của Marie, lúc này mới lên 8 tuổi. Tôi gọi cậu bé là “Dash” vì cậu chạy rất nhanh; còn cậu gọi tôi là “mẹ khẩn cấp” vì tôi có thể sửa mọi thứ và luôn giúp hai chúng tôi thoát khỏi rắc rối.
Dash là một cậu nhóc hoàn hảo: thông minh, nhạy cảm, vui vẻ và thích phiêu lưu. Dù còn nhỏ, cậu bé đã biết yêu cái đẹp rồi. Chúng tôi thường đi bộ trên những ngọn đồi phía sau nhà tôi ở Catskills để ngắm lá mùa thu thay áo, hoặc ngồi im lặng bên nhau cho đến khi cậu nhóc thì thầm: “Mẹ nhìn khung cảnh đó kìa, nó có thực không vậy?” Khi cậu bé lên 6, chúng tôi tham gia một cuộc leo núi đá đơn giản, với một sợi dây cáp ở quanh thắt lưng tôi buộc quanh cậu bé để đảm bảo an toàn. Khi tôi bị ngã và bị thương ở đầu gối, cậu bé quấn dây cáp quanh một cái cây để tôi không bị trượt xuống. Cậu đã rất tự hào vì cứu được tôi và còn vẽ một bức tranh về ngày hôm đó, với tiêu đề “Giúp đỡ mẹ – người bạn của tôi.”
Tôi phải hành động trước khi cũng mất đi cả cậu nhóc đó. Tôi đã trì hoãn một vài phẫu thuật cần thiết trong một thời gian dài, quá đầu tư vào chứng nghiện công việc thay vì chăm sóc bản thân. Đây sẽ là thời gian tốt để làm chuyện đó, vào kỳ nghỉ mùa hè khi Dash được trở về nhà. Chúng tôi có một góc ở công viên Asbury, New Jersey, cách bãi biển vài căn nhà, nơi cậu nhóc và tôi có thể chơi đùa và thư giãn. Vào tháng Năm, tôi gọi cho bác sĩ để lên lịch phẫu thuật cắt bỏ tử cung vào tháng Bảy. Bác sĩ của tôi cho rằng tôi có thể cần phẫu thuật nội soi trước, và chưa tới một tuần là tôi có thể ra ngoài rồi.
“Không cần đâu, anh cứ lấy cả ra. Tôi phát ốm với nó. Cứ việc lấy hết ra thôi. Dù sao tôi cũng đã quá già để có con rồi.” Anh ta cố thuyết phục tôi, nhưng tôi khăng khăng làm vậy.
Tôi lên lịch cho cuộc phẫu thuật vào ngày 16 tháng Bảy năm 2001 và xin nghỉ phép 6 tuần. Richard thấy bực bội, vì lúc đó mọi người đều muốn có thời gian nghỉ ngơi, nhưng, này, đây là vấn đề sức khỏe mà. Vào cuối tháng Sáu, bác sĩ phẫu thuật gọi lại cho tôi, nói rằng bác sĩ gây mê cho ca mổ đang đi nghỉ mát, và đề nghị tôi rời lịch qua ngày 30 tháng Bảy. Được thôi, sao cũng được, cứ làm đi.
Cuộc phẫu thuật diễn ra thành công tốt đẹp, tôi ở lại viện vài ngày và sau đó về nhà để hồi phục. Không có hoạt động vất vả, không công việc, chỉ thư giãn giữa những con người và quên đi giết chóc cùng hỗn loạn. Có lẽ tôi sẽ giảm được vài cân trong số cân nặng tôi có thêm nhờ việc ăn những túi đầy kẹo Smarties, giải pháp tôi dùng để hạn chế chứng lo âu trong công việc. Mùa hè đó tôi dạy Dash ném dao, trượt ván trên đường dốc và nướng sườn heo. Chúng tôi cùng nhau dạo quanh khu phố với chú chó Sonic của cậu bé, trò chuyện về những cuộc phiêu lưu và những điều bí ẩn. Cậu bé là cuộc sống, hy vọng và tương lai của tôi. Tôi thực không muốn những ngày vàng son ấy chấm dứt. Tôi trở lại làm việc vào thứ Hai, ngày 10 tháng Chín, nhưng tôi đã cảm thấy khó chịu cả ngày thứ Sáu trước đó rồi. Có điều gì đó không đúng. Tôi tiếp tục nói bản thân cần thư giãn, đừng như một đứa trẻ nữa. Thật tốt để được gặp lại sếp và các cộng sự của mình, mày sẽ ổn thôi Barbara. Nhưng tôi đã không sẵn sàng để trở lại làm việc, và tôi biết mình phải nói cho Richard điều này.
“Chết tiệt, Barbara, cô không thể làm thế. Tôi đã sắp xếp cho cô đi lưu diễn vào ca 8 – 4 cả tuần tới rồi. Làm thế quái nào tôi có thể phân công đủ người cho ca trực đó bây giờ?”
“Làm ơn, Richard, tôi không biết phải nói với anh thế nào, nhưng tôi cảm thấy tệ lắm. Tôi không biết nó là gì nữa.”
“Được thôi, chắc hẳn nó không là gì cả. Nếu cô không bị đau, thì thỏa thuận của chúng ta là gì nào? Cô đang để nỗi lo lắng chi phối đấy. Cô cũng hết thời gian nghỉ ốm rồi!”
Richard tức giận và tiếp tục dồn ép tôi, nhưng tôi vẫn kiên trì với mong muốn của mình. Cuối cùng, chúng tôi đi đến thỏa thuận: tôi sẽ nghỉ thêm hai ngày và trở lại làm việc vào thứ Tư ngày 12.