Người Chết Biết Điều Gì

Lượt đọc: 94286 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 15
sóng radio đã ngắt

Buổi sáng ngày 11 tháng Chín, ngày cuối cùng của những ngày tự do không dính dáng tới hai từ trách nhiệm, tôi đã ngủ nướng trước khi quay trở lại làm việc. Tôi hạ quyết tâm phải tận hưởng điều này một cách trọn vẹn. Vừa hay hôm ấy là một ngày hoàn hảo – bầu trời trong xanh, không khí mát lành, gió hiu hiu thổi. Khoảng 8 giờ 30 phút, tôi chuẩn bị bữa sáng cho mình lần cuối trước khi quay cuồng với bánh vòng và cà phê lưu động.

Chín giờ kém, điện thoại đổ chuông.

“Mở ti vi mau đi ạ.” Don, cậu con trai 19 tuổi của Marie gọi từ nhà bạn gái. Giọng điệu khác thường của thằng bé khiến tôi khó hiểu. “Một chiếc máy bay vừa đâm vào Trung tâm Thương mại Thế giới? Một chiếc phản lực loại nhỏ, chắc thế?”

Tôi mở chiếc ti vi nhà bếp, thiết bị mini được gắn trên một chiếc tay quay có thể xoay nhiều hướng giúp chúng tôi dễ dàng theo dõi bản tin trong khi chuẩn bị bữa tối. Hình ảnh rung lắc chiếm trọn màn hình. Thật khó để nhận định chuyện gì đang diễn ra nhưng tình hình có vẻ tồi tệ. Tôi chôn chân tại chỗ, miệng há hốc, quên luôn cuộc gọi vẫn đang kết nối.

“Này, mẹ Barbara?” Don lớn tiếng. “À lố?”

“Xin lỗi, Don.” Tôi ngập ngừng. “Ta không nghĩ đó là máy bay loại nhỏ, thiệt hại kinh khủng quá. Nhưng độ cao đó không đúng với một máy bay dân dụng, thật khó hiểu.”

“Nhưng, ý con là, con đang xem ti vi và…”

“Không rõ thứ gì đã lao vào tòa nhà, nhưng Trung tâm Thương mại Thế giới là nơi đặt rất nhiều hệ thống khẩn cấp, chắc cũng chống cháy tốt.” Tôi không biết mình đang nói gì nữa, nhưng trấn an Don giúp tôi dễ chịu.

“Để mẹ liên lạc với văn phòng rồi gọi con sau.”

Tôi nhìn chằm chằm vết cháy sém đen sì bên hông tòa nhà. Liệu còn thứ gì khác có thể tạo ra vết tích khủng khiếp đó? Không phải một vụ nổ, đường bay bình thường cũng không như thế. Nó quá thẳng. Tôi tìm đủ mọi phương pháp để tự lý giải tình huống. Phân tích. Hợp lý hóa. Cách tôi vẫn thường dùng để trấn áp nỗi sợ hãi. Ít phút sau người đưa tin xác nhận đó là một chiếc máy bay, một chiếc cỡ lớn.

Máy bay mất kiểm soát độ cao? Phải chăng phi công mất năng lực hành vi rồi?

Ngay khoảnh khắc đó, trong nỗi khiếp sợ kinh hoàng, tôi chứng kiến chiếc máy bay thứ hai lao vào Tháp Nam và phát nổ thành một quả cầu lửa khổng lồ.

New York đã bị tấn công.

Tôi gọi cho OCME, Văn phòng điều tra, Tiến sĩ Hirsch, Richard, Ban liên lạc. Tất cả những gì tôi nhận được là tín hiệu báo bận. Tôi thử đi thử lại. Không ai bắt máy. Tín hiệu bận nhiều hơn. Nhiều sự im lặng hơn. Di động của Reuven vang lên tiếng tút ngắn liên tục trước khi chuyển qua hộp thoại. Tôi gọi rồi lại gọi, mỗi cuộc đều không ngừng để lại những tin nhắn tuyệt vọng. Tôi cần phải làm gì đó, để có kế hoạch hành động. Tôi cần biết những gì người phát ngôn của chúng tôi sẽ nói.

Phải thừa nhận quá trình đào tạo của tôi đã phát huy tác dụng, nhưng tôi không được đào tạo cho tình huống hiện tại. Không ai trong chúng tôi được dạy điều này cả. Dạy làm sao được khi chúng tôi còn không biết “thứ đang diễn ra” là như thế nào. Tôi nhét vài bộ quần áo vào túi, mắt dán lên ti vi. Máy quay phóng to các cửa sổ lớn trên cao, kính vỡ nát, lửa cháy và khói bốc lên ngùn ngụt. Mọi người chen chân trên những bậu tường, bám vào các khung cửa. Rồi họ từ đó lao xuống, rơi tự do giữa không trung rồi nát bét ở quảng trường rộng lớn phía dưới. Cuối cùng, ai đó ở phòng điều khiển đã chịu không nổi mà chấm dứt đưa hình ảnh về thảm kịch đó.

Một phát thanh viên đưa tin Thành phố New York đã bị phong tỏa – đường hầm, cầu cống, sân bay đóng cửa theo lệnh của ngài Thị trưởng. Đảo Manhattan[*] chính thức trở thành một hòn đảo bị cô lập và tách biệt. Từ Asbury Park, bằng cách nào tôi cũng phải tới được nơi đó. Tôi phải làm gì đó hữu dụng.

Một giọng nói căng thẳng như muốn xuyên thủng sóng truyền hình: Lầu Năm Góc bị tấn công.

Không chỉ có chúng tôi ở New York.

Trong lúc tôi quan sát, phân tích và hình dung, nỗ lực để lý giải mọi việc một cách hợp lý thì đỉnh của tòa Tháp Nam ở Trung tâm Thương mại Thế giới đã nghiêng thành một góc nghiêng kỳ quái. Và rồi, như thể trút hơi thở cuối cùng, tòa tháp ầm ầm sụp đổ trong tiếng gào thét của hàng triệu tấn gạch vụn và khói lửa cũng như tiếng ai oán của nhân loại. Tôi hét lên – một tiếng duy nhất – và dõi theo những người thoát nạn đang chạy trối chết qua các đường phố trung tâm, bị truy đuổi phía sau bởi đám bụi mù mịt từ bột bê tông và mảnh vụn sau cú va chạm khủng khiếp. Hàng chục ngàn người có thể chết, hàng trăm ngàn người khác bị thương. Một số ít biết đâu vẫn may mắn sống sót, nhưng ai dám nói trước chứ.

Làm thế nào để tìm các thi thể?

Làm sao để đưa họ ra ngoài?

Rồi sẽ trả họ về nơi đâu?

Cuối cùng, tôi đã liên lạc được Reuven.

“Chuyện gì đang diễn ra vậy? Tôi báo cáo bên nào đây?”

“Nghe này, Barbara, lãnh đạo cùng mấy người nữa đã xuống đó để lập một nhà xác. Diane và xếp một xe, chiếc còn lại đến từ bên Pháp y, có Amy từ bên Nhân chủng học. Từ lúc tòa tháp sụp đổ, chúng tôi chưa có tin của bất kì ai. Bộ đàm bị hỏng.” Anh ta bình tĩnh đến lạ kì.

Không. Làm ơn, Chúa ơi, không. Không phải ngài Hirsch. Không phải Diane hay Amy. Tôi dám chắc những lời cầu nguyện tương tự đang vang lên trên khắp đất nước. Xin Người, không. Không phải bạn bè tôi. Không phải gia đình tôi.

“Cô không cần vội đến đây. Tôi và Richard đang lập phương án thu nhận thi thể, hiện giờ chưa có gì hết, sau sẽ có nhiều việc cần cô.”

Nhảm nhí!

Reuven thực sự làm thế thật ư, cố gia tăng sức ảnh hưởng giữa một thảm họa chết tiệt?

“Ồ, được thôi, chắc rồi. Hãy báo cho tôi ngay khi anh có tin về tiến sĩ và những người khác.”

Cúp máy, tôi lập tức gọi tới Sở cảnh sát Asbury Park, sau khi giới thiệu qua nơi làm việc, tôi bày tỏ nguyện vọng vào khu vực nội thành. Họ có thể giúp tôi không? Một trung sĩ thông báo cho tôi rằng đơn vị họ vừa cử đi đội phản ứng đầu tiên và đang chuẩn bị phương tiện để đội tiếp theo có thể xuất phát trong 2 giờ tới. Anh ta sẽ chừa cho tôi một chỗ.

Tốt quá, được thế thì còn gì bằng. Tôi sẽ tham gia. Tôi sẽ vào đó, sẽ tìm thấy Tiến sĩ Hirsch và Diane, hai người chắc sẽ rất vui khi biết tôi lo lắng cho họ thế nào. Lúc này tôi chỉ cần nghe tiến sĩ phàn nàn: “Xin lỗi, Barbara, bác tạm thời không khỏe lắm.”

Khoảnh khắc vừa buông điện thoại xuống, tôi liếc mắt qua ti vi, đúng lúc đó bắt gặp cảnh tượng Tháp Bắc đang từ từ sụp đổ. Không, chuyện này không thể nào xảy ra được.

Vậy mà nó đã xảy ra rồi.

Tôi đi đi lại lại trong phòng như phát điên, vừa tuyệt vọng nghĩ cách quay lại Manhattan, vừa hoảng sợ về những gì mình sẽ chứng kiến. Tôi vô cùng giận bản thân vì thời điểm này còn đang ở New Jersey. New York là thành phố của tôi, là quê hương của tôi. Đồng hương của chúng tôi bị sát hại. Tại sao tôi nhất định ở nhà thêm hai ngày nữa?

Trong đầu tôi lóe lên suy nghĩ: Nếu tôi ở đó với Tiến sĩ Hirsch, biết đâu đã trở thành một xác chết thật rồi. Tôi rùng mình và lập tức gạt phăng ý nghĩ đó đi.

Điện thoại đổ chuông, trung sĩ từ Sở cảnh sát Asbury điện báo, chiếc xe buýt đầu tiên đã bị cảnh sát bắt phải quay đầu ở đường hầm Holland[*]. Tình hình giờ đây chính là nội bất xuất, ngoại bất nhập.

Khốn kiếp.

Đến lượt cha mẹ tôi gọi từ Florida, nhằm hỏi thăm liệu con gái họ có sao không đã. Xác nhận tôi vẫn sống nhăn và khỏe mạnh, câu hỏi đầu tiên cha tôi hỏi là: “Sao con không ở đó cùng đồng nghiệp?” Tôi nóng bừng vì xấu hổ và ân hận. Ông nói đúng. Lẽ ra tôi nên ở cạnh các đồng nghiệp của mình, giúp họ đánh giá tình huống cụ thể, làm những việc cần làm. Thay vì mắc kẹt ở New Jersey như hiện giờ và theo dõi mọi diễn biến qua sóng truyền hình như vài du khách.

“Phải, con biết chứ, cảm ơn bố đã nhắc. Con đã nói mình đang nghỉ ốm rồi phải không. Ở đó phong tỏa toàn tập, kể cả con có vượt sông cũng chẳng qua được. Bố biết cách nào vào đó thì chỉ giùm con? Bạn bố có trực thăng cho mượn không?”

“Được rồi, được rồi, tiện thì ta hỏi vậy thôi.”

“Bố nghĩ giờ phút này con không muốn ở đó sao? Họ đều là bạn con mà bố. Con làm việc cùng cảnh sát, cũng quen đội cứu hỏa. Chúa ơi.”

Tôi không nhớ rõ lắm phần còn lại của ngày hôm ấy mình đã làm gì, ngoại trừ sự lo lắng – Chúa ơi, đó còn là nói giảm nói tránh. Tôi dán mắt lấy ti vi, khỏi nói. Trong sự kinh hãi và khắc chế cao độ, chỉ hận vì bản thân không biết chuyện gì đang diễn ra. Tôi không ngừng liên hệ tới văn phòng, tay ấn phím gọi lại không nghỉ. Cuối cùng, tôi kết nối với Bill, phó ủy viên của chúng tôi.

“Họ không sao rồi, còn sống.” Nhiệm vụ của Tiến sĩ Hirsch tại NYU ER[*] đã kết thúc. Ông ấy nói đang cùng với Diane ở đâu đó trong New Jersey. Amy bị thương, và một người nữa bên pháp y tôi không biết tên. Nhưng đều ổn cả thôi.

Tạ ơn Chúa, cảm ơn.

Nhiều năm sau, Diane kể cho tôi chuyện đã xảy ra.

“Một lực tương đương vụ nổ hoặc một cơn lốc đầy gạch vụn thổi bay cả hai xuống đất. Ngài Hirsch và tôi bị giật mạnh, trượt trên vỉa hè rồi cùng nhau ngã lộn nhào, thẳng tới chân cầu đi bộ. Tôi co quắp trên mặt đất trong tư thế bào thai, tiến sĩ ngã đè lên. Ông ấy vòng tay ôm lấy tôi, tay che đầu tôi. Che đầu tôi chứ không phải đầu ông ấy. Tôi nhìn rõ những khối bê tông, sắt thép rớt xuống xung quanh, nện vào chúng tôi, khiến chúng tôi ngạt thở. Ông ấy đã cứu mạng tôi, Barbara. Ông ấy đã cứu mạng tôi.”

Ngày hôm đó xuất hiện không ít anh hùng. Không có gì ngạc nhiên khi tiến sĩ có tên trong danh sách.

Diane và Tiến sĩ Hirsch như thế nào lại bị đánh bật ra xa, cô hoàn toàn không biết. Tất cả những gì cô hiểu được bấy giờ chỉ là cô đang một mình, liên tục bị mảnh vụn đất đá quật trúng. Cô nghĩ: Chao ôi, đây là khoảnh khắc mình chết. Nó đến thật đúng lúc, giây phút huy hoàng cuối cùng. Cô không sợ hãi, chỉ bối rối trước những gì đang diễn ra, trước cái cách mà tất cả sẽ kết thúc. Bỗng nhiên, một thứ gì đó giống như cát ướt rơi xuống người cô. Sau khoảnh khắc tưởng chừng vô tận, âm thanh gào rú tắt lịm, không gian chìm vào tĩnh lặng. Ồ, rốt cuộc mình không chết. Từ ý nghĩ nhỏ bé ban đầu, tới ngập tràn cảm xúc, sung sướng vì sống sót. Cô không còn cảm thấy đau đớn nữa.

Lính cứu hỏa đeo hệ thống cảnh báo an toàn cá nhân – bộ PASS[*] – dùng báo hiệu khi có sự cố. Chuông báo động từ thiết bị đồng loạt réo lên xung quanh, âm thanh na ná tiếng động vật ấy lại giống một bản đồng ca, báo hiệu hàng trăm lính cứu hỏa đang tới. Tuy nhiên, Diane vẫn cố gắng hét lớn vào đám bụi mù mịt: “Tiến sĩ Hirsch, Hirsch!”

“Tôi ở đây.” Ông đáp.

Cô gắng gượng đứng dậy đi về phía ông, nhưng đối chân vô lực và không thể cử động. Tiến sĩ cà nhắc bước về phía cô với dây chằng mắt cá chân bị đứt. Cả hai hệt như những bức tượng phủ dày bụi trắng, ngoại trừ vết thương tứa máu trên đầu cổ và trên cánh tay rách nát của ông.

“Những người khác đâu? Amy, Jim?” Ông nói.

Diana lắc lắc, cô biết rõ trên đầu họ còn đống bê tông đổ nát. “Chúng ta cần thoát khỏi đây.”

Tiến sĩ Hirsch kéo cô đứng lên, hai người giờ chỉ còn hai chân lành lặn và cánh tay ông đang đỡ lấy cô, cố gắng dìu nhau thoát khỏi hiểm cảnh. Nhưng trốn đi đâu? Làm sao để trốn? Xung quanh bốn bề đều là gạch đá vỡ nát, vượt qua hay trốn thoát bằng cách nào đây?

Sau đó, cô thấy một người đàn ông tiến đến, nổi bật giữa khói bụi trắng xóa “hệt như một thiên thần.” Người đó ôm cô lên rồi giao cho đội cứu hộ, những người ấy đã khiêng hai người qua đống đổ nát, chuyền tay từ người này qua người khác, đưa họ về phía tây vượt đường cao tốc ra sông. Diane nhớ lại cảm nghĩ của mình khi đó, Tạ ơn Chúa đã cho cô định lực vững vàng để không rung động trước những con người này. Cuối cùng cô được đưa tới xe cấp cứu chật ních, những người không còn chỗ ngồi bệt cả dưới sàn. Lúc họ đến được nơi khác cũng là lúc cơn đau ở chân bắt đầu truyền đến. Cô kéo ống quần lên thì thấy một đầu xương ống đồng gãy đã lòi hẳn ra ngoài, gây ra đau đớn khủng khiếp. Một người đàn ông nắm lấy tay cô. “Điều đó đã cho tôi động lực, thật khó để tưởng tượng sự kỳ diệu của nó.” Cô nghĩ tới khoảnh khắc mình và Tiến sĩ Hirsch đứng trên quảng trường, chứng kiến rất nhiều người lao vút giữa không trung rồi bỏ mạng. Một vài người trong số họ đã nắm chặt tay nhau.

Xe cấp cứu chở những người bị thương tới tòa nhà bỏ trống bên bến tàu, từ đây họ tiếp tục được đưa lên phà chuyển tới một công viên ven sông ở New Jersey. Diane được thăm khám ngay trên bàn ăn ngoài trời, bác sĩ nẹp chân cô bằng băng keo và hộp rỗng Snapple[*]. Xe cấp cứu xuất hiện nhiều hơn, đưa họ tới một bệnh viện nhỏ ven đô nơi mọi bàn cấp cứu khẩn cấp đều chật kín. Xong xuôi, Tiến sĩ Hirsch nói với cô rằng ông sẽ quay lại OCME. Ông trở lại cầu cảng song không có chiếc thuyền chính thống nào dám đưa ông vào thành phố, việc đó quá nguy hiểm. Tiến sĩ đành tự thuê một chiếc thuyền tư nhân loại nhỏ. Không gì có thể cản ông trở lại nơi ông thuộc về.

Khi tôi hỏi Tiến sĩ Hirsch mọi chuyện ra sao, điều ông kể tương tự như Diane. Trừ việc ông dùng thân mình che chắn cho cô, và việc tiến sĩ đã ở cạnh bên cho đến khi Diane được an toàn. Ông nói rằng khi đống gạch vỡ đổ ụp xuống người, ông cũng kiên nhẫn chờ đợi cái chết, nhưng bản thân không hề sợ hãi. Nghe thế, tôi tự cho phép mình mỉm cười. Đó là ngài Hirsch: xứng đáng là một quý ông, ngay cả khi đối mặt với cái chết.

Có tin đồn rằng Tiến sĩ Hirsch sốt ruột nên tự mình khâu vết thương dài 25cm trên cánh tay, nhưng sự thật không phải vậy. Ông đã để các bác sĩ vệ sinh, khâu vết thương, băng bó mắt cá chân và nhận nạng trước khi quay trở lại OCME. Về sau, phải đến khi chụp X-quang tiến sĩ mới biết hầu hết xương sườn của ông đã bị gãy trong vụ tòa tháp sụp đổ, hô hấp khi đó chắc chắn rất đau đớn, nhưng ông không hề hé răng kêu lấy nửa lời.

Bệnh viện toàn thành phố được đặt trong tình trạng báo động, đội ngũ y bác sĩ túc trực ở sảnh ngoài với cáng và thiết bị cấp cứu, sẵn sàng tiếp nhận hàng ngàn nạn nhân bị thương nặng đang trên đường chuyển tới. Thế nhưng các nạn nhân bị thương nặng đã không tới, mọi người hoặc đã chết hoặc hầu hết chịu các chấn thương không nguy hiểm đến tính mạng. Đội ngũ ứng phó tại chỗ đã cho rằng dịch vụ cấp cứu ở Manhattan sẽ bị quá tải, vì vậy họ đưa những người gặp nạn lên thuyền đến New Jersey. Xuôi về phía bờ Tây sông dễ hơn hướng lên thành phố đang bị phong tỏa bởi khói lửa và đổ nát.

Tôi gần như mất ngủ cả đêm, trằn trọc và tự trách mình vì đã không có mặt ở đó. Hôm sau, tôi ăn vận chỉnh tề từ mờ sáng. Tôi nhất định phải vào thành phố. Cao tốc New Jersey[*] vắng lặng và im ắng một cách lạ kỳ, hệt như một bộ phim về ngày tận thế. Khi vòng qua một khúc cua, tôi thấy đường chân trời hiện ra trong sương sớm. Tôi nấc nghẹn lên thành tiếng. Thành phố của tôi. Mặt trời nhô cao qua cột khói cuồn cuộn bốc lên từ bãi đất trống, nơi vốn đứng sừng sững một Trung tâm Thương mại Thế giới. Tôi nhớ về lần hẹn hò đầu tiên cùng với Marie, chúng tôi kề vai nhau bên đài quan sát ở tầng 107, trên độ cao hơn 4.000m giữa bầu trời. Chúng tôi ngồi trò chuyện hàng giờ, ngắm tàu thuyền tí hon qua lại trên bến cảng và dòng sông Hudson chuyển màu vàng kim sóng sánh dưới ánh chiều tà. Tôi chìm trong ảo mộng giữa ban ngày ít phút rồi nhắc bản thân trở lại thực tế. Tất cả đã là quá khứ. Tất cả. Bao gồm cả những người từng làm việc ở đó. Người bảo vệ cho chúng tôi nán lại sau giờ đóng cửa, người phục vụ thân thiện tại nhà hàng Windows on the World[*], cây đàn dương cầm màu đen lấp lánh bên cửa sổ.

Một cây đàn dương cầm rơi từ trên trời xuống thì sẽ như thế nào nhỉ?

Lái xe đến đường hầm Lincoln[*], tôi nắm rõ từ Midtown tiến vào khu vực xảy ra thảm họa sẽ dễ dàng hơn vùng phụ cận. Một thuật ngữ bệnh hoạn với dân cư New York – vùng thảm họa. Tôi chậm rãi tiến vào hầm, giơ huy hiệu qua kính chắn gió để cảnh sát kiểm tra ở chốt chặn bằng xe tải. Một cảnh sát mặc đồ chống bạo động giơ tay ra hiệu, yêu cầu tôi dừng lại.

“Văn phòng Giám định Y khoa.” Tôi nói, trên tay cầm tấm huy hiệu của mình. “Tôi cần vào đó.”

Anh ta kiểm tra kĩ lưỡng giấy tờ tùy thân rồi tiếp tục rà soát từ trong ra ngoài phương tiện di chuyển.

Sau khi nhìn tôi không chớp mắt, anh nói: “Chúc may mắn. Hãy cẩn thận.”

Anh ta vẫy tay cho tôi theo một người hộ tống, tôi mừng đến phát khóc. Tôi đã được về nhà.

Ngay cả khi kéo cửa xe lên rồi, tôi vẫn cảm nhận rõ rệt dư vị từ làn khói khét lẹt bao trùm thành phố, mùi kim loại bị đốt cháy và cả mùi của những thứ mà tôi chẳng dám nghĩ là gì. Đường phố vắng lặng, những người đã trải qua kinh hoàng túm tụm lại thành từng nhóm nhỏ, chắc để tạo cảm giác an toàn.

Đáng chú ý nhất là cảnh tượng từng tốp, từng tốp quân lính ngay bên ngoài OCME, nam nữ đều trong bộ quân phục chiến đấu với súng trường tự động gác trên vai. Choáng ngợp và siêu thực, giống như đang xem một bản tin buổi tối về quân đội ở Bê-rút[*], chỉ có điều nó được đặt trên nền xanh lam của tòa nhà OCME ốp gạch. Đại lộ 1 và Phố 30 xuất hiện rào chắn. Đây là nơi tiếp nhận xác chết.

Tôi lao một mạch tới văn phòng Tiến sĩ Hirsch. Tôi phải tận mắt nhìn thấy ông bình an vô sự. Hình ảnh tay ông kẹp tẩu thuốc ngồi sau bàn làm việc khiến tôi bình tâm trở lại, một chút giản dị giữa những kinh hoàng. Tôi kìm lòng không đặng, ôm chầm lấy ông. Ông đau đớn kêu toáng lên. Những vết bầm tím diện rộng phủ kín cánh tay và vai. Ông trấn an tôi rằng mình không sao, thậm chí còn hài hước tiếc nuối chiếc áo khoác màu xám đã bị bác sĩ tiếp cận vết thương trên tay cắt mất.

Tôi hòa mình vào dòng hoạt động nhộn nhịp trên tuyến Phố 30, nơi cảnh sát, các nhà quản lý tình trạng khẩn cấp lẫn binh lính đang ngăn rào chắn, dựng trạm chỉ huy hay nơi làm việc tạm thời. Tiếng gầm rú đột ngột vang lên báo hiệu về chiếc phi cơ chiến đấu F-16 đang bay lượn, canh gác bầu trời thành phố. Hình ảnh ấy tạo cho tôi sự bình tĩnh giống như một làn sóng chạy dọc cơ thể, đánh bật những căng thẳng và sợ hãi. Cho dù thực tại tồi tệ ra sao, chúng tôi vẫn sẽ vượt qua điều đó. Khi tất cả bên nhau, chúng tôi biết mình phải làm gì.

Với nguồn sức mạnh thần kỳ, tôi đến văn phòng giám đốc để nhận nhiệm vụ. Richard đang cúi gằm trên tờ giấy bảng biểu, cặm cụi thiết lập phương tiện vận chuyển và vị trí sắp xếp cho quy trình xử lý những phần thi thể đang bắt đầu được đưa đến cửa nhà xác trên Phố 30. Quản lý phản hồi sự cố bị quá tải, nhất là khi chúng tôi vẫn phải đảm đương công việc điều tra cái chết và khám nghiệm tử thi mỗi ngày. Cái chết chẳng bao giờ ngừng lại, kể cả trong một thảm họa, dù hôm đó cả thành phố chỉ có duy nhất một vụ giết người, một người nhập cư Ba Lan bị bắn ở khu vực Bedford-Stuyvesant[*] thuộc Brooklyn khi đang trên đường đến nơi làm việc mới tại siêu thị Pathmark. Vụ việc sau đó đã rơi vào quên lãng.

Phó trưởng Văn phòng Giám định Y khoa quyết định chúng tôi sẽ chia ra hoạt động thành hai tuyến riêng biệt, một tuyến dành cho các nạn nhân của Trung tâm Thương mại Thế giới, tuyến còn lại dành cho các hoạt động hàng ngày. Với sự giúp đỡ của Tom Shepardson, người tạo ra Đội Ứng phó Hoạt động Nhà xác sau Thảm họa thuộc Liên bang (DMORT), các bác sĩ pháp y và điều tra viên pháp y đã thiết lập một hệ thống hầu như xuyên đêm để đăng ký, kiểm tra, dán nhãn và lưu trữ thi thể nạn nhân. Các băng ca cứu thương được sắp xếp thành bàn tiếp nhận trên phố, bên ngoài cửa các khoang nhà xác. Chúng dẫn tới nhà để xe, nơi chúng tôi sử dụng những chiếc khay kim loại dài đặt trên các giàn của làm bàn kiểm tra tạm thời, vật dụng được xếp xung quanh thành một đống hộp lộn xộn. Hệ thống được cải tiến mỗi ngày, với các trạm riêng biệt được bổ sung để lấy dấu vân tay, chụp ảnh, lấy mẫu DNA, thu thập bằng chứng, chụp X-quang và khám nghiệm nha khoa pháp y – nhiệm vụ đau lòng để xác định danh tính những người bị nghiền nát nhờ vào hồ sơ nha khoa của họ.

Ngày đầu tiên đó, tôi giúp Richard quản lý nhân sự, phân công người đến các trạm hoạt động hoặc thực hiện công tác điều tra hàng ngày. Tôi tiếp nhận và giám sát các cuộc gọi từ những đội phản ứng đầu tiên và các chuyên gia trên khắp đất nước, tất cả mọi người đều muốn giúp đỡ, muốn làm bất cứ điều gì họ có thể. Tôi mời được một số ít tham gia ngay, số còn lại đa phần được yêu cầu chờ đợi cho đến khi chúng tôi biết cần làm những gì sau đó.

“Tôi là phó cảnh sát trưởng bang Nevada. Các bạn có cần trợ giúp về vấn đề an ninh không?”

“Cảm ơn ngài, hiện tại chúng tôi có sở cảnh sát thành phố và Lực lượng Vệ binh Quốc gia, nhưng tôi sẽ lưu lại tên và số điện thoại của ngài.”

“Tôi là nhân viên điều tra kiêm giám đốc nhà tang lễ với 30 năm kinh nghiệm, cũng từng góp sức trong vụ đánh bom thành phố Oklahoma. Tôi giỏi nhập dữ liệu và đã có sẵn một chỗ ở trong thành phố. Bạn có muốn tôi giúp không?”

Đùa à, đương nhiên là có.

Trong vòng vài ngày, lều bạt đã được dựng lên che chắn cho những hoạt động ngoài trời, chẳng mấy chốc, nhà xe lưu động mang tới cho chúng tôi vô số những lực lượng hỗ trợ. Không chỉ có OCME: còn có đặc vụ FBI, chuyên gia chứng cứ từ sở cảnh sát, thám tử, kỹ thuật viên lấy dấu vân tay, giáo sĩ, sĩ quan cải huấn khiêng hài cốt, nha sĩ pháp y, thợ mộc... Hàng trăm người đã đến với chúng tôi, như có sự thôi thúc được làm điều có ích, để được kề vai sát cánh bên nhau. Làm việc với tất cả mọi người thực khiến tôi phấn khích. Chỉ vài ngày sau vụ thảm sát hàng loạt, tất cả mọi người được huy động, tập trung, mạnh mẽ và nhiệt tình. Sức mạnh dường như có thể sờ thấy được, mục đích cao cả giống như một luồng điện truyền từ người này sang người khác: đó là đưa được các nạn nhân thiệt mạng về với gia đình của họ. Tìm ra họ là ai, gọi tên họ, tôn vinh họ. Công việc chuyên môn của chúng tôi đột nhiên trở nên rất riêng tư, và chúng tôi chia sẻ một tình bạn thân thiết hơn bao giờ hết.

Đêm đến, tôi làm việc ở các bàn tiếp nhận trên phố, thực hiện việc mở các túi đựng xác để chia lại và dán nhãn những bộ phận thi thể được tìm thấy ở hiện trường, trước khi chuyển cho các nhà nghiên cứu bệnh học pháp y để giám định chúng. Lực lượng cứu hỏa và cảnh sát làm công tác cứu hộ tại hiện trường vẫn đang nỗ lực tìm kiếm thêm những người sống sót. Những bộ phận cơ thể có vẻ liên quan tới nhau sẽ được gom chung vào một túi đựng xác, nhưng hầu hết những chiếc túi ấy chứa các bộ phận của nhiều hơn một người. Không có nhiều thi thể nguyên vẹn. Tôi từng trông thấy một người được mang ngang qua bàn mình, thẳng đến trạm kiểm tra nơi các bác sĩ pháp y đang làm việc. Người lính cứu hỏa mà chính bộ đồ bảo hộ lại là thứ giúp giữ các mảnh cơ thể bị nghiền nát của anh lại với nhau. Gương mặt vặn vẹo của anh khiến tôi lập tức quay đi. Giá mà đừng nhìn anh thì tốt. Tôi từng mở một chiếc túi chỉ chứa ba thứ: một trái tim, một bộ chìa khóa xe hơi và một dương vật. Tôi không hình dung nổi chúng có liên quan với nhau thế nào hoặc ở đâu người ta tìm thấy chúng. Tôi cũng thấy một bàn tay cụt lủn của ai đó còn đang kẹp vào khoang ngực của một người khác. Liệu họ có đang ôm nhau thật chặt, nương tựa vào nhau trong nỗi kinh hoàng khi tòa nhà sụp đổ? Tôi còn thấy một phần thân người khác chứa hai bộ xương hàm bên trong lồng xương sườn, vậy là có ba người khác nhau. Lực tác động lớn đến thế nào để gây ra những điều ấy với con người nằm ngoài tầm hiểu biết của tôi – người ta đã hoàn toàn bị bốc hơi, bị nghiền nát thành từng mảnh hoặc nén thành những khối vật chất không thể nhận dạng được.

Sáng hôm sau, Tiến sĩ Hirsch gọi tôi vào văn phòng của ông. Ông sẽ đi xuống để khảo sát đống đổ nát còn sót lại của Trung tâm Thương mại Thế giới và gặp Văn phòng Quản lý Khẩn cấp để ước tính số lượng thi thể mà chúng tôi cần thu thập.

Tôi có muốn đi cùng ông ấy không?

Tất nhiên là có.

Bạn đã quen với cuộc sống hàng ngày vận hành theo quy luật, bạn mong đợi rằng nó sẽ luôn như vậy. Nơi bạn ở không thay đổi nhiều. Thi thoảng một cửa hàng nào đó đóng cửa và được thay bằng cái khác. Khi còn nhỏ, tôi biết đến khu vực Trung tâm Thương mại Thế giới với cái tên “Phố Hàng đài”, ở đó có những nhà kho bỏ hoang và vô số cửa hàng điện tử, nơi cha tôi mua linh kiện điện tử cho những thú vui khác nhau của ông. Đó là một khu vực đầy chuột bọ được xây dựng trên bãi rác, hàng nghìn tấn đất đá được đào lên và đổ xuống bờ biển trong suốt quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng không ngừng nghỉ của Manhattan. Tất cả các cửa hàng đã bị phá dỡ vào những năm 60 để nhường chỗ cho Trung tâm Thương mại Thế giới và bãi rác đã được đào lên đó lại được tái sử dụng để mở rộng hòn đảo ra xa hơn với tên gọi Thành phố Battery Park. Được bao phủ bởi cát, nó thậm chí còn được tận dụng như một bãi biển trong một thời gian ngắn cho đến khi các căn hộ mọc lên.

Vào khoảng đầu những năm 70, tôi nhớ mình từng phi trên xa lộ bờ Tây bị bỏ hoang, con đường vượt trên cao vô chủ đến nỗi có hẳn một chiếc ô tô đã thực sự lao xuống dưới. Đến cuối đoạn đường dốc, Tòa Tháp đôi hiện ra lờ mờ phía trên tôi, cao đến chóng mặt và đầy cảm hứng. Khi hai công trình được hoàn thành, người dân địa phương còn kháo nhau rằng chúng trông giống những chiếc hộp đặt vừa tòa nhà Empire State và Chrysler Building ở trong. Dù thế, chúng tôi bắt đầu yêu thích chúng theo cách hẹp hòi của người New York, bằng cách đóng vai khách du lịch, leo lên đỉnh của tòa tháp để chiêm ngưỡng vẻ đẹp ngoạn mục của toàn thành phố. Lặp đi lặp lại như thế, vào thời điểm thích hợp, chúng tôi không những đã tái tạo mà còn hình thành nên các vùng lân cận mà quên mất nơi ấy đã từng là bất cứ thứ gì khác. Cho đến ngày hôm đó.

Tiến sĩ Hirsch và tôi để xe của mình ở khu vực vành đai, và trên một chiếc xe tiện ích Gator, chúng tôi được đưa đến hiện trường – nơi giờ đây đã là một đống đổ nát khổng lồ cao tương đương 7 tầng lầu. Địa điểm xảy ra thảm họa rộng khoảng 6,5ha, trông giống như đã bị san phẳng bởi một quả bom nguyên tử, có thể đó là lý do tại sao dân chúng gọi nơi ấy là “Ground Zero” (“Vùng đất số 0”). Nhưng chúng tôi – cảnh sát, lính cứu hỏa, điều tra viên pháp y và tất cả các nhân viên ứng phó thảm họa tại chỗ – gọi nó là “The Pile” (“Đống đổ nát”). Đây là cách chúng tôi bình thường hóa sự việc, khiến nó trở nên dễ quản lý hơn. Dù sao thì cũng chỉ là cách gọi. Chúng tôi đã làm điều này trong nhiều năm, đặt cho những khủng khiếp một cái tên bình thường, chẳng hạn như gọi vụ sát hại ba người là “triple” (“bộ ba”) hoặc một người chết đuối là “floater” (“người nổi”). Điều đó giúp chúng tôi loại bỏ cảm xúc cá nhân, khiến một thảm kịch trở nên giống một công việc bình thường. Có điều sự khác biệt ở đây chính là quy mô. Vụ việc này chưa từng có tiền lệ. Một công việc bất khả thi.

Những thanh dầm thép dài 12m nhô ra khỏi khối đất đá trông như những que diêm, một số thì như những ngọn giáo đâm xuyên qua các tòa nhà gần đó. Một mảng lớn từ mặt tiền bằng bạc của tòa tháp đã bị xô xuống, xếp chồng như tấm vải được ném qua xa lộ bờ Tây, một tấm khăn khổng lồ che đi vết nứt ở mặt bên của một tòa nhà khác. Tôi hoàn toàn mất phương hướng – mọi thứ đều ở quy mô khổng lồ. Xếp thành hàng dài dọc theo hai bên ở trên đỉnh gò đất cao ấy là một nhóm người bao gồm lính cứu hỏa, cảnh sát và công nhân xây dựng đang chuyển tay nhau để chuyển những xô cỡ 19 lít đựng gạch đá vụn xuống mặt đất. Họ trông thật nhỏ bé so với ngọn đồi khổng lồ từng là hai tòa tháp cao vút. Lửa cháy dưới lòng đất và khói mù mịt, những chiếc khẩu trang giấy của chúng tôi hoàn toàn không có tác dụng gì và chẳng bao lâu đã bám đầy bụi. Tôi kinh hoàng trước mức độ nghiêm trọng của tất cả, tôi há hốc mồm và chết lặng khi quay đầu tới bất cứ nơi đâu cũng chỉ thấy sự tận diệt một cách toàn diện của nơi ấy. Tôi cảm thấy mình thật nhỏ bé, tôi bước lên một mô gạch vụn để nhìn xung quanh. Đây có phải là nơi từng có một cửa hàng rèn vào những năm 1800, sau đó là một nhà máy vào những năm 1900, rồi cửa hàng điện tử nơi cha tôi mua điều khiển từ xa cho những chiếc thuyền mô hình của ông ấy? Tôi ngước nhìn lên khoảng không phía trên, đâu đó trên ấy là nơi tôi và Marie đã từng ngồi. Liệu có một lớp gạch vụn từng là những tòa nhà chọc trời bị bỏ lại quanh đây để các nhà khảo cổ tìm thấy một ngày nào đó?

Chúng tôi đi qua những lớp bụi dày hàng mét và những văn phòng, máy móc, đồ đạc và con người – giờ chỉ còn là tàn tích đã bị nghiền thành bột, Tiến sĩ Hirsch tập tễnh chống gậy bước đi bên tôi một cách đau đớn.

“Barbara, cháu có nhận ra chúng ta đang đi trên đâu không?”

“Cháu không còn nhận ra bất cứ thứ gì nữa.”

“Đó là một nghĩa địa. Chúng ta đang bước đi trên những gì còn lại của hàng nghìn người.”

Chúng tôi hầu như không nói chuyện với nhau trong thời gian còn lại của buổi sáng hôm đó. Có quá nhiều thứ để xem và chẳng có nhiều điều để nói. Bộ phận tiếp đất của một chiếc máy bay phản lực nằm ở góc bên cạnh một ngọn đèn đường. Một cánh cửa thép bị bẻ làm đôi. Những thứ nhỏ bé vẫn tồn tại sau vụ sụp đổ là lời nhắc nhở đau đớn về cuộc sống công sở rất đỗi bình thường: một chiếc bàn đặt một quả bóng gôn, thứ từng là món quà lưu niệm của một cú “hole in one”[*] hiện đã bị ép thành một chiếc bánh kếp cỡ 5cm. Một món đồ chơi sư tử nhồi bông trong chiếc áo phông màu đỏ in dòng chữ: “Tôi là Ông chủ!” Một tấm thiệp sinh nhật có chữ ký của hàng tá đồng nghiệp, ảnh gia đình, thẻ thành viên phòng tập thể dục. Và giấy. Hàng chục hecta tài liệu giấy đã bị thổi bay khỏi văn phòng khi tòa tháp đổ sập xuống, chúng quá nhẹ để bị phá hủy. Những tiêu đề thư của công ty, những bản ghi nhớ, những nét vẽ nguệch ngoạc trên những mẩu giấy nháp, những bản in dữ liệu từ máy tính, những lời nhắc nhở thân mật nho nhỏ về công việc hàng ngày, chúng vung vãi khắp nơi và trôi nổi trên sông.

Khi được chiếc Gator chở ra đồn lũy bên ngoài, một đội đã chặn chúng tôi lại để phun nước làm sạch lốp xe và rửa trôi lớp bụi trắng dày đặc phủ trên giày. Các nhân viên giám sát an toàn từ đội cứu hỏa và cảnh sát thành phố thậm chí còn biết rằng những thứ này rất nguy hiểm và họ không muốn chúng tôi lần ra nó. Christine Todd Whitman, người đứng đầu Cơ quan Bảo vệ Môi trường EPA, thì cho hay không khí ở đây rất an toàn để thở. Phải rồi. Và vẫn không có đủ khẩu trang và mặt nạ phòng độc cho người lao động kia mà.

Các kế hoạch đã được thực thi, chúng tôi bắt đầu nhận được thêm nhiều sự trợ giúp. Các nhóm DMORT từ khắp nơi trên toàn quốc đã đến OCME để giúp đỡ, họ dựng các văn phòng lưu động, lều trại và vận chuyển các thùng chứa đầy vật tư. Chẳng mấy chốc, Phố 30 đoạn từ Đại lộ số 1 đến bờ sông đã bị xóa khỏi bản đồ thành phố và trở thành địa điểm làm việc của chúng tôi. Một xe đầu kéo tủ đông chạy qua cầu George Washington, là nhà xác nơi chúng tôi lưu giữ các bộ phận thi thể. Với hiệu ứng mà thảm họa mang lại và quyết tâm của những người có chung mục đích, một bãi đất cuối Phố 30 bên bờ sống Đông đã được lát đá chỉ trong một đêm. Ở đó có 16 chiếc xe văn phòng đậu thành hai hàng dài và một chiếc trại lớn màu trắng được dựng lên để che chở chúng. Những người thợ mộc đã xây dựng các đường dốc và kệ bên trong những xe tải dài, họ treo một lá cờ Mỹ khổng lồ trong trại – nơi trở thành Đài Tưởng niệm, một ngôi nhà tạm bợ cho các nạn nhân. Đặt sát dưới chân mỗi chiếc xe văn phòng là một vòng hoa tang lớn, hoa tươi được thay mới mỗi ngày. Tại đó, một buổi lễ cầu nguyện ngắn sẽ được tổ chức cho các gia đình vào mỗi chiều thứ Sáu, các giáo sĩ thuộc mọi tín ngưỡng cùng nhau đến để an ủi các vong linh – thậm chí có cả một nhà sư ở đó. Tiến sĩ Hirsch sẽ bước vào và đứng một mình ở phía sau, rồi rời đi trước khi có ai để ý.

Một bức tường bên ngoài trại được làm bằng ván ép, ở đó có một cái kệ dài chứa hàng trăm lá thư và thiệp được gửi đến hàng ngày. Các em học sinh trên toàn quốc đã viết thư cảm ơn và động viên chúng tôi cố gắng lên. Các sĩ quan cảnh sát, nhân viên ME và các nhà khoa học pháp y từ khắp nước Mỹ đến đây làm việc cùng chúng tôi đã để lại các miếng băng và ghim tên cơ quan của họ trên giá, như một lời nhắc nhở về tình đoàn kết anh em. Trên bức tường thô ráp, gia đình của các nạn nhân và những người phản ứng đầu tiên viết nguệch ngoạc những bài thơ, lời ghi chú và những bức thư tình gửi cho những người mà họ biết đã ra đi mãi mãi. Trong đó có những câu trích dẫn về lòng dũng cảm và sự mất mát được viết bằng bút Magic Marker, một bức ảnh cưới được đóng đinh vào tấm gỗ và bức vẽ của một đứa trẻ được dán lên, với một từ duy nhất trên đó: “Mẹ.” Đó là lời nhắc nhở về những người mà chúng tôi đang tìm kiếm trong cuộc chiến này.

« Lùi
Tiến »