Con người dễ thích nghi đến kỳ lạ. Khi Đội quân Cứu tế[*] tới OCME với một xe tải chở thực phẩm chỉ vài ngày sau cuộc tấn công, không mất quá nhiều thời gian để các công nhân xây dựng một nhà kho bằng gỗ dán dài trên Phố 30, hay như cách gọi của họ dành cho nơi đó là “Sals Café”. Tối tăm, ấm cúng và thân thiện, Sals là một nơi bạn có thể tới để ăn một bữa tử tế và thay những đôi tất khô. Đó cũng là nơi bạn gặp gỡ đồng nghiệp của mình. Một cái bàn hấp bày đầy đồ ăn dễ tiêu nóng hôi hổi, những chiếc bàn dài với ghế gập, những bóng đèn treo dọc trần nhà, một bình cà phê không bao giờ cạn. Các đầu bếp chiều chuộng chúng tôi, khuyến khích chúng tôi ăn thêm bít tết Salisbury với cơm và nước xốt, hoặc món Gooey Mac với phô mai. Một tình nguyện viên cho tôi mấy túi Kit Kat và đậu phộng bơ Reese’s Peanut Butter Cups để mang về văn phòng lưu động, và chẳng mấy chốc mấy món đó làm tôi phát nghiện. Tôi có thể mở giấy gói và ngấu nghiến kẹo bất cứ khi nào tôi muốn... ừm, bất cứ khi nào tôi muốn. Vẫn tốt hơn là việc uống một ly.
Chúng tôi đã kết nối, hòa nhập và trở thành bạn bè. Alan từ Oklahoma hay Chuck từ Louisiana réo tên tôi bên bàn ăn sáng: “Này quý cô Barbara, hôm nay cô thế nào? Lại đây, lại đây, ngồi cạnh tôi đi.”
Nghe có vẻ ổn đó, mặc dù hầu hết chúng tôi ở OCME đều đến từ Brooklyn, Queens và Bronx.
Chúng tôi thích nghi, lán trại trở thành nhà. Đội DMORT thà loanh quanh ở đó giữa các ca trực – còn hơn là về phòng khách sạn, nơi họ chỉ có một mình. Các điều tra viên pháp y thà ngủ trên giường xếp quân đội – còn hơn là trải túi ngủ trên sàn phòng hội nghị. Trong những tuần đầu tiên sau khi tòa tháp sụp đổ, lựa chọn “thà rằng” đã trở thành việc hiển nhiên của chúng tôi. Ở đây chẳng có gì tốt, cũng chẳng có gì bình thường cả, vậy nên chúng tôi ra quyết định dựa trên những lựa chọn “thà thế này còn hơn thế kia”, với những lựa chọn “thế kia” là thứ tương đối khó chịu.
Những người bị thương trong vụ sụp đổ cũng nhanh chóng trở lại công việc, trừ Alvin ở phòng Pháp y bị chấn thương ở đầu nên được nghỉ ngơi và Diane thì làm việc trên xe lăn, với cái chân đang phục hồi sau phẫu thuật. Amy, nhà nhân chủng học của chúng tôi, đã có mặt để giám sát việc tiếp nhận thi thể chỉ trong vòng hai ngày sau khi chính cô bị thổi bay lên không trung và rơi xuống bậc đá của Trung tâm Tài chính One World Financial[*], bị thương ở mặt, hai mắt sưng húp và chấn thương sọ não. Khi trận sóng xung kích từ vụ nổ ầm ầm kéo đến, cô chợt nhớ chồng mình đã nói gì đó về việc đối phó với tuyết lở: kéo áo choàng của bạn qua đầu và mặt, như thế bạn sẽ có một túi khí khi bị chôn vùi trong đống đổ nát. Điều đó đã cứu cô thoát chết – chiếc áo choàng làm nệm giúp đầu cô không bị va đập quá mạnh và cô vẫn có thứ gì đó để thở ngoài khói và bụi.
20 người đã được cứu trong hai ngày đầu tiên sau vụ tấn công. Trong lúc sơ tán khỏi Tháp Bắc, một kỹ sư cảm thấy tòa nhà rung chuyển khi đang tới cầu thang tầng 22, ngay lập tức anh cuộn người lại thành tư thế bào thai. Tất cả những gì anh còn nhớ là một cơn gió mạnh ào tới – như thể anh đang ở trong một chiếc máy phun cát vậy – 3 tiếng sau anh rơi xuống một tấm bê tông cao 7 tầng trên không, chân và mắt cá chân của anh bị gãy. Ba sĩ quan Cảng vụ đang ở tầng Trung tâm mua sắm khi tòa nhà sụp đổ, thế là họ bị chôn vùi trong một cái hốc nhỏ bên dưới đống đổ nát hơn 9m. Họ bị mắc kẹt ở đó trong 13 tiếng đồng hồ, trong khi những quả cầu lửa vẫn bắn xuyên qua, đe dọa thiêu sống họ. Một sĩ quan đã chết dưới sức nặng của những thanh dầm, hai người sống sót nhưng bị thương nặng. Cuối cùng, có một nhân viên Cảng vụ khác, một người văn thư, người này đang ở trên cầu thang tầng mười ba khi Tháp Bắc sụp đổ. Cô bị mắc kẹt trong 27 tiếng đồng hồ trước khi là người cuối cùng còn sống được kéo ra khỏi đống đổ nát.
Sau đó chỉ toàn là người chết.
Một tuần trôi qua không tìm thấy người sống sót. Chúng tôi biết đã không còn hy vọng cho ai vượt qua thảm kịch mà còn sống tới giờ này. Cho dù không bị thương nặng, một người không thể sống quá 3 ngày mà không có nước uống. Và chúng tôi cũng đã thấy vết thương của những người tử nạn. Sống sót lúc này chỉ có thể là phép màu. Mọi người đều cảm thấy khó chịu vô cùng khi được tin Bộ chỉ huy quyết định chuyển mục tiêu từ cứu hộ, cứu nạn sang khắc phục hậu quả, đặc biệt là lực lượng cứu hỏa và cảnh sát. Cứu hộ là bản chất của họ, và họ không muốn từ bỏ, nhất là khi dù chỉ có một chút cơ hội anh chị em của họ vẫn còn ở bên dưới. Dù cho đó là một việc vô ích và nguy hiểm thế nào.
Vào thời điểm đó, Sở Thiết kế và Xây dựng đã tiếp quản việc tháo dỡ 1,8 triệu tấn vật liệu, OCME thì đảm nhận việc thu gom thi thể người. Đội ngũ lính cứu hỏa và cảnh sát tiếp tục đồng hành cùng chúng tôi, với quyết tâm tìm kiếm bạn bè của họ. Khi tìm thấy đồng phục, mũ bảo hộ hoặc một bộ đồ cứu hộ, chúng tôi sẽ báo hiệu cho nhau – với tiếng hò hét và huýt sáo. Mọi người tạm dừng công việc đang làm. Những thi thể được khai quật cẩn thận được đưa đến cho chúng tôi, với một đội hộ tống danh dự gồm những người đàn ông và phụ nữ đã từ lâu chẳng còn sạch sẽ, lành lặn. Các điều ra viên pháp y làm việc trên đống xác chết 24 giờ mỗi ngày, tất bật ngược xuôi mỗi khi các công nhân tìm thấy thứ gì đó hoặc đưa chúng tôi đến địa điểm tập trung xác chết. Chúng tôi cẩn thận ghi lại những thi thể trong văn phòng lưu động đậu trước cửa hàng Century 21, sau đó dán nhãn và đóng gói để chuyển đến nhà xác.
Một ngày tháng Mười đẹp trời, tôi dẫn theo hai điều tra viên tập sự mới được tuyển dụng xuống hiện trường. Chúng tôi bắt tay vào làm việc ở Pile – nơi giờ đây đã có thể thoải mái di chuyển trên đống đổ nát và trèo qua các dầm thép. Vào một ngày tuyệt vời như hôm đó, chúng tôi thậm chí có thể tận hưởng loại công việc này – theo cách mà tôi từng nói, thà thế còn hơn. Khi tôi bước qua một mô gạch vụn không kiên cố lắm, một tia lửa bất chợt bắn lên cao một mét rưỡi ngay phía trước mặt.
“Chắc đụng trúng lỗ đọng khí[*] rồi.” Tôi nói với hai cô gái đi cùng vừa bị tia lửa làm cho giật mình.
Chuyện thường ngày ở huyện, chúng tôi bỏ qua và tiếp tục di chuyển. Ngọn lửa sẽ âm ỉ dưới lòng đất và đôi lúc bùng lên thành đám cháy nhỏ trong vòng ba tháng, hiện tượng này kéo dài vừa đúng tới Giáng sinh. Chúng tôi phải hít khói và đủ loại độc tố dữ dằn nhất – thứ hỗn hợp của các chất gây ung thư. Trong những ngày đầu tiên đó, tôi đã làm việc ở khắp nơi, khi thì ở đường dây tiếp nhận của nhà xác OCME, lúc làm việc ở trung tâm Pile, khi ở Đài Tưởng niệm nằm cuối Phố 30, hoặc có lúc lại ở trong đội nhận dạng thi thể những người tử nạn. Có những ngày tôi tiến hành điều tra trong tâm trạng khác lạ. Tôi muốn mọi công việc diễn ra một cách bình thường và tuần tự, nhưng phải bỏ lại những ca khẩn cấp khiến tôi thấy áy náy vô cùng.
Bên trong trụ sở OCME, phòng họp ban lãnh đạo đã được chuyển đổi chức năng thành bộ phận nhận dạng thi thể. Ở đó đặt một chiếc bàn dài, bên trên để kín máy tính và nhân sự ngồi xung quanh. Chúng tôi tạo ra hệ thống như vậy để liên tục cập nhật, cải tiến phần mềm và thu thập dữ liệu, với nỗ lực xác nhận và khớp thông tin của những phần thi thể chúng tôi có được với thông tin các gia đình đã khai báo có thân nhân mất tích. Bảng câu hỏi và các cuộc phỏng vấn được thực hiện tại Trung tâm Hỗ trợ Gia đình ngày một chi tiết hơn, khi chúng tôi nhận thức được mình đang làm việc với những phần thi thể chứ không phải cái xác hoàn chỉnh. Cuối cùng, có 22.000 bộ phận cơ thể phù hợp với 2.753 người được xác nhận mất tích.
Chúng tôi đã hỏi những câu kỳ quặc như: “Chân của chồng bà cỡ bao nhiêu? Có sẹo không, ngón chân cong vẹo thế nào, móng chân dài hay ngắn? Kích thước dái tai? Ngón tay dài và gầy hay ngắn và mập? Anh ta có cắn móng tay không?” Các ông chồng thì được yêu cầu miêu tả chi tiết về mái tóc, khuyên tai vợ họ đeo, những gì được viết trên nhẫn cưới, màu sơn móng tay, liệu vợ họ có làm móng hay không... Bạn làm việc với những nguồn lực bạn có. Và dần dần, theo một cách đầy đau đớn, việc nhận dạng đã được thực hiện. Người góa phụ nhận về một cái chân của chồng cô, với vết sẹo phẫu thuật và khớp gối nhân tạo là đặc điểm nhận dạng. Cha mẹ chôn cất một chiếc xương hàm, được xác minh nhờ công tác nha khoa, đó là tất cả những gì còn lại của con gái họ.
Đó chỉ là chiến tích nhỏ bé trong công tác nhận dạng, nhưng vẫn thật tốt khi trả lại được cho các gia đình nạn nhân một thứ gì đó. Không biết người thân mình đang ở đâu thực sự rất đau đớn, vậy nên bất cứ thành công nào cũng thật ấm lòng. Phụ huynh của một nạn nhân trẻ tuổi sẽ tới và được đưa qua một bên, tiếp đón họ là giám đốc tang lễ và một điều tra viên, thường là Reuven, người đã rất nhanh trở thành trưởng nhóm nhận dạng trong đợt này.
“Chúng tôi đã tìm thấy phần còn lại của con ông bà và đã xác định được danh tính của cậu ấy. Tôi rất lấy làm tiếc vì sự mất mát này.”
Tin tức kiểu vậy sẽ luôn gây ra những cảm xúc hỗn loạn thất vọng vì tia hy vọng rằng con họ chỉ đi lang thang đâu đó trong cơn bàng hoàng đã không thành hiện thực, và nhẹ nhõm vì cuối cùng họ sẽ có thứ gì đó để chôn cất, trong khi rất nhiều người khác thì không.
Họ sẽ hỏi: “Chúng tôi có thể thấy xác nó không? Con tôi được tìm thấy ở đâu vậy?”
Reuven sẽ lịch thiệp trả lời: “Tôi rất tiếc, chúng tôi đang nói về một phần thi thể. Tòa nhà sụp đổ đã giải phóng ra những luồng sức mạnh khủng khiếp, không gì chống lại được, các bác hiểu ý tôi chứ? Mọi thứ đều bị phá hủy rồi.”
Đôi khi các bậc cha mẹ vẫn khăng khăng muốn biết nơi chúng tôi tìm thấy con trai họ, và Reuven sẽ lặng lẽ chỉ vào các điểm trên tấm bản đồ.
“Đây... đây... và đây.”
Chúng tôi đã cố gắng hết sức. Việc phải đứng làm việc trong thời gian dài, đào bới đống đổ nát hàng giờ liền trước khi chuyển sang một ca làm khác để thu thập thông tin từ các gia đình nạn nhân thật không dễ dàng chút nào. Mọi người đều bị thương, ngay cả Tiến sĩ Hirsch cũng vậy. Nhưng ông không kêu than lấy một lời. Tôi nghe nói ông đã phải ghé vào một trong những lều tình nguyện của đội xoa bóp trị liệu. Trông ông rất lúng túng lúc trở ra, tiến sĩ nói với Richard rằng các nhà mát xa tình nguyện đã cố gắng “đánh thức các trường năng lượng” trong ông. Tôi quyết định tới kiểm tra một chút.
“Chào sếp, hôm nay bác thấy thế nào?”
“Tuyệt vời, cảm ơn cháu!” Vẫn là câu trả lời quen thuộc.
“Chắc hẳn bác vẫn còn đau vì tòa nhà đó đổ lên người. Cháu nghe nói nhà xoa bóp trị liệu đã cố gắng đưa thần chú vào chân bác ạ?”
Tiến sĩ cười lớn. “Không, không hề, bác thấy ổn mà. Mắt cá chân bác hơi cứng, vậy thôi. Anh chàng khá hài hước đấy, bác cũng không rõ anh ta đã cố làm gì.”
Khó đây – Tiến sĩ vững vàng hơn tôi tưởng.
“Vâng được rồi, chỉ là cháu thấy có chút lo lắng cho tiến sĩ thôi. Bác thực sự đã chiến đấu ngoài đó mà.”
Ông châm tẩu thuốc và mỉm cười gượng gạo. “Barbara, bác được trời phú cho một sức khỏe tuyệt vời. Bác ổn.”
Tôi hiểu không nên đẩy câu chuyện đi xa hơn. Chủ đề này nên khép lại tại đó.
Tất cả những người tham gia cứu hộ cứu nạn không chỉ kiệt quệ về thể chất mà còn về tinh thần. Chiếc áo lính cứu hỏa cháy sém và không còn lành lặn có thể khiến những người mạnh mẽ nhất trong chúng tôi phải rơi lệ. Chiếc nhẫn cưới vùi trong bùn khiến dòng người lặng đi. Theo thời gian, một số người bắt đầu ăn chơi trác táng, tìm đến bia rượu, cờ bạc và cả ngoại tình. Fáilte là một quán bar trên Đại lộ 2, nơi có ánh đèn mờ ảo và bạn có thể thoải mái uống đến say mèm. Đêm nào quán cũng chật kín nhân viên cứu hộ, một số họ tới đó không chỉ để xã giao. Những góc tối phía sau quán là lựa chọn lý tưởng khi một cuộc tán tỉnh chuyển sang bước kế tiếp. Thực ra chúng tôi hoan nghênh những vụ bê bối nhỏ kiểu đó, như một cách giúp phân tâm khỏi những muộn phiền, đặc biệt là nỗi buồn khi phải làm việc với gia đình các nạn nhân. Những thống khổ của họ quá mãnh liệt, đến bầu không khí cũng nặng trĩu nỗi buồn.
Các mối quan hệ xung quanh chúng tôi trở nên tồi tệ, bao gồm cả của tôi cũng vậy. Thật khó để trở về nhà và thảo luận những chi tiết vụn vặt trong cuộc sống hàng ngày – sơn phòng ngủ màu gì, nên đi nghỉ ở đâu – khi bạn đã phải đối mặt với thảm kịch suốt ngày dài hôm đó. Chúng tôi hay bồn chồn, dễ giật mình và rất nhanh tức giận, điều đó khiến người thân xa lánh chúng tôi. Một số cơ quan đã tạo ra một cuốn cẩm nang để những nhân viên cứu hộ trong vụ 11 tháng Chín mang về nhà cho bạn đời, trong đó mô tả cách thấu hiểu và cùng đối phó với những gì chúng tôi đang phải trải qua. Tôi đưa một cuốn cho Marie, cô ấy ném nó sang một bên mà chẳng thèm lướt qua một chút.
Chúng tôi làm việc chăm chỉ vì muốn mang tới những điều đúng đắn cho các gia đình. Nhưng chúng tôi cũng đã phạm sai lầm. Ban đầu, việc đáp ứng vài ba tiêu chí như dấu vân tay, hồ sơ nha khoa hoặc trang sức cá nhân là đủ để nhận dạng. Mọi người đang tuyệt vọng chờ đợi thông tin về những người thân yêu của họ, thậm chí một tin xác nhận tử vong còn tốt hơn là không có gì cả. Vậy nên, thi thể của người lính cứu hỏa mắc bệnh lý cột sống cổ bẩm sinh hiếm gặp đã được trao cho gia đình đưa về mai táng. Các mẫu DNA đã được thu thập trước đó từ tất cả các mảnh thi thể còn sót lại, nhưng quá trình kiểm tra kéo dài hàng tháng dòng. Sau đó, kết quả trả về chứng minh rằng đó không phải là người lính cứu hỏa bị bệnh cột sống mà chúng tôi vẫn đinh ninh. Kỳ lạ thay, những phần thi thể còn lại này thuộc về một lính cứu hỏa khác, người cũng mắc phải tình trạng hiếm gặp tương tự và làm việc trong cùng một trạm cứu hỏa với người bị nhận nhầm kia. Những sai lầm như thế có nghĩa là chúng tôi phải yêu cầu các góa phụ hoặc cha mẹ phải đào mộ và trả lại hài cốt của những người mà họ nghĩ là người thân của mình. Thông thường trong những trường hợp ấy, chúng tôi chẳng có gì để bù đắp lại cho họ ngoài một ngôi mộ trống. Đó là những cuộc trò chuyện đau đớn nhất mà bạn có thể tưởng tượng ra, và tôi đã có một vài cuộc trong số đó. Vì thế, các nguyên tắc về việc nhận dạng và trả thi thể cho thân nhân nhanh chóng được thay đổi, với việc mọi khâu nhận dạng đều phải được xác nhận bằng DNA.
Mệnh lệnh cho chúng tôi đã rõ ràng. Tiến sĩ Hirsch nói: “Chúng ta sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết, miễn là còn có thể, để xác định danh tính mọi nạn nhân của thảm kịch này.” Nhưng chúng tôi kiệt sức. Richard được chấp thuận thuê thêm 14 điều tra viên, tạ ơn Chúa, nhân lực của nhóm chúng tôi gần như tăng gấp đôi. Họ phải được tập huấn nhanh chóng, bài bản và cần được giám sát, vì vậy cả Reuven và tôi đều được đề bạt làm phó giám đốc điều tra.
Sự kiện có chút phô trương thế này: Richard gọi riêng tôi vào văn phòng của anh ta, trao tận tay tôi một chiếc huy hiệu mới và nồng nhiệt nói: “Xin chúc mừng cô!”
Tôi tự hào về vị trí mới mặc dù còn hơi miễn cưỡng khi phải rời xa các hoạt động ngoài thực địa, ở đó có sự kích thích tôi cần. Và cả tội lỗi nữa. Đồng nghiệp của tôi sẽ thực hiện những nhiệm vụ khó khăn trong khi tôi yên vị sau bàn làm việc. Reuven giám sát việc nhận dạng, và tôi đảm nhận hoạt động phục hồi các thi thể, mỗi người chúng tôi có đội của riêng mình.
Khôi hài làm sao khi tôi từng bị tổn thương tinh thần vì những cái chết riêng lẻ, thì giờ vũ trụ giáng xuống đầu tôi cả nghìn cái cùng lúc. Câu nói nổi tiếng về việc ấy là gì nhỉ? “Một cái chết là một bi kịch, một triệu cái chết là một con số.”[*] Đó không phải là một con số – còn xa mới là con số. Dù thế, chết người hàng loạt theo cách nào đó cũng dễ chịu hơn. Tất nhiên đó không phải việc thoải mái gì – chưa bao giờ như vậy – nhưng giờ đây tôi cảm thấy bớt thô thiển hơn một chút khi không phải nhìn thấy nhà của người đã khuất, thói quen sống của họ, những tài sản cá nhân cho chúng tôi biết họ là ai. Tôi vẫn ổn, nếu bạn không tính tới những cơn thịnh nộ bùng nổ đầy vô lý của tôi. Việc trông thấy một điều tra viên pháp y trong đội mình xúm lại cười đùa với Reuven trên hành lang làm tôi điên tiết. Tôi ho thật lớn và ra hiệu im lặng, dùng tay làm động tác cửa ngang cổ họng thay cho lời cảnh báo. Anh ta nhún vai, còn tôi quay bước trong cơn tức giận vô cớ. Có thể tôi chỉ tức bởi đời sống công sở của mình bị xáo trộn, hoặc có thể tôi đã bị rối loạn nhân cách hoang tưởng[*] rồi. Tôi nhận ra trầm cảm cũng đang diễn ra với những người khác: bác sĩ pháp y, điều tra viên, các thành viên DMORT. Ai cũng chậm lại, mệt mỏi và thường xuyên chán nản. Đôi lúc chỉ đơn giản là khác thường.
Maddie, một trong số những điều tra viên pháp y mới, người được chỉ định làm ca đêm tìm dấu vết tử thi nằm bên dưới khu Trung tâm Thương mại Thế giới, sẽ sắp xếp đồ nội thất rẻ tiền theo cách cô thích. Khi thấy một điều tra viên ở ca khác chuyển cái bàn tới gần cửa sổ hơn, hoặc kéo chiếc ghế bành ông nội ra xa cái võng, Maddie sẽ nổi khùng. Rõ ràng là cô nàng không có khái niệm về không gian chung, vì thế nên cô đã nhờ một công nhân xây dựng ở Pile bắt vít mọi thứ xuống sàn nhà. Điều đó khiến các điều tra viên pháp y khác phàn nàn khó chịu.
Tôi đã phải trao đổi với cô một chút. “Maddie, chị không hiểu việc này. Nơi ấy đâu phải là căn nhà di động của em, mọi người đều phải làm việc ở đó. Em không thể cố định đồ đạc như thế được. Vui lòng gọi bạn em lại và bảo anh ấy tháo tất cả những thứ này ra.”
Maddie cứng rắn nói: “Không, em sẽ không làm thế. Em muốn mọi thứ yên vị theo cách em xếp đặt. Chúng không thể di chuyển đi đâu.”
Bạn có thể nghĩ rằng với cái bóng của sự hủy diệt rình rập xung quanh, chúng ta sẽ không muốn đổ mồ hôi cho những điều nhỏ nhặt. Về mặt lý thuyết thì nghe có vẻ hay, nhưng đối với nhiều người trong chúng ta, những thứ nhỏ nhặt lại trở nên cực kì quan trọng. Khi mọi thứ xung quanh bạn trở nên hỗn loạn, bạn sẽ tập trung vào những gì bạn có thể kiểm soát, cho dù điều đó có vẻ không quan trọng đến mức nào. Trong trường hợp này là vị trí của bàn làm việc phải vuông góc với cửa và cách tường chính xác hai bước chân. Giờ thì tôi đã hiểu – đại loại thế.
Tất cả chúng tôi đã cố gắng hết sức có thể. Làm tất cả những gì chúng tôi có thể làm. Vào tháng Bảy năm 2002, một thám tử làm việc cùng chúng tôi quyết định tụi tôi nên làm gì đó thú vị và đặt một chuyến tàu đêm với tiệc cocktail cho bất kì ai muốn tham gia. Chúng tôi đều mong chờ tới bữa tiệc đó, như một cơ hội để xả hơi và quên đi những thứ chết chóc trong vài giờ. Sáng ngày hôm ấy, tôi tới văn phòng lưu động của mình trên Phố 30, trên tay là bộ đồ dạ tiệc. Tôi cảm thấy không chắc chắn về bất kì loại lễ hội nào, có lẽ chúng tôi nên để tang một năm chăng? Tôi luôn có cơ hội suy nghĩ lại về việc tham gia bữa tiệc. Một đám đông nhỏ tụ tập trên con phố bên ngoài cửa sổ phòng làm việc của tôi, phía trước khu tạm trú cho người vô gia cư bệnh viện Bellevue, trước đây là khoa tâm thần của bệnh viện.
Tôi bước ra ngoài để xem có chuyện gì, một điều tra viên pháp y trông thấy liền túm lấy tay tôi và nói: “Cô sẽ không tin chuyện này đâu!”
“Thế hả?” Tôi hỏi. “Với tất cả những gì đã xảy ra năm rồi, anh còn có thứ khiến tôi không tin cơ đấy.” Thật dễ dàng để mỉa mai, dĩ nhiên tôi sẽ trả lời như vậy.
“Thật đấy!” Anh tiếp lời. “Luật sư Sandra đã treo cổ trên hàng rào vào sáng nay, ngay…”
“Cái quái gì cơ?”
“Ngay đây. Đội bảo an bệnh viện đã hạ bà ấy xuống. Bà ấy còn sống nhưng bất tỉnh rồi.”
Sandra là luật sư trưởng của OCME, một phụ nữ dễ mến ở độ tuổi 50. Gần đây bà mới phàn nàn với tôi vì cảm thấy bị bỏ rơi, khi mọi người hẹn nhau ra ngoài tiệc tùng mà không hỏi tới bà. Tôi không biết phải nói gì ngoại trừ việc họ trẻ hơn chúng tôi rất nhiều, họ có hội nhóm của riêng họ. Vào thời điểm đó, tôi cảm thấy tâm sự kiểu học sinh trung học như vậy có chút kỳ quặc. Và giờ đây, một trong số những người như thế đã phát điên và đấu tranh để được cảm thông, được thấu hiểu.
“Tại sao bà ấy – ý tôi là, tôi lấy làm tiếc cho bà – nhưng tại sao bà Sandra lại chọn ngày chúng ta mở tiệc? Cứ như thể bà ấy đang cố tình phá hỏng nó vậy.”
“Đúng thế, và tại sao bà ấy lại tới đây để làm việc đó, treo cổ ngay trung tâm con phố nơi chúng ta nhất định phải trông thấy chứ?”
Một vụ phẫn nộ tự sát, Sandra để mọi người thấy bà đang đau khổ và có thể cả trừng phạt họ vì đã lờ bà đi. Ban đầu, tôi thoáng cảm thấy tội lỗi. Có phải tôi cũng đã lờ đi lời cầu khẩn giúp đỡ từ bà? Tôi chỉ không muốn bị lôi vào cuộc sống cá nhân của bà mà thôi. Tôi không muốn đặt trách nhiệm với cảm xúc của bà lên trên mọi thứ khác. Sau đó cảm xúc trong tôi nhanh chóng thay thế bằng giận dữ. Tôi không phải chịu trách nhiệm cho việc này. Tôi đã tử tế với Sandra. Tôi cần nghỉ ngơi – tất cả chúng tôi đều vậy. Thế nên chúng tôi vẫn cứ lên chuyến tàu đó.
Vào dịp kỷ niệm một năm vụ tấn công, chúng tôi mời các gia đình có thân nhân tử nạn ngày 11 tháng Chín tham gia cùng chúng tôi ở OCME và Đài Tưởng niệm để tưởng nhớ ngày này. Sals Café chuẩn bị bữa trưa cho tất cả mọi người với bánh mì kẹp thịt nướng ngoài trời. Lúc đó, Maggie từ bộ phận Nhận dạng đến gặp tôi với gương mặt đầy lo lắng.
“Barbara... than nướng. Cô biết đấy... cái mùi... Nó có thể làm phiền lòng các gia đình ở đây.”
Cô ấy đã đúng. Điều đó sẽ gợi lên những ký ức và những cảm xúc vô cùng tồi tệ.
Chính Tiến sĩ Hirsch đã giúp chúng tôi hiểu rõ vấn đề. Ông nói:
“Barbara, cuộc sống vẫn tiếp diễn. Người ta ăn, chiến đấu, yêu và làm tình. Mọi thứ sẽ cứ tiếp tục như thế. Nên tiệc tùng chẳng có gì là sai. Sống là được rồi.”
Chỉ tám tuần sau ngày 11 tháng Chín, chuyến bay 587 của American Airlines đến Cộng hòa Dominica cất cánh từ sân bay JFK đã đâm xuống khu Belle Harbor, Queens. Tình huống căng thẳng từ vụ 11 tháng Chín và vụ tấn công bệnh than[*] một lần nữa khiến mọi thứ xáo trộn, chúng tôi lo lắng về một cuộc khủng bố khác vào tận nhà mình, và tôi đã rất sợ hãi. Tôi chộp lấy một chiếc xe của OCME và lái đến địa điểm xảy ra vụ tai nạn. Khu phố xinh đẹp đang bốc cháy dữ dội và khói đen một lần nữa lại cuộn lên trên bầu trời. Khi tôi bước ra xe và cuốc bộ đến đống đổ nát của chiếc máy bay, lính cứu hỏa yêu cầu tôi lùi lại và quay trở về. Khu vực ấy quá nguy hiểm cho chúng tôi tác nghiệp, nhiên liệu máy bay và khói lửa dày đặc vẫn đang bao trùm đống mảnh vỡ và các bộ phận thân máy bay. Toàn bộ 260 người trên máy bay và 5 người trên mặt đất đã thiệt mạng. Richard nhận thấy việc thực hiện chiến dịch pháp y thứ ba trong tòa nhà nhỏ bé đông đúc của OCME vượt quá khả năng của chúng tôi – đơn giản là nơi đó đã không còn phòng trống. Vì thế anh ta bảo tôi xử lý việc phục hồi thi thể và các công tác pháp y ngay tại chỗ.
Cùng với các điều tra viên pháp y đến từ Queens và Brooklyn, chúng tôi dựng lên một nhà xác trong khu nhà chứa máy bay bỏ trống ở Floyd Bennett Field, cách địa điểm máy bay rơi vài cây số. Nhân viên cứu hỏa thu hồi các thi thể và gửi chúng cho chúng tôi trong các hộp đựng xác. Tôi điều phối túi đựng xác, máy ảnh, găng tay và các nhu yếu phẩm cần thiết, sau đó lùi về sau trong khi đội điều tra viên pháp y làm việc, dán nhãn, chụp ảnh và đóng gói tử thi một cách hiệu quả. Họ biết phải làm gì lúc này, đó là những người dày dạn kinh nghiệm trong việc ứng phó thảm họa. Tôi bước cẩn thận qua từng dãy xác chết đã hóa thành than, và phải ngoảnh mặt đi trước thi thể một phụ nữ vẫn ôm chặt đứa con trong vòng tay cháy sém của mình. Tôi bắt tay vào việc tổ chức các nhóm làm việc, làm các công việc giấy tờ, và đặt bánh pizza cho những điều tra viên đã thấm mệt. Tôi đã trở thành một người quản lý thảm họa hàng loạt. Bất chợt tôi thấy nhớ những ngày “đi lưu diễn” khắp nơi với bác Wells, điều tra các vụ giết người và hẹn hò với các thám tử. Dường như quãng thời gian đó là cả một đời người, một cuộc đời hồn nhiên đến lạ mà tôi đã trải qua.
Với tất cả những việc xảy ra, Richard kiệt sức và trở nên cẩu thả. Tên phóng đãng ngu ngốc luôn ưu tiên những điều tra viên xinh đẹp hơn, cho họ được chọn trước lịch trực hoặc nhiệm vụ đơn giản, nhưng lần này hắn đã vượt quá giới hạn.
“Maddie gọi tới.” Hắn nói với tôi. “Cô ấy không thể trực ca chiều, không có ai chăm con thay cô ấy.”
Tuyệt! Làm sao tôi có thể tìm được người khác, khi chỉ còn một giờ nữa là cô ta phải vào làm? Tôi phải nhờ Joanne phụ trách công việc ở cả Manhattan và Bronx trong một tối thứ Sáu bận rộn, điều đó đồng nghĩa tôi sẽ phải phụ trách các ca ở viện của cô ấy, những ca chết trong phòng cấp cứu hoặc bệnh nhân nội trú. Cả hai chúng tôi đều mệt lử. Và bực bội vô cùng.
Ngày tiếp theo, Sam tới Sal’s Café với cả tá chuyện tầm phào. “Đoán xem ai đã bị bắt quả tang trên màn hình lớn ở sân vận động Yankee đêm qua?”
Frank nói: “Tôi chịu, linh mục và giáo sĩ Do thái hả? Hay một tên mặc đồ linh vật với con lừa của hắn? Ai quan tâm chứ.”
Chúng tôi chẳng hơi đâu mà đoán.
“Là Richard và Maddie!”
Bất ngờ là Richard điền vào thẻ chấm công của Maddie là đã làm việc vào tối hôm đó, sau đó hắn yêu cầu Reuven ký tên, nhưng anh ta từ chối. Tiến sĩ Hirsch đã gọi Richard vào phòng làm việc và cả hai có một cuộc họp ngắn. Khi trở ra, Richard đấm vào tường, rất mạnh. Từ đó hắn cũng rời khỏi OCME mãi mãi.
Tôi được bổ nhiệm làm giám đốc điều tra. Điều này khiến Reuven nổi điên, anh ta cho rằng vị trí đó phải dành cho mình. Sau khi ra khỏi phòng Tiến sĩ Hirsch, Reuven kéo tôi vào phòng quan sát.
“Công việc đó là của tôi! Tôi tự giết chính mình cho vị trí đó. Tôi tự hủy hoại sức khỏe và còn chẳng bao giờ gặp tụi nhỏ ở nhà. Thật không hợp lý chút nào!”
Reuven có lý. Anh ta vào trước tôi 2 năm và đã làm việc 12 tiếng mỗi ngày ở phòng nhận dạng, ngay cả lúc bị viêm phổi cũng không nghỉ ngơi. Anh ấy xứng đáng được thăng chức. Nhưng Tiến sĩ Hirsch là người thực tế, ông biết bộ phận Nhận dạng là nơi Reuven thuộc về – anh đang làm tốt công việc ở đó và hiểu rõ các hệ thống phức tạp từ trong ra ngoài. Các gia đình vụ 11 tháng Chín thích anh ấy. Ngược lại, chúng tôi cần một nhà ngoại giao để quản lý bộ phận Điều tra, một người có thể chế ngự những điều tra viên bất kham và chán nản.
Tôi xúc động vô cùng trước niềm tin mà sếp dành cho tôi, nhưng – một nhà ngoại giao? Với tôi, điều đó thật không hề dễ dàng chút nào. Qua nhiều năm, tôi nhận ra Tiến sĩ Hirsch không phải là một nhà quản lý giỏi – ông là trưởng văn phòng pháp y, ông xuất sắc trong việc hoạch định chính sách và giám sát các hoạt động y tế. Ông tin tưởng cấp dưới của mình sẽ lo liệu mọi việc khác – như ông đã nói với tôi trong lần gặp đầu tiên. Là một người chính trực, tiến sĩ tin rằng những người khác cũng sẽ hành xử như vậy.
Một buổi chiều tháng Mười dễ chịu năm 2003, phà Staten Island đâm vào một cầu tàu bê tông ở St. George và bị gãy làm đôi, đè bẹp các hành khách ở trên boong chính. OCME nhận được thông báo về nhiều trường hợp tử vong và bị thương nặng. Một đội điều tra viên pháp y cấp tốc tới hiện trường. Để đảm bảo việc nhận dạng chính xác các nạn nhân, điều quan trọng là phải thực hiện công tác phục hồi thi thể song song với những đội phản ứng có mặt đầu tiên ở hiện trường, trước khi thi thể bị di chuyển và các chứng cứ biến mất. Frank DePaolo sẽ giám sát việc đó. Mặc dù chỉ mới trở thành điều tra viên chưa lâu, anh là thiên tài trong việc tổ chức và chỉ huy, một nhà quản lý thảm họa bẩm sinh.
Tiến sĩ Hirsch tiến vào văn phòng của tôi và nói: “Barbara, bác biết cháu có một đội tốt ở đó, nhưng đây là một tình huống khó khăn. Có 1.500 hành khách trên con tàu, và ít nhất có nhiều người tự hỏi liệu người thân của họ có nằm trong số những người tử nạn. Chúng ta phải làm công tác xác minh danh tính thật nhanh. Trước khi khám nghiệm tử thi, trước khi làm bất cứ điều gì khác.”
“Dạ cháu đã rõ. OEM (Văn phòng Quản lý Khẩn cấp) đang thiết lập một Trung tâm Hỗ trợ Gia đình ở Borough Hall, và cháu nghe nói có cả trăm người ở đó rồi.”
“Tốt. Cháu có sắp xếp phương tiện di chuyển cho chúng ta không?” Tiến sĩ hỏi.
“Bác sẽ tới đó ạ?”
“Đúng thế. Hai chúng ta sẽ xử lý vụ này.”
Đội nhân sự ở Cảng đón chúng tôi trên sông Đông ở bến tàu Đường 30-4, sau đó chúng tôi tăng tốc xuôi dòng về hướng đảo Staten.
Hiện trường ấn tượng với sự hỗn loạn đầy màu sắc và có tổ chức của nó. Chiếc phà lớn Andrew J. Barberi, với sức chứa sáu nghìn hành khách, đã bị xẻ dọc mạn phải. Nội thất bị nghiền nát thành một đống ghế nhựa lộn xộn màu vàng và cam, áo phao và những vết máu đỏ tươi vương vãi trên sàn tàu. Đội của chúng tôi vẫn đang xử lý hiện trường, tới giờ họ đã đếm được 10 người chết. Có rất nhiều chân, tay được tìm thấy ở boong phía trong, là tàn dư của 70 người bị thương nặng đã được cấp tốc chuyển tới các bệnh viện trong khu vực. Chúng tôi tìm thấy Frank và thảo luận chiến lược xử lý với anh ấy – những cái xác sẽ được chuyển tới Manhattan, nơi chúng tôi có nhiều nguồn lực hơn, nhưng chúng tôi sẽ gặp các gia đình ở đây. Căn phòng chờ chật chội dần dần thưa khi mọi người nhận được các cuộc gọi họ vẫn đang mong ngóng: “Em yêu, anh gần về tới nhà rồi, anh ổn.” Hoặc những thông báo ít được chào đón hơn từ OEM: “Vợ của anh đang được phẫu thuật ở St. Vincent, chúng tôi sẽ đưa anh tới đó.” Dù vậy, họ vẫn còn sống.
Khi việc chụp ảnh các nạn nhân đang được tiến hành, những vết sẹo hoặc hình xăm giúp xác minh danh tính cũng được xác nhận với thân nhân bằng một bài phỏng vấn bên ngoài, dữ liệu từ các bài phỏng vấn này nhanh chóng được đưa tới cho chúng tôi, và chúng tôi gặp riêng từng gia đình một để nói chuyện. “Chúng tôi đã tìm thấy giấy phép lái xe của chồng bà từ túi quần của một nạn nhân. Bà vui lòng nhìn vào bức ảnh này và cho chúng tôi biết đây có phải ông nhà không?” Một số người la hét, một số khóc, một số khác chỉ nhìn chòng chọc trong im lặng rồi gật đầu. Tôi hỏi một người phụ nữ trẻ vừa kết hôn không lâu miêu tả về chồng cô cho tôi, bao gồm cả những vết sẹo và hình xăm của anh ấy. Tôi không thể cho cô ấy xem những tấm hình, bởi cái đầu của người chết đã bị nghiền nát. Thế nhưng những vật dụng trong ví, vết sẹo trên chân, và hình xăm đặc biệt trên cánh tay đã chứng minh chúng tôi đã tìm đúng người, và tôi nói cho người vợ biết điều đó. Cô sụp xuống sàn và gào thét gọi chồng, nỗi đau của cô tràn ngập căn phòng ấy. Giờ đây cô chỉ còn lại một mình. Tôi ngồi xuống sàn, ôm lấy và đung đưa cô như vỗ về một đứa trẻ.
Chúng tôi làm việc tới đêm muộn, mỗi một thông báo trong số mười thông báo tử vong đều là một cảnh tượng đau đớn và bị thương diễn ra trong những căn phòng khô khan của tòa nhà chính phủ. Việc kiểm đếm đã xong. Đám đông đã rời đi, một vài trong số đó phải nghe những tin tức tồi tệ nhất trong cuộc đời họ.
Một tình nguyện viên của Hội Chữ thập đỏ tiến về phía chúng tôi, để lại một người phụ nữ trông có vẻ lo lắng đang chờ ở cửa. “Bác sĩ, người phụ nữ đó chưa nghe được tin tức gì. Chồng cô ấy thỉnh thoảng lên chuyến phà đó, và cô ấy không thể liên lạc với anh ta. Cô ấy sợ rằng chồng mình đã chết.”
“Chúng tôi đã xác minh danh tính tất cả mọi người rồi, anh ta không ở chỗ chúng tôi. Vui lòng đưa cô ấy tới đây nhé.”
Người phụ nữ sợ hãi tiến về phía chúng tôi.
“Tôi là Charles Hirsch, bác sĩ pháp y. Tôi có thể đảm bảo rằng chồng cô không nằm trong số những người tử nạn. Tất cả mọi người đều được xác minh danh tính rồi.”
“Nhưng anh ấy có thể ở đâu? Anh ấy cũng không ở bệnh viện nào cả.”
Tiến sĩ dịu dàng nắm lấy tay người phụ nữ, ông nói: “Thưa quý cô thân mến, chúng ta hãy hy vọng rằng anh ấy ở đâu đó vào tối nay và đang làm một trò tinh quái nào đó chăng.”
Cô mỉm cười, thậm chí còn khúc khích.
Frank có vẻ ngạc nhiên khi người phụ nữ được đưa đi. “Tại sao bác nói thế, thưa sếp?”
“Sao không nghĩ theo hướng tích cực hả Frank? Đã có đủ tin xấu cho buổi tối nay rồi.” Tiến sĩ đáp.
Tiến sĩ Hirsch và tôi quay trở về văn phòng trên thuyền cảnh sát, chúng tôi đều kiệt sức, cả hai lặng thinh dán mắt vào mặt nước tối đen.
“Chuyện đó khó khăn thật.” Cuối cùng ông lên tiếng.