Người Chết Biết Điều Gì

Lượt đọc: 94288 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 17
trò chơi chính trị

Khi Tiến sĩ Hirsch tốt nghiệp trường Y vào năm 1962, ông từng có ý định trở thành bác sĩ đa khoa và mở một phòng khám ở Alaska. Thế nhưng một lần luân chuyển vào khoa bệnh lý học đã thay đổi hoàn toàn ý định đó.

Sau khi hoàn thành khóa nội trú ở khoa bệnh lý pháp y và bệnh lý thần kinh, ông gia nhập Quân đoàn y tế Không quân và đóng quân tại Đức. Sau khi phục vụ với tư cách là bác sĩ pháp y ở Cleveland và Baltimore, và là giám đốc ở quận Suffolk, ông được Thị trưởng Ed Koch tuyển dụng vào vị trí trưởng văn phòng pháp y của New York vào năm 1989 và tiếp tục làm việc ở đó cho đến tận lúc nghỉ hưu gần 25 năm sau đó.

Tiến sĩ Hirsch luôn quan tâm đến khoa học. Khoa học, y học và tư pháp, chứ không phải việc vận hành hoạt động và ngân sách. Ông đã bàn giao lại tất cả những việc mà ông không thích vào năm 2007, khi ông thăng chức cho tôi lên vị trí chánh văn phòng ở OCME. Đó là một công việc tuyệt vời, và tôi được đảm nhận mọi việc mà tôi vẫn luôn muốn làm, cải thiện việc vận hành, đàm phán các thỏa thuận và hợp tác chặt chẽ với Văn phòng Thị trưởng. Tôi phải xây dựng mọi thứ, tuyển dụng những người giỏi và loại bỏ những người khác, làm việc với những người tài năng nhất. Frank DePaolo trở thành Giám đốc Điều tra và là cấp phó thường trực của tôi, một người luôn vận dụng tài năng thiên bẩm của mình để biến mọi thứ thành hiện thực. Là bậc thầy về điều hành, anh ấy đã thành lập và trang bị cho đội ứng phó thảm họa của OCME trở thành chuyên gia hàng đầu toàn quốc về quản lý thảm họa hàng loạt. Chúng tôi đi dọc đất nước và ra nước ngoài để hỗ trợ trong các sự kiện thảm họa như sóng thần tại Đông Á năm 2004, vụ đánh bom tàu điện ngầm tại London năm 2005, và cơn bão Katrina năm 2006. Trong những năm sau đó, chúng tôi đã đi đến Thái Lan, Hồng Kông và Na Uy để chia sẻ kiến thức chuyên môn của mình.

Tôi luôn yêu thích công việc giảng dạy điều tra, và vị trí mới cho tôi cơ hội thành lập Chương trình Đào tạo Khoa học điều tra. Điều này được thực hiện thông qua các khoản trợ cấp từ chính phủ liên bang và Patricia Cornwell, tác giả sách về tội phạm và tác giả của bộ truyện Những bí ẩn về giám định y khoa của Kay Scarpetta. Patricia đã đến gặp tôi để hỏi những kiến thức nền tảng cho bộ phim kinh dị mới nhất của cô được lấy bối cảnh ở New York. Tôi biết cô ủng hộ việc nghiên cứu và giảng dạy khoa học điều tra, và tôi đã nghĩ cái quái gì vậy – yêu cầu giúp đỡ cũng đâu có hại gì. Patricia hào phóng hơn những gì chúng tôi mong đợi, nhờ đó chúng tôi đã có thể thuê những người giỏi nhất để điều hành học viện, đứng đầu là chuyên gia đào tạo và hiện trường vụ án – Ed Wallace, cùng một khoa bao gồm các chuyên gia hàng đầu trong nước. Chúng tôi đào tạo các điều tra viên pháp y khắp đất nước và nhanh chóng có hàng trăm người trong danh sách học viên dự bị.

Tôi vẫn luôn cho rằng điều tra viên pháp y là công việc mơ ước của mình, nhưng đây là một nghề nghiệp phi thường. Như người ta vẫn thường nói với tôi trong chương trình cai nghiện: “Một cuộc sống vượt ra khỏi cả những giấc mơ điên rồ nhất của tôi.”

Tôi chưa bao giờ đánh mất tình yêu dành cho công tác điều tra, và nhận thấy có rất nhiều vấn đề cần được xem xét và tìm hiểu. Việc không thể xác định vị trí thi thể của một người phụ nữ lớn tuổi ở bất cứ đâu khiến tôi phát hiện ra rằng bộ phận nhà xác được điều hành với một hệ thống lưu trữ hồ sơ từ những năm 1950. Những cái tên được viết tay trong sổ lưu trữ, sau đó được cất giữ trong những tầng hầm ẩm thấp, và cuối cùng bị phá hủy bởi nấm mốc. Chúng tôi đã buộc phải đào hàng trăm thi thể tại cánh đồng gốm ở đảo Hart, chỉ để tìm thấy người phụ nữ ấy hàng tuần sau đó trong một tủ trữ xác vì bị ghi sai tên. Chúng tôi nhanh chóng chuyển sang lưu trữ hồ sơ điện tử.

Độc chất học là một vấn đề khác, với việc phải chờ đợi kết quả trong vô tận và các phòng thí nghiệm lúc nào cũng đầy thiết bị hỏng và đám cây cảnh đã chết. Sau đó là vấn đề của mô học, nơi hàng ngàn cơ quan nội tạng trong lọ mẫu vật bị rò rỉ trong hầm chứa. Nhìn qua lớp mạng nhện, tôi có thể nhận ra một chiếc lá lách phình to, một lá gan bị xơ đang nổi trong chất lỏng đục ngầu. Không có thời hiệu cho những thứ này sao? Tôi sa thải nhân viên, thuê chuyên gia tư vấn, thiết kế lại công tác vận hành, tổ chức các cuộc họp bất tận và sa thải nhiều người hơn. Lần đầu tiên thật khó khăn, tôi phải sa thải một bác sĩ phẫu thuật hạng ba làm ngoài giờ với tư cách điều tra viên vào ca 12 giờ đến 8 giờ. Việc sa thải một bác sĩ làm tôi thấy kỳ lạ. Tôi là đứa quái nào vậy?

“Bác sĩ Marino, anh không bao giờ trả lời máy nhắn tin vào buổi đêm! Anh để cho cảnh sát phải đợi hàng giờ và điều đó là không thể chấp nhận được.”

“Không, cô không hiểu, sóng tín hiệu không đến được chỗ tôi.”

“Làm sao có thể? Anh sống ở Brooklyn mà.”

“Có thể đó là khu vực quân đội, có thứ gì đó có từ tính chắn sóng chăng?”

Tôi quyết định ra chiêu với cái tôi của anh ta. “Thưa bác sĩ, xin đừng bắt tôi phải làm điều này. Anh là một bác sĩ phẫu thuật được kính trọng, một người làm công việc cứu người. Công việc này ở dưới tầm của anh, anh quá giỏi để phải làm nó. Xin vui lòng từ chức.”

Trước sự ngạc nhiên của tôi, anh ta từ chức, thậm chí còn cảm ơn tôi.

Không phải lúc nào cũng dễ dàng như vậy. Tôi cố gắng hết sức để tử tế, nhưng bị sa thải là bị sa thải. Và không ai muốn nghe câu: “Đó không phải là vì lý do cá nhân.” Vì vậy, một số đã tức giận, mắng mỏ và đe dọa tôi. Tệ hơn nữa, có những người đã nhắc về việc chúng tôi từng là bạn như thế nào khi tôi còn là điều tra viên trước khi trở thành sếp. “Cô đã thay đổi, Barbara. Cô không còn là một trong số chúng tôi nữa.”

Điều đó đã làm tôi tổn thương.

Bị cuốn vào sự phấn khích của công việc, tôi quên mất điều mình đã học được từ Tiến sĩ Hirsch: giá trị của lòng trung thành và lòng khoan dung với những khiếm khuyết và yếu đuối của con người. Khi tôi bị thôi thúc phải làm cho hệ thống trở nên hoàn hảo, tạo ra một bộ máy tốt hơn, tôi đã quên mất việc phải quan tâm đến những người thực sự vận hành bộ máy đó. Rất nhiều người đã đánh giá cao những gì tôi làm. Họ có thể thấy kết quả trong việc môi trường làm việc được cải thiện, nhiều cơ hội phát triển hơn. Nhưng tôi cũng tạo ra nhiều kẻ thù. Trong đó có một trưởng phòng bất tài, cô ta là công chức nên không thể bị sa thải. Tôi thuyên chuyển cô ta sang một công việc văn thư (giữ nguyên mức lương 100 nghìn đô la một năm) để cô ta trả lời điện thoại và sắp xếp tài liệu theo thứ tự bảng chữ cái trong một căn phòng có tường kính – cô ta sẽ không thể chểnh mảng trong đó. Cô ta cần rời khỏi công việc của mình, nhưng tôi đã không cần phải trừng phạt đến mức đó. Cô ta cùng với một người khác cũng bị tôi giáng chức đã gọi cho tờ The Post với những câu chuyện điên rồ về tôi sau mỗi lần có điều gì đó gây tranh cãi xảy ra. Họ đã trả đòn cho tôi cực kỳ tốt.

Tôi không còn tham dự vào các phiên lâm sàng buổi sáng nữa. Thay vì thảo luận về các vết thương do đạn nảy gây ra, tôi ngồi xem qua các bài thuyết trình về ngân sách và thời gian trả kết quả phân tích của phòng thí nghiệm tại các cuộc họp quản lý diễn ra hai lần một tuần. Tiến sĩ Hirsch ghét những thứ này và sẽ bắt đầu nhịp ngón tay nhè nhẹ trên mặt bàn sau 30 phút đầu tiên. Tôi coi một phần công việc của mình là thu hút sự chú ý của ông, hối thúc mọi người khi họ bị sa đà vào những chi tiết không cần thiết. Vào cuối năm 2012, giám đốc phòng thí nghiệm DNA đã lên tiếng trong cuộc họp sáng thứ Hai – rõ ràng là bà đã gặp phải vấn đề trong phòng thí nghiệm.

“Tôi muốn được tăng ngân sách làm thêm giờ để khắc phục hậu quả.”

“Ngân sách không hoạt động theo cách đó.” Tôi nói. “Nó đã được ấn định từ trước cả năm rồi. Có vấn đề gì vậy?”

Bà ấy ngập ngừng: “Chà, có một kỹ thuật viên xử lý bằng chứng, cô ấy không được giỏi cho lắm, và trong một thời gian dài, cô ấy đã xử lý sai các bộ dụng cụ và bằng chứng trong các vụ tấn công tình dục.”

Tiến sĩ Hirsch dừng gõ nhịp trên bàn sau khi nghe thấy từ “sử dụng sai”.

“Thế quái nào mà bà không sa thải cô ta?” Ông hỏi.

Vị giám đốc bối rối. “Thật khó khi nó liên quan đến công đoàn, các quy định về công chức và bộ phận nhân sự đã không hỗ trợ tôi... Và tôi đã chỉ dạy cô ấy rất nhiều lần, cảnh báo cô ấy và..”

Tôi ngắt lời: “Cô ấy đang ở đâu?”

Cô kỹ thuật viên đó đã bị buộc phải từ chức. Khi kiểm tra những công việc cô ta đã làm, một giám sát viên phát hiện ra có một kết quả âm tính giả – cô kỹ thuật viên nói rằng không có tinh dịch hay vết máu trên bằng chứng thu thập được tại hiện trường vụ án, nhưng hóa ra là có. Đó là một công việc đủ đơn giản: cẩn thận mở bộ dụng cụ ra, sử dụng thuốc thử (chất dùng để phân tích hóa học hoặc sinh học) để kiểm tra bằng chứng nhằm phát hiện sự hiện diện của các loại chất lỏng sinh học, ghi lại kết quả và gửi nó đi để chiết xuất DNA. Serrita Mitchell không buồn kiểm tra vật thể mà chỉ quan sát bằng mắt để tìm vết bẩn. Đi ngược lại tất cả các quy tắc, đôi khi cô ta mở cùng lúc hai bộ dụng cụ tại bàn làm việc của mình và làm lẫn lộn các bằng chứng giữa chúng. Tờ Thời báo đã ghi lại câu trả lời phỏng vấn của cô ta như sau:

“Mitchell nói rằng bất kì vấn đề nào được nêu ra cũng đều thuộc trách nhiệm của ai đó khác.”

“Công việc của tôi ư?” Mitchell trả lời.

“Không, không, không, đó không phải là việc của tôi.”

Giờ đây, giám đốc phòng thí nghiệm phải phân bổ hàng chục người làm việc tăng ca để kiểm tra lại hơn 800 bộ dụng cụ mà cô kỹ thuật viên này đã xử lý. Họ tìm thấy thêm các kết quả âm tính giả khác. Bằng chứng liên quan đến cả các bộ hồ sơ DNA, cụ thể trong đó có 27 hồ sơ bị liên đới. 19 vụ có bằng chứng bị lẫn lộn và thất lạc. Một trong số đó dẫn đến CODIS, cơ sở dữ liệu quốc gia về tội phạm đã bị kết án, trong một vụ án 10 năm trước. Công lý không chỉ bị trì hoãn mà còn có thể đã bị chối từ với những nạn nhân mà thủ phạm xuống tay. Đây có thể là một thảm họa.

“Khi nào cô mới định nói cho chúng tôi biết việc này?” Trưởng văn phòng vô cùng tức giận, giọng ông lạnh băng.

Ông đã đình chỉ giám đốc phòng thí nghiệm và chỉ định tôi tạm thời đảm nhận vị trí đó. Việc một người không phải là nhà khoa học điều hành phòng thí nghiệm DNA lớn nhất toàn quốc là điều bất thường và gây tranh cãi. Nhưng Tiến sĩ Hirsch quyết tâm cử một điều tra viên pháp y vào đó để tìm hiểu cặn kẽ, một người có kiến thức hành chính và hiểu biết về điều tra pháp y để tìm hiểu mọi chuyện đã sai từ đâu – và ngăn ngừa cái sai tiếp tục xảy ra thêm một lần nữa.

Tôi sợ hãi trước mức độ nặng nề của công việc vì biết rõ rằng công lý phụ thuộc vào việc chúng tôi có làm đúng hay không. Có phải những kẻ hiếp dâm đã thoát tội vì sai sót của chúng tôi, có phải một người vô tội đã bị kết án vì sai lầm của chúng tôi? Bản án trước đó liệu có cần phải xét xử lại trước tòa? Danh tiếng của phòng thí nghiệm đang bị đe dọa, và tôi sẽ không để Tiến sĩ Hirsch thất vọng. Tôi sẽ sửa chữa mọi việc. Tôi đã rất phấn khích và say mê với nhiệm vụ của mình. Rồi tôi nhớ lại bản thân mình những ngày đầu học hướng nghiệp ở EPRA, nơi tôi học cách làm một nhân viên trong tập thể, học cách khiêm tốn. Tôi có thể yêu cầu giúp đỡ từ người khác.

Tôi đã thuê nhà tư vấn giỏi nhất trong nước: một nhà khoa học pháp y, đồng thời cũng là giám đốc kiêm thanh tra phòng thí nghiệm và là một nhà phân tích hệ thống. Tôi đã phỏng vấn rất nhiều nhân viên ở mọi cấp độ, nhiều người trong số họ hăng hái chỉ ra những sai sót của bộ phận.

“Không bao giờ có việc chịu trách nhiệm. Ba người đang làm công việc của cả một bộ phận.”

“Giao tiếp giữa các bộ phận quá khủng khiếp. Chúng tôi lãng phí rất nhiều thời gian để làm lại thứ đã được thực hiện trước đó. Điều tệ hơn là không ai viết đánh giá tổng kết và báo cáo đúng hạn.”

“Công cụ phân tích thống kê cho nhiều hồ sơ còn thiếu sót, sẽ có nguy cơ xảy ra lỗi.”

“Ai đó luôn để bệ bồn cầu lật lên trong nhà vệ sinh dành cho nhân viên.”

Có những trường hợp giám sát và đào tạo không đầy đủ, thiên vị và đôi khi không tuân theo các quy trình chặt chẽ cần thiết để đảm bảo tính chính xác của khoa học. Đó không phải là những quy tắc thông thường: chúng ở đó để đảm bảo rằng công lý được thực thi. Rất nhiều mạng sống đang bị đe dọa. Tôi đã xem xét lượng hồ sơ của 12 năm, mở từng bộ hồ sơ một và chỉ ra mọi sai sót cho Tổng thanh tra thành phố để họ tiến hành điều tra song song.

Tôi đã mất 1 năm cho công việc đó, nhưng tôi cũng đã phát hiện ra các vấn đề, cũng như đã tìm ra những điểm tích cực. Hầu hết các nhân viên đều rất xuất sắc. Họ là các nhà khoa học hàng đầu đang cống hiến cho công lý và dịch vụ công nhưng lại bị cản trở bởi hệ thống quản lý yếu kém và không hiệu quả. Ví dụ, vị giám đốc có một nhóm nhân viên chuyên để phát minh thuốc thử của riêng họ trong khi loại thuốc đó đã được bán sẵn trên thị trường – như kiểu bạn lãng phí cả ngày cuối tuần để tạo ra chất tẩy rửa phòng tắm của riêng bạn và thức dậy với một chiếc bồn tắm bẩn vào thứ Hai, trong khi tất cả những gì bạn phải làm là đi mua một chai thuốc tẩy. Những nhà khoa học đó lẽ ra phải tập trung vào các vụ việc và giảm thiểu thời gian trả kết quả lâu đến nực cười.

Việc xem xét lại 843 vụ việc từng được xử lý bởi cô kỹ thuật viên lười biếng cuối cùng đã dẫn đến hai bộ hồ sơ DNA cần được tải lên CODIS. Hai bộ hồ sơ đó lẽ ra phải được tìm ra từ nhiều năm trước. Bộ hồ sơ đầu tiên dẫn đến việc bắt giữ và truy tố một nghi phạm, nhưng nguyên đơn đã từ chối làm chứng, và vụ án bị bác bỏ. Bộ hồ sơ thứ hai khớp với một vụ tấn công tình dục khác xảy ra cùng năm, nhưng không thể xác định được vị trí của nạn nhân. Chúng tôi kiểm tra DNA của cô gái với dữ liệu về những người mất tích/không xác định được danh tính và phát hiện ra cô đã chết vào năm 2007. Đó là hai vụ việc mà công lý đã không được thực thi. May mắn thay, không có trường hợp nào nghi phạm bị kết án sai do sai lầm của chúng tôi.

Đầu năm 2013, Tiến sĩ Hirsch phải nhập viện, cực kỳ yếu do bệnh hô hấp. Tình trạng rất nghiêm trọng – ông bị ngưng tim và chết lâm sàng trong gần một phút trước khi được các bác sĩ hồi sức cấp cứu.

Tôi hỏi ông cảm thấy như thế nào lúc đó.

“Hấp dẫn lắm. Nhưng chẳng có ai đi qua một đường hầm đầy ánh sáng để đến nói với bác là: Hãy quay lại, hãy quay lại đi, thời khắc đó của anh chưa đến đâu.” Ông cười thành tiếng, nhưng tôi lại lo lắng không yên.

Tiến sĩ quyết định nghỉ hưu, một cách miễn cưỡng, nhưng chắc chắn đó là điều tốt nhất cần làm cho cơ quan và gia đình ông bấy giờ. Tôi biết ông đã đúng – sức khỏe của tiến sĩ đã rất tệ kể từ sự kiện 11 tháng Chín năm đó, và ông cần dành thời gian cho con gái cùng các cháu trai. Cảm xúc của tôi khi biết tin này rất hỗn loạn: tôi sợ hãi cuộc sống không có ông ấy, nhưng cũng tự tin với những gì mình đã học được từ tiến sĩ, quyết tâm tiếp nối những di sản mà ông để lại.

Thị trưởng Michael Bloomberg đã bổ nhiệm Tiến sĩ Barbara Sampson vào chức vụ Trưởng văn phòng Giám định y khoa. Tiến sĩ Sampson đã từng là phó giám đốc của Tiến sĩ Hirsch, một đệ tử chân chính luôn coi trọng khoa học, sự thật và sự chính trực hơn bất cứ điều gì khác. Giống như ngài Hirsch, bà ấy không thích chính trị và các chi tiết của việc quản lý, mà ưa thích đề ra chính sách và sau đó để ai đó khác – là tôi – tiếp quản việc thực thi. Chúng tôi là một đội tốt, và tôi phấn khích bởi những cải tiến mà chúng tôi có thể tạo ra ở cơ quan mình. Quyết định đầu tiên cùng nhau của chúng tôi là để Giám đốc phòng thí nghiệm DNA rời đi. Bà ấy là một nhà khoa học giỏi, một con người tử tế và một đồng nghiệp lâu năm. Nhưng nói thẳng ra bà không thể điều hành phòng thí nghiệm một cách hiệu quả. Chúng tôi nhận thấy rõ ràng rằng đa số các nhà khoa học không thể trở thành các nhà quản lý giỏi.

Đây không phải mà một quyết định thường thấy, và cặp đôi Barbara, như chúng tôi đã được gọi, đã phải trải qua một hành trình gập ghềnh. Nhiều nhân viên phòng thí nghiệm thích cựu giám đốc và tính cách dễ dãi của bà ấy. Họ không hài lòng (và có thể hơi sợ hãi) với những thay đổi sắp tới. Một số bạn bè của giám đốc trong cộng đồng khoa học nghĩ rằng bà ấy là vật tế thần cho những thất bại của cơ quan. Chúng tôi bị chỉ trích vì “hành động vội vàng”, nhưng cách duy nhất để tránh bị chỉ trích là làm càng ít càng tốt, và chúng tôi không định làm vậy. Chúng tôi tiếp tục công cuộc cải tổ và làm những gì cần làm, bao gồm cả việc trình bày báo cáo của chúng tôi về phòng thí nghiệm DNA cho Văn phòng Thị trưởng. Tất nhiên, ngài Thị trưởng không hài lòng và chỉ thị cho chúng tôi khắc phục tình hình một cách nhanh chóng và minh bạch. Hội đồng thành phố đã tổ chức một phiên điều trần công khai để chúng tôi trực tiếp nói với họ về những sai lầm đã mắc phải, những hậu quả của nó và những gì chúng tôi sẽ làm.

Đó là một khoảng thời gian “nảy lửa”, và các thành viên hội đồng liên tục dội cho chúng tôi những câu hỏi như:

“Có bao nhiêu người vô tội đã bị kết án oan vì những sai lầm của các cô?” Không một ai.

“Làm sao chúng ta biết không có nhà khoa học cẩu thả nào khác trong phòng thí nghiệm?” Bằng các chương trình đảm bảo chất lượng mới và đánh giá nghiêm ngặt.

“Những sai lầm đó khiến ta phải trả giá bằng bao nhiêu tiền thuế?” Vài trăm nghìn đô la cho công việc phát sinh thêm và chi phí tư vấn.

“Tại sao các cô không biết về những việc này trước đây?” Vì giám đốc cũ đã không nói cho chúng tôi biết. Các vị có thể yên tâm rằng điều này sẽ không lặp lại.

Những quan chức phải nổi giận – vì những người dân đã bầu họ lên đang giận dữ. Họ mắng mỏ chúng tôi trong một màn trình diễn đã được dàn dựng từ trước cho công chúng thấy họ đã làm nhiều thế nào để phục vụ nhân dân. Nếu họ cung cấp cho chúng tôi các nguồn lực để sửa chữa mọi thứ, để kiểm tra xem cái gì đang không ổn và ngăn chặn nó xảy ra lần nữa thì sẽ mang lại hiệu quả thiết thực hơn nhiều. Nhưng điều đó không mang lại hiệu ứng tốt trên màn ảnh. Vì thế họ lựa chọn thứ mang lại hiệu ứng tốt hơn: sự phẫn nộ.

Tiến sĩ Barbara và tôi bắt đầu tìm kiếm một giám đốc mới để rồi cuối cùng tuyển dụng chuyên gia tư vấn mà chúng tôi đã thuê để điều tra phòng thí nghiệm. Anh ấy lướt qua như một cơn lốc xoáy, sắp xếp lại hệ thống, đảm bảo chất lượng, giám sát, quản lý nhân sự, vận hành và tái cấu trúc phòng thí nghiệm. Anh ấy sớm giải quyết các công việc tồn đọng và đặt ra các mục tiêu đầy tham vọng về thời gian trả kết quả, mặc dù dĩ nhiên là không bao giờ đạt được điều kỳ diệu về việc kết quả sẽ có chỉ sau một giờ như ta vẫn thấy trên các chương trình truyền hình, nơi các mẫu được đưa vào máy, đèn màu nhấp nháy, và tên của nghi phạm được phun ra như một tờ biên lai ở máy rút tiền. (Chúng tôi vẫn gọi câu chuyện cổ tích đó là “Hội chứng CSI”)

Phiên điều trần của Hội đồng thành phố chưa phải là điểm kết thúc. Vài tháng sau, Ủy ban Khoa học Điều tra Pháp y tổ chức phiên điều trần kín của riêng họ về những thay đổi chúng tôi đã làm với phòng thí nghiệm. Tất cả những ai đã từng ngồi trong một ủy ban đều biết cảm giác vui vẻ thế nào khi nắm quyền lực trong tay và đánh bại kẻ khác. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng chúng tôi sẽ bị từ chối việc có đại diện pháp lý hay thậm chí đơn giản là có một cố vấn. Giám đốc mới của phòng thí nghiệm và tôi ngồi trong phòng chờ có bảo vệ – người được chỉ thị để không cho chúng tôi nói chuyện với nhau. Điều đó lẽ ra đã cảnh báo chúng tôi rằng sẽ có sự kiện nào đó sắp xảy ra, nhưng vào lúc ấy, chúng tôi không làm được gì nhiều. Họ có quyền lực để loại bỏ giấy phép của phòng thí nghiệm.

Trong quá trình đặt câu hỏi, tôi kiên nhẫn giải thích các sai lầm mà chúng tôi đã phát hiện được và lý do tại sao Giám đốc Phòng thí nghiệm đã phải ra đi. Một trong những người thẩm vấn nhìn tôi chằm chằm và vồ lấy cơ hội.

“Vậy là, khi mọi người phạm sai lầm, họ nên bị sa thải. Đó là điều mà cô đang nói.”

“Không, tôi không nói vậy. Nhưng khi ta có một vấn đề mang tính hệ thống mà lại không hành động kịp thời...”

“A ha! Hành động không kịp thời!” Ông ta vẫy một tài liệu về phía tôi với vẻ đắc thắng.

“Còn những sai lầm của cô thì sao, Barbara? Thế còn báo cáo của Cục Điều tra nói rằng cô nên bị sa thải thì sao?”

Tôi biết ông ta đang nói về cái gì.

Trở lại khoảng những năm 2002, một điều tra viên tên Kevin đã đến văn phòng của tôi với một túi hồ sơ lớn. Trong đó là một mảnh kim loại xoắn từ đống đổ nát tại hiện trường Trung tâm Thương mại Thế giới.

“Một trong những thám tử của Đội điều tra hiện trường đã yêu cầu tôi mang cái này đến cho cô, đó là một vật lưu niệm từ khu Pile.” Anh ta nói.

Tôi nhớ một người trong số họ đã đề cập đến thứ này với tôi trước đây nhưng tôi đã quên mất. Tôi lôi nó ra khỏi túi.

“Chúa ơi, hãy tưởng tượng anh đang ngồi bên bàn cà phê. Vài vật lưu niệm cơ đấy.”

Đó là một nhận xét thiếu suy nghĩ, nhằm bày tỏ sự thất vọng của tôi về khái niệm “vật lưu niệm” cho sự kiện 11 tháng Chín mà đâu thể gói gọn được trong vài từ. Tôi chỉ lắc đầu và đặt nó sang một bên. Hai ngày sau, tôi nhận ra rằng đồ vật này không phải là thứ mà tôi nên giữ, vì rất nhiều lý do. Tôi đã nhờ một điều tra viên khác gửi trả nó về Pile giúp tôi. Đó là một trong số hàng ngàn hành động nhỏ mà chúng tôi làm trong giai đoạn ấy. Nhưng 3 năm sau, Kevin quyết định báo cáo việc này với Cục Điều tra. Sau khi thẩm vấn tôi, họ đưa ra một báo cáo đề nghị xử lý kỷ luật mà tôi đã tiếp nhận và đồng ý. Đó không phải là hành vi đáng để bị sa thải, nhưng nó không ngăn được việc Kevin gọi điện cho tờ The Post và Thời báo New York để cả hai tờ này viết những câu chuyện bị thổi phồng và không chính xác về cuộc săn lùng những di vật ma quái.

Tôi thuật lại toàn bộ cho Ủy ban Khoa học Điều tra Pháp y, và người thẩm vấn hét lên: “Không! Ở đây nói rằng cÔ phải bị sa thai!”

“Không hề!” Tôi đáp lời. “Hãy chỉ ra cho tôi điều đó trong bản báo cáo!”

Ông ta từ chối, nhưng tôi khăng khăng, tôi lấy bản báo cáo từ tay ông ta và đọc to phần khuyến nghị. “Trưởng văn phòng giám định nên xem xét biện pháp kỷ luật thích hợp trong quyền hạn của mình.” Người thẩm vấn tôi đã rất tức giận.

Phiên điều trần là một cuộc săn phù thủy, một trò hề, một màn phô trương quyền lực trẻ con và cũng là một bữa tiệc buffet. Trên thực tế hội đồng đã ăn bữa trưa trong lúc tôi bị chất vấn, và tôi không nhận được bất cứ món gì.

Nhưng này, đó là trò chính trị. “Đừng làm việc cho thành phố.” Người cha cảnh sát từng nói với tôi như thế. “Nó sẽ nuốt chửng, ăn thịt con và sau đó nhả cho ra bã.” Cha đã đúng.

Rõ ràng là các thành viên ủy ban đã tức giận về việc chúng tôi loại bỏ giám đốc phòng thí nghiệm – người đã từng là thành viên hội đồng quản trị lâu năm và là bạn của các ủy viên. Họ không thể làm gì nhiều với quyết định đó, ít nhất là vào lúc này. Sau đó, Mike Bloomberg rời nhiệm sở và Bill de Blasio trở thành Thị trưởng Thành phố New York. Tôi quyết tâm cho ông ấy một cơ hội khi ông thành lập một ủy ban bổ nhiệm để chọn lựa nhân sự cho các vị trí hàng đầu của thành phố, như ủy viên cảnh sát, y tế, cứu hỏa, trại giam, và tất nhiên, trưởng văn phòng giám định y khoa. Trong ủy ban bổ nhiệm này có một số thành viên của Ủy ban Khoa học Điều tra Pháp y, bạn của thị trưởng mới. Điều đó dường như không liên quan đến tôi – cho đến khi tôi nhận được cuộc gọi từ Tòa thị chính.

“Cô phải đi thôi.” Phó thị trưởng nói.

“Đi? Đi đâu cơ?” Phải mất một lúc tôi mới hiểu được bà ấy đang nói về cái gì.

Họ không đưa ra lý do. Họ còn chẳng buồn nói với tôi rằng đó không phải là lý do cá nhân. Tôi đã phụng sự cho sự hài lòng của thị trưởng, và chỉ có thế.

Và cứ như vậy, nó kết thúc. 22 năm cùng sự nghiệp tuyệt vời nhất trong tưởng tượng của tôi, tất cả những kinh nghiệm, kiến thức, tất cả niềm vui và nỗi đau, hết lần này đến lần khác. Tôi sẽ phải rời cơ quan nơi từng là nhà, nơi đã cho tôi một gia đình và một mục đích sống. Tôi choáng váng vô cùng, đây là một cú đấm khiến tôi không kịp thở và hoảng sợ. Toàn bộ danh tính của tôi đều được gói gọn trong công việc. Nếu ai đó từng nói: “Hãy kể cho tôi nghe về bản thân bạn.” Câu nói đầu tiên của tôi sẽ là: “Tôi là chánh văn phòng của Văn phòng Giám định Y khoa Thành phố New York.”

Thế nhưng giờ đây tôi sẽ nói gì?

Tôi sẽ là ai nếu không có công việc của mình nữa?

« Lùi
Tiến »