Tôi tự nhủ rằng đây là một phát súng khác của Chúa, một cú hích cần thiết từ đằng sau để bước tiếp sang chương mới của cuộc đời. Bạn bè cũng đồng ý với tôi như vậy. “Tôi biết chuyện này làm cậu tổn thương, Barbara, nhưng đây có thể là một cơ hội vàng. Hãy tổng kết lại cuộc sống của mình, đánh giá xem điều gì thực sự quan trọng với cậu. Hoặc là thậm chí dành chút thời gian nghỉ ngơi đi.” Tôi đánh giá cao những lời tử tế đó, nhưng dành thời gian nghỉ ngơi ư?
Sẽ không có chuyện đó.
Tôi đã có một kế hoạch. Một kế hoạch lớn.
Tôi sẽ mở công ty tư vấn của riêng mình. Tôi sẽ hợp tác với những người giỏi nhất trong lĩnh vực kinh doanh để cùng làm việc. Ví dụ như Tiến sĩ Hirsch, người đã đồng ý đảm nhiệm vị trí chủ tọa danh dự, miễn là ông không phải đi dự các buổi họp kinh doanh. Công ty của tôi sẽ đào tạo và tư vấn về điều tra và quản lý thảm họa. Tôi sẽ đánh cắp người cộng sự của mình, Frank DePaolo, khỏi OCME, và chúng tôi sẽ viết kế hoạch cho các cơ quan pháp lý không có chuyên gia nội bộ của riêng họ. Chúng tôi có thể giải quyết các vụ án đã bị bỏ quên trên khắp đất nước, đòi lại công lý cho các gia đình. Tôi biết những chuyên gia, những người tốt và sẽ cho họ cơ hội để thoát khỏi bộ máy quan liêu và sặc mùi chính trị. Chúng tôi có thể làm việc một cách chính trực, giúp đỡ mọi người cho dù họ có đủ khả năng chi trả hay không. Tôi bắt tay ngay vào hành động, xây dựng việc kinh doanh, lấy logo và danh thiếp, nói chuyện với mọi người, tạo lập mạng lưới. Tôi mở rộng kết nối tại các buổi gây quỹ chính trị và sau khi nộp đơn xin công việc giảng dạy, tôi được yêu cầu tạo ra một chương trình khoa học pháp y tại một trong những trường đại học địa phương. Tôi không cần OCME, và tôi chắc chắn nơi đó không cần Văn phòng Thị trưởng. Tôi có thể làm được. Khi một nhà sản xuất truyền hình hỏi liệu tôi có thể giúp phát triển một chương trình trò chơi truyền hình về điều tra pháp y không, tôi đã trả lời là “có”. Chết tiệt, dĩ nhiên là có!
Tôi bắt đầu thực hiện tất cả các dự án này, phát triển các chiến lược tiếp thị và kế hoạch kinh doanh, sắp xếp các cuộc gặp với các chuyên gia pháp y giỏi nhất. Nhưng có điều gì đó đã xảy ra, từ từ rồi đột ngột, như người ta vẫn thường tả về nó. Tôi bắt đầu viết giáo trình cho chương trình điều tra pháp y, nhưng đến trang thứ hai, tôi hết hơi và chỉ nhìn chằm chằm vào tờ giấy. Một giờ trôi qua. Rồi hai. Chẳng mấy chốc, cảm giác thèm ăn của tôi biến mất, tôi không buồn ăn và sút cân nhanh chóng.
Tôi trở nên uể oải. Trang web, thứ từng làm tôi rất hào hứng dường như giờ đây có quá nhiều rắc rối. Candy Crush khiến tôi khó lòng xoay xở. Tôi thấy mình mất tập trung. Đầu tiên tôi không thể hoàn thành công việc và sau đó tôi không thể ra khỏi giường. Tôi thấy buồn bã và rồi nỗi u sầu càng ngày càng lớn. Tôi gọi điện cho trưởng khoa ở trường đại học và nói: “Tôi không thể làm được. Tôi xin lỗi, tôi rất xin lỗi.”
Tôi đã lên kế hoạch bay đến Nevada để thuyết trình cho một tổ chức phòng chống tự tử nhưng vào phút cuối lại gọi hủy bỏ. Chỉ là tôi không thể làm được. Tôi rơi vào trạng thái trầm cảm. Ít nhất tôi đã có thể nói với những đồng nghiệp đó điều gì đang xảy ra với mình. Họ hiểu. Và họ thật tử tế khi không đề cập đến tình huống trớ trêu là diễn giả bị trầm cảm quá nặng để có thể thuyết trình về phòng chống tự tử.
Tôi đã đến thăm Tiến sĩ Hirsch vài lần sau khi ông nghỉ hưu, và thỉnh thoảng ông đến nhà tôi ăn tối. Khi chứng trầm cảm của tôi ngày càng trầm trọng, tôi đã ngừng gọi cho tiến sĩ (và những người khác). Tôi đã không gặp ông trong vài tháng và điều đó làm tôi cảm thấy tồi tệ. Cuối cùng, tôi gọi cho tiến sĩ vào tháng Tư năm 2016. Chúng tôi cập nhật cho nhau tình hình mới nhất của bản thân, ngay lúc đó giọng điệu đều đều đã phản bội tôi.
“Mọi chuyện ổn chứ, Barbara?” Ông hỏi.
“Chắc chắn rồi, cháu ổn. Cháu chỉ mệt mỏi thôi ạ.” Tôi ngập ngừng, cổ họng nghẹn lại. “Cháu nhớ nhóm của mình. Cháu nhớ cuộc sống của cháu.”
“Bác cũng vậy. Bác nhớ mọi người. Nhưng không phải phần còn lại của nó. Có một cuộc sống khác ngoài kia, và bác sẽ tận hưởng nó.” Ông đáp lời với giọng hạnh phúc. Tôi hứa rằng sẽ sớm qua thăm tiến sĩ.
Tiến sĩ Hirsch qua đời ngay ngày hôm sau tại nhà, sau khi chống chọi với nhiều loại bệnh tật. Mặc dù luôn khỏe mạnh trong suốt cuộc đời mình, nhưng các vấn đề về hô hấp mà ông mắc phải sau sự kiện 11 tháng Chín trở nên tệ hơn và ông đã phải nhập viện nhiều lần. Giờ đây, tôi cảm thấy như thể toàn bộ một phần của cuộc đời tôi đã bị xóa sạch. Tiến sĩ đã làm rất nhiều điều cho tôi, và chúng tôi đã cùng nhau trải qua rất nhiều chuyện, nhưng tôi không thể nhớ ra những ký ức về ông trong tâm trí mình – dường như ông đã hoàn toàn biến mất. Quá khứ của tôi nhuốm màu tiếc nuối và niềm mong mỏi được trở lại OCME cùng ông, còn tương lai là một khoảng trống không vô định – không hy vọng, không ước mơ, không có gì để khao khát. Tôi đã đến lễ truy điệu của tiến sĩ. Các đồng nghiệp tả rằng trông tôi lúc ấy như bị đánh thuốc.
Cơn trầm cảm kéo dài nặng nề hàng ngày đến mức mỗi giờ với tôi đều là nỗi đau khổ xám xịt, mọi niềm vui đều biến mất. Tôi đã không tận hưởng bất cứ thứ gì. Một chiếc bánh hamburger ngon, một ly nước mát sảng khoái, những thú vui nho nhỏ lấp đầy một ngày, những thứ nhỏ nhặt mà tôi đã coi là điều hiển nhiên trong cuộc sống. Tất cả đều biến mất. Tôi thấy mọi người trên tàu điện ngầm cười nói. Tôi không thể nhớ được việc kết nối với ai đó là việc như thế nào. Tôi luôn thích ăn uống nhưng giờ đây lại thấy khó nuốt và cảm giác thức ăn giống như tro tàn trong miệng. Đọc và xem ti vi không còn ý nghĩa gì nữa. Tôi không thể tập trung. Mọi thứ quanh tôi nhuốm màu sợ hãi, nỗi lo âu thường trực giày vò tôi, phát ra thứ tín hiệu rằng tôi đang gặp nguy hiểm. Những năm làm điều tra viên pháp y đã thuyết phục tôi, sự tồn tại của con người là rất mong manh và cái chết thì luôn rình rập. Kinh nghiệm làm việc với các thảm họa hàng loạt khiến tôi tin chắc rằng vũ trụ không công bằng và ẩm ương, rằng mạng sống của từng cá nhân không quan trọng đối với bức tranh tổng thể. Cuộc sống trống rỗng và tôi cũng vậy. Khi không có một công việc mang lại cho tôi một bản sắc và xây dựng bối cảnh cho một ngày của tôi, tôi mất đi sức mạnh để làm bất cứ điều gì. Tôi không còn ảo tưởng về khả năng kiểm soát mọi thứ nữa, và tôi sợ hãi.
Trầm cảm là một kẻ dối trá. Nó nói với bạn rằng cuộc sống là vậy và sẽ luôn là vậy.
Khi nỗi đau hiện sinh, về mặt thể chất cũng như tinh thần và cảm xúc đã vượt quá sức chịu đựng, tôi nhìn ra một lối thoát, và đó là cái chết. Nhiều năm chứng kiến những vụ tự tử đã khiến tôi thấy ác cảm với hành động tự sát. Tôi cảm thấy rằng có thể một trong các tôn giáo đã đúng và tôi sẽ phải sống lại cuộc đời mình, hoặc xuống địa ngục, hoặc Chúa sẽ nổi giận và trừng phạt. Hoặc bác Hirsch sẽ thất vọng về tôi. Kế hoạch và hy vọng duy nhất của tôi là sẽ bị một viên đạn lạc bắn vào đầu trong một khu phố bất hảo. Tôi sẽ nạn nhân của một vụ nổ tàu hỏa, một vụ rơi máy bay, một vụ lở đất, hoàn toàn là một thảm họa.
Tôi nghĩ chuyện này rồi sẽ qua. Tôi đã không nhận ra rằng mình đang mắc bệnh rất nặng. Tạ ơn Chúa là những người xung quanh đã thấy rõ điều đó. Những người thân thiết thúc giục tôi tìm kiếm sự giúp đỡ cần thiết. Đôi khi nhẹ nhàng, đôi khi cứng rắn, họ chưa một lần bảo tôi: “Đừng buồn bã nữa” hay “Hãy tận hưởng cuộc sống đi”. Họ có thể thấy rằng tôi đang chìm trong đau khổ. Vì vậy, họ đã khuyến khích tôi đến khám ở chỗ một bác sĩ tâm lý khác, thử các loại thuốc hoặc phương pháp điều trị khác nhau, ra ngoài và làm mọi việc, tập thể dục. Tôi đã thử các loại thuốc mới và thậm chí là một phương pháp điều trị mới bằng từ trường – mọi thứ trừ việc tập thể dục và đi chơi. Những việc nằm ngoài khả năng tôi có thể làm được. Mọi liệu pháp đều không hiệu quả, và bệnh trầm cảm của tôi ngày càng trầm trọng. Cuối cùng, bác sĩ hỏi tôi có muốn nhập viện không. Tôi đã nghĩ rằng mình không còn mong muốn bất cứ điều gì, nhưng có điều gì đó khuấy động trong tôi, một tia sáng nhỏ nhoi của cảm giác được sống. Tôi đã khóc nhưng nói “có”. Dù rất sợ nhưng tôi biết mình đã cùng đường.
Thời gian của tôi đã hết.
Hill House rất đẹp, là loại chỗ ở mà bạn có thể thấy trên Hotels.com để rồi tự hỏi mình có đủ khả năng chi trả hay không. Có lẽ là sẽ được nếu bạn có một phiếu giảm giá? Đó là một trang viên cổ kính và trang nghiêm với cửa ra vào kiểu Pháp, đồ nội thất kiểu Ralph Lauren và bãi cỏ xanh trải dài phía trước. Bạn sẽ ngồi trên những chiếc ghế da màu nâu nhồi bông và nói về những vấn đề của mình với các nhà trị liệu và bác sĩ tận tâm, sau đó tham gia các lớp học màu nước hoặc xếp giấy origami. Những bệnh nhân cùng viện của tôi là những phụ nữ khá giả có vấn đề về nghiện rượu hoặc rối loạn lo âu, họ tỏa ra sức hút với mái tóc vàng hoe, thân hình thon thả và làn da rám nắng. Tôi cảm thấy an toàn ở đây, và ngoại trừ quá trình kiểm tra an ninh lúc đầu, nó có vẻ sang trọng quá. Tôi chắc chắn có thể chữa khỏi bệnh ở đây.
Một lần tình cờ, tôi nói về việc muốn chết và thế là xong. Đó chính là lúc tôi gia nhập một hội mới, hội “Những kẻ bị giam khốn kiếp”.
Tạm biệt quầy bar nước trái cây và thư viện, tạm biệt những buổi sáng đi bộ qua dòng suối róc rách. Tôi được chuyển đến khu chăm sóc đặc biệt – một bệnh viện tâm thần thực thụ được giấu trên ngọn đồi phía sau những cây dương. Tôi bị nhốt lại, không thể ra ngoài nếu không có sự đồng ý của bác sĩ. Tôi chưa hoàn toàn biến thành một bà điên trên gác mái, nhưng sắp sửa. Không có chút dấu hiệu nào về cuộc sống lịch thiệp trong khu phòng bệnh của tôi. Nó chỉ đơn giản bao gồm những phòng bệnh sạch sẽ với đồ nội thất bằng gỗ màu vàng và những tấm ga giường bằng giấy.
Mọi căn phòng đều bị loại bỏ những vật dụng cần thiết để không có bề mặt nào mà bạn có thể dùng để đâm xuyên qua cơ thể, buộc dây thòng lọng hoặc chọc thủng mắt mình. Cố gắng treo cổ bằng những tờ giấy cũng chẳng ích gì – chúng sẽ rách mất. Bạn thậm chí không thể làm mình hóc đến chết khi chơi xếp hình Scrabble, bởi vì nó và tất cả các trò chơi cờ bàn khác đều bị khóa trong tủ. Không còn tiệc buffet nóng hổi hay đồ dùng bằng bạc nữa. Thức ăn lấy tại quầy được chở tới trong những chiếc chảo nhôm có nắp đậy và được phục vụ ở nhiệt độ ấm bởi một người phụ nữ cáu kỉnh, người đã múc nó ra cho tôi như thể chính bà ta là người trả tiền cho nó. Dĩa và thìa nhựa mỏng manh, không có dao. Cà phê đã lọc hết cafein có bán cả ngày, nhưng nếu muốn uống trà, quý bà keo kiệt đó phải đặc biệt mang riêng đến, và giới hạn là hai túi mỗi ngày. Những món ăn nhẹ gồm khoai tây chiên và bánh Fig Newtons cho mỗi người được để trong một cái ngăn kéo, nhưng một thanh niên tâm lý không bình thường với đôi mắt đen sẽ nhanh chóng ngấu nghiến hết. Nếu ngoan ngoãn, chúng tôi sẽ có kem để ăn vào ban đêm.
Tôi chính thức là một bệnh nhân tâm thần.
Chúng tôi là một nhóm hỗn hợp có chọn lọc: một người Nga ồn ào khẳng định rằng cô ấy thuộc hoàng tộc; một giáo sư lịch sử hài hước và tốt bụng, và cũng từng tự tử; một phụ nữ trẻ xinh đẹp, nạn nhân của bạo hành gia đình, người khăng khăng rằng cô ấy chỉ hay gặp tai nạn; một người đàn ông cường tráng, người đã chống lại mọi quy tắc cứ như thể anh ta đang thử vai chính cho phim Bay trên tổ chim cúc cu. Sau đó, một người phụ nữ trông rất quen thuộc đã gia nhập. Tôi chắc chắn rằng mình đã gặp cô ấy ở đâu đó, và điều đó khiến tôi phát điên. Có phải chúng tôi đã hẹn hò trong quá khứ? Hay tôi đã làm việc với cô ấy? Tôi sợ hãi khi mình không thể nhớ ra, sợ rằng cơn mất trí càng ngày càng trầm trọng. Một ngày nọ, trong buổi trị liệu nhóm, cô đã đề cập đến đạo diễn của mình, và tôi nhận ra rằng cô đã đóng vai chính trong những bộ phim truyền hình tôi yêu thích. Giống như tất cả chúng tôi, cô ấy chỉ muốn chuyển kênh.
Tôi đã gặp bác sĩ tâm thần và họ khuyên tôi nên thử qua ECT[*] – Liệu pháp sốc điện. Tôi đã hoảng sợ. Tôi nghĩ đến cảnh họ trói Jack Nicholson[*] lại, nhét miếng chặn cắn vào miệng anh ta trước khi bật điện. Và những cơn co giật đó. Cổ bị vặn, cơ mặt siết chặt lại, và tay chân quẫy đạp dữ dội một cách khủng khiếp. Đây là một cấp độ cao hơn của sự điên rồ, nhưng tôi đã tuyệt vọng. Tôi nghĩ đó hẳn là phương sách cuối cùng của tôi.
Vào ngày điều trị đầu tiên, y tá trực đêm đến và đánh thức tôi dậy lúc 6 giờ sáng để tiêm atropine[*] nhằm làm khô cơ thể của tôi. “Để cô không bị sặc nước bọt.” Ồ, cảm ơn, nghe mới đáng yêu làm sao. Tôi lại thức dậy lúc 7 giờ 30 cho cuộc hẹn lúc 8 giờ, miệng bỏng rát và mắt khô khốc. Một tiếng sau, tôi vẫn ngồi chờ và siết chặt tay trong sợ hãi. Lúc 9 giờ, y tá Mark nói với tôi rằng họ bị muộn một chút. Ôi lạy Chúa tại sao? Vì tóc ai đó đã bén lửa? Vì ai đó tỉnh dậy giữa cơn co giật? Tôi đã tưởng tượng ra mọi thứ khủng khiếp có thể xảy ra và cầu xin anh ra để mình được điều trị cho xong. Tôi ngồi trên mép giường và cố gắng không khóc. Tôi ước có một người trẻ tuổi hơn ở đó để tôi có thể mạnh mẽ vì họ, một người mà trước họ, tôi có thể ra vẻ bất cần: À, không có gì đâu nhóc, họ nói nó sẽ làm sáng da đấy.
Không lâu sau, Mark quay lại và đưa tôi đến khu vực điều trị – một căn phòng nhỏ sáng sủa với một chiếc cáng ở giữa. Những chiếc máy có đầy đủ các mặt số và công tắc ở đầu giường trong giống như dàn âm thanh nổi cao cấp ở Best Buy[*]. Bác sĩ K, một người Nga bảnh bao, cặm cụi với các dụng cụ trong khi bác sĩ gây mê đứng bên cạnh chuẩn bị cho việc truyền tĩnh mạch. Mark trói tay và chân tôi xuống và đặt các dây dẫn giống như điện tâm đồ lên khắp người tôi. Tôi run lên vì sợ hãi, và người y tá đắp chăn quanh người tôi. Dưới chân chiếc cáng là một chiếc xe đẩy khẩn cấp màu đỏ phòng trường hợp tim ngừng đập.
“Anh đã kiểm tra rằng không có thuốc nào hết hạn đúng không?” Tôi hỏi.
Anh ấy chỉ cười và bảo tôi hãy thư giãn, mọi chuyện sẽ ổn thôi.
“Được rồi, nhưng máy khử rung tim đã được sạc chưa, để phòng trừ thôi?”
Bác sĩ bôi một chất dạng thạch lên đầu tôi, anh nói: “Để điện cực tiếp xúc tốt hơn.”
Tôi nhìn chằm chằm vào những ngọn đèn trên trần nhà và cầu nguyện lớn tiếng: “Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con, xin Chúa giúp con, làm ơn.”
Bác sĩ K nghiêng người về phía tôi và tử tế nói: “Tại sao cô lại cầu nguyện Chúa? Tôi sẽ giúp cô.”
Sau đó, anh ta đeo mặt nạ lên cho tôi, và tôi ngửi thấy mùi gì đó giống như bột sô cô la.
“Thở oxy. Vậy đó, thở đi.”
Tôi hít mạnh không khí khi nỗi sợ tràn qua người. Ở bên cạnh, bác sĩ gây mê đặt kim truyền tĩnh mạch vào mu bàn tay tôi và quay sang làm gì đó.
Sau đấy tôi tỉnh dậy. Vẫn căn phòng đó. Vẫn những con người đó.
“Đã xong rồi phải không?” Tôi hỏi lúc họ cởi trói chân tay cho tôi.
“Vâng, mọi thứ đều ổn cả. Giờ cô có thể nghỉ ngơi vài phút, sau đó cô có thể đi ăn sáng.”
Là vậy ư? Tôi buồn nôn và cơ bắp ở chân cứng đơ, nhưng ngoài ra không bị gì khác. Mark đẩy tôi trên xe lăn ra khu hồi sức. Tôi cố ngủ tiếp, chỉ để trốn chạy, nhưng thật khó để ngủ – trong một căn phòng sáng sủa. Một lúc sau tôi không chắc là bao lâu – một y tá đỡ tôi dậy và đưa tôi vào phòng sinh hoạt để uống rượu gừng và ăn bánh quy.
Tôi bị sốc điện ba lần một tuần trong vòng một tháng. Mặc dù không có điều gì tồi tệ xảy ra, nhưng lần nào tôi cũng vô cùng sợ hãi. Có phải là do lúc đó tôi bị trói và phải chịu sự kiểm soát của người khác không? Hay tôi đã sợ rằng mình sẽ mất trí nhớ, rằng tâm trí tôi sẽ bị thay đổi? Tôi không rõ nữa. Nhưng nỗi kinh hoàng ám ảnh mạnh đến nỗi một năm sau, tôi vẫn hoảng sợ khi ngửi thấy mùi sô cô la.
Tôi rất ngạc nhiên trước cách các nhân viên điều dưỡng và bác sĩ đối xử với tôi. Họ nói chuyện một cách tự nhiên, như thể tất cả những chuyện này là điều bình thường. Mọi thứ đều ổn và chúng ta ở đây chỉ để cùng nhau giải quyết một số vấn đề mà thôi. Họ cư xử như thể tôi là một đồng nghiệp, một đối tác trong quá trình điều trị. Một y tá mà tôi yêu quý có một nụ cười bí hiểm, một cái nhìn thấu hiểu như muốn nói: Chắc chắn rồi, chuyện này rất kỳ lạ, nhưng đừng lo, cô không điên đâu, cô chỉ cần thoát khỏi trò chơi này thôi. Chúng tôi sẽ giúp cô khỏi bệnh ngay lập tức. Họ mang đến sự yên tâm và tôn trọng. Họ hành động như thể tôi là ai đó quan trọng vào thời điểm mà tôi cảm thấy mình chẳng là ai.
Dẫu vậy, các quy tắc của bệnh viện liên tục nhắc nhở rằng tôi là mối nguy hiểm cho chính mình. Các bác sĩ tâm thần đi khắp hành lang với danh sách tên bệnh nhân, kiểm tra xem chúng tôi còn sống hay không sau mỗi 15 phút. Tương tự như vậy vào ban đêm, cứ 15 phút tôi lại bị đánh thức bởi tiếng cửa cót két và ánh đèn ngoài hành lang. Ba hoặc bốn lần một ngày, chúng tôi được phép ra ngoài hiên có hàng rào dây xích dày bao quanh và được bao kín bởi một lồng dây chống thoát hiểm. Chúng tôi có 15 phút để hít thở không khí, nhưng hầu hết cả nhóm đều tận dụng thời gian đó để hút hai điếu thuốc được chia phần cho mỗi người, được người phục vụ châm lửa cho từng điếu một. Là một trong số ít người không hút thuốc, tôi đi đi lại lại từ đầu này đến đầu kia trong sân, vừa đi vừa vung vẩy một cánh tay để tập thể dục. Cánh tay còn lại của tôi để giữ quần vì tôi thậm chí đã sụt thêm cân và lại không được phép có dây thắt lưng. Ở mỗi đầu của hàng rào, tôi nhìn ra những cái cây, bãi cỏ và những ngọn đồi thoai thoải, nghĩ về việc cả thế giới ngoài kia được tự do như thế nào, về việc họ được đi đến bất cứ nơi nào họ muốn. Một phần trong tôi khao khát được tự do trở lại, nhưng một giọng nói lớn hơn khuyên nhủ rằng tôi sẽ an toàn khi ở đây, tôi sẽ được chăm sóc, rằng tôi sẽ không bị đòi hỏi bất cứ điều gì. Tôi có thể là tôi như ý muốn, chứ không cần phải đeo mặt nạ giả vờ là mọi chuyện đang rất tốt. Tôi có thể hoàn toàn ngừng diễn. Tôi không phải giả vờ tỏ ra mạnh mẽ, dũng cảm và chắc chắn, không phải tỏ vẻ rằng mình không bị ảnh hưởng bởi những điều kinh hoàng mà tôi đã thấy. Có một khía cạnh giải thoát trong đó, một loại tự do khác.
Tôi đầu hàng.
Chúng tôi bận rộn suốt cả ngày, điều trị sốc điện vào buổi sáng và uống thuốc ba lần một ngày. Giữa các buổi trị liệu nhận thức và biện chứng, chúng tôi sáng tác nghệ thuật và làm thủ công mà không dùng kéo, học yoga và vuốt ve những chú chó trị liệu. Vào những ngày đẹp trời, chúng tôi chơi cầu lông hoặc ném bóng ngoài hiên. Chúng tôi học cắm hoa, và sau vài tuần, tôi có những bó hoa đặt trên bậu cửa sổ và có những bản vẽ để dán lên bức tường phía trên một chiếc bàn nhỏ. Tôi thích vui chơi và làm mọi thứ. Đó chắc chắn là một dấu hiệu của sự sống. Giờ ăn thường là thứ khiến người ta lo lắng về việc sắp xếp chỗ ngồi, nhưng giờ đây nó không còn là vấn đề nữa. Tôi cố gắng gia nhập vào bàn của những quý cô yên tĩnh mỗi ngày, nhưng đôi khi Tsarina chen vào và giành giật thức ăn của người khác hoặc gây sự. Cô nàng làm tôi sợ hãi, cũng như cậu bé mắt đen và người đàn ông nam tính. Lúc đầu tôi nghĩ đó là do họ hung hăng, nhưng không phải vậy. Họ đã mất kiểm soát và đang bệnh nặng, trầm trọng hơn vài bậc so với những người mắc chứng trầm cảm và loạn thần kinh như tôi. Đó có thể là tôi, nếu tôi không kiểm soát được bản thân. Với tôi, đó mới là nỗi sợ hãi thực sự.
Tôi cố giữ mình và đọc tiểu thuyết của John Grisham khi rảnh rỗi. Sau một thời gian, tôi kết bạn với một giáo sư lịch sử. Chúng tôi cùng nhau giải ô chữ của tờ Thời báo New York và xem các chương trình phát lại của Shark Tank vào buổi tối. Khi vị giáo sư nói với tôi rằng ông cũng là một người nghiện rượu đang hồi phục, chúng tôi quyết định bắt đầu một buổi điều trị cai nghiện trong khu phòng bệnh. Sau khi được các y tá cho phép, chúng tôi thông báo với cả nhóm và mời thêm một hoặc hai người nữa cùng tham dự vào mỗi buổi tối sau khi dùng bữa. Đó là một dấu hiệu khác cho thấy tôi còn sống – tôi đã khởi xướng một điều gì đó.
Sau vài tuần ở bệnh viện, giám đốc điều dưỡng đến gặp tôi trong phòng sinh hoạt và hỏi liệu chúng tôi có thể nói chuyện riêng không. Ôi chết tiệt, chắc họ đã nghe thấy tôi buông lời nguyền rủa Tsarina. Giờ thì tôi phải sẵn sàng đối mặt thôi. Nhưng thay vào đó, bà ấy nói với tôi rằng một y tá có lịch làm việc buổi tối trong đơn vị của chúng tôi đã xem danh sách bệnh nhân và nói rằng anh ta biết tôi. Chỉ cần tôi cảm thấy hơi khó chịu một chút thôi thì họ sẽ chỉ định anh ta làm việc ở nơi khác. Tôi đã không nhận ra tên anh ta khi cô ấy nói điều đó với tôi, vậy nên tôi nghĩ rằng đó hẳn là một sự nhầm lẫn. Chắc chắn rồi, cứ để anh ấy đến làm việc, đối với tôi cũng chẳng có sự khác biệt nào hết. Đêm đó khi tôi đến chỗ cửa sổ phát thuốc, tôi đã ngay lập tức nhận ra người đàn ông đẹp trai có khuôn mặt ngọt ngào đó.
“Này, tôi biết anh! Chúng ta đã tham gia một chương trình cùng nhau!”
“Phải rồi, chương trình Roundup, nhiều năm về trước. Dạo này cô thế nào rồi?”
Tôi nhún vai. “Ừm. Tôi đang điều trị ở đây, anh thấy không?”
“Tôi biết, nhưng đây là một nơi thực sự tốt. Họ sẽ chăm sóc cho cô. Nghe này, chúng ta có thể trò chuyện nhiều hay ít tùy ý cô, bất cứ khi nào cô muốn hoặc không bao giờ. Nếu cô không thoải mái khi tôi ở đây, tôi có thể dễ dàng chuyển sang đơn vị khác, không vấn đề gì cả. Chỉ cần nói cho tôi biết, hoặc nói với y tá trưởng, được chứ?”
“Không, không sao đâu. Thực ra tôi rất vui khi gặp được một gương mặt thân quen.
Và thật tuyệt khi nhớ đến Roundup. Đó là một khoảng thời gian đẹp.”
Các cuộc gặp mặt cai nghiện của khu phòng bệnh đã gợi lại nhiều khẩu hiệu và nguyên tắc của chương trình AA, chẳng hạn như đầu hàng và thừa nhận rằng mình bất lực trước một điều gì đó. Đó là nguyên tắc “Ba chữ T”: Thức tỉnh – Thừa nhận – Thực hiện. Tôi đã mất một thời gian dài để nhận thức được mình mang bệnh như thế nào, thậm chí còn lâu hơn để chấp nhận rằng bản thân đang bất lực trước chứng trầm cảm, và sau đó là nhiều thời gian hơn để hành động, để tìm kiếm rất nhiều sự giúp đỡ. Một nguyên tắc khác của AA là phải thực hành lòng biết ơn: tôi đã mất một thời gian dài suy nghĩ ra bất cứ điều gì để cảm thấy biết ơn khi bị nhốt trong bệnh viện tâm thần, cho đến khi tôi nhận ra mình đã may mắn như thế nào so với tất cả những vụ tự tử bi thảm mà tôi đã chứng kiến trong lúc còn làm việc. Tôi đã sống.
Sau khoảng 6 tuần, tôi nhận thấy một điều – khiếu hài hước của tôi đang quay trở lại. Khi ngồi trong phòng sinh hoạt chung, tôi nhớ lúc còn ở trong tòa nhà kiểu Ralph Lauren, họ đã đưa chúng tôi đi bộ đến khu cai nghiện, nơi có một bể bơi và một cửa hàng quà lưu niệm. Họ bán đồ ăn vặt, móc chìa khóa và áo phông xanh có dòng chữ: “Tôi đã leo lên đồi”, ám chỉ việc tỉnh táo ở Silver Hill. Tôi nghĩ về việc tổ chức một trận bóng mềm, đội của Khu cai nghiện đấu với đội của Khu điều trị tâm thần, và áo phông của đơn vị chúng tôi sẽ trông như thế nào. Có thể đó sẽ là một chiếc áo màu đen với tia chớp trên đó và khẩu hiệu kiểu: “Vậy thì sao? Hôm nay tôi đã ra khỏi giường.” Tôi cười thầm một mình, thích thú nghĩ về nhóm “NBNTTTT” nho nhỏ của chúng tôi – Những Bệnh Nhân Tâm Thần Thứ Thiệt. Một lần nữa, tôi tự hào là thành viên của một nhóm gồm những người mạnh mẽ và thú vị. Những người sống sót.
Dần dần, tôi trở lại là chính mình. Ăn uống, nói chuyện, tham gia cùng những người khác. Tôi đã nghĩ ra những câu đùa khi ở trong nhóm và các nhân viên đã ghi chú lại điều đó. Một nhà trị liệu giải trí đề cập đến việc tổ chức một giải đấu cầu lông, và tôi lẩm bẩm: “Chắc chắn rồi, người rối loạn lưỡng cực[*] đấu với người trầm cảm. Ván đấu sẽ được bù trừ và hòa nhau trong một nửa thời gian.”
Tôi biết mình đang khá hơn vì tôi đã tự làm mình cười, và ngay sau đó tôi đã cầu xin một nhân viên an sinh xã hội: “Làm ơn đưa tôi ra khỏi đây.”
Hai tháng sau đó, tôi đã hoàn thành việc điều trị.
Tôi không biết điều gì đã làm mình phát điên: công việc của tôi hay việc tôi đánh mất nó. Cũng có khả năng là sự kết hợp của cả hai. Tôi chắc chắn đã mắc PTSD, từ tất cả những gì tôi đã thấy và làm, nhưng tôi cũng đã mắc sai lầm khi để công việc định nghĩa con người của mình. Toàn bộ danh tính của tôi được gói gọn trong sự nghiệp, khi mất việc, tôi đánh mất chính mình. Trong chương trình cai nghiện AA, người ta nói: “Bạn không phải là công việc mà bạn làm, bạn là một con người đang sống.” Nhưng tôi đã quên mất điều đó. Bây giờ tôi phải xây dựng lại bản thân mình với tư cách là Barbara, bất kể cô ấy là ai. Để ăn mừng điều đó, tôi đã đặt tên cho doanh nghiệp của mình là Công ty Barbara F. Butcher và cộng sự, mặc dù chữ cái đầu trong tên đệm của tôi là A. Chữ F là dành cho Barbara “Fuckin” (chết tiệt) Butcher.
Cô ấy đã trở lại rồi đây.