Người Chết Không Nói Dối

Lượt đọc: 2154 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8

Hai năm sau chúng tôi đón chào một thành viên mới, Anna. Con bé không bị dị ứng sữa và dễ nuôi hơn rất nhiều so với Chris, hoặc đó là vì chúng tôi đã dần học được cách thích nghi và cũng có nhiều kinh nghiệm hơn so với lần đầu tiên nuôi con.

Khi Anna ra đời, lần khám nghiệm tử thi đầu tiên của tôi đã là quá khứ xa xôi nào đó. Ngay sau khi tôi đỗ các kỳ sát hạch chuyên ngành bệnh học, tôi tăng tốc, thu thập thêm kỹ năng từ công việc tại khắp nhà xác ở London, từ Wembley đến Finchley đến Tooting.

Tôi đến sở một buổi sáng, thấy xác người quá cố đã chờ sẵn. Đây không phải những cái chết bất thường. Đa số có nguyên nhân tử vong được tin là tự nhiên, công việc của tôi sẽ xác nhận lại điều đó.

Rất nhiều ca tử vong có nguyên nhân rõ ràng. Nếu có thứ gì đó trông như một quả lý chua nho nhỏ giống thạch nằm trong não? Một ca đột quỵ. Bệnh tim nặng? Ca đó thường chỉ cần một vết rạch động mạch vành là sẽ thấy những mảng bám đầy bên trong, hoặc rạch mở tim sẽ thấy một van tim bị tắc, những vết bầm mờ của cơ tim thiếu oxy. Cũng có thể nhanh chóng kiểm tra hai quả thận, phổi, lá lách, gan, mật, túi mật, tuyến tụy, bao tử và ruột. Khám nghiệm tim thường mất thời gian hơn một chút, với cổ họng, cổ, thanh quản và cuống phổi cũng thế.

Tôi nhớ đó là quãng thời gian có rất nhiều thay đổi đối với những người hành nghề khám nghiệm tử thi. Thời gian trung bình để các chuyên gia pháp y tiền nhiệm, bao gồm cả người hùng của tôi Giáo sư Keith Simpson đưa ra nguyên nhân tử vong cho những ca không mang tính hình sự sẽ gây sốc với tất cả các chuyên gia pháp y ngày nay: thường chỉ mười lăm phút. Một phần vì các nhân viên nhà xác tiết kiệm thời gian bằng cách chuẩn bị sẵn thi thể, di dời phủ tạng sang bên sẵn sàng cho việc khám nghiệm trước khi chuyên viên pháp y đến. Cách làm việc đó vẫn còn phổ biến khi tôi bắt đầu sự nghiệp. Khi nguyên nhân tử vong đã được tìm ra, người ta chỉ ghi chép sơ về các bộ phận còn lại để chuyển sang nạn nhân tiếp theo. Các chuyên gia bệnh học truyền thống cho rằng khi nguyên nhân tử vong là tim, không cần thiết phải cân đo hai quả thận làm gì. Và báo cáo chiếu lệ của chuyên viên điều tra hiện trường được chính phủ công bố thường chỉ dài một trang giấy.

Dĩ nhiên điều này dẫn đến những lời đồn đoán hậu trường về các chuyên gia bệnh học pháp y, khi chỉ nhìn vào phần tim, thấy nó có bệnh liền tuyên bố đó là nguyên nhân tử vong và không xem xét thêm nữa. Họ quên mất một điều rằng rất nhiều người phương Tây mắc chứng xơ vữa động mạch, và rất nhiều người đang đi dạo nhởn nhơ ngoài đường kia cũng có mức độ động mạch xơ vữa giống với thi thể nằm đây. Không ai biết chắc số lượng bác sĩ pháp y nhanh nhảu đoảng đang hành nghề, nhưng có một mối nghi ngờ mãnh liệt về số lượng kết quả bệnh tim đã qua chẩn đoán này góp phần bóp méo các số liệu thống kê của chính phủ về nguyên nhân tử vong.

Những ngày tháng đó đã qua trước khi tôi đủ lông đủ cánh trong nghề. Không phải chỉ vì tôi đã được đào tạo kỹ càng để khám nghiệm toàn bộ thi thể thật kỹ lưỡng, mà vì sâu thẳm bên trong tôi luôn có một chuyên gia pháp y vẫy vùng muốn được cất lên tiếng nói. Tôi luôn nóng lòng tìm hiểu liệu một cái chết có đáng nghi ngờ hơn những dấu hiệu ban đầu không. Tôi cũng lo lắng tìm cách giải thích các nguyên nhân phức tạp đằng sau, gián tiếp gây nên cái chết.

Nhưng khó khăn làm sao cho vị bác sĩ Shepherd non choẹt, chân ướt chân ráo bước vào các nhà xác truyền thống lâu đời để thực hành những kỹ thuật mới mẻ vừa được truyền đạt. Nó bao gồm các phương pháp khám nghiệm bên ngoài thi thể trước khi nhân viên nhà xác chạm vào, cách cân đo mỗi bộ phận phủ tạng, cách lấy mẫu để kiểm tra độc học, cách ghi chép kết quả khám nghiệm... Các nhân viên kỳ cựu không thích những điều này chút nào. “Vương quốc” của họ được đặt phía sau những khu nghĩa trang tăm tối, và các nhân viên lớn tuổi đã làm việc ở đó rất nhiều năm cũng quen với cung cách làm việc cũ. Tôi chẳng phải mất công “nghe lén” nhiều mới biết được họ thì thầm về “thằng nhóc mới đến” và “những ngày tươi đẹp đã qua”. Đôi khi nếu tôi cương quyết được theo đuổi một vụ án họ cho rằng chỉ là thủ tục, họ sẽ giận dữ và không cho phép tôi làm điều đó. Quả là sự trừng phạt ác độc, nhưng hiếm khi kéo dài lâu.

Tuy nhiên tôi cũng học được nhiều từ những tư duy cổ hủ đó. Những “lang băm” chỉ chăm chăm đi tìm dấu hiệu bất thường đầu tiên để vịn vào đó và kết luận nguyên nhân tử vong, giúp “bác sĩ non choẹt” Shepherd hiểu thêm về sức thiên biến vạn hóa của sự thật. Sự thật lấy kiến thức làm nền tảng, vì thế nó cũng có thể bị bóp méo bởi những kiến thức còn thiếu sót. Là một bác sĩ, tôi truy vấn sự thật từ những sự kiện có thật. Là một bác sĩ bệnh học, giờ đây tôi hiểu rằng sự thật tôi hằng tìm kiếm có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những lựa chọn của mình, bởi số lượng những sự kiện có thật mà tôi chọn nghiên cứu. Đó là bước đầu tiên trong hành trình suốt đời tôi theo đuổi để đánh vật với căn tính của sự thật.

Tiến hành thận trọng nhất có thể càng nhiều ca khám nghiệm tử thi, luôn cảnh giác tìm ra các ca bất thường và giết người, giờ đây tôi đã hiểu thêm nhiều về cơ thể người, nhược điểm của nó, cũng như cách tôi thuộc lòng bản đồ tàu điện ngầm London – nếu không muốn nói còn kỹ hơn cả thuộc lòng. Vào những năm tháng đó, tôi liên tục bận rộn: học thêm, dạy sinh viên y khoa, và dĩ nhiên, khám nghiệm tử thi. Cái chết đã trở thành một phần cuộc sống, và trong giai đoạn tiếp theo của quá trình đào tạo, tôi dành nhiều thời gian ngoài nhà xác để nghiên cứu các mẫu bệnh phẩm của con người dưới kính hiển vi.

Đầy phiền muộn, tôi lẻn ra khỏi phòng thí nghiệm bất cứ lúc nào có thể để được ngồi trong văn phòng của người bạn lớn, người thầy, bác sĩ pháp y Rufus Crompton. Ông không những đã giúp tôi trong những bước chập chững đầu tiên mà còn cho phép tôi nghiên cứu từng chồng hình ảnh hiện trường của phía cảnh sát mà ông có, đọc báo cáo, và để tôi được chìm đắm trong tất cả mọi thứ về pháp y: hiện trường, các vết thương, những lời bào chữa và giải thích từ phía bị cáo, những lời khai của nhân chứng, tất cả mọi thứ. Chỉ để tôi nhắc nhở chính mình rằng tôi sẽ không phải nhìn chằm chằm các mẫu bệnh phẩm mà không có lối ra. Và sau cùng, tôi cũng được bắt đầu tiến hành khám nghiệm tử thi ca tử vong bất thường, kiểu những ca mà chuyên viên điều tra hiện trường sẽ mở phiên thẩm tra chính thức, và cảnh sát sẽ vào cuộc điều tra.

Sau cùng, mười sáu năm sau khi tôi bước vào con đường y khoa, khi con trai tôi lên sáu tuổi và con gái tôi được bốn, tôi mới đạt đủ điều kiện hành nghề. Giờ tôi đã là một bác sĩ pháp y. Mục tiêu ngày còn bé mà tôi đặt ra khi chăm chú đọc những trang sách của Simpson giờ đã thành toại. Nhưng dĩ nhiên tất cả chỉ là sự khởi đầu.

Công việc đầu tiên của tôi ở Bệnh viện Guy’s. Sếp của tôi là Iain West, thủ lĩnh trong lĩnh vực này. Sau bất cứ vụ giết người hay thảm họa nào, khoa của ông ấy là địa chỉ đầu tiên phía cảnh sát, chuyên viên điều tra hiện trường hoặc luật sư gõ cửa. Thậm chí còn thú vị hơn nhiều khi đây cũng chính là nơi người hùng của tôi, Giáo sư Keith Simpson từng công tác.

Có tất cả bốn chuyên viên pháp y, chúng tôi hầu như lúc nào cũng chuẩn bị làm nhiệm vụ, nhưng thực tế chúng tôi sẽ phân chia công việc với nhau. Những vụ ít thú vị hơn, những vụ không phức tạp về mặt y khoa hay pháp y thường được chuyển xuống phía dưới. Với tư cách lính mới, vị trí phía dưới đó không ai khác chính là tôi.

Khi không có vụ án mạng nào để khám nghiệm, chúng tôi đi dạy các sinh viên y khoa hoặc những nhóm khán thính giả chuyên môn, chẳng hạn phía cảnh sát hoặc các phòng ban chuyên trách điều tra. Sinh viên phần lớn đều năm tư đại học, đối với đa số họ, các nội dung huấn luyện này thuộc về một thế giới hoàn toàn khác những gì ngôi nhà ấm áp của họ vẫn bảo bọc. Hiếp dâm, giết người, các vụ tấn công, họ háo hức trước thế giới quan mới mẻ đó và giảng đường chật kín. Sinh viên ngồi tràn ra hành lang hoặc đứng ở phía sau. Họ không những được học về sự sống mà cả về những ngu dốt chết người, phi nhân dẫn tới tử vong, và tôi hy vọng họ học được một ít khái niệm để có thể biết khi nào một cái chết không còn mang tính chất bình thường.

Thật vinh dự khi được chia sẻ trong những căn phòng đầy nhiệt huyết học tập đó. Nhưng kỳ thực chúng tôi dành thời gian để giảng dạy ít hơn rất nhiều so với thời gian thực tế dành cho khám nghiệm tử thi. London dường như được “tưới tẩm” bởi những vụ giết người, không thì cũng là những ca tử vong bất ngờ đầy hồ nghi. Chúng tôi có những buổi họp tại văn phòng, sục sạo các tấm ảnh hiện trường, tranh luận về những vụ án, rồi tiếp tục lôi nhau ra bàn luận ở quán bia, đôi khi lôi theo cả giới luật sư và cảnh sát nữa. Năng lượng sống sôi sục khắp nơi.

Dĩ nhiên tôi xử lý những vụ án đầu tiên của mình dù đơn giản đến mấy bằng tất cả sự tập trung, nghiêm túc cao độ dưới hướng dẫn của Iain và các đồng nghiệp khác. Rồi ngày đó cũng đến, ngày tôi được gọi một mình đến hiện trường với tư cách giảng viên pháp y tại Bệnh viện Guy’s. Vì mọi người quá bận rộn, tôi được nhận vụ án đó nhanh chóng. Thật khó để diễn tả sự tự hào trong bước chân khi tôi lên đường đến một dãy nhà xám xịt ở Croydon, nơi một thi thể đang chờ mình. Hãnh diện, và không một gợn lo lắng.

Hôm đó là ngày trong tuần, giữa buổi sáng. Tim tôi đập nhanh do cố gắng tỏ ra là chuyên viên pháp y không còn xa lạ gì với những khung cảnh hiện trường này.

Nằm giữa những vòng tròn người và dải băng hiện trường của cảnh sát là một thanh niên da trắng. Một nhiếp ảnh gia hiện trường của Cảnh sát Đô thị đang bận rộn tác nghiệp nhưng dừng lại khi tôi cúi xuống kiểm tra thi thể.

Người đã khuất nằm ngửa, tôi không thấy vết thương nào nghiêm trọng ngoài vài vết cắt và vết trầy trên gương mặt cậu ta. Nhưng tôi biết mọi sự tệ hơn thế nhiều vì dưới người cậu ta là một vũng máu.

Tôi nhoài người kiểm tra, cậu ta vẫn còn ấm, cơ thể chưa co cứng mặc dù các cơ đã bắt đầu co lại, dễ thấy nhất là phần quanh cổ và hàm cũng như các ngón tay.

Tôi lật cậu ta lại. Trên áo khoác dày cậu ta mặc có một lỗ đâm xuyên lưng, cũng là nơi máu tuôn ra. Tôi đặt thi thể lại đúng nguyên trạng ban đầu.

Khi nhiếp ảnh gia làm việc, tôi tiếp tục ghi chép báo cáo khám nghiệm tử thi. Trong đó, tôi phải mô tả hiện trường và những thứ tôi tìm được, tiếp đến là báo cáo chi tiết toàn bộ quá trình khám nghiệm tử thi trong nhà xác, sau cùng là kết luận nguyên nhân tử vong. Phần cuối cùng đó hy vọng không quá phức tạp vì máu vẫn còn nhỏ ra từ áo khoác người thanh niên. Tuy nhiên, sẽ còn rất nhiều việc phải làm từ giờ cho đến khi tôi có được kết luận sau cùng.

Nạn nhân chưa được nhận diện nên chúng tôi lập biên bản với tên gọi “Anh chàng da trắng trẻ tuổi”. Cậu ta tầm mười tám tuổi, mảnh khảnh, có thể nói là đẹp trai. Tôi vẽ lại những gì mình thấy, ghi chú lại vị trí các vết máu trên mặt đường và lề đường bên cạnh. Tôi cũng ghi lại các chi tiết khác tại hiện trường, gồm cả quần áo nạn nhân, vị trí thi thể nằm. Trong báo cáo khám nghiệm tử thi, tôi viết đầy đủ như sau:

Sự co cứng tử thi xuất hiện quanh cổ và hàm nhưng chưa xuất hiện rõ ở những vùng khác trên cơ thể. Những phát hiện này nhất quán với thời điểm tử vong khoảng 3 giờ trước.

Vẫn cố gắng cho lời lẽ của mình nghe có trọng lượng và như thể đây không phải ca đầu tiên của mình, tôi yêu cầu chuyên viên điều tra chuyển thi thể về nhà xác. Tôi đi theo, nhiều cảnh sát và một chánh thanh tra cũng đi cùng. Hôm nay đọc lại điều này trong bản tường trình của mình, tôi thấy nghi hoặc, đời nào một chánh thanh tra lại ra mặt trong một vụ đâm chém trên đường.

Lại tiếp tục chụp ảnh thi thể ở nhà xác, tôi ghi cặn kẽ các chi tiết về quần áo của nạn nhân trước khi đi vào chi tiết thi thể.

Áo khoác: đẫm máu ở bên trái sau lưng. Đất cát từ mặt đường cũng dính vào. Ba vết thủng nhận thấy được trên lớp vải. Vết thủng thứ nhất: 8cm bên trái đường may giữa ngực và 21cm từ cổ áo, dài 8mm, gần như nằm ngang. Vết thủng thứ hai: 12cm bên phải đường may giữa ngực, khoảng 21cm từ cổ áo, dài 16mm, thẳng đứng. Vết thủng thứ 3: 3,5cm bên dưới đường may cạnh tay áo phải, dài 18mm, nằm ngang.

Áo trong: dấu máu ở bên trái sau lưng. Cũng ba vết thủng trên vải...

Máu chảy lên phần sau thắt lưng quần jeans, quần đùi và quần lót. Máu văng lên phần dưới quần jeans ở phía sau...

Sau khi tôi hoàn tất ghi chép về quần áo nạn nhân, chúng được cởi bỏ, đặt vào những túi vật chứng riêng biệt, sau đó được cảnh sát dán nhãn.

Khi nạn nhân nằm lõa thể trên bàn khám nghiệm, tôi mới thấy những vết thương nặng như thế nào. Ba vết đâm sau lưng, trong đó một nhát chí mạng, rồi chín vết thương nặng khác vào phần bụng và mặt. Trong bản ghi chú của tôi là sơ đồ cơ thể người, tôi vẽ vị trí các vết thương, đánh số và miêu tả chi tiết như sau:

Năm vết thương phía trái khuôn mặt:

(i) Vết dập đường kính 3mm ngay phía trên chân mày trái.

(ii) Vết rách da theo đường cong 10mm nối vết dập trên chân mày trái với mí mắt trái.

(iii) Vết trầy 20 x 22mm trên xương gò má trái, đã se mặt...

Các vết rách da khác những vết thương cắt bằng dao. Đối với vết rách, da bị xé toạc thay vì được xẻ gọn ghẽ, thường do vũ khí cùn gây ra. Không nhiều người xem mặt đường hay lề đường là vũ khí nhưng nếu một cơ thể người nện vào đó, hậu quả để lại trên cơ thể người đó là biến những thứ kia thành vũ khí. Trong trường hợp này, tôi nghĩ các vết rách da bị gây ra khi nạn nhân ngã đập đầu vào lề đường.

Những vết trầy trên da là các vết cào hay vết sượt, hiếm khi xuyên qua lớp biểu bì. Do đó chúng thường không chảy máu, nhưng có thể rỉ máu dưới dạng những giọt tụ. Chúng thường thấy nhiều trong các vụ tai nạn giao thông, khi cơ thể bị chà xát xuống mặt đường. Các vết sượt cũng thường thấy hằng ngày, nhưng điều khiến chúng trở nên thú vị trong pháp y là có thể xảy ra sau khi nạn nhân qua đời. Cứ cho là người thanh niên này đã bị kéo lê trên mặt đường, gây ra những vết trầy da nhưng không dễ để xác định chính là cậu ta đã bị kéo lê trước hay sau khi bị sát hại.

Các vết dập thực chất là các vết bầm. Tổn thương xảy ra với tĩnh mạch và động mạch khiến chúng bị vỡ, chảy máu. Da trẻ nhỏ đàn hồi hơn, do đó ít xuất hiện bầm tím hơn da người lớn. Tuy nhiên những vết bầm có thể gây ra nhiều nhầm lẫn vì thành phần chính của chúng là máu, và máu là chất lỏng, còn dễ phân hủy sinh học. Kết quả các vết bầm thay đổi theo thời gian dưới tác động của trọng lực. Dễ thấy nhất là chúng đổi màu, vì khi máu thoát ra khỏi sự kìm tỏa của các mạch máu, cơ thể sẽ nghiền nhỏ chúng. Các vết bầm thường chuyển từ màu tím sang vàng, xanh lá và nâu. Đã có nhiều nghiên cứu về khung thời gian của các vết bầm, sẽ rất hữu ích nếu có một hệ thống đáng tin cậy phân tích những điều này, nhưng không may, chẳng có hệ thống nào cả.

Mọi thứ trở nên bối rối nếu những vết bầm rõ nét hơn sau khi nạn nhân qua đời, thậm chí những vết bầm mới còn xuất hiện vài ngày, thậm chí vài tuần sau khi nạn nhân qua đời. Điều đó không có nghĩa nạn nhân bị thương tại nhà xác, mà chỉ là dấu hiệu các tế bào hồng cầu lọt qua thành mạch máu tổn thương, bị trọng lực kéo xuống dưới thay vì được huyết áp đẩy lên.

Phải mất một lúc lâu để hoàn thành bản mô tả các vết thương bên ngoài của nạn nhân. Khi tôi hoàn thành công việc, tôi nhìn lên, chớp mắt, những viên cảnh sát ở đó cũng chớp mắt nhìn tôi. Rồi tôi dừng lại, nhớ phải làm gì tiếp theo.

Thời điểm đó tôi không thấy xấu hổ tí nào khi phải dừng lại suy nghĩ nhưng tôi muốn tỏ ra có kinh nghiệm, vì vậy tôi giả vờ ghi chú trong sổ tay để câu giờ. Ước gì mấy nhân viên nhà xác bật Radio 1 nhưng tôi xấu hổ không dám yêu cầu.

Ca sĩ Chris de Burgh đang hát về một người đàn bà mặc chiếc váy đỏ.

Tôi cố tập trung. À dĩ nhiên rồi, tiếp theo là quết mẫu phẩm từ bộ phận sinh dục, hậu môn và miệng để các chuyên gia có thể tìm ra dấu vết của xâm hại tình dục.

“Có ai tắt thứ âm thanh hổ lốn đó đi giúp tôi được không?” Viên chánh thanh tra lên tiếng.

Các nhân viên không mấy vui nhưng họ cũng làm theo, tôi thở phào. Giờ thì căn phòng trở nên im lặng đáng sợ, tôi lấy mẫu tóc và móng tay của người thanh niên, những thứ có thể tiết lộ thông tin về những nơi, những vật, hoặc những người liên quan đến vụ sát hại. Cuối buổi khám nghiệm, tôi lấy mẫu máu, nước tiểu và mô, bất cứ thứ gì có liên quan.

Tất cả các mẫu bệnh phẩm đều được dán nhãn tên viết tắt của tôi và một chữ số (RTS/1). Tôi viết từng miếng nhãn dán bằng niềm hãnh diện của một thằng nhóc mới lớn. Suốt ba mươi năm, bộ ba chữ cái đó đã mang dấu ấn của tôi trong nhiều vụ án, nhưng ngày hôm ấy, lần đầu tiên tôi viết chúng, chúng sắc bén và mới mẻ, như bộ đồng phục được mặc đầu học kỳ mới.

Tất cả mọi người trong phòng đều chờ tôi bắt đầu khám nghiệm phủ tạng. Một nhiệm vụ ít người biết đến của cảnh sát là quan sát quy trình khám nghiệm tử thi. Viên chánh thanh tra đã chứng kiến nhiều vụ nhưng đối với viên cảnh sát trẻ, đây là lần đầu. Khi tôi khám nghiệm bên ngoài, cậu ấy trông đã rất đau khổ rồi nên lúc tôi nhấc con dao mổ lên, cậu ấy xám ngắt như sắp chết.

“Ổn không anh bạn?” Viên chánh thanh tra hỏi.

Cậu ấy gật đầu yếu ớt.

Tôi cố gắng nghĩ điều gì đó để nói, giúp cậu ấy cảm thấy khá hơn, nhưng không thể, tôi còn đang bận cố gắng ra vẻ như thể tôi đã thực hiện hàng trăm cuộc khám nghiệm tử thi một mình trước đó.

“Ồ, anh sẽ nhanh quen với việc này thôi.” Tôi nói, thảo mai, cốt để che giấu sự lo lắng của mình.

Viên cảnh sát trẻ nuốt nước bọt. Tôi cố nở nụ cười trấn an nhưng bản thân tôi cũng quá căng thẳng, tới nỗi các cơ mặt trông giả tạo đến mức tôi nghi ngờ nụ cười của tôi nhìn nhăn nhở thì đúng hơn, vì viên cảnh sát trẻ không những không cười lại mà còn khiếp đảm hơn. Cho đến khi tôi rạch mở phần bụng tử thi ra, tôi để ý thấy viên cảnh sát trẻ không rời mắt khỏi tôi. Cách cậu ấy nhìn tôi khiến tôi lúng túng tới nỗi vài nhát rạch hơi run rẩy, xiêu vẹo. Tôi liếc nhìn cậu ấy, nhận ra cậu ấy đang đeo một nỗi kinh khiếp trên gương mặt, cậu ấy nhìn tôi trừng trừng cốt để không phải thấy những việc hai tay tôi đang thực hiện.

Tôi rất muốn tìm cách trấn an cậu ấy nhưng chẳng biết làm thế nào. Thậm chí kể cả viên chánh thanh tra và chuyên viên điều tra hiện trường trước đó chào hỏi nhau như những người kỳ cựu đã có mặt trong hàng tỉ vụ, giờ cũng ngừng trò chuyện, quan sát tôi trong sự tĩnh lặng đặc quánh. Thường các nhân viên nhà xác sẽ nhận nhiệm vụ khuấy động không khí một chút bằng câu bông đùa hay lời nhận xét nào đó, nhưng hôm nay họ im lặng lạ kỳ. Sao không ai nói gì cả thế? Nói gì đi chứ?

Vẫn im lặng. Tôi ước có ai đó bật đài lên lại, nhưng đổi kênh khác thì tốt hơn.

Bọn họ chăm chú nhìn khi tôi rà lưỡi dao theo mặt trong vết thương. Khi tôi đang khám nghiệm các vết thương trên mặt nạn nhân từ phía trong lớp da, đột nhiên viên cảnh sát rùng mình mạnh rồi chạy vọt ra khỏi phòng, tay bụm miệng.

“Ô ồ” Viên chánh thanh tra cảm thán. Chuyên viên điều tra hiện trường cười. Rồi im lặng lại bao trùm lên tất cả.

Tôi tiến hành những vết rạch đúng quy trình trên phủ tạng nạn nhân rồi kiểm tra các vết nứt, rạn xương. Kiểm tra xem có những nguyên nhân nào khác bồi vào việc tử vong hay không là rất cần thiết. Người thanh niên này khỏe mạnh và mọi thứ đều hoàn hảo, dĩ nhiên chỉ trừ sự thật anh ta giờ đã là người cõi âm.

Tôi mừng vì cuối cùng buổi khám nghiệm cũng xong và tự hỏi lý do vì sao không khí hôm nay lại kỳ lạ, khác hẳn với những buổi khám nghiệm tôi từng dự trước đó như thế. Không hẳn không khí thông thường náo nhiệt vui vẻ hơn, nhưng chí ít cũng có sự gắn kết thân tình, thứ hoàn toàn thiếu vắng ngày hôm nay. Vấn đề là gì nhỉ?

Về lại văn phòng, tôi bắt đầu thảo bản báo cáo của mình:

Vết dao đâm l nằm cách đường giữa thân 6cm về bên trái ở mặt lưng... Cạnh trên vết thương bị một vết đâm sắc nhọn, cạnh dưới bị rách toạc... chiều dài vết thương đo được 26mm... Đường đi của vết thương kéo dài từ xương sườn thứ 5 và của màng phổi trái... Vết hung khí sau đó cho thấy đã đi vào thùy trái phía trên, hướng về phía trước ngực tại đường giữa thân. Hung khí tác động theo phương ngang, đâm vào thùy trên phổi rồi cứa rách động mạch phổi trái... vết rạch này dài 40mm, hơn 1 lít máu đã đông bán phần tích tụ ở màng phổi trái... Không thấy vết bầm nào ở phần da cạnh vết thương.

Bên trong cơ thể nạn nhân, vết thương dài gần gấp đôi những gì có thể nhìn thấy bên ngoài. Tôi kèm nó trong bản phân tích.

Đường đi của vết thương xuyên qua các thớ cơ lưng cho thấy tay trái đã phải giơ cao vào thời điểm nạn nhân bị đâm. Khác biệt giữa vết nội thương và ngoại thương cho thấy có sự dịch chuyển xảy ra khi hung khí đã nằm trong lồng ngực nạn nhân.

Sự dịch chuyển này quả đáng kể, rõ ràng đó là tình huống đầy bạo động như nhiều vụ đâm chém khác. Hoặc nạn nhân, hoặc kẻ thủ ác đã dịch chuyển khá nhiều, hoặc họ đều đứng yên nhưng hung khí tự dịch chuyển khi đã cắm vào người nạn nhân. Đôi khi những sự dịch chuyển này chỉ bị phát hiện sau đó, tất cả đều phải được ghi chép cẩn thận.

Tôi ghi chép lại cẩn thận về hai vết thương khác chỉ đâm vào phần mềm của lưng. Rồi tôi đánh số những chấn thương cùn (*) gây ra ở phần mặt bên trái.

Rồi còn những vết xước, rách và vết dập ngoài da. Thêm cả những vết đâm. Tuy nhiên đáng nói là không hề có những vết thương do tự vệ. Các vết thương do tự vệ thường rất dễ nhận biết: trong một vụ tấn công bằng dao, lòng bàn tay và các ngón tay có thể bị cứa rách do nạn nhân cố nắm lấy lưỡi dao với nỗ lực tự vệ tuyệt vọng. Người thanh niên này không hề có những vết thương do tự vệ vì kẻ thủ ác tấn công từ phía sau.

Giờ là phần kết luận của bản báo cáo pháp y. Phần mà đa số những tay ngang sẽ xem đầu tiên, cảnh sát và thân nhân chẳng hạn. Đây là phần họ có thể hiểu được.

Tôi biết rõ mẫu đơn. Đầu tiên phải loại trừ các khả năng nạn nhân tử vong do nguyên nhân tự nhiên. Tiếp theo tôi phải đưa ra nguyên nhân tử vong chính xác và thời gian dẫn đến cái chết của nạn nhân, những nhận xét hữu ích về loại hung khí, các sự kiện xảy ra ngay trước thời điểm tử vong. Đây là phần mang tính pháp lý, nếu nhận được đồng thuận, sẽ xuất hiện trên giấy chứng tử.

Tôi viết như sau:

Nguyên nhân tử vong không phải do tự nhiên. Nhát đâm I... đã gây ra xuất huyết. Việc tử vong chỉ còn là vấn đề thời gian. Các biểu hiện của vết thương phù hợp với một loại hung khí có một cạnh cắt, rộng khoảng 18 đến 20mm và khoảng 15 đến 17cm tính từ mũi. Hung khí là một vật dài ít nhất 15cm, rất nhiều khả năng có một mũi sắc nhọn.

Những vết thương bên phải và các vết thương từ (i) tới (iv) bên trái nhất quán với một cú đập hay va chạm mạnh với một mặt phẳng cứng. Khả năng gây ra do ngã xuống mặt đường khó có thể xảy ra, nhưng không hoàn toàn bị loại trừ. Các vết thương trên xuất hiện một thời gian ngắn trước khi xảy ra vết thương (v) ở phía trái khuôn mặt. Vết thương này phù hợp với va đập cơ thể vào một mặt phẳng cứng.

Nguyên nhân tử vong:

1a. Xuất huyết.

1b. Bị đâm vào phần ngực.

Vụ phạm tội này dẫu đã gây ra chấn thương tâm lý cho gia đình nạn nhân, kỳ thực lại là một vụ án xảy ra hằng ngày với các bác sĩ pháp y. Báo cáo này dù không phải bản dài nhất hay chi tiết nhất tôi từng soạn thảo, nhưng tôi nghĩ phải nửa đêm tôi mới hoàn thành.

Sau khi cậu ta được nhận diện chính thức, tôi có thể dùng tên cậu ta trong báo cáo, nhưng ngoài điều chắc chắn đó ra, tôi trải qua một nỗi hồ nghi trước mọi suy luận của mình. Liệu tôi có phỏng đoán quá đà không? Tôi chắc chắn bao nhiêu phần trăm về nguyên nhân gây ra những vết thương trên mặt cậu ta? Liệu tôi có nên đưa ra những lời giải thích về quá trình hung khí dịch chuyển trong lồng ngực nạn nhân không? Và lời lẽ của tôi đã đủ tự tin chưa? Tôi không muốn khi cảnh sát giải nghi phạm đến trước vành móng ngựa, tôi sẽ bị luật sư bị cáo hỏi: “Bác sĩ Shepherd hãy cho chúng tôi biết anh đã thực hiện bao nhiêu cuộc khám nghiệm tử thi một mình trước đây rồi? Gì cơ? Chưa bao giờ?”

Dù vừa mới bắt đầu sự nghiệp, tôi đã kịp hiểu rằng mỗi phiên tòa là một bãi mìn chờ phát nổ. Soạn báo cáo khám nghiệm pháp y ở văn phòng yên tĩnh là một chuyện, phát biểu nó trước phiên tòa với tư cách nhân chứng chuyên môn, dưới nhiều làn đạn lại là việc hoàn toàn khác. Tôi đã được nghe nhiều câu chuyện của đồng nghiệp, vì thế tôi nửa mong ngóng, nửa sợ hãi trước viễn cảnh làm nhân chứng ở tòa.

Không bao lâu sau, phía cảnh sát bắt đầu tra hỏi một nghi phạm sau vụ đâm chém ở Croydon. Một người đàn ông tầm ba mươi tuổi, không có liên hệ gì trước đó với nạn nhân. Người thanh niên tội nghiệp chỉ đến gặp hắn ta ở một gara xe cũ bị bỏ hoang để mua chiếc radio xe ăn cắp.

Cảnh sát yêu cầu tôi kiểm chứng lời khai của nghi phạm, chúng tôi thống nhất rằng tốt hơn hết nên tiến hành việc này tại hiện trường. Vì thế vài ngày sau đó, cùng viên chánh thanh tra, lần này có thêm điều tra viên và hạ sĩ quan thanh tra, tôi trở lại Croydon.

Chúng tôi đứng trước một dãy gara bạc thếch, sơn tróc nham nhở.

“Nghi phạm khai rằng người thanh niên đó đã bị đâm sau khi rời khỏi gara này, cậu ta bị đâm gần nơi chúng ta tìm thấy xác” Viên chánh thanh tra nói.

Tôi nói: “Không có dấu máu trong gara nên có khả năng điều này là thật.”

Trông họ thất vọng. Đó không phải lần đầu tiên tôi khiến phía thanh tra thất vọng.

“Chúng tôi nghĩ nghi phạm đâm nạn nhân ngay tại đây, nhưng không có vết máu bên ngoài gara, cũng không có trên mặt đường hay phía dưới thi thể.”

Tôi thấy mình quan trọng, tôi thấy mình như Simpson. Được hai viên cảnh sát cấp cao theo sát, tôi đo tốc độ và quãng đường (100 bước) thật chậm rãi, đúng theo tốc độ một người bị trọng thương ở phổi và đang chết dần (53 giây), không quên di chuyển thật chậm ở đoạn đường cuối cùng khi nạn nhân hụt hơi và chóng mặt dần.

Tôi quay sang phía thanh tra.

“Có lẽ các anh đúng, cậu ta có thể đã bị đâm ở gara rồi lê bước ra đường, nơi chúng ta tìm thấy xác.”

Họ mỉm cười.

Tôi viết trong báo cáo:

Theo ý kiến của tôi, hoàn toàn có khả năng nạn nhân mang trên mình vết thương I tự di chuyển bằng chân qua quãng đường đó trước khi gục chết.

Việc thiếu các vết máu trên đường có thể do hai nguyên nhân: Thứ nhất, ít xuất hiện chảy máu ngoài da ở vết thương I cho đến khi lượng máu ở ngực được bơm tới miệng vết thương đang mở. Thứ hai, nạn nhân mặc áo khoác dày, có thể nó đã thấm hút một lượng máu lớn.

Tôi không cần lo lắng nhiều về phiên tòa tôi sẽ phải làm chứng. Phiên đầu tiên bị bãi thậm chí trước khi tôi có thể đưa ra chứng cứ, vì sự cố kỹ thuật. Vào thời điểm phiên tòa họp lại, tôi đã trở thành tay kỳ cựu với quá nhiều kinh nghiệm khám nghiệm các ca giết người, và luật sư bị cáo không hề hay biết đó là bản báo cáo đầu tiên của tôi.

Tôi đưa lời khai, quá trình kiểm tra chéo diễn ra suôn sẻ.

Mọi việc quá rõ ràng với tôi. Tôi đã thấy bằng chứng chống lại bị cáo và cho rằng mọi thứ rất thuyết phục. Ba vết đâm bao gồm một vết đâm chí mạng thủng phổi sẽ cho cánh báo lá cải cơ hội dùng từ yêu thích của họ để giật tít: cuồng sát. Từ này cũng được bên khởi tố sử dụng với mục đích khiến bồi thẩm đoàn phải cảm thấy ghê tởm.

Do đó, tôi đã rất kinh ngạc khi bị cáo được tuyên trắng án. Rõ ràng bồi thẩm đoàn không hề cảm thấy bị thuyết phục về tội ác của hắn ta, ngoài một sự nghi ngờ hợp lý. Tôi đã lo lắng suốt một thời gian sau đó rằng có điều gì không đúng ở đây. Đó là ca đầu tiên của tôi, lẽ nào tôi đã viết báo cáo không hiệu quả? Tôi chú thích nhầm chỗ nào với bồi thẩm đoàn ư? Tôi chẳng bao giờ biết được.

Rất nhiều năm sau, tình cờ tôi đọc được một bài báo trên tờ Evening Standard khi đang ngồi xe buýt, nhận ra cái tên quen quen từ nhiều năm trước trong báo cáo tòa án. Một thanh niên trẻ, mảnh khảnh cũng bị đâm ba nhát vào phổi bên trái và suýt mất mạng. Nhưng bằng một phép màu nào đó, nạn nhân thoát chết và nhận diện được hung thủ, tiết lộ tên sát nhân có ý định xâm hại tình dục khi tưởng anh ta sắp chết.

Tôi nhớ đến vụ án đầu tiên của mình. Cùng bị cáo, cùng tội ác, nạn nhân khác nhưng may mắn hơn rất nhiều.

Tôi biết bị cáo này và lời buộc tội giết người trước đây. Nhưng bồi thẩm đoàn rõ ràng không biết điều đó khi phán hắn tội cố ý giết người trong vụ này.

« Lùi
Tiến »