Ca thứ hai của tôi lại là một vụ giết người bằng dao. Tối muộn hôm đó, khoảng chín giờ, tôi được triệu tập tới một căn nhà gạch đỏ trong một dãy nhìn cũng xoàng ở London, thoạt trông chẳng cách nào phân biệt được với những căn liền kề nếu không nhờ sự hiện diện của cảnh sát.
Bên trong nội thất lại vô cùng tráng lệ. Vừa vào lối hành lang: máu. Lần theo dấu máu lên lầu, sõng soài dưới chân tôi ngay ngưỡng cửa là một người đàn ông trung niên tóc bạc, trần truồng nằm chết trong vũng máu của chính mình.
Tôi đẩy cửa bước vào. Giấy dán tường màu sắc bợt bạt làm tối căn phòng, vậy mà những món nội thất tối màu, quá khổ, nặng nề còn khiến căn phòng có cảm giác chật chội hơn. Mặc dù vậy, mọi thứ vẫn ở nguyên vị trí. Đồng hồ báo thức. Đài. Những khung hình. Hướng vào giường là một cái tivi nhỏ đặt trên tủ gỗ gụ.
Căn phòng của một người đàn ông sống gọn gàng. Nhưng cuộc sống gọn gàng đó đã đến ngày tàn, còn người đàn ông thì đắm mình trong vũng máu.
Khó lòng lách qua được xác ông ấy. Lưng ông ấy đầy vết máu, máu vẫn rỉ ra từng dòng nhỏ. Máu dính trên tường. Tấm trải phủ gần như nửa chiếc giường cũng không giấu được vết máu to tướng trên ga. Cạnh ổ điện trên sàn nhà là con dao làm bếp cán gỗ, gần như nổi trên vũng máu.
Tôi thận trọng lật thi thể lại. Tôi thấy một vết dao đâm toác miệng trên ngực. Tôi cho rằng có các vết thương khác bị máu che khuất. Rồi tôi đo nhiệt độ. Ông ấy đã ở trong tình trạng lõa thể nên tôi có thể tiến hành các công đoạn rất dễ dàng. Nếu phải cởi bỏ quần áo nạn nhân khi đo thân nhiệt sẽ khiến quy trình pháp y sau đó trở nên rất lộn xộn. Tôi rút kinh nghiệm là trong các trường hợp như vậy, cứ chở xác đến nhà xác rồi lấy nhiệt độ ở đó. Bây giờ, thân nhiệt của người quá cố là 26,6°C.
Viên thám tử vẫn đang nhìn tôi nãy giờ lên tiếng: “Nếu vậy, thời điểm nạn nhân tử vong chính xác là bao giờ, bác sĩ?”
Tim tôi thót lại khi nghe từ “chính xác”. Đó là câu ai cũng hỏi đầu tiên. Đó là câu hỏi ai cũng nghĩ chúng tôi có sẵn câu trả lời trong túi. Đó là câu hỏi mở ra cách biệt khủng khiếp giữa hiểu biết của đại chúng về bác sĩ pháp y và sự thật. Tôi căm mấy gã làm show truyền hình về cảnh sát trên tivi. Sự thật là cực kỳ khó để chúng tôi có thể xác định chuẩn thời điểm tử vong.
Viên thanh tra chờ đợi.
Tôi bảo: “Ừm... Ta không thể chắc chắn đâu...”
Thân nhiệt có thể là chỉ số pháp y tốt nhất để ước lượng thời gian tử vong, nhưng không phải lúc nào cũng là chỉ số đáng tin cậy. Kiến thức căn bản môn Vật lý cho chúng ta biết cơ thể đang nóng sẽ lạnh đi nếu thân nhiệt truyền ra môi trường bên ngoài. Tất nhiên mọi thứ chẳng hề đơn giản như vậy. Khái quát nhất, một cơ thể sẽ lạnh đi trong vòng tám tiếng sau khi chết. Nhưng cũng có khi nhiệt độ thi thể không lạnh đi trong vòng ba mươi sáu tiếng, thậm chí nếu các hoạt động chuyển hóa còn lại vẫn diễn ra thì thi thể sẽ không hạ nhiệt độ bằng nhiệt độ môi trường và nếu tử thi bắt đầu quá trình phân hủy, nhiệt độ cơ thể còn tăng lên.
Có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tốc độ cơ thể người lạnh đi sau khi chết: nhiệt độ cơ thể ngay thời điểm tử vong, nhiệt độ môi trường, sự dao động của thời tiết, nhiệt độ sưởi, cửa sổ mở, độ dày các lớp quần áo, các lớp chăn màn, tư thế cơ thể (tư thế cong giữ nhiệt tốt hơn, chúng ta đều biết), trọng lượng cơ thể (mỡ là một lớp cách nhiệt), lượng cơ (ít cơ hơn, mau lạnh hơn) và độ tuổi của người quá cố (trẻ em có diện tích bề mặt cơ thể lớn hơn so với trọng lượng nên thường mất nhiệt nhanh hơn)... Sự cộng hưởng của nhiều yếu tố nhỏ như vậy khiến việc ước tính chính xác thời gian tử vong trở thành thách đố.
Thậm dù tính toán được vô số khả năng, máy tính đã được lập trình cũng khó lòng đưa ra thời gian tử vong chính xác. Nó có thể đề xuất một quãng thời gian mà hai thời điểm mốc cách nhau rất xa. Chẳng ai dám kỳ vọng độ chính xác quá 90%.
Viên thanh tra gật đầu vẻ hiểu biết. “Tôi hy vọng anh có thể cho tôi biết dựa trên sự co cứng của tử thi.” (*)
Thật ra thì... không. Đó là một hiểu lầm khác nữa. Mặc dù sự co cứng ở tử thi là quá trình dễ nhận thấy nhất, nhưng nó là biến số còn khó tin cậy hơn so với thân nhiệt tử thi khi ước lượng thời gian tử vong. Tốc độ và sự xâm lấn của nó bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường. Tử thi nằm ngoài trời mùa đông có thể sẽ không co cứng trong suốt một tuần, nhưng sự co cứng lại diễn ra cực nhanh nếu tử thi được chuyển vào môi trường ấm hơn, trong nhà xác chẳng hạn. Còn một yếu tố gây rối nữa là nếu người chết vừa tập thể thao trước khi qua đời. Hiện tượng co cứng sẽ xảy ra nhanh hơn do axit lactic hình thành sau khi cơ thể dùng sức. Bệnh nhân sốt rồi qua đời? Co cứng nhanh hơn. Bị điện giật tử vong? Cũng đẩy nhanh quá trình co cứng, có lẽ vì dòng điện kích thích các múi cơ. Chết trước lò sưởi? Co cứng nhanh. Chết khi đang ngâm bồn nước nóng? Vâng, co cứng nhanh.
Hiện tượng co cứng xảy ra vì tim ngừng đập và ngừng cung cấp oxy để nuôi các tế bào cơ khiến nó không thể chuyển hóa chất. Suốt nhiều năm, co cứng được cho là sẽ bắt đầu từ khuôn mặt, như tất cả những ai lừng khừng không thực hiện hô hấp nhân tạo đều nhận ra.
Hiện giờ chúng ta đã hiểu rằng quá trình này xảy ra đồng thời trên toàn cơ thể, nhưng với các cơ nhỏ trước – những cơ thường ở quanh hàm, mắt và các ngón tay. Nói chung nhất, diễn biến ở những chỗ đó có thể cảm nhận được khoảng ba giờ sau khi chết. Nhìn thì có vẻ quá trình này lan từ đầu đến chân nhưng trên thực tế tốc độ chỉ khác biệt đối với các múi cơ có kích thước lớn. Cơ thường co cứng nhanh hơn tốc độ cơ thể hạ nhiệt, điều này lý giải vì sao nhiều lúc cơ thể vẫn ấm mà lại co cứng. Quá trình này không kéo dài lâu, thường khoảng một ngày, sau đó toàn thân sẽ mềm oặt.
Với khí hậu nước Anh, sự co cứng có thể ảnh hưởng hoàn toàn đến tất cả các cơ trong vòng mười hai giờ. Ở những nước khí hậu ấm hơn, thậm chí quá trình này còn có thể diễn ra và biến mất chỉ trong một giờ ngắn ngủi. Đôi khi ở vài nhóm người đặc biệt – rất già, rất trẻ hoặc những người suy nhược, quá trình co cứng nhìn có vẻ như không diễn ra vì họ có quá ít cơ trong người.
Sức mạnh của quá trình này rất đáng kinh ngạc. Đã có những bức ảnh nổi tiếng chụp lại tử thi co cứng, đầu gác lên một cái ghế, hai chân gác lên một cái ghế khác, cơ thể vắt ngang thẳng đuột như một tấm ván, không cần trợ lực. Việc thực hiện giám định pháp y trên những tử thi đang co cứng gặp nhiều vấn đề, trừ phi người chết thương tình, nằm chết trong tư thế ngửa, hai tay xuôi hai bên.
Lựa chọn dễ nhất là chờ giai đoạn này qua đi. Nhưng khi giám định pháp y không phải lúc nào chúng tôi cũng có sự lựa chọn, nhất là trong những vụ điều tra giết người, tốc độ là yếu tố hàng đầu.
Đêm đó tôi nhanh chóng rời hiện trường để đến nhà xác. Nạn nhân được chuyển tới ngay sau đó. Cổ, hai cánh tay, hàm và hai gối đã co cứng, nạn nhân chết trong tư thế một tay vòng phía sau, một tay xếp trước ngực. Chân phải ông ấy giơ lên.
Tôi cần ông ấy nằm thẳng để tiến hành khám nghiệm, vì thế tôi phải can thiệp, phá tư thế co cứng. Phải vận sức. Nếu một cánh tay bị uốn, tôi phải nhấn thật mạnh vào khớp để phá vỡ sự gắn kết hóa học giữa các phân tử trong sợi actin và myosin (*) trong các tế bào. Khi sự gắn kết này bị phá vỡ, cánh tay có thể được đặt nằm phẳng trên mặt bàn. Cũng có nhiều trường hợp người quá cố là thanh niên trẻ cơ bắp, làm công việc liên quan đến nâng các vật nặng, tôi cần nhân viên nhà xác trợ giúp. Phá thế co cứng phải dùng lực khá mạnh lên các điểm khớp để từ từ làm giãn cơ, không thể đột ngột như bẻ xương người khác.
Trong trường hợp này, nạn nhân sáu mươi hai tuổi, tôi có thể phá thế co cứng khá dễ dàng bằng cách vòng tay nạn nhân ra trước rồi ra sau liên tục cho đến khi các cơ lỏng dần.
Sau những yêu cầu liên tục từ phía cảnh sát, tôi dùng hai chỉ số ít đáng tin cậy tôi đã nhắc đến ở trên là thân nhiệt và độ co cứng để cung cấp khoảng thời gian tử vong. Sẽ có biến thiên rộng, trong trường hợp này tôi ước lượng nạn nhân tử vong vào khoảng thời gian từ bốn đến sáu tiếng trước.
“Khá lắm bác sĩ” Viên thanh tra kỳ cựu lên tiếng, ông ấy vừa quay lại phòng sau một cuộc điện thoại. “Thằng sát nhân khai đã giết ông ấy tầm 4 giờ 45 chiều nay.”
“Bắt được hắn rồi à?”
“Hắn đầu thú đó chứ. Họ có quan hệ đồng tính. Hắn bảo hắn mất bình tĩnh.”
Mất bình tĩnh kiểu hơi ác. Phải có đến tám vết thương trên người nạn nhân, một trong số đó là vết thương hở bên ngoài đã xuyên thẳng tim. Con dao để lại dấu vết và cán dao gây vết bầm rõ ràng tới nỗi tôi có thể ký họa hình dáng, kích thước chi tiết của hung khí. Đó là bản ký họa hung khí đầu tiên của tôi hoàn toàn dựa theo những vết thương, và tôi cực kỳ kinh ngạc khi nó trùng khớp với con dao gây án cảnh sát tìm được tại hiện trường. Từ giờ, hãy gọi Shepherd là “chuyên gia dao cộ”.
Giờ nhìn lại, thật y như thằng nhiệt tình lố bịch, tôi từng tin rằng у mình có thể tái thiết lập chuẩn xác những gì đã diễn ra chỉ cần dựa vào các vết thương và vết máu tại hiện trường. Tất cả những điều đó dù gì cũng là việc Giáo sư Simpson hẳn đã từng làm.
Những chi tiết hé lộ chân tướng sự việc nằm trên tường, nơi các vết máu tố cáo rằng vết đâm đầu tiên và chí mạng xảy ra ở đây. Nhát đâm nằm bên trái, xuyên vào cơ thể hơi chếch về bên phải. Kinh điển. Hung thủ thuận tay phải, cả hắn và nạn nhân đều đang đứng, đó là khi hắn giơ cao tay rồi đâm hướng xuống dưới.
Sau đó nạn nhân gục xuống mạn trái giường. Các vết máu trên tấm ga chỉ rõ điều này. Máu bắn lên trần nhà – vết máu dạt – là kết quả khi máu tóe ra từ lưỡi dao lúc hung thủ giơ cao hung khí rồi xuống tay lần nữa. Dễ suy ra hung thủ đứng lên trên nạn nhân rồi đâm thêm ba nhát nữa.
Nạn nhân bò ra khỏi giường, hướng về phía cửa, để lại những vệt máu kéo dài. Bốn vết đâm cuối cùng gần như chắc chắn diễn ra ở đây, nơi nạn nhân đáng thương chết trong vũng máu. Đáng lẽ tên hung thủ không cần phí sức nhiều như vậy: cú đâm đầu tiên đã đủ chí mạng sau khi xuyên tim và nạn nhân cũng chỉ còn vài phút để sống. Khoảng cách và sự đồng bộ của cả bốn vết đâm đều xuất phát từ một góc, nhát sau là bản sao của nhát trước, chứng tỏ nạn nhân đã bất động và có thể đã chết vào thời điểm đó. Vậy còn vết máu dọc hành lang? Chắc chắn đó là của gã bạn trai máu me để lại khi rời hiện trường.
Tên sát nhân đã thú tội nhưng tôi vẫn “quá khích” trước những phát hiện của mình, tôi chia sẻ với viên thanh tra.
“Ừ hư.” Ông ấy nói với vẻ lãnh đạm.
“Coi này, ông có thể thấy ở đây...” Tôi giơ những bức ký họa của mình ra. Ông ấy không thèm cầm.
Hồ hởi hơn, tôi còn tình nguyện viết một bản báo cáo phục dựng sự việc vừa diễn ra.
Ông ấy chớp mắt, nhìn đi chỗ khác.
“Thôi khỏi đi bác sĩ. Chả ai đọc đâu. Thằng sát nhân khai hết rồi.”
Tôi thất vọng não nề. Đó là lần đầu tiên tôi có ý niệm mơ hồ rằng phía cảnh sát không muốn tôi làm Sherlock Holmes. Hoặc thậm chí là Keith Simpson. Người hùng của tôi là một phần tất yếu của đội phá án suốt nửa đầu thế kỷ hai mươi. Ông ấy có mặt ở tất cả các vị trí của một vụ điều tra giết người: nêu ra giả thuyết với các nhân vật “cớm” thảo luận các manh mối với phía thanh tra tại hiện trường. Tôi cũng muốn được làm vậy! Đôi khi tôi gào thét trong câm lặng để được nói với phía cảnh sát những điều kỹ năng chuyên môn mách bảo tôi. Tuy nhiên, quy trình của phía cảnh sát điều tra đã thay đổi. Bộ môn khoa học nghiên cứu các vụ giết người đã trở thành công tác chuyên biệt, trong đó các bộ phận chuyên môn khác nhau góp mặt vào những sự kiện khác nhau, cảnh sát thu thập hết lại rồi tự đi đến kết luận riêng. Cũng được nếu các bên đều có kỹ năng cao và kinh nghiệm dày dặn.
Sau đó, quyết định buộc tội hay không được các luật sư tại Cơ quan Khởi tố Hoàng gia Anh (CPS) thực hiện. Cũng được đi. Miễn các luật sư không bối rối trước những chứng từ y khoa phức tạp.
Tôi cho rằng chế độ này sẽ vận hành hiệu quả hơn nếu tất cả chúng ta có thể ngồi lại với nhau trước một ca khó và phức tạp: cảnh sát, CPS, bác sĩ pháp y, nhà khoa học về bệnh học, chuyên viên về các vết máu, nhà độc học, tay chuyên về đạn đạo cùng thảo luận dựa trên căn cứ sự việc. Giờ thì chẳng ai còn muốn làm vậy nữa.