Chúng tôi chia lượt đến thỉnh giảng tại Cục Điều tra Hình sự Anh (*) , mừng là lần này tới lượt tôi. Có rất nhiều khóa bồi dưỡng nghiệp vụ cho giới cảnh sát, thường không có lựa chọn học hay không học, nhưng nhiều người vẫn chẳng hề giấu giếm việc họ thà chơi golf hoặc lăn lộn ngoài hiện trường còn hơn phải bó gối trong giảng đường.
Tôi cá sẽ làm họ tỉnh ngủ hôm nay vì chủ đề tôi giảng là cơ thể người sau khi qua đời. Cảnh sát thường hiếm khi có mặt tại trận ngay thời điểm ai đó chết mà thường chỉ sau đó, khá lâu sau đó. Bài giảng của tôi sẽ giúp họ nhận dạng những thứ họ có thể tìm được.
Tôi bắt đầu giải thích cái chết là một quá trình. Khi quá trình đó - quá trình chết hoàn thành, nó sẽ “mồi” cho một loạt các quá trình khác tiếp theo, đưa cơ thể con người trở về cát bụi.
Màn hình bắt đầu chiếu sau lưng tôi, vài viên cảnh sát duỗi chân, vài người khác nhấp ngụm cà phê, tôi có cảm tưởng họ đang sửa soạn để xem một bộ phim liệu về miền hoang dã của David Attenborough (*) .
Tôi không có ý đi quá sâu vào mặt khoa học, tôi chỉ nói đơn giản rằng khí oxy có vai trò sống còn với tất cả các tế bào cơ thể người. Nó hỗ trợ chức năng duy trì sự sống bằng các phản ứng hóa học: quy trình chuyển hóa. Khi cơ thể chết đi, khí oxy cũng không còn, các tế bào cơ nhũn ra. Tuy nhiên chúng vẫn có phản ứng khi chạm vào, hoặc theo phản ứng của các tế bào thần kinh hay do kích thích. Kết quả tay chân tử thi vẫn co giật dù cơ thể không còn sự sống.
Mí mắt có thể khép hoặc nửa khép nửa mở vì các cơ mí mắt quá yếu để hoàn tất chuyển động cuối cùng. Phản ứng với ánh sáng không còn nữa, tuy nhiên có một vài niềm tin, đa phần từ phương Đông nhưng cũng ở phương Tây, cho rằng đôi mắt sẽ lưu lại hình ảnh sau cùng nó nhìn thấy, do đó thể mách bảo được chân dung kẻ sát nhân. Điều này từng được cho là có khả năng xảy ra ở Châu Âu vào những năm 1870. Họ gọi đó là “hiện hình hóa võng mạc”, gồm các thí nghiệm được thực hiện trên những người trước và sau khi bị hành hình, nhưng không thành công. Mặc dù không có cơ sở khoa học, công chúng vẫn ấn tượng sâu sắc với phương pháp này, một phần do ảnh hưởng từ các tác phẩm của Rudyard Kipling hay Jules Verne. Ý tưởng này lại một lần nữa xuất hiện trong loạt phim Doctor Who những năm 1970. Khi đã được khắc sâu vào trí tưởng tượng của đại chúng, nó rất khó bị lay chuyển. Đó là chưa kể tới lời đồn thất thiệt rằng tóc người chết vẫn tiếp tục mọc, bất chấp sự thật khoa học rằng chân tóc chết cùng toàn bộ phần da trên cơ thể, da sẽ trở nên tái nhợt vì máu không được bơm đi khắp cơ thể và huyết áp cũng mất. Điều này càng dễ thấy nếu người chết là người da trắng.
Các khối cơ vòng chịu trách nhiệm điều khiển đường đi của thức ăn và chất lỏng qua hệ tiêu hóa cũng trở nên lỏng lẻo, do vậy tùy tư thế chết và nội tạng của tử thi mà nước tiểu có thể chảy ra ngoài. Cũng có thể là phân, nhưng trường hợp này hiếm gặp hơn do cấu trúc tự nhiên của trực tràng.
Một trường hợp chảy dịch cơ thể phổ biến khác là tinh dịch. Do đó, một nhà nghiên cứu khám nghiệm tử thi không bao giờ nên suy đoán người qua đời có quan hệ tình dục trước đó hay không, dù sự thật như thế nào. Và dù trong miệng người chết có thức ăn cũng không thể đơn thuần suy đoán nguyên nhân tử vong do ói mửa vì tỷ lệ dịch nôn mửa tìm thấy trong khoang miệng tử thi chiếm khoảng 25% tổng số các ca khám nghiệm.
Giới cảnh sát thật ra không cần ai dạy bảo họ rằng làm việc với cái chết là một công việc hết sức rối rắm. Họ hiểu dịch rò rỉ từ các lỗ trên tử thi là chuyện bình thường, dù người sống có thể cảm thấy đó là điều đáng xấu hổ. Sự thật là ngày xưa khi tôi có dịp hỏi mọi người về nỗi sợ lớn nhất nếu họ chết là gì, họ đều nhắc đến những rò rỉ đáng tránh né này như thể đó là những lo sợ thật sự. Đối với tôi, điều này chẳng có gì đáng lo, thật. Những người chọn làm việc cùng tử thi như chúng tôi không bao giờ xét nét, luôn đầy tôn trọng, và kỳ thực tôi nghĩ những người hay lo âu cũng sẽ không nhớ mình cần phải lo lắng điều gì khi sự sống dần rời xa họ. Tôi thấy tâm trí họ sẽ hoàn toàn bị thu hút bởi việc buông bỏ, những nỗi xấu hổ đó quá trần tục, còn tôi lại tin người chết sẽ mừng vì trút bỏ được.
Quá trình tiếp theo sau cái chết là cơ thể lạnh dần. Tôi có thể dành trọn một buổi giảng về chủ đề này nhưng tôi chỉ chọn những hướng dẫn trọng yếu. Tôi muốn phía cảnh sát thấy các bộ phim trên tivi vô lý thế nào khi người ta có thể xác định được thời điểm tử vong thông qua thân nhiệt tử thi. Giai đoạn tiếp theo là sự co cứng, họ đã quen thuộc với điều này. Rồi tôi cho họ xem những hình ảnh của sự ứ đọng máu.
Khi cơ thể chết đi, máu ngừng lưu thông. Thành phần của nó, các tế bào và protein bị trọng lực tác động: những tế bào hồng cầu dần lắng xuống, yên vị ở phần thấp nhất trong cơ thể. Những mạch máu li ti nhất ở khu vực đó bắt đầu sưng phồng lên. Ban đầu da tử thi hồng lên, trong vòng năm hoặc sáu giờ trở thành màu hồng rực lẫn sắc xanh. Đây là giai đoạn ứ máu.
Biểu hiện của quá trình này rõ ràng nhất ở những tử thi là người da trắng, tại các phần cơ thể liền kề nhau bị ép xuống một mặt phẳng nào đó như sàn nhà hoặc mặt giường chẳng hạn. Các mạch máu bị chèn ép, máu không thể chảy đến được khiến những phần đó trở nên trắng ởn. Một người da trắng qua đời trên giường sẽ có rất nhiều mảng ứ máu ở lưng, gáy, đùi sau, cả những mảng da rất trắng ở mông và sau hai vai. Những người nước da đậm màu hơn cũng trải qua tình trạng ứ máu như thế nhưng ít bầm hơn.
Giai đoạn ứ máu sẽ từ từ biến mất chỉ khi xảy ra sự phân tán của máu vào giai đoạn cuối cùng của cái chết, giai đoạn phân hủy. Nhiều người tránh né ý nghĩ này. Tuy vậy đây là giai đoạn hết sức quan trọng kết thúc vòng đời một cơ thể người để trở về khối hóa sinh khổng lồ là mặt đất. Khó tưởng tượng nổi thế giới sẽ thế nào nếu thiếu đi quy trình phân hủy này, hẳn sẽ không quá thơm tho, không quá đẹp đẽ đối với người còn sống.
Có ba phương cách một cơ thể phân hủy: thối rữa, hoại tử khô và hóa sáp. Trong đó thối rữa vẫn phổ biến hơn cả.
Tôi mang theo nhiều bức ảnh, phía cảnh sát có vẻ không mấy bị ảnh hưởng vì những gì họ vừa thấy. Nhưng tôi để ý họ đã ngồi thẳng dậy, có lẽ hy vọng không phải xem hình minh họa của quá trình thối rữa. Sự thối rữa chỉ là cái tên cho quá trình hóa lỏng các mô mềm. Tốc độ của quá trình này tất nhiên phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường. Ở Anh, quá trình này có thể bắt đầu từ ba đến bốn ngày sau khi chết và nhìn thấy rõ bằng mắt thường. Tôi trình bày bằng một bức ảnh minh họa, chỉ đốm nhỏ bợt màu xanh ở ổ bụng dưới bên phải.
“Thường ở chỗ đó.” Tôi nói. “Nơi các anh sẽ thấy quá trình thối rữa đầu tiên.”
Ruột người là một ổ vi khuẩn, điều kiện tối cần thiết cho việc tiêu hóa. Khi người ta chết, vi khuẩn thoát khỏi ruột, xâm nhập vào ổ bụng, rồi tới các mạch máu. Quá trình này diễn ra tại một điểm đặc biệt trong khoang bụng gần ruột thừa vì ở đó thành bụng rất gần với ruột. Quá trình thối rữa vẫn có thể bắt đầu xảy ra ở các phần khác trên cơ thể nhưng chỉ khi có điều kiện đặc biệt: thi thể vắt ngang ống dẫn nhiệt hoặc nhận ánh sáng chiếu trực tiếp. Dù quá trình này bắt đầu ở bất cứ vị trí nào, khi có sự xuất hiện của các đốm xanh trên da nghĩa là bên trong cơ thể đó, vi khuẩn đang “vỡ trận”.
Các mạch máu trở thành những cầu nối hữu hiệu cho vi khuẩn phát tán, dẫn tới huyết cầu tố bị phân hủy. Kết quả thấy rõ bằng mắt thường là những đường nét màu nâu đẹp một cách siêu thực như những chiếc lá dương xỉ hiện rõ trên bề mặt da, như thể được xăm trổ lên. Những vùng như cánh tay hay đùi thường thấy rất rõ điều này.
Tôi nghĩ phía cảnh sát bắt đầu nhận ra hôm nay không phải buổi công chiếu phim tài liệu về thiên nhiên của David Attenborough nữa rồi. Cũng giống tất cả các quy trình của cái chết, giai đoạn ít nhiều đẹp đẽ này thường không kéo dài lâu. Dần dần các đường nét có vẻ diệu kỳ kia sẽ mất đi, thay vào đó là làn da bỏng rộp thành những dòng dịch đỏ nâu. Sau cùng, cả làn da tróc hết.
Sản phẩm thải ra trong cả quá trình này là khí gas, vì thế cơ thể bắt đầu sưng lên. Đầu tiên là bộ phận sinh dục, tiếp theo là mặt, bụng và vú. Tiếp đó lưỡi và mắt sẽ trồi ra ngoài vì lượng chất lỏng trong cơ thể bị đẩy từ phổi ra, rỉ ra từ đường mũi và miệng. Gương mặt tử thi lúc này trông giống như vừa trải qua chuyện gì đó rất sốc.
Trong khi nhiều người không đủ dũng khí nhìn những hình ảnh tôi trình chiếu, vài viên cảnh sát sững sờ với những thứ trước mắt họ. Cơ thể phù nề trong quá trình phân hủy đen kịt tới nỗi khó ai hình dung được thi thể như của một người đàn ông da đen thừa cân trước mặt lại là một thanh niên da trắng mảnh khảnh khi còn sống.
Ruồi nhặng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, chúng ăn xác, đẻ trứng trên đó, rồi trứng nở thành giòi. Các loài động vật khác nhau cả vật nuôi lẫn thú hoang đều có những đóng góp quan trọng trong quá trình cơ thể phân hủy: nếu môi trường bên ngoài có chuột và cáo thì trong nhà... Ai dám chắc một con chó đói khát bị nhốt trong nhà cùng người chủ đã qua đời lại không ăn thịt người chủ để tồn tại?
Trong vòng một tuần tiếp theo, phụ thuộc vào thời tiết và môi trường bên trong cơ thể, các khoang trong cơ thể sẽ vỡ ra, mô sẽ hóa lỏng. Trong vòng một tháng, tất cả các mô mềm hoàn tất quá trình hóa lỏng và tan vào lòng đất. Thứ tự phân hủy luôn bắt đầu từ ruột, dạ dày, gan, máu và tim. Sau đó tới phổi và các ống dẫn khí. Tiếp đến là bộ não, thận, bàng quang. Cuối cùng là các mô cơ. Tuyến tiền liệt, tử cung, gân và các dây chằng dẻo dai hơn những bộ phận còn lại trong suốt quá trình phân hủy, chúng có thể mất nhiều tháng trời mới phân hủy hoàn toàn, cho đến khi chỉ còn trơ khung xương. Tôi không chiếu cho họ xem thêm hình ảnh nào của giai đoạn này nữa. Có vẻ họ xem đủ rồi.
Một hình thức phân hủy cơ thể khá khác thường là hoại tử khô. Các cơ thể hoại tử khô thường màu nâu và khô ráo cùng lớp da siết chặt với xương nên trông nhăn nheo và nhám như da thuộc. Quá trình này làm khô cứng các mô nhằm ngăn cản quá trình thối rữa thông thường. Điều kiện cần cho quá trình này là môi trường khô, hoang mạc như Ai Cập: các thi thể chỉ cần được chôn dưới cát cũng đủ để chuyển thành hoại tử khô ngay tức thì.
Ở Anh, quá trình hoại tử khô có thể xảy ra nếu một người mảnh khảnh (cơ thể gầy có khả năng giảm thân nhiệt và được sấy khô nhanh) chết trong môi trường thật khô và nhiều gió – tầng áp mái hay ống khói là một ví dụ. Giờ khá hiếm xác chết khô nhưng cách đây không quá lâu, chuyện này vẫn thường xuyên xảy ra.
“Có ai ở đây từng thấy một xác khô bên ngoài Bảo tàng Anh không?” Tôi hỏi, vài cánh tay giơ lên.
Một viên cảnh sát nói: “Một đứa trẻ. Bị giấu trên tầng áp mái, mà cũng không phải mới đây. Có lẽ lâu lắm rồi, trong thế chiến. Họ nói chuyện này xảy ra rất thường xuyên vào thời đó.
“Đứa trẻ mới sinh hay là...?” Tôi hỏi.
Anh ta gật đầu. Tôi cũng từng thấy điều tương tự, trong hoàn cảnh tương tự. Thi thể những đứa trẻ sơ sinh thường khô cằn, khiến chúng khó phân rữa hơn và dễ trở thành xác khô hơn. Những đứa trẻ đó được các bà mẹ đơn thân bí mật sinh ra vào cái thời mà chuyện mẹ đơn thân vẫn còn bị xem là cấm kỵ. Hoặc đứa trẻ chết lưu, hay chết yểu vì bệnh tật, thậm chí bị giết, nhưng trong rất nhiều trường hợp người mẹ không thể nuôi chúng và chôn cất tử tế là điều bất khả thi. Chúng thường bị giấu trên các tầng áp mái hoặc dưới sàn gỗ. Khi kỳ thị xã hội đối với vấn đề này giảm đi, các ca bị phát hiện cũng giảm bớt nhưng đến tận những năm 1980 vẫn thỉnh thoảng bắt gặp một vài trường hợp tương tự. Các cặp vợ chồng trẻ mua lại nhà của những người phụ nữ lớn tuổi và đã qua đời trước đó, để rồi tìm thấy bí mật tang thương của một thời đã qua: xác chết khô của những đứa trẻ đỏ hỏn.
Cũng có nhiều trường hợp xác chết khô của người trưởng thành bị giết hại. Trường hợp nổi tiếng nhất là người phụ nữ xứ Wales bị giết và giấu trong tủ trong khi người nhà vẫn nhận tiền trợ cấp xã hội của bà. Khi đã khô hoàn toàn, tử thi có thể giữ được hiện trạng đó trong thời gian rất dài. Nhưng sau cùng, các phần mô cơ bị ép lại vẫn bóc tách ra, hóa bột và hết kết dính dần. Xác ướp khô cũng có sức quyến rũ với các loài gặm nhấm, bọ và bướm đêm. Nếu được phát hiện kịp thời, xác chết khô có thể cho thấy khá chính xác chi tiết các vết bầm, trầy trụa hoặc vết thương dẫn tới tử vong.
Hình thức phân hủy thứ ba của cơ thể người là sáp hóa, một quy trình hóa sinh hiếm gặp diễn ra với lượng mỡ bão hòa của cơ thể, khiến nó thủy phân, cứng lại và sưng lên thành một hợp chất như sáp hay xà phòng. Hiện tượng này đôi khi được nhắc tới với cái tên “sáp xác chết” hoặc “sáp huyệt mộ”. Ở dạng này, cơ thể hay một phần cơ thể được bảo quản dưới một lớp thoạt nhìn như đắp sáp.
Ở Anh, quá trình sáp hóa có thể diễn ra khoảng sáu tháng sau khi tử vong, nhưng tôi đã nghe đến trường hợp sáp hóa trong vòng vài tuần, nhiều khả năng nhờ sự trợ giúp của sức nóng mặt trời và giòi.
Quá trình sáp hóa này đòi hỏi môi trường ẩm thấp. Trong giai đoạn đầu tiên khi lớp mỡ bị thủy phân thành một thứ chất bán lỏng, mùi ôi rất kinh hoàng. Quá trình tiếp diễn, lớp mỡ trở nên giòn, nhạt màu dần và cứng lại, màu xám khi hóa sáp.
Hiện tượng sáp hóa đã được ghi nhận từ rất nhiều năm trước, có thể kéo dài nhiều thế kỷ. Cơ thể Otzi, người thợ săn từ Thời kỳ Đồ đá mới được biết đến như “người đàn ông Kỷ Băng hà” hiện trưng bày ở Bolzano, Ý có lẽ đã được bảo quản một phần bằng phương pháp này. Vào thế kỷ mười tám, trong cuộc khai quật Nghĩa trang Innocents (*) , người ta tìm được hàng tấn xác bị sáp hóa, số sáp này lập tức được trưng dụng làm đèn cầy và xà phòng cho thành phố. Một ví dụ nổi tiếng khác ở Úc, vào những năm 1970, người ta tìm thấy xác những thợ lặn được bảo tồn hoàn hảo theo phương cách này một năm sau khi họ gặp nạn vì trục trặc thiết bị khi đang thám hiểm một hồ nước ngọt rất sâu.
Thỉnh thoảng hiện tượng sáp hóa cũng hé lộ nguyên nhân tử vong, ví dụ từ những lỗ đạn hay lượng mỡ được bảo quản tại một vài bộ phận nội tạng. Điều này thường xảy ra ở thi thể phụ nữ và những người thừa cân, nhưng điều kiện cần là: cơ thể được nhúng trong nước hoàn toàn kỵ khí, hoặc chôn trong một nấm mồ ẩm ướt, đặc biệt xác chết không nằm trong quan tài và được mặc quần áo tự nhiên, không phải vải nhân tạo. Quá trình này còn bị ảnh hưởng bởi mùa, độ sâu huyệt mộ, cấu tạo quan tài, chất đất và hoạt động của các loại côn trùng trong đất.
Cả ba cách thức phân hủy này không hẳn chỉ diễn ra đơn lẻ. Về lý thuyết, chúng có thể đồng thời diễn ra ở ba vùng khác nhau trên cơ thể, dù cũng khá khó vì đòi hỏi điều kiện ngoại cảnh phải thật phù hợp. Tuy nhiên, khi hai cách thức cùng xảy ra, một trong số đó luôn là phân hủy.
Thời hiện đại, con người có thể cắt ngắn quy trình tự nhiên này bằng cách hỏa thiêu, nhưng ở nước Anh truyền thống vẫn chỉ chôn cất tại các nghĩa trang. Việc chôn cất khiến quá trình phân hủy chậm lại, thực tế thì một thi thể trên mặt đất bị phân hủy nhanh hơn gấp bốn lần so với nằm dưới lòng đất. Dưới lòng đất có thể phải mất đến hai năm để các mô mềm biến mất hoàn toàn. Gân, dây chằng, tóc và móng tay được dùng để xác định nhân thân một thời gian sau đó. Sau khoảng năm năm, xương trơ, bắt đầu rời rạc ra nhưng vẫn còn rơi rớt những mảnh sụn nhỏ, nếu dùng cưa tốc độ cao, có thể ngửi thấy mùi tủy và chất đạm bị cháy, giống như cưa xương người vừa chết.
Bộ xương sẽ là phần cuối cùng của cơ thể đi vào lòng đất, và có thể lâu khó ngờ. Những phần xương người có niên đại hơn hai triệu năm được tìm thấy tại các khu vực khô hạn của Trái đất. Trừ phi được bảo quản trong một vũng lầy kỵ khí, còn khí hậu nước Anh không giữ được thi thể quá lâu và quá tốt. Sau cùng tất cả xương cũng phân rã. Đất ướt và nước thúc đẩy quá trình này bằng cách “chưng cất” canxi và khoáng chất trong xương. Toàn bộ xương trở nên xốp, quá trình sau đó được hoàn tất nhờ nấm, vi khuẩn, kể cả cây cối đâm rễ xuyên qua hoặc động vật gặm làm gãy nát xương.
Suốt sự nghiệp của mình, các bác sĩ giám định pháp y sẽ được cảnh sát yêu cầu kiểm tra các đoạn xương. Tôi hỏi có ai trong số cảnh sát ở đây từng đưa những đoạn xương tìm thấy để khám nghiệm lại chưa, hai người giơ tay. Thường chỉ một đoạn xương được tìm thấy, và là xương động vật. Tất cả các bác sĩ giám định pháp y đều có những hồ sơ dán nhãn “xương cổ” và sẽ dùng mọi cách để xác định nguồn gốc của chúng. Một số xương như xương sọ hoặc xương chậu có thể lập tức cho biết giới tính xác chết. Một số loại xương khác như răng lại cho biết khoảng độ tuổi của xác chết. Dù sao, đánh giá số tuổi chỉ từ xương cũng không phải môn khoa học chính xác.
Hồ sơ “xương cổ” của chúng tôi vẫn là một điều bí ẩn. Nhiệm vụ chính của chúng tôi là định tuổi xương. Nếu đó là một vụ án hình sự xảy ra trong vòng sáu hay bảy mươi năm về trước, thủ phạm có khả năng vẫn còn sống. Định tuổi là một kỹ năng chuyên biệt. Định niên đại bằng carbon-14 chỉ có thể xác định được mốc thời gian rất dài, nhưng các vụ nổ bom nguyên tử vào những năm 1940 đã thải ra không khí một lượng strontium-90, tạo điều kiện thuận lợi để định tuổi xương có trước hay sau những năm đó. Nếu xương được xác định từ trước thời kỳ bom nguyên tử, phía cảnh sát chắc chẳng hứng thú bằng giới... khảo cổ học.
Cuối buổi thuyết trình, hầu hết các cảnh sát phóng vọt ra quầy bar. Tôi nghe thấy một dàn hợp xướng những tiếng bật lửa mồi thuốc ngoài cửa giảng đường. Một thanh tra lại gần tôi, chia sẻ về xác chết khô của đứa trẻ trên tầng áp mái.
“Cảm ơn bác sĩ." Anh ta nói. “Tôi đã bị ám ảnh vì đứa trẻ đó. Còn một ca khác nữa, thi thể chết ngồi trên ghế bành cả năm cho tới khi chúng tôi phát hiện ra. Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy họ trong mơ. Nhưng khi bác sĩ nói về chuyện đó theo góc độ khoa học, tôi đã cảm thấy khá hơn. Tôi còn có thể nhìn những bức ảnh bác sĩ trình bày hôm nay.”
Đó là ví dụ hiếm hoi về một viên thanh tra dám thừa nhận những mặt rất “con người” của mình. Tôi nhớ mãi những lời anh ta nói. Tôi quyết định dồn gấp đôi nỗ lực để nói chuyện trong các buổi khám nghiệm tử thi. Tôi không nên chỉ thích gì nói đó, phải nói thật bình thản, khoa học để giúp những người xung quanh gạt bỏ những ý nghĩ thiếu khoa học đang bủa vây họ.