Không lâu sau buổi thỉnh giảng, tôi được triệu tập lên tòa lần đầu tiên với tư cách bác sĩ pháp y.
Cho đến tận thời điểm đó, tôi mới chỉ được cảnh sát hoặc chuyên viên nghiên cứu hình sự liên lạc. Điều này đồng nghĩa tôi tự động trở thành nhân chứng chuyên môn cho một vụ án bị khởi tố hình sự tại tòa. Hầu như báo cáo của bác sĩ pháp y đã đủ rồi, nhưng đôi khi họ vẫn phải có mặt tại tòa. Những câu hỏi sắc bén nhất luôn từ phía luật sư bị cáo.
Phía bị cáo luôn có bác sĩ pháp y và nhiều khả năng sẽ khám nghiệm tử thi lần hai. Trong vài trường hợp ít gặp hơn, khi một nhóm người bị cáo buộc phạm tội, họ có thể yêu cầu khám nghiệm tử thi lần ba, hoặc nhiều hơn nữa. Trong những trường hợp đó, các bác sĩ pháp y phía bị cáo có thể tiến hành khám nghiệm nối tiếp nhau nhưng thường là cùng thực hiện, cùng quan sát, và “bâu” quanh thi thể như thiêu thân ngọn đèn. Xong công việc nếu các bác sĩ rủ nhau đi uống bia, thật chẳng khác nào hội nghị ngành pháp y. Mỗi bác sĩ pháp y trình một báo cáo cho bên nguyên hay bên bị, mỗi báo cáo được dùng như một chứng cứ, các bác sĩ có thể được triệu tập sau đó như một nhân chứng.
Người ta vẫn thường cho rằng pháp y là môn khoa học có độ chính xác cao đến mức mọi báo cáo trên cùng một thi thể đều giống nhau. Không phải vậy. Các vết thương được ghi chép giống nhau có thể được diễn dịch khác hẳn nhau. Quá trình diễn dịch có thể bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, đặc biệt là lượng thông tin liên quan: càng nhiều thông tin càng ít khả năng kết luận sai.
Bởi vậy nếu là bác sĩ pháp y trong ca trực đêm đó, tôi sẽ chuẩn bị tinh thần được phía cảnh sát triệu tập đến hiện trường vụ án và chuẩn bị một báo cáo khoa học với các bằng chứng tôi có thể tùy ý sử dụng. Những tài liệu này sẽ được Cơ quan Khởi tố Hoàng gia xem xét và quyết định có luận tội bên bị cáo hay không. Có thể sau đó tôi sẽ phải trình nộp các chứng cứ trước tòa. Tuy nhiên, nếu đêm đó tôi vừa xong ca trực, một đồng nghiệp sẽ đến hiện trường thay tôi, rồi chỉ vài tuần sau tôi lại thấy mình tham gia chính ca đó – nhưng ở phía bên kia, sau một cuộc gọi từ luật sư bên bị.
Chẳng còn lựa chọn nào khác, luật sư bên bị sẽ yêu cầu bác sĩ pháp y đầu tiên ra làm chứng, thậm chí nhiều người còn muốn nhiều hơn thế. Họ mong “soi” ra những sai sót trong báo cáo pháp y gốc, của hiếm, nhưng họ vẫn muốn tìm để miễn được tội cho thân chủ. Ít nhất họ cũng có thể triệu tập một buổi phúc thẩm với những cách giải thích, diễn dịch khác từ các phát hiện, số liệu đã có.
Các báo cáo biện hộ là một phần trong công việc của bác sĩ pháp y, nhưng thường phải mất một thời gian để các luật sư bào chữa cập nhật tên của những bác sĩ mới vào nghề, thành ra tôi không nhận được ca bào chữa nào trong suốt một thời gian. Tôi không lấy làm tiếc. Tôi biết thật không đơn giản khi tiến hành khám nghiệm một tử thi đã được bác sĩ khác khám nghiệm trước đó. Ý tôi ở đây là những thách thức về mặt kỹ thuật: tử thi đã phân hủy thêm, tử thi được cấp đông hay chỉ giữ lạnh, có thêm nhiều vết bầm hoặc các vết thương thay đổi kích thước, các bộ phận nội tạng thường không đầy đủ khi được mang đi hỏi ý kiến chuyên gia, mô cơ thì được chuyển đi phân tích. Tuy nhiên tất cả các thông tin bác sĩ pháp y đến sau yêu cầu cần có mặt đầy đủ: hoặc trong ghi chép của các đồng nghiệp, hoặc hình ảnh hiện trường vụ án, hoặc các mẫu thử mô cơ.
Còn một lý do khác cá nhân hơn nhưng nó khiến các ca pháp y cho bên bị cáo trở thành thách thức với các bác sĩ mới vào nghề – những người đang cố gây dựng sự nghiệp trong một thế giới toàn những người dày dạn kinh nghiệm hơn. Đó là sự e dè khi thể hiện quan điểm đối lập. Chế độ hành pháp của Anh phát triển nhanh chóng nhờ những góc nhìn khác biệt như vậy, nhưng từ góc độ cá nhân trong ngành với nhau, ai dám bước tới đối diện với những gã khổng lồ trong ngành nếu chỉ là một tay lính mới?
Trước khi bắt tay vào ca bào chữa đầu tiên, tôi run run kiểm tra thông tin của bác sĩ pháp y bên nguyên. Thật lòng tôi không muốn kiểm tra hồ sơ kết quả hay nói trái ý một đồng nghiệp lão làng nào khác. May thay, tôi chỉ phải đấu với một bác sĩ cùng lứa.
Vậy nên tôi đến nhà xác kiểm tra các vết thương mà một thằng bé mười bảy tuổi thú nhận đã giáng lên bố ruột mình. Có tới hai mươi bảy vết thương, tất cả đều ở vùng mặt và đầu. Hộp sọ vỡ, não nạn nhân bị tổn hại diện rộng. Nhóm bào chữa cho bị cáo hy vọng thuyết phục được bên khởi tố rằng thằng bé bị tâm thần. Nhưng chẳng đi đến đâu, một phiên tòa hình sự khởi tố tội giết người đã được lên lịch tại Old Bailey (*) .
Lời khai của thằng bé bị phía pháp y bên khởi tố phủ quyết. Nó khai đã tấn công khoảng bốn lần lúc bố nó đang ngủ trong khi bác sĩ bên kia cam đoan ít nhất con số phải lên tới hơn hai mươi.
Khi tôi tiến hành khám nghiệm pháp y lần hai, tôi không thể bới lông tìm vết các kết quả khám nghiệm của vị bác sĩ bên kia, anh ấy đã miêu tả chính xác các vết thương của người bố. Tuy nhiên những biểu hiện khác nhau của vết thương khiến tôi đặt ra nhiều câu hỏi.
Vừa trẻ vừa nhiệt huyết đi tìm “sự thật”, tôi tự chế một bản nhái bằng mút của cây gậy sắt thằng bé đã dùng. Tôi hỏi chiều cao của thằng bé, dùng hình ảnh hiện trường để ướm chiều cao khi nó đứng với bố. Tôi mất khá lâu chỉ để đập gậy vào một cái gối – tượng trưng cho phần đầu người bố.
Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, tôi có thể chứng minh các chuyển động theo phương ngang của cú đánh đã khiến vũ khí xoay tròn và dội lại. Tôi viết:
Bội số của vết thương có thể do hung khí dội ngược gây ra. Các biểu hiện trong quá trình khám nghiệm cho thấy sự nhất quán với lời khai của bị cáo: Cậu ta đánh bố mình 4 hoặc 5 lần.
Nhưng những suy luận phong cách Simpson của tôi chẳng bao giờ thấy được ánh mặt trời. Một bản scan não bộ của thằng bé cho thấy não nó bị thương tổn nặng nề sau một tai nạn giao thông trước đó vài năm. Bản án buộc tội giết người với tình tiết giảm nhẹ đã được chấp thuận, vụ án được rút khỏi danh sách của Old Bailey.
Ca đó trôi qua, tôi vẫn chưa cần vận hết dũng khí. Tuy nhiên, chưa bàn tới những thứ như sự hèn nhát, phát triển sự nghiệp... có một vấn đề sâu kín hơn đối với bác sĩ pháp y của cả bên nguyên lẫn bên bị: Không bao giờ được thừa nhận mình đã sai. Có thể tạm chấp nhận nếu các cách kết luận khác nhau, nhưng nếu không có những tình tiết mới hơn, các bác sĩ pháp y đều nên đoan chắc về góc nhìn của mình và sống chết với nó.
Tôi đã giật mình khi biết các bác sĩ pháp y thường được cho là đúng, bất kể anh ta thuộc phía nào. Ngày tôi đủ tiêu chuẩn làm bác sĩ pháp y cũng là ngày tôi từ thằng nhóc thực tập sinh vẫn còn nhiều điều để học hỏi trở thành một vị bác sĩ không bao giờ được mắc sai lầm. Cho là vậy. Nên nếu ai đó từng bị lôi cuốn bởi sự lột xác của Clark Kent thành siêu nhân bất khả chiến bại, họ cũng nên nghĩ đến sự bối rối của Kent. Tôi thấy áo choàng “bất bại” được khoác lên người mình giống một thập tự giá thì đúng hơn.
Tại sao vậy? Tại sao tôi luôn phải đúng, trong khi thỉnh thoảng được phạm sai lầm là điều hết sức con người? Câu trả lời là bản chất đối địch với tội phạm trong chế độ hành pháp không có chỗ cho “có thể”, “có lẽ” hay “chắc là vậy”.
Dù tôi đã phấn đấu trong rất nhiều mặt cuộc sống để làm theo lời của Pope mà bố dạy tôi từ khi còn bé, rằng hãy luôn lên tiếng với sự dè dặt nhất định, thì bây giờ tôi phải lên tiếng nhưng với sự tự tin tuyệt đối. Bất cứ do dự nào cũng có thể khiến bị cáo bị kết án tội danh họ không phạm phải hoặc ngược lại, sống ung dung ngoài vòng pháp luật dù phạm tội.
Bài sát hạch lớn nhất đến từ chiếc ghế nhân chứng. Những vụ án hình sự (đặc biệt tại Old Bailey, nghe tên đã thấy mức độ nghiêm trọng và quan trọng của các vụ án) đều có thể trở nên rất đáng sợ. Tôi đã nghe về chúng từ rất lâu trước khi được trải nghiệm. Một vụ án nổi tiếng bung bét vì bác sĩ pháp y của bên khởi tố phạm sai lầm nhỏ đã được giật tít trên mọi trang báo ngay trước khi tôi lấy được bằng hành nghề. Sự nghiệp xuất sắc của bác sĩ pháp y đó kết thúc đâu đấy trong nhục nhã, không chỉ vì sơ suất nhỏ có liên quan đến vụ án (tôi e rằng không phải vì bị cáo vô tội) mà còn bởi luật sư phía bị cáo quá sắc bén, đã bóc ra một chi tiết sơ suất khiến năng lực của bác sĩ pháp y bên khởi tố bị bồi thẩm đoàn đặt dấu chấm hỏi.
Phiền kinh, nhất là khi Iain West vẽ vời đạo diễn phiên bản riêng của ông ấy trong quán rượu. Cả đoạn đối chất được diễn lại, Iain đóng cả vai luật sư thích nói kháy và bác sĩ xui xẻo trước đám đông khán giả vừa khiếp hãi vừa ủ dột.
Tôi nhớ lại câu chuyện đầy tính cảnh báo này trong vụ hầu tòa của mình. Tôi được cảnh sát mời đến với tư cách bác sĩ pháp y tại hiện trường vụ giết người, vai trò nhân chứng của bên nguyên cáo. Bên bị cáo yêu cầu tiến hành khám nghiệm tử thi lần hai, bác sĩ bên họ oái oăm thay lại là giáo sư từng dạy tôi. Ông ấy cho thấy một nguyên nhân tử vong khác. Luật sư phía bị cáo chỉ cần liếc qua gương mặt non choẹt của tôi và vẻ uyên bác của giáo sư là đủ để biết kịch bản màn knock-out hấp dẫn nhất sẽ như thế nào. Màn đối đáp diễn ra đại loại như sau (viết lại từ trí nhớ, không phải được ghi âm):
Luật sư: Bác sĩ Shepherd, cùng làm rõ một chút nhé, tôi chắc chắn điều này sẽ giúp ích rất nhiều cho các thành viên bồi thẩm đoàn. Anh có thể cho tôi biết anh đã hành nghề bác sĩ pháp y bao lâu rồi không?
Tôi: À... ca đầu tiên của tôi là...
Luật sư: Khi tôi hỏi “hành nghể” tôi muốn hỏi từ thời điểm anh hoàn thành quá trình đào tạo.
Tôi: Hai năm.
Luật sư: Hai năm. Hiểu rồi. Anh có quen vị giáo sư cũng ra làm chứng tại phiên tòa này không?
Tôi: Tôi có.
Luật sư: Vậy à? Sao anh biết ông ấy?
Tôi: Ông ấy từng là giáo sư dạy tôi.
Luật sư: À, tôi hiểu. Ông ấy dạy anh. Được rồi, Bác sĩ Shepherd, vậy anh cũng biết ông ấy đã hành nghề bác sĩ pháp y bốn mươi năm chứ.
Tôi: Tôi... tôi nghĩ vậy.
Luật sư: Tôi có thể cam đoan với anh, ông ấy đã hành nghề bốn mươi năm. Ông ấy còn dạy anh. Hai năm trước. Và ông ấy cảm thấy nguyên nhân tử vong anh đưa ra không chính xác. Anh chắc kiến thức của mình đủ để phủ nhận ông ấy không?
Tôi (nuốt nước bọt): Tôi đã khám nghiệm kỹ lưỡng và ờm... tôi không muốn... rút lại ý kiến của mình.
Luật sư: Anh chắc không? Anh có chắc anh hiểu rõ công việc này hơn thầy mình không?
Tôi: Ờm... Tôi vẫn rất tôn trọng ý kiến của các đồng nghiệp.. Nhưng... ý kiến của tôi khác. Ông ấy cũng đã dạy tôi... cách... hình thành quan điểm của mình.
Luật sư: Và anh không bối rối khi biết quan điểm của mình khác rất xa của người thầy anh kính trọng?
Tôi: Ừm... không.
Luật sư: Được rồi, Bác sĩ Shepherd, tôi ngưỡng mộ sự ngạo mạn của anh. (Lắc đầu một cách kịch tính và nhìn bồi thẩm đoàn) Các vị bồi thẩm đoàn, các vị có thể có những kết luận riêng về kiến thức và kinh nghiệm, hoặc sự thiếu sót cả hai thứ trên của Bác sĩ Shepherd đây.
Oái oăm thay! Tôi không nghĩ giáo sư của tôi đã có khoảng thời gian dễ dàng để đưa ra chứng cứ của mình: thực tế, ông ấy buộc phải thừa nhận có thể tôi đúng. Dĩ nhiên vẫn còn rất nhiều chứng cứ ngoài pháp y khác, thẩm phán đã nhắc nhở bồi thẩm đoàn điều đó trong quá trình tổng kết của mình. Cuối cùng, bị cáo bị tuyên có tội.
Tôi thật sự cảm thấy áp lực khi phải làm chứng cho ca đó: áp lực từ bỏ niềm tin của mình về sự thật. Sau tất cả, tôi rà lại các nhận định của mình và tự hào vì đã không từ bỏ kết luận ban đầu. Bất chấp những khen chê nhận lại, tôi vẫn chắc chắn các giải trình của tôi đúng. Kết quả? Tôi thuyết phục chính mình rằng sự thật có đường đi riêng của nó, rõ ràng và không thể chối cãi dù biết bao hấp lực buộc tôi phải nói khác đi. Tôi vẫn còn rất nhiều điều để học.