Người Chết Không Nói Dối

Lượt đọc: 2160 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13

Bọn trẻ đến tuổi đi học, đồng nghĩa với việc tôi luôn trốn những buổi chè chén cùng đồng nghiệp sau giờ làm để về nhà chăm chúng, đôi khi là những buổi độc thoại đầy mê hoặc của Iain vì bảo mẫu đã hết giờ làm còn Jen thì bận việc. Các đồng nghiệp của tôi chẳng biết từ bao giờ đã quen nói “Dick mê con nít, giao cho Dick ca đó đi” mỗi khi sở nhận vụ liên quan đến trẻ em. Cứ như thể có sự tương đồng giữa việc chỉ bài cho mấy đứa trẻ nhà tôi với khám nghiệm tử thi con cái của ai đó vậy. Không hề, sự thật là mọi người tìm cách “đùn” các ca liên quan đến trẻ em mỗi khi có thể.

Chẳng cần mất nhiều thời gian suy nghĩ để hiểu lý do tại sao. Trong cuộc sống riêng của một bác sĩ pháp y, ít thứ gì có thể sánh được với niềm vui khi một đứa trẻ ra đời, nhưng về chuyên môn, điều này lại đầy bi thương. Sự thật: Không khó để giết một đứa trẻ sơ sinh rồi phi tang bằng chứng. Và sự thật khác: Đôi khi đứa trẻ trông có vẻ bị sát hại, nhưng hóa ra nguyên nhân tử vong lại hoàn toàn tự nhiên.

Thêm một ca trẻ em, mọi người nhìn tôi, rồi không lâu sau đó tôi thấy mình đứng tại một nhà xác ở ngoại ô London. Tử thi là một bé gái sơ sinh được tìm thấy trong túi rác đen, bị đánh dạt vào bờ hồ, nhau và dây rốn vẫn chưa được cắt.

Kinh nghiệm mách bảo tôi đứa trẻ được sinh đủ ngày đủ tháng. Hình hài đầy đủ, được bao bọc bởi lớp màng bọc nhờn sáp của những đứa trẻ mới sinh, nặng khoảng 3,2kg, hoàn toàn không thấy dấu hiệu bệnh nền hay dị tật nào dẫn đến cái chết tự nhiên.

Phía cảnh sát cho biết đã xác định được người mẹ. Cô ta khăng khăng đứa trẻ chết lúc mới sinh, dĩ nhiên cảnh sát không tin và họ muốn buộc tội cô ta. Kỳ thực, họ muốn khởi tố cô ta, không phải tội ngộ sát, mà là tội giết người. Chúng tôi bị đặt vào tình thế tiến thoái lưỡng nan giữa pháp y và hành pháp. Hết thắc mắc sao mấy sếp lại đặt vào tay tôi ca này.

Giết trẻ sơ sinh là tội ngộ sát, do đó bị kết án nhẹ hơn tội giết người. Nó thành luật lần đầu năm 1922 để tuyên án những người mẹ giết con nhỏ dưới ba mươi lăm ngày tuổi. Thời bấy giờ, giết trẻ em không bị coi là tội ác ghê gớm như giết người trưởng thành. Họ cho rằng trẻ sơ sinh không phải chịu đựng như nạn nhân trưởng thành và thường không gây ra cảm xúc tiếc thương mãnh liệt như một thành viên lớn trong gia đình. Ai cũng hiểu rõ nguyên nhân bắt nguồn từ sự xấu hổ và cần được bưng bít.

Mặc dù những suy nghĩ đó đã không còn nữa, nhưng một khía cạnh trong đạo luật năm 1922 vẫn ảnh hưởng đến ngày nay. Có khả năng “người mẹ phải trải qua những biến động tâm lý khi sinh con”, ngày nay gọi là trầm cảm sau sinh, hoặc một phiên bản tồi tệ hơn là rối loạn tâm thần hậu sản. Quan điểm này được giữ lại trong đạo luật mới về giết hại trẻ sơ sinh năm 1938. Từ đó đến nay, người mẹ giết con dưới mười hai tháng tuổi có thể bị kết án giết trẻ sơ sinh nếu chứng minh được việc sinh và cho con bú khiến tâm lý người mẹ bị rối loạn.

Quá trình sửa đổi đạo luật này gây ra rất nhiều tranh cãi. Đại học Tâm thần Hoàng gia gần đây đã đề nghị mở rộng định nghĩa giết hại trẻ sơ sinh, rằng việc một đứa trẻ ra đời có thể trở thành gánh nặng to lớn đối với các gia đình nghèo túng. Vài người khác cho rằng, tội sát hại trẻ sơ sinh cũng nên được áp dụng để khởi tố bố đứa trẻ, hoặc luật nên được áp dụng cho cả những đứa trẻ dưới hai tuổi chứ không chỉ dưới một tuổi. Một số khác vin vào việc thiếu cơ sở y khoa khi nuôi con bằng sữa mẹ dẫn đến bệnh lý tâm thần ở người mẹ.

Kỳ thực, không có nhiều thay đổi đáng kể sau những lần bàn cãi. Tuy vậy, những điều luật không thay đổi lại khiến thái độ con người thay đổi, bao gồm việc công nhận nhân quyền cho những đứa trẻ và trẻ sơ sinh.

Khi tiến hành khám nghiệm xác đứa trẻ tìm thấy bên hồ, câu hỏi đầu tiên của tôi không phải đây là vụ ngộ sát hay giết người, mà là đứa trẻ này liệu đã từng chết chưa. Bởi một đứa trẻ chưa từng được sống thì không thể chết hoặc bị giết hại. Theo các cách lý giải của luật pháp, một sinh linh trong bụng mẹ không được coi là một mạng sống. Những người chủ trương chống phá thai sẽ bất đồng với quan điểm này nhưng đây đang là quy ước hiện hành của luật pháp. Câu hỏi mang tính cơ sở cho bác sĩ giám định pháp y là: Khi nào một mạng người chưa được coi là một mạng người? Điều này rất quan trọng vì nếu đã là con người, người đó có quyền được công nhận, có nhân quyền. Giết một mạng người có thể bị kết án giết người hoặc ngộ sát, nhưng chỉ khi người đó thật sự đã từng sống.

Theo luật pháp Anh, một đứa trẻ chết khi mới sinh sẽ bị coi là chết lưu. Nếu nghi ngờ có hành vi giết người, tất cả phụ thuộc vào việc bác sĩ pháp y có thể kiểm tra, chứng minh đứa trẻ đã sống đủ lâu để trở thành một thực thể độc lập hay không.

Chẳng cần gì nhiều, chỉ cần một hơi thở, một cử động, một nhịp tim và đứa trẻ phải hoàn toàn ra khỏi bụng mẹ. Một đứa trẻ thường chui đầu ra trước, thở những nhịp thở đầu tiên, nhưng vẫn có khả năng chết trước cả khi cơ thể tách ra khỏi người mẹ. Trong trường hợp đó, đứa trẻ chưa trở thành một thực thể độc lập và không thể coi là đã bị giết.

Một bào thai chết trong những ngày cuối của thai kỳ sẽ có những dấu hiệu đầu của sự phân hủy, các dấu hiệu này dễ nhận biết (chẳng hạn một đứa trẻ sơ sinh da trắng chết lưu da sẽ màu nâu hồng). Nếu đứa trẻ đã chết một thời gian trước đó nữa, việc chẩn đoán còn đơn giản hơn, chỉ cần nhìn hộp sọ bị vỡ, những mảnh xương sọ có thể xếp gối lên nhau. Nhưng nếu đứa trẻ chết trong khoảng thời gian dưới một ngày trước khi ra đời, hoặc, thường thấy hơn là trong khi sinh, sẽ không có dấu hiệu của sự phân hủy.

Nếu đã hô hấp nhân tạo hoặc ép tim ngoài lồng ngực, sẽ có những dấu tích trên cơ thể đứa trẻ và làm rối thêm vấn đề. Cuối cùng, thi thể những đứa trẻ sơ sinh bị giết hại hoặc chết lưu thường bị giấu nhẹm đi vì nhiều nguyên nhân tâm lý. Vào thời điểm phát hiện ra xác đứa trẻ, bác sĩ pháp y đến hiện trường còn khó xác định được nguyên nhân tử vong, huống hồ là xác minh đứa trẻ đã từng tồn tại như một mạng sống độc lập hay chưa.

Bé gái sơ sinh này được tìm thấy vừa kịp trước khi bắt đầu bị phân hủy, nhưng đã quá muộn để cố gắng cứu sống, do đó thi thể không có dấu vết nào khác. Công việc của tôi là xác định xem đứa trẻ đã từng được thở hơi thở làm người nào chưa.

Tôi tiến hành bài kiểm tra nổi, xưa như trái đất và có khả năng đã mất đi ít nhiều độ tin cậy, nhưng tôi e rằng mình sẽ bị chỉ trích nếu không thử. Người ta từng tin – mặc dù không có cơ sở rõ ràng rằng lá phổi của một đứa trẻ sơ sinh đã chết có thể nổi trên mặt nước nếu oxy từng vào bên trong, nói cách khác đứa trẻ đã thở và có sự sống độc lập. Nếu lá phổi chìm xuống chứng tỏ đứa trẻ chết lưu, vì không khí chưa từng vào trong buồng phổi khiến phổi nở ra. Tuy nhiên điều ngược lại không đúng cho lắm, nếu lá phổi nổi lên, khó có thể chứng minh đứa trẻ đã thở tự phát. Ngày nay người ta biết rằng phổi của trẻ sơ sinh cũng có thể nổi do khí gas phát sinh trong giai đoạn đầu của sự phân hủy nếu một đứa trẻ qua đời một hay hai ngày sau khi sinh.

Tôi kiểm tra kỹ lưỡng những túi khí bé xíu trong phổi các phế nang. Rất đáng, vì lá phổi nổi lên. Cả kết quả tổng thể lẫn kết quả dưới kính hiển vi đều cho thấy đã có sự sống độc lập ở đứa trẻ này.

Công việc tiếp theo của tôi là đọc hồ sơ lời khai , xem chúng liên kết thế nào với các kết quả tôi nghiệm thu được. Lời khai quan trọng nhất là của nhân viên pha chế làm cùng khách sạn với người-mẹ-hai-mươi-mốt-tuổi.

“Lúc Mandy bắt đầu làm việc tại khách sạn ở vị trí trợ lý quản lý, trông cô ấy rất ổn, trừ việc chỉ cần liếc nhìn cũng biết cô ấy đang có thai. Tôi có hai người chị có con nhỏ nên biết rõ. Mọi người trong quầy bar đều biết việc này nhưng Mandy luôn gạt đi.”

Các nhân viên khách sạn đều ở lại chỗ làm, phòng của người đàn ông này nằm gần lối thoát hiểm phía sau khách sạn. Một buổi sáng, anh ta bị đánh thức từ rất sớm bởi tiếng khóc của trẻ con bên ngoài cửa phòng. Anh ta nhìn ra ngoài cửa sổ.

“.. và nhìn thấy lưng Mandy, cách đó tầm 40 mét, đang đi qua cổng về phía khu rừng. Chắc chắn là Mandy. Tôi không chắc cô ấy ăn mặc thế nào, cũng không chắc cô ấy có mang theo gì bên người không. Tôi chỉ thắc mắc cô ấy đi đâu. Tôi suy nghĩ, đoán có thể cô ấy đang gặp vấn đề nên tôi quyết định mặc quần áo, đi theo cô ấy. Tôi hiểu những người làm trong ngành này đôi khi phát điên và chỉ muốn có ai đó để nói chuyện cùng.

Tôi mặc quần áo mất một lúc, sau đó theo lối thoát hiểm đi về phía khu rừng. Tôi đi bộ ra hồ, thấy Mandy đi ngược lại.

Cô ấy hỏi: Anh làm gì ngoài này?

Cô ấy trông có vẻ ổn, theo đánh giá của tôi. Cô ấy mặc đồ đầy đủ, nhưng thề có Chúa, tôi không thể nói rõ được cô ấy ăn mặc kiểu gì. Cô ấy nói cô ấy chán ghét hết mọi thứ, mọi người nhưng không nói cụ thể. Chúng tôi ngồi nhìn ra hồ, bâng quơ nói về bạn gái tôi, về ban nhạc tôi đang tham gia và vài chuyện khác. Chúng tôi nói về lớp sương trên mặt hồ sáng hôm đó. Tôi không nghi ngờ gì cả, cô ấy trông rất bình thường, điều bất thường duy nhất cô ấy nói là ‘Tối qua tôi không khỏe lắm, tôi bị đông máu.’

Tôi không hỏi gì thêm nhưng thấy hơi buồn cười, sao cô ấy lại kể điều đó với mình. Chúng tôi nói chuyện phải đến 45 phút, tôi không nghi ngờ gì cả, cũng chẳng nghĩ thêm gì về tiếng khóc trẻ con đã nghe thấy trước đó.

Chúng tôi quay về khách sạn, cô ấy vào phòng tôi, hút điếu thuốc rồi rời đi. Tôi không thấy cô ấy có bất cứ điều gì bất thường. Sau đó tôi ngủ thêm chút nữa.”

Hôm đó nhân viên khách sạn kháo nhau trông Mandy gầy hơn. Buổi chiều hôm sau thì có biến. Theo lời khai của người nhân viên quầy bar:

“Tôi đang làm việc ở quầy bar thì một phụ nữ đến hỏi mượn điện thoại, cô ấy dắt theo một con chó. Lát sau nhân viên khác đến, là Roger, nói với tôi: ‘Cảnh sát đang vây quanh hồ, tìm thấy xác một đứa trẻ.’

Nghe vậy, tôi thấy phát bệnh. Tôi nhớ lại tiếng khóc trẻ con sáng hôm trước, thấy Mandy bên hồ, đột nhiên tất cả trở nên ăn khớp với nhau. Tôi không biết phải làm gì. Tôi bảo Roger: “Tôi biết đó là ai rồi.

Anh ấy hỏi: ‘Mandy?’

Tôi trả lời: ‘Chứ ai nữa.”’

Đó là bằng chứng khá thuyết phục về việc đứa trẻ đã từng sống, sống vài phút hẳn hoi nếu người mẹ có đủ thời gian sinh nó ra trong nhà vệ sinh khách sạn (bằng chứng được tìm thấy không lâu sau đó), mặc quần áo lại, ra ngoài với đứa con đỏ hỏn trên tay và tìm cách vứt nó đi. Những điều này hoàn toàn khớp với các bằng chứng pháp y trong phổi đứa trẻ.

Nhưng chúng ta có thể chắc chắn cô ấy giết con không? Giết như thế nào?

Đây là một ca gây ám ảnh cho mọi người, theo cái cách thật khó tưởng tượng nổi khi một người mẹ trẻ sinh con gái ra, vứt nó đi – chết lưu hay không chưa bàn tới, rồi quay lại làm việc và coi như không có chuyện gì xảy ra. Thời nay, cô ấy có thể được xem là một số phận bi thảm nhưng ba mươi năm trước những ai có liên quan đều coi cô ấy là một kẻ giết con đầy toan tính và bất bình thường. Cô ấy không tỏ ra ăn năn, chỉ nói đứa trẻ chết lúc mới sinh, cũng chẳng thấy buồn bã chút nào. Cả phía cảnh sát lẫn Cơ quan Khởi tố Hoàng gia đều kiên quyết cho rằng, phải khởi tố cô ấy với tội danh giết người.

Tôi rất tự tin về những bằng chứng đứa trẻ đã từng sống. Nhưng sao đứa trẻ lại chết? Tôi không tìm thấy bằng chứng thô bạo nào trên cơ thể đứa trẻ hoặc dấu tích cho thấy nó đã bị làm ngạt. Theo phân tích khá chi tiết của phòng thí nghiệm, trong dạ dày đứa trẻ có nước hồ, nhưng không đủ để kết luận đứa trẻ chết chìm. Đứa trẻ có thể bị đưa tới đó một cách bị động, không có ác ý.

Tôi đưa ra nguyên nhân tử vong:“1 a: Thiếu sự chăm sóc.”

Cơ quan Khởi tố Hoàng gia khăng khăng khởi tố người mẹ tội giết người, họ mất hồn với những phát hiện của tôi. Họ muốn tôi kết luận người mẹ đã có những hành vi chủ động để kết thúc sự sống của con mình.

Trong khi đó, báo cáo của tôi lại làm hài lòng phía luật sư bào chữa, họ đã viết cho Cơ quan Khởi tố Hoàng gia:

“Chúng tôi gửi đề nghị cân nhắc rút lại bản cáo buộc giết người đối với thân chủ chúng tôi, do thiếu các bằng chứng được viện dẫn về cái chết của đứa trẻ... Theo ý kiến của bác sĩ pháp y bên phía các vị, đứa trẻ chết không lâu sau khi chào đời do sự bất cẩn của thân chủ chúng tôi. Vì vậy, cáo buộc tội danh giết người là không hợp lý... Bên cạnh đó, chúng tôi cũng hy vọng các vị xem xét lại tính hợp lý của cáo buộc ngộ sát (giết trẻ sơ sinh), bởi các vị không thể chứng minh được cái chết của đứa trẻ là do sơ suất cực lớn của người mẹ... Đơn giản là, thiếu sự chăm sóc không thể dẫn đến cáo buộc này. Thân chủ của chúng tôi đã nói với cảnh sát, cô ấy đã đặt đứa trẻ xuống, lay nó dậy, cuối cùng cô ấy nghĩ rằng nó đã chết.”

Thực tế, để buộc tội giết người, Cơ quan Khởi tố Hoàng gia cần đưa ra các bằng chứng chứng minh hành động giết người có chủ đích: trong trường hợp này là cố tình làm sai quy trình chăm sóc một đứa trẻ sơ sinh, bao gồm cắt dây rốn, giữ ấm, không để đứa trẻ đói. Rất khó chứng minh Mandy không làm những việc này là có chủ đích ở vị trí một cô gái mới lớn và thiếu kinh nghiệm. Kỳ thực Mandy không phải mới lớn, cũng không phải không có kinh nghiệm, như sau này chúng tôi phát hiện, nhưng suốt một thời gian dài phía công tố đã rất đau đầu chuyện này.

“Tôi rất lo ngại”, lá thư gửi tôi bắt đầu thế này: “... về sự mập mờ trong bản báo cáo của anh... Tôi không được đào tạo chuyên ngành y khoa nhưng tôi có một cuốn Từ điển Y khoa, có vài điểm thế này...”

Bà ấy liệt kê sáu điểm trong cái chết của đứa trẻ.

Mấy cuốn từ điển y khoa là cơn ác mộng đối với các bác sĩ thời đó, cũng giống như mạng Internet thời nay. Lắm lúc tôi không hiểu vì sao mình phải mất đến mười sáu năm học hành bài bản trong khi có thể tìm câu trả lời trong từ điển hoặc hỏi Google. Nhưng nếu một cuốn từ điển có thể vẽ đường cho một luật sư can thiệp vào công việc của tôi, cứ để bà ấy làm vậy: Tôi rất vui khi có thể đào sâu thêm những phát hiện của mình, cũng hiếm khi tôi có cơ hội thảo luận một vụ án.

Đáp lại những câu hỏi giấy trắng mực đen của cơ quan khởi tố, tôi trình bày chi tiết hơn, trả lời từng điểm trong sáu điểm của bà ấy, chẳng hạn phân của trẻ sơ sinh rất thường gặp và không có nghĩa đứa trẻ đã bị chết ngạt. Tôi giữ vững quan điểm sự thiếu chăm sóc đã khiến đứa trẻ tử vong. Mặc dù có thể người mẹ đã giết đứa trẻ, chúng tôi – tôi – không chứng minh được điều đó.

Cơ quan khởi tố không thỏa mãn với những lời giải thích của tôi. Một phiên họp với các cố vấn vụ án diễn ra, tôi bị đặt dưới áp lực phải nghiêng về phía công tố. Tôi không đầu hàng. Cuối cùng, tôi gửi thêm các chi tiết trả lời những câu hỏi của họ:

Không thể đưa ra khung thời gian dẫn đến ngạt thở từ việc chặn các đường thở, tuy nhiên đối với trẻ sơ sinh thời gian này chưa tới 15 đến 30 giây. Không có các vết thương trên miệng hay mũi chứng minh có áp lực lên các bộ phận này dẫn đến ngạt thở, tuy vậy đôi khi các tổn thương không dễ thấy bằng mắt thường. Thiếu các dấu vết quan sát được bằng mắt thường ngăn chúng ta đưa ra kết luận, nhưng không hẳn không thống nhất với khả năng đã xảy ra ngạt thở.

Theo tôi, tổng thời gian sống sót của đứa trẻ là mười lăm phút. Khó có khả năng thời gian đứa trẻ chỉ sống vài phút vì những thay đổi trong phổi đứa trẻ khá rõ nét. Rất khó để một hơi thở có thể mang lại những thay đổi đó. Trẻ sơ sinh khóc khi lọt lòng là điều thường thấy, nhưng không phải là quy luật duy nhất, bất cứ điều gì cũng có ngoại lệ. Đứa trẻ khóc hỗ trợ cho quá trình nở phổi.

Từ các phép kiểm tra của tôi không thể nói lên tình trạng sức khỏe của người mẹ. Tuy nhiên, không có dấu hiệu nào trên cơ thể đứa trẻ là kết quả của cuộc chuyển dạ khó khăn.

Rất khó định nghĩa thế nào là “thiếu sự chăm sóc”. Theo ý kiến của tôi, sự chăm sóc tối thiểu dành cho trẻ mới lọt lòng là giữ ấm. Tất cả các hình thức chăm sóc khác cần kinh nghiệm hơn là việc được đào tạo bài bản. Những chăm sóc tối thiểu nhất như quấn đứa trẻ trong khăn ấm có thể giúp đứa trẻ khỏi bị sưng phổi. Chứng sưng phổi ở trẻ sơ sinh có thể dẫn đến tử vong chỉ trong vòng mười lăm phút. Trẻ sơ sinh có diện tích bề mặt da rất lớn, dễ dẫn đến mất nhiệt, đặc biệt khi tiết diện da bị ướt trong quá trình trẻ chào đời. Môi trường càng lạnh, sự mất nhiệt càng nhanh.

Các dấu hiệu bệnh lý của nhiều nguyên nhân tử vong ở trẻ sơ sinh, bao gồm sưng phổi, chết chìm hoặc chết ngạt, có thể không rõ ràng như ở người trưởng thành. Tôi không thể loại trừ cũng không thể khẳng định bất cứ lý do nào phía trên.

Phía công tố thất vọng nhưng vẫn quả quyết tiến đến bản án ngộ sát. Họ còn thêm vào bản án hiếm gặp tội giấu giếm thi thể trẻ sơ sinh.

Mandy bị khởi tố tại Old Bailey. Lời của công tố viên trước bồi thẩm đoàn đã được trích trên một trang báo như sau:

“Cô ta quyết định giấu nhẹm việc mình có thai cũng như sự tồn tại của đứa trẻ khi nó chào đời. Cô ta thực hiện kế hoạch rất logic bằng cách bỏ rơi đứa trẻ, cho phép hoặc gây ra cái chết của đứa trẻ rồi bỏ nó trong một túi rác màu đen. Cô ta tiếp tục nói dối sau khi sinh bằng cách thể hiện sự bất bình cùng mọi người lúc xác đứa trẻ được phát hiện.”

Tòa án sau đó được biết ban đầu Mandy khai rằng đứa trẻ là hậu quả của một vụ hãm hiếp, nhưng rồi cô gái đã thay đổi câu chuyện. Thực tế, cô ta đã sinh con trước đó hai năm trong toilet nhà mẹ mình, đứa trẻ được nhận làm con nuôi. Lần mang thai ngoài ý muốn thứ hai cũng bị bỏ.

Mandy bị buộc tội giết trẻ sơ sinh. Thẩm phán tỏ ra giận dữ: “Cô, chỉ mình cô phải chịu trách nhiệm về đứa trẻ, cô đã bỏ rơi con bé.” Ông cũng nói thêm: “Rõ ràng vào thời điểm đó cô đã không chịu trách nhiệm về hành vi của mình.”

Mandy bị kết án hai năm tù treo và một năm chữa trị tâm thần. Một cảm giác thất vọng bao trùm phía công tố, bản án có thể nặng hơn nhiều nếu buộc được tội giết người. Về phía mình, tôi chẳng có gì tiếc nuối. Tôi sẽ không chịu nổi nếu cô ta bị kết án giết người mà dựa trên những bằng chứng dưới sức ép của áp lực và đi ngược lại lương tâm mình.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang