Không lâu sau đó tôi nhận thấy mình có nhiều hiểu biết hơn về việc tìm kiếm sự thật mặc dù hoàn cảnh đã thay đổi. Lần này phía công tố và tôi có cùng quan điểm, do vậy khi ra tòa, chúng tôi hoàn toàn tự tin đã nắm được sự thật.
Lại là một cuộc triệu tập vào Chủ nhật. Tôi càng cảm thấy có lỗi vì Jen phải gạt việc riêng sang một bên để chăm sóc lũ trẻ và thức đêm thức hôm học bù. Chắc Jen đã tự hỏi vì lẽ gì người chết lại có vẻ quan trọng hơn cả mái ấm của những người sống là chúng tôi và nhìn lại, tôi không trách cô ấy. Mấy đứa trẻ đã lớn và tự lập hơn nhưng những nhu cầu trái chiều lại là nguyên nhân khiến mâu thuẫn xảy ra giữa bố mẹ chúng. Sự phân chia công việc trong gia đình khá rõ ràng với tôi: lao động chính trong nhà, công việc của tôi phải được ưu tiên. Chỉ là đến giờ tôi mới hiểu, từ góc độ của Jen, cô ấy đã bực bội thế nào với hoàn cảnh của chúng tôi, và ông chồng này hẳn đã khiến nó tệ thêm. Nói gì đi nữa, Jen không học cho có mà sẽ trở thành bác sĩ và đóng góp cho nguồn thu nhập của gia đình. Tôi hoàn toàn không hiểu được điều này vào thời điểm đó, tôi bị cuốn quá sâu vào công việc, mải mê nghĩ cách làm sao để cuộc sống hối hả của chúng tôi được hiệu quả, tôi không hiểu, hoặc không thể hiểu những bất mãn của Jen.
Tôi lên đường đi làm sáng hôm đó với niềm hân hoan còn lớn hơn cả sự tội lỗi trước đấy. Tôi yêu mấy đứa trẻ, thế nên một buổi sáng Chủ nhật chơi với con có rất nhiều ý nghĩa: niềm vui, các thể loại yêu cầu, mệt nhoài nhưng cảm thấy đủ đầy. Nhưng bây giờ, dù không thể tin mình đã từng ngang ngạnh đến thế, tôi lại cảm thấy những niềm vui đó không có cửa sánh với những hứa hẹn thú vị mà một ca giám định mang lại. Đúng vậy, dù đã nhiều năm trong nghề, tôi vẫn không thể kiểm soát được niềm vui của mình mỗi khi có một ca hấp dẫn gõ cửa. Sự lôi cuốn ma mị từ những trang sách của Giáo sư Simpson vẫn còn nguyên. Người nào chùn bước trước nhà xác Westminster tôi không biết, còn với tôi, trái tim tôi run lên mỗi khi nghĩ đến vụ án, câu chuyện, câu đố từ thi thể đang nằm đợi tôi. Lẽ dĩ nhiên tôi cũng hiểu xác suất các ca sáng Chủ nhật chỉ là hậu quả của những vụ ẩu đả tại quán rượu đêm hôm trước.
Nhà xác Westminster nằm khuất sau tòa án ở đường Horseferry trung tâm London, nhưng không nằm trong số những tòa kiến trúc nổi tiếng tại đây. Kỳ thực du khách đến Tate (*) ít khi để ý tới tòa nhà gạch đỏ xinh đẹp nằm ở góc đường và dĩ nhiên làm sao biết đến sự hiện diện của một “nhà vĩnh biệt” sau lưng nó, vì thế, luôn cần một sự kín kẽ khi đề cập đến những điều hiển nhiên như sống chết.
Nhà xác này được tu bổ trước đó không lâu, nằm trong số những kiến trúc hiện đại nhất tại Anh. Lối vào công cộng toàn kính, ánh sáng chan hòa, các văn phòng sạch như li như lau, còn phòng chờ của thân nhân được thiết kế sang trọng với các tông màu pastel trang nhã. Tuy vậy đến đây vào một buổi sáng Chủ nhật lại có ý nghĩa chuyển giao đối với tôi: chuyển tiếp từ cuộc sống gia đình thường nhật sang một điều cấm kỵ, sang một thế giới tăm tối hơn – nơi cái chết là điều bình thường, mặc cho các nhân viên tươi tỉnh vui vẻ thế nào.
Mùi nhà xác, “nước hoa” của cái chết nồng lên mũi tôi. Tôi chào hỏi đám đông của mình: nhân viên nhà xác, nhân viên hiện trường vụ án, cảnh sát và các thanh tra. Một nhiếp ảnh gia cảnh sát mà gần như lần nào cũng có mặt với tôi đến mức trở thành gương mặt thân quen.
Bật ấm đun nước, chúng tôi sang phòng trà bé xíu dành cho nhân viên. Hôm nay căn phòng trống trải hơn vì là Chủ nhật. Viên thanh tra lên tiếng trước.
“Rồi, xem nào, nạn nhân còn trẻ. Đêm thứ Bảy, rất nhiều rượu, thêm tí cỏ (*) ”.
Rồi, thêm một vụ như bao vụ sáng Chủ nhật khác. Tim tôi quặn lại. Đáng ra tôi nên ở nhà với lũ trẻ.
“Cãi cọ tí chút với...”
Cũng không phải lần đầu tiên tôi nghe điều này. Một con dao, cái chai, nắm đấm?
“... với bạn gái, và...”
Cô ta đâm bạn trai, hẳn rồi. Viên thanh tra ngập ngừng.
“... Và cô ta siết cổ anh chàng.”
Tôi nhìn chăm chú, đây không phải kết cục tôi mong đợi. Nữ giới siết cổ, vô cùng hiếm, nếu không muốn nói là không có. Nhìn lại hàng nghìn nghìn ca, có thể nói tôi chưa gặp ca nào khác trong sự nghiệp của mình mà kẻ siết cổ là nữ.
“Cô ta thú tội rồi à?” Tôi hỏi.
“Tự nộp mình tới đồn cảnh sát giữa đêm qua, người đầy máu, vết cào, áo thì rách và khóc đến sưng mắt. Chúng tôi gọi xe cấp cứu. Cô ta nói đã cãi nhau với bạn trai và nghĩ rằng mình đã làm đau bạn trai.”
“Bao lâu trước đó?”
“Có vẻ không lâu trước đó. Chúng tôi vội vã đến nơi, không còn mạch đập, chúng tôi thử mọi cách nhưng chẳng ích gì. Khi chúng tôi thông báo anh ta đã chết, cô ta... ờm... mọi thứ thật khủng khiếp.”
Ông ấy trông khá buồn. Hình như ông ấy đã ở trong ngành một thời gian dài, tôi thắc mắc vậy vì lẽ gì ca này lại ảnh hưởng đến tâm lý ông ấy như thế.
“Tôi thẩm vấn cô ta hàng giờ, cô ta vẫn giữ nguyên câu chuyện của mình. Tự vệ. Và... ờm... cô ta còn quá trẻ và ngoan.”
Đồng nghiệp của ông ấy đồng tình. “Ừ. Theresa Lazenby, tên cô gái. Trông hiền lành, khóc suốt.”
Viên thanh tra gật đầu. “Khó tin là cô gái này đã... nhưng anh chàng đã cố giết cô ta và cô ta chỉ tự vệ.”
Tôi quá hiểu cách những người sống làm trái tim mình thổn thức. Tôi biết cách phản ứng lại với những cảm xúc này. Sự ăn năn của cô bạn gái rõ ràng đã tác động tới viên thanh tra, cô ta nhận được sự cảm thông của họ. Tôi thấy nhẹ nhõm vì người chết không bao giờ gửi đi những thông điệp tương tự mà chỉ nói ra sự thật chẳng chút màu mè.
Nhân viên nhà xác rót cho tôi ly trà, tôi không nhấp ngụm nào, vội vã mặc áo bảo hộ, ủng và găng tay. Chúng tôi bước vào khu làm việc, tôi nghe thấy những tiếng xủng xoảng của xe đẩy, ngửi thấy mùi đặc trưng của nhà xác. Tôi liếc nhìn những người có mặt. Đối với điều tra viên hiện trường, đây là công việc thường ngày. Đối với các thanh tra, những chuyện này chẳng lạ gì với họ, trông họ rất lãnh đạm. Vậy mà khi chúng tôi đi qua những hàng tủ lạnh ướp xác và những chiếc xe đẩy, viên cảnh sát trẻ lại tỏ ra lo lắng. Cậu ấy không hề đụng tới trà hay bánh nhân viên nhà xác mời, giờ trông cậu ấy nhợt nhạt, thiếu sức sống. Trước khi chúng tôi bước vào khu vực để xác, cậu ấy thốt lên: “Lần đầu tôi dự một buổi khám nghiệm đấy!”
Cho đến thời điểm này kỹ năng giải thích quá trình làm việc của tôi đã được cải thiện rõ. Tôi vẫn chưa quên cảm xúc tồi tệ khi không thể giúp viên cảnh sát giải tỏa tâm lý căng thẳng trong buổi khám nghiệm tử thi đầu tiên của mình: dường như những căng thẳng từ tôi đã truyền sang anh ta khiến anh ta càng cảm thấy tệ hơn. Kể từ giờ phút đó tôi làm mọi cách để trông mình luôn thư giãn. Tôi nhớ lần khám nghiệm Michael Ross, viên sĩ quan thanh tra đã không thể chế ngự được nỗi sợ của mình trước mặt nhân viên cấp dưới. Tôi quyết tâm không để một ai bước ra khỏi phòng khám nghiệm tử thi của mình mà bị sang chấn tâm lý.
Vũ khí duy nhất của tôi là sự giao tiếp.
“Khi chúng ta nhìn một người chết”, tôi nói với viên cảnh sát trẻ: “...chúng ta không bao giờ được quên họ từng sống, họ có thân nhân đang đau buồn ngoài kia, họ và người thân của họ xứng đáng có được sự tôn trọng. Chúng ta sẽ giúp họ bằng cách tìm hiểu chính xác chuyện gì đã xảy ra. Chúng ta đi tìm bằng chứng và giúp người chết nằm đây kể câu chuyện của chính họ. Điều quan trọng, chúng ta phải vì những thân nhân đau đớn ngoài kia mà gạt qua cảm xúc của mình. Bởi thế, những người nằm trước mặt chúng ta hôm nay vẫn có thể là nhân chứng và thầy của chúng ta mà không cần phải nói một lời nào.”
Viên cảnh sát trẻ gật đầu yếu ớt.
Tôi nói bằng giọng dịu dàng, bình tĩnh nhất có thể. “Đừng lo, tôi sẽ vừa làm vừa nói, mọi thứ sẽ rõ ràng hơn, bớt đáng sợ hơn rất nhiều.”
Một viên trung sĩ khôn ngoan tiếp lời: “Cậu sẽ quen thôi.”
Viên thanh tra xốc mình nói cứng: “Nghe đây, mấy người trong tủ lạnh đi hết rồi, không còn là mấy người ở nhà đâu, gì phải sợ.”
Chúng tôi bước vào căn phòng sáng choang với xác người lõa thể nằm chờ trên chiếc bàn kim loại, quanh người quấn một tấm nhựa.
“Anh ta đã được xác định danh tính.” Nhân viên điều tra hiện trường lên tiếng trong khi tôi lật mở tấm nhựa.
“Tên nạn nhân là gì?”
Anh ta biết, nhưng dành câu trả lời cho viên cảnh sát trẻ, lúc này thở phào vì được hướng ánh nhìn vào thứ gì khác ngoài thi thể nạn nhân, giọng run rẩy.
“Ờm, Anthony Pearson. Tuổi... ờm, hai mươi hai.”
Anthony Pearson có những lọn tóc vàng óng và đường nét sắc sảo. Mắt nhắm nghiền, những người chết thường trông rất an lạc với gương mặt không gợn chút cảm xúc. Nhưng nét mặt này... có chút gì giận dữ thì phải? Không phải vì anh ta đã chết một cách đầy thô bạo, có lẽ do những thói quen hay vận xui, tự nhiên gương mặt anh ta gợi cảm giác như vậy.
Tôi đã nghĩ anh ta hơi thừa cân, nhưng so với thời bây giờ trông anh ta chỉ như kiểu đậm người. Có nhiều hình xăm cỡ lớn, nhiều vết bầm trên cả hai cánh tay, cổ tay có nhiều vết sẹo cũ, một cuộc đời không đơn giản. Những vết rạch mới hơn trên cánh tay anh ta vẫn rướm máu, xác nhận cho những suy luận của tôi. Các vết kích tim còn hằn trên ngực, kết quả của cuộc kích tim bất thành mà phía cảnh sát đã nhắc tới.
Dễ nhận thấy nhất là vết thương ở cổ anh ta. Tấm trải giường bệnh viện lót dưới cổ thấm đẫm máu, thêm những vệt máu cắt ngang qua, một phần rỉ ra từ khóe miệng nạn nhân, giờ đã khô.
Tôi gật đầu ra hiệu với nhiếp ảnh gia “riêng” của các tử thi. Anh ta nâng chiếc máy ảnh to tướng lên, điều chỉnh hai đầu đèn flash cỡ đại, loại vẫn thường thấy trong các buổi ra mắt phim. Tách, tách, tách.
“OK, bức toàn thân rồi đấy bác sĩ.”
“Thêm một bức cận cảnh cổ cho tôi nhé.” Tôi nói.
Vừa nói tôi vừa ghi chép thông tin thu hoạch được. Các dấu vết do dây thắt để lại là một phần quan trọng của bằng chứng vì nó chỉ ra loại hung khí trong vụ án. Nếu là dây kim loại, dây cáp hoặc các loại dây mỏng khác, dấu vết trên da sẽ gọn ghẽ, sâu, góc cắt rõ ràng. Cô bạn gái đã dùng vật gì đó mềm hơn, như vải, chắc là một chiếc khăn.
Trong bức ảnh tiếp theo tôi đặt một cái thước kẻ dọc theo vết cắt ngang cổ Anthony để thấy được kích thước vết thương. Tách, tách, tách.
Tôi ghi chú:
Có nhiều vết dập và vết dây siết bất thường quanh cổ, kéo dài từ bên phải xương hàm khoảng 2cm sang bên trái, ngang với yết hầu, nơi vết bầm sâu nhất.
Tôi kiểm tra cẩn thận vùng da quanh cổ để tìm những dấu vết liên quan khác. Tôi từng gặp những trường hợp quanh vết dây siết cổ có các vết bầm, trầy xước, chứng tỏ nạn nhân đã cố giằng dây ra, hoặc trong trường hợp có nhiều vết bầm chồng lên nhau chứng tỏ hung thủ đã cố tình dùng tay bóp cổ trước khi siết dây vào cổ nạn nhân. Trong trường hợp này tôi không thấy những dấu vết như vậy.
“Cô gái bảo cô ta đã dùng cà-vạt của nạn nhân.” Một viên cảnh sát nói với tôi.
Viên thanh tra lắc đầu. Ông ấy lặp lại “con bé này”, không nhận ra mình vừa nói câu này không lâu trước đó.
Viên cảnh sát đồng tình: “Khi sự sống bị đe dọa, tự nhiên con người ta mạnh mẽ kinh hồn.”
Tôi ghi chú lại những vết sẹo ở cổ tay, những vết rạn sau cánh tay, những dấu vết kích tim.
“Chụp lại những hình xăm và cổ tay giúp tôi nhé.” Tôi dặn nhiếp ảnh gia.
Anh ta chụp cận cảnh những hình xăm sinh động từ phim hoạt hình Top Cat , rồi chữ LOVE (*) trên tay phải, ngay dưới nó là một chữ còn lớn hơn: HATE (*) .
Một người họ hàng đã đến nhận dạng Anthony nên chúng tôi không cần dùng những hình xăm để làm việc đó nữa mà chỉ chụp cho đúng thủ tục. Trước khi có công nghệ nhận dạng bằng DNA, hình xăm làm phương thức nhận dạng thường được sử dụng, nhất là với tử thi phân hủy giai đoạn đầu.
Mặc dù dấu dây trói quá rõ ràng, tôi vẫn kiểm tra các dấu hiệu của những lý do khác có thể khiến Anthony chết ngạt. Dấu hiệu đầu tiên là các vệt đỏ trên da do tĩnh mạch nhỏ ở cổ bị bóp nghẹt. Các động mạch bơm máu lên não thường lớn hơn, linh hoạt hơn khi bị áp lực, do đó máu vẫn truyền được lên não, nhưng vì tĩnh mạch đã bị nghẹt, máu không thể quay lại về tim. Các dấu hiệu rõ nhất cho thấy nạn nhân ngạt thở vì bị sặc, bị làm ngạt, bị siết cổ hay những nguyên nhân khác thường dễ nhận thấy ở vùng quanh mắt. Nhiều nạn nhân hình thành các đốm máu nhỏ ở đường viền mặt trong mí mắt khi bị siết cổ. Hiện tượng này gọi là xuất huyết đốm, nhiều người cũng bị triệu chứng này sau khi hắt hơi hoặc họ quá mạnh. Hiện tượng này ít gặp trong trường hợp bị ngạt, nhưng luôn thấy trong trường hợp bị siết cổ. Anthony cũng vậy. Tôi dùng kẹp mỏ vịt mở rộng mí mắt anh ta ra cho nhiếp ảnh gia chụp lại. Tách, tách, tách.
Tôi đo chiều cao của Anthony, khoảng 1,8m. Sau đó tôi lật anh ta lại để kiểm tra phần lưng. Tôi nghe viên cảnh sát trẻ thở hắt ra. Tôi thấy xấu hổ vì đã lỡ quên anh ta và lời hứa sẽ hướng dẫn anh ta trong suốt quá trình, nhưng cho tới lúc đó tôi vẫn chưa tiến hành rạch mũi nào. Khi ngước lên, tôi thấy anh ta nhìn chằm chằm Anthony vẻ kinh hãi.
“Chúa ơi, cô ta đánh anh ta tím xanh!”
Tôi lắc đầu.
“Không, không, sự biến sắc này chỉ là một trong những quy trình của cái chết.”
Anh ta nhìn tôi có vẻ không mấy tin tưởng.
“Nó là chứng ứ máu vùng thấp. Cũng có người gọi là vết hoen tử thi. Tôi biết trông nó giống như dấu vết bị ai đó đánh vậy, lần đầu nhìn thấy chắc khiếp lắm, nhưng điều này hoàn toàn bình thường.”
Tôi giải thích vài chi tiết về sự ứ máu, rằng do trọng lực tác động tới hồng cầu, rằng đây là chi tiết rất có ý nghĩa đối với pháp y, cho biết chính xác tư thế chết của nạn nhân. Thậm chí nếu nạn nhân đã bị dịch chuyển vị trí sau khi chết, những dấu vết chồng chéo lên nhau như bóng đổ sẽ tự kể câu chuyện của nó. Sự ứ máu cũng có thể gây nhầm lẫn: Người nằm chết úp mặt xuống, mũi ép vào chăn, phần quanh mũi và miệng sẽ trắng bợt, đó là ứ máu thông thường. Rất dễ hiểu sai rằng nạn nhân đã ngạt thở, tôi biết nhiều bác sĩ pháp y cũng nhầm lẫn như vậy.
Khi Anthony được đặt nằm sấp xuống, tôi có thể kiểm tra kỹ phần gáy, dưới đường chân tóc của anh ta. Không có dấu vết dây siết. Không một chút dấu vết nào. Tôi gọi nhiếp ảnh gia tới, chụp ảnh rồi lật Anthony nằm ngửa lại. Có dấu dây siết cổ đằng trước, và cũng chỉ có ở mặt trước cổ mà thôi.
Tôi vẫn chưa rạch thi thể, có lẽ vì vậy mà viên cảnh sát trẻ đã kỳ vọng tôi sẽ không làm thế. Anh ta đã bị thu hút bởi hiện tượng ứ máu nên trông có vẻ thư giãn, tôi nghĩ vậy. Cho tới khi tôi cầm con dao PM40 thân thuộc của mình lên. Bắt đầu sự nghiệp khám nghiệm tử thi, chúng tôi thường dùng con dao mổ nhỏ để khám nghiệm những ca tử vong tự nhiên. Từ khi tôi chuyển qua khám nghiệm pháp y, con dao PM40 này, con dao được thiết kế đặc biệt cho khám nghiệm pháp y với lưỡi to và có thể tháo lắp đã nhanh chóng trở nên quyền lực và là “đồng chí” của tôi.
Cán dao trượt vừa in lòng bàn tay tôi, sức nặng của nó mang đến cho tôi cảm giác tin tưởng quen thuộc. Đột nhiên tất cả mọi người im lặng, sự căng thẳng trong phòng đặc lại. Tôi nghe viên cảnh sát trẻ hít một hơi sâu như thể đó là hơi thở cuối cùng của anh ta. Còn tôi, cảm giác cầm PM40 thật tuyệt, chẳng khác nào người nhạc trưởng cầm gậy chỉ huy dàn nhạc. Buổi hòa nhạc sắp bắt đầu.
Tôi rạch nhát đầu tiên, thẳng dọc xuống ngực.
Tôi bắt đầu nói: “Tất cả chúng ta đều có thể thấy Anthony đã bị siết cổ, hoàn toàn khớp với lời khai, nhưng tôi vẫn phải kiểm tra để chắc chắn không còn nguyên nhân tử vong nào khác. Một nguyên nhân tự nhiên chẳng hạn. Bệnh lý nền tim mạch cũng có thể khiến anh ta dễ bị thương tổn. Tôi phải kiểm tra tất cả các cơ quan nội tạng để có câu trả lời nhưng trước hết, tôi sẽ kiểm tra vết thương ở cổ anh ta, dưới vết siết cổ.”
Không nghe viên cảnh sát trẻ nói gì.
Tôi tiếp tục công việc, vừa làm vừa không ngừng giải thích.
“Nội thương do bị siết cổ có thể trông không quá rõ. Anthony mới 22 tuổi, ở độ tuổi này những phần sụn trong thanh quản và gần tuyến giáp vẫn dễ uốn nắn. Phần này ở người lớn tuổi có xu hướng bị vôi hóa nên nhiều trường hợp còn vỡ sụn khi bị siết cổ.”
Viên cảnh sát trẻ hơi nhoài đầu về trước như thể đồng tình. Hay anh ta đang cố không nôn khan?
“Chết do bị siết cổ luôn khiến các bác sĩ pháp y đau đầu vì không lý giải được cơ chế gây ra tử vong” Tôi tiếp tục. “Người ta từng cho rằng nạn nhân chết vì bị ngạt thở. Thậm chí ngày nay nhiều người vẫn nghĩ đơn thuần bóp cổ có thể cắt đường thở. Nhưng chúng ta đều biết siết cổ không thể luôn là nguyên nhân duy nhất, các nạn nhân còn chết do tổn thương vì cổ bị áp lực. Nhiều nạn nhân gần như chết tức thì, không có bất cứ dấu hiệu ngạt nào. Ở những nạn nhân có dấu hiệu, cái chết diễn ra quá nhanh trước khi họ bị thiếu oxy.”
Thấy viên cảnh sát trẻ có vẻ hứng thú, tôi hơi mừng, cho tới khi anh ta tự dưng khiếp hãi.
“Vậy vì sao họ chết?” Anh ta hỏi yếu ớt.
“Chúng ta đều biết áp lực lên tĩnh mạch cổ sẽ làm tăng huyết áp trong tĩnh mạch đầu, khi đến mức không thể chịu đựng nổi, nạn nhân sẽ trở nên tím xanh. Áp lực lên động mạch cảnh sẽ khiến nạn nhân nhanh ngất xỉu do thiếu oxy lên não. Những áp lực lên vùng thần kinh ở cổ cũng làm tổn thương hệ thần kinh giao cảm, ảnh hưởng tới nhiều quá trình trong cơ thể mà chúng ta không nghĩ tới, chẳng hạn như hệ tiêu hóa. Một trong những dây thần kinh chính của hệ này là dây thần kinh phế vị, nạn nhân có thể chết ngay lập tức khi vùng cổ bị tổn thương do dây thần kinh phế vị ra lệnh cho tim ngừng đập. Đó hoàn toàn chỉ là hành động phản xạ.”
“Vậy đó là cách Anthony chết?” Viên cảnh sát trẻ hỏi lại, mắt nhìn chăm chăm vùng cổ thi thể.
“Vùng đầu và cổ của anh ta đều bị ứ, có xuất huyết đốm ở vùng mắt. Đó là dấu hiệu của ngạt thở, vì vậy chắc chắn anh ta không chết tức thì.” Tôi nhoài người qua thi thể. “Một bác sĩ pháp y huyền thoại tên là Keith Simpson từng viết về trường hợp một người lính trong lúc khiêu vũ đã xoay cổ bạn nhảy của mình rất nhẹ nhàng, âu yếm để rồi ngay sau đó thấy cô ấy ngã xuống sàn và chết. Người lính đã vặn phải dây thần kinh giao cảm của cô ấy. Kể từ khi đó, bị cáo trong các vụ siết cổ luôn cố biện hộ họ không có chủ ý giết người, họ chỉ đơn thuần chèn tay lên cổ nạn nhân, chính dây thần kinh phế vị của nạn nhân mới gây ra cái chết.”
“Nhưng Theresa Lazenby dùng một chiếc cà-vạt.” Một trong số các thanh tra ngập ngừng lên tiếng. Tôi không hiểu vì sao cô gái đó lại chiếm được sự thương cảm của những người đàn ông sắt đá ở đây như vậy?
“Nhìn vết thương, tôi có thể nói cô ta đã siết cà-vạt một lúc lâu đấy” Tôi xác nhận. “Thế nên nếu đó là lý do biện hộ cho cô ta, tôi e khó thuyết phục được ai.”
“Lý do biện hộ cho cô ta là anh ta cố giết cô ta.” Một viên thanh tra lên tiếng.
“Con bé đáng thương” Đồng nghiệp của ông ta đồng tình.
Viên cảnh sát trẻ dù không tham gia vào câu chuyện nhưng vẫn ở yên trong phòng khám nghiệm, tôi hy vọng đó là nhờ những lời giải thích trong suốt quá trình làm việc của tôi. Cho tới khi một trợ lý nhà xác đến giúp tôi cưa hộp sọ lấy não Anthony ra, anh ta mới lao ra khỏi phòng. Quá trình khá ồn ào này phải dùng đến một loại cưa đặc biệt, tới nỗi hai viên thanh tra dày dạn kinh nghiệm cũng quay đi chỗ khác. Chỉ có nhân viên hiện trường đã quen với công việc này nên vẫn nói chuyện với tôi. Tôi phải thừa nhận khó có thể chối bỏ mùi xương nướng lúc đó.
Sau khi hoàn thành ca khám nghiệm, các cảnh sát quay về đồn để tóm tắt sự việc cho các đồng nghiệp khác nghe và hoàn thành ca trực.
“Để tôi nói anh nghe chúng ta cần gì lúc này nhé bác sĩ. Một ly bia lạnh, hoặc ba. Ghé quán Duck & Ball không?”
Chắc sẽ thú vị lắm khi được đi cùng những viên cảnh sát “hồi sinh” nhờ một ly bia, nhưng vì Jen, tôi phải từ chối. Tôi đi về hướng Nam thành phố. Nhưng có gì đó không đúng, suốt đường đi tôi cứ cảm thấy khó chịu trong người như thể đi nhầm giày hay mặc áo trái. Vụ Anthony Pearson cứ bám dính lấy tôi. Có điều gì đó bất thường ở cô gái đã nhận tội giết người. Có điều gì đó mà phía cảnh sát đã nói về cô ta. Nhưng dù là gì, nó cũng đã trôi tuột đi như những bụi bông ngay khi tôi tưởng như vừa chạm vào nó. Chắc mọi việc sẽ trở nên rõ ràng khi tôi viết báo cáo vào ngày mai. Cũng chẳng còn thời gian suy nghĩ về nó nữa rồi, tôi đã thấy thoáng thấy cổng nhà. Cánh cổng của ảo giác.
Tôi ảo tưởng mình có khả năng tự tách cảm xúc cá nhân ra khỏi những trải nghiệm mình đối diện mỗi ngày, những trải nghiệm bắt nguồn từ sự thiếu nhân tính giữa người với người. Tưởng mình có khả năng cảm nhận và hành động khoa học mặc kệ những gì tử thi cho thấy: những cơn cuồng dại, những điều ngu ngốc, những nỗi buồn đau, những sự tuyệt vọng, những sự yếu ớt tột cùng của loài người. Tưởng rằng mình có khả năng trở nên sắt đá như những đồng nghiệp khác. Bất khả chiến bại, không hề suy suyển trước những cảm xúc với xác chết lõa thể của đồng loại, hay trước sự phân định phù du giữa sự sống và cái chết. Và rồi lại là một trong số rất nhiều “khoảnh khắc Clark Kent”, tôi bước qua cổng nhà, biến thành người chồng người bố ấm áp, yêu thương, đầy trách nhiệm và 100% quan tâm mà tôi nghĩ tôi có dưới lớp áo choàng trắng. Vậy nên, hít một hơi dài. Không nghĩ nữa, không nghĩ về những việc Theresa Lazenby đã làm với Anthony Pearson nữa. Ngừng lại. Tay nắm cửa. Thềm nhà. Mỉm cười. Vui lên. Hỏi những câu hỏi quan tâm. Nấu ăn. Mỉm cười. Hỏi Jen về ngày hôm nay của cô ấy và những công việc cô ấy phải làm đêm nay. Không nghĩ về Anthony Pearson hay dòng máu khô chảy từ khóe miệng anh ta nữa. Không sao đâu.
Hôm sau, tôi kéo tập hồ sơ pháp y ra khỏi túi xách, mùi của cành khô gãy, mùi nhà xác.
Tôi viết ghi chú của mình ra để Pam đánh máy. Hồ sơ của tôi sẽ kết luận Anthony Pearson không chết vì nguyên nhân tự nhiên nào. “Siết cổ dẫn đến ngạt thở”, tôi viết:
Vị trí của những vết bầm trên cổ cho thấy hung thủ đã ở sau lưng nạn nhân khi ra tay, và dấu siết cổ không xuất hiện sau gáy.
Tôi vẫn không thể xác định được điều gì khiến tôi bứt rứt về vụ này, nhưng sau khi nộp hồ sơ vụ án, tôi nhanh chóng cho nó ra khỏi đầu. Tôi cho rằng Cơ quan Khởi tố Hoàng gia sớm muộn gì cũng sẽ liên lạc với tôi để ra làm chứng cho vụ Theresa Lazenby, khi đó tôi sẽ lật lại hồ sơ vụ án và nghĩ tiếp. Còn giờ, không nghĩ nữa.