Người Chết Không Nói Dối

Lượt đọc: 2163 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15

Tôi lúc này đã trở nên “chuyên nghiệp”, điều khiển mượt mà cảm xúc cá nhân giữa công việc và gia đình. Tôi tự hào về bản thân khi làm người truyền tải thông tin và kiến thức tới những người chìm đắm trong nỗi khiếp sợ tại các buổi khám nghiệm tử thi. Tôi đánh giá mình 5 sao kỹ năng tự điều chỉnh tình cảm, cho tới khi phải đối diện với thân nhân người vừa qua đời.

Những thân nhân đột ngột phải gánh trên vai tất cả những cú sốc, sự sợ hãi, đau thương. Những thân nhân chỉ còn biết quăng vào tôi các câu hỏi không thể trả lời được (“Anh ấy có đau đớn không bác sĩ?”). Những thân nhân ao ước được biết sự thật và cũng tránh né sự thật. Cảm xúc của họ giống một miếng bọt biển vừa kềnh càng vừa chông chênh, hút cạn mọi thứ xung quanh, trong khi họ ngồi khó khăn trên ghế cao, chuyển nhau khăn giấy, miệng kêu gào, mắt ướt nhòa, đầu lắc không ngừng. Những thân nhân ấy, những con người với khả năng kỳ lạ có thể bùng nổ thành cơn cuồng loạn, giận dữ hay nước mắt, tất cả đều khiến tôi hãi hùng.

Đó là thứ tôi phải học để đối phó. Và bài học đầu tiên đến một cách kỳ lạ khi tôi nhận ra rằng nếu có thứ gì còn tệ hơn những thân nhân thì đó chính là việc vắng bóng những thân nhân.

Đó là một ngày mùa đông khi tôi được gọi tới hiện trường, một căn nhà có người phụ nữ lớn tuổi nằm chết lõa thể trên sàn, giữa đống hỗn độn dưới gầm bàn. Cảnh sát xem đây là hiện trường của tội ác và chắc chắn ai có mặt ở đó cũng sẽ đồng tình: mấy ngăn tủ bị mở tung như có người cố ý lục lọi, đồ đạc bên trong bị vứt đầy ra sàn, những món đồ nội thất nhẹ hơn bị lật nghiêng.

“Trong này lạnh ha!” Tôi nói chuyện với viên cảnh sát. Thời tiết mấy hôm rồi đã ấm lên đôi chút nhưng trong căn nhà rộng lớn này, mọi thứ vẫn rất lạnh lẽo.

“Khá ẩm.” Anh ta đồng tình. “Nên thấy lạnh hơn.”

“Bà ấy không bật sưởi à?” Tôi hỏi.

Anh ta lắc đầu. “Không.”

Một viên thanh tra nghe lỏm được.

“Chắc đang cố nhóm lò sưởi, nhưng kẻ đột nhập đã vào được trong nhà trước khi bà ấy kịp làm điều đó.”

Tôi nhìn quanh căn nhà trần cao. Sàn lò sưởi đã được dọn sạch, không có dấu hiệu chủ nhân của nó muốn dùng đến. Có một lò sưởi điện kiểu cũ gần góc nhà, không cắm điện.

Tôi nhìn chăm chú kệ sách đổ, sách vở, thuốc men, mấy đồ linh tinh, thiệp các loại, tất cả rơi vãi đầy sàn cạnh chiếc ghế nhỏ, những chồng báo được xếp gọn ghẽ cũng bị mở toang ra trên thảm. Tôi nhìn tư thế nằm co rúm phòng thủ của người phụ nữ nhỏ thó, ốm nhom. Cảnh tượng quá thương tâm.

“Chúng ta có thông tin gì về sức khỏe của bà ấy chưa?” Tôi hỏi.

“Chưa có gì hết, bác sĩ.”

“Có ai hỏi chuyện hàng xóm chưa?”

“Rồi, nhưng chẳng ai biết gì nhiều. Bà ấy sống khá cách biệt, hơi nghễnh ngãng.”

Viên cảnh sát gật đầu. “Người dọn dẹp bảo bà ấy hơi đãng trí rồi.”

Nghễnh ngãng. Đãng trí. Hay quên. Không nhớ ngày tháng. Quá nhiều kiểu nói tránh đi của chứng bệnh mất trí nhớ ở người già.

Trên bàn bếp có một ổ bánh mì cũ và một hộp cá chưa khui, một cái mở hộp, một hũ mứt, một con dao cắt bánh. Tôi thấy những vết trầy trụa khó hiểu quanh miệng hũ mứt, ai đó đã cố dùng con dao cắt bánh để “bậy” nắp hộp rồi mở hũ mứt bằng đồ mở hộp. Thư từ của bà ấy đa phần là giấy báo vô thưởng vô phạt, bỏ trong tủ lạnh.

Không thể nói tránh đi nữa. “Chứng mất trí.” Tôi nói.

“Bà ấy nghĩ kẻ đột nhập là đứa con trai đi lạc lâu nay hay gì.” Viên thanh tra nói. “Không chừng bà ấy đã mở cửa, vòng tay ôm chầm lấy kẻ đột nhập, vì chẳng thấy dấu hiệu của việc dùng vũ lực gì cả."

“Ai tìm thấy bà ấy?” Tôi hỏi.

“Người dọn dẹp.”

“Ờ, sáng nay bà ấy không vào được nhà nên đã gọi chúng tôi. Bà ấy bảo bà chủ nhà hơi hơi khờ và không biết mình đang ở trong ngôi nhà này hay chỉ lạc bước vào.”

“Bao lâu người dọn dẹp đến dọn một lần?”

“Tuần nào cũng đến, nhưng bà ấy vừa đi nghỉ mát một, hai tuần gì đó.”

Một thanh tra hiện trường thò đầu qua cửa bếp.

“Chúng tôi sẵn sàng rồi, bất cứ lúc nào anh muốn di dời thi thể nhé, bác sĩ.”

“Có gì mới không?” Viên thanh tra hỏi.

“Chẳng có gì. Toàn dấu vân tay của bà ấy, không có dấu vết của tên đột nhập. Chắc đeo găng tay rồi."

Tôi nhìn viên thanh tra.

“Theo ý tôi, chẳng có tên đột nhập nào cả.”

Ông ta chớp mắt nhìn tôi.

“Chỉ có cái lạnh thôi.”

Có bốn cảnh sát trong phòng lúc đó, không ai nói gì.

“Tôi tin bà ấy chết vì bị hạ thân nhiệt. Tôi nghĩ có thể bà ấy đã mất trí, thậm chí là mất khả năng thể chất để bật được lò sưởi điện lên chứ đừng nói tới việc nhóm lò sưởi.”

Viên thanh tra lắc đầu nguầy nguậy.

“Không thể nào, thôi đi. Làm gì lạnh đến vậy?”

Có một nhận thức sai lầm phổ biến là chết vì hạ thân nhiệt chỉ xảy ra ngoài trời, trên núi ở nhiệt độ đóng băng. Chúng ta cần hiểu rằng đối với người cao tuổi yếu ớt (kể cả trẻ tuổi yếu ớt) cái chết có thể ập đến trong nhà với nhiệt độ trên dưới 10°C, thậm chí là nhiệt độ cao hơn nếu bên ngoài có gió lạnh và trong nhà gió lùa.

Nếu nhiệt độ cơ thể hạ xuống dưới 32°C, nhịp tim và huyết áp sẽ giảm khiến cơ thể mất ý thức. Nếu nhiệt độ cơ thể xuống dưới 26°C, chắc chắn sẽ tử vong sau đó. Cũng có một trường hợp nổi tiếng đã hồi sức dù bị tàn tật vì bỏng lạnh khi nhiệt độ cơ thể hạ xuống dưới 18°C. (Làm pháp y, bạn nhận ra việc tìm được ngoại lệ của ngoại lệ khó tin đến mức hoang đường, vậy mà các luật sư biện hộ lại cố làm cho nó nghe có vẻ thường tình nhất có thể.)

Thành thử, mất nhiệt không phải nguyên nhân tử vong hiếm gặp. Nạn nhân của nó bao gồm những người rơi xuống biển hoặc nước lạnh, những người say xỉn ngã lăn ra ngủ quên trong công viên, hoặc những đứa trẻ sơ sinh bị bỏ mặc. Tuy nhiên phần lớn nạn nhân đều là người lớn tuổi. Có lẽ họ sợ không đủ khả năng trả tiền điện, hoặc họ thật sự không có khả năng, hoặc họ mất khả năng thể chất và ý thức để bật được lò sưởi lên. Đôi khi mất nhiệt chỉ là bước cuối cùng đặt dấu chấm hết cho chuỗi dài thê lương của trầm cảm, biếng ăn và thiếu chăm sóc bản thân.

Trong trường hợp này, nhóm điều tra không thể tin rằng không có kẻ đột nhập.

“Nhìn tình trạng căn nhà này đi bác sĩ! Có Chúa mới biết hắn đã lấy những gì, hắn lục không sót thứ gì!”

“Vậy tại sao bà ấy không mặc gì? Tôi hy vọng anh không nghĩ rằng tên trộm đã...”

“Tôi cho là bà ấy đã tự cởi quần áo. Tôi nói. “Vì lạnh!”

“Thôi đi mà bác sĩ!”

“Rồi bác sĩ nghĩ bà ấy quăng đồ đạc khắp nơi trong nhà à?”

Đối với tôi, đây là một ca điển hình của chứng nấp chết (*) . Bà ấy hẳn đã đầu hàng trước sự thôi thúc đầy mâu thuẫn của căn bệnh, xuất hiện ở những người chết vì lạnh: họ cởi hết quần áo. Những người sống sót kể lại rằng họ cảm thấy cực kỳ nóng và việc lột bỏ quần áo là việc làm hoàn toàn bình thường lúc đó. Đây là phản ứng trước sự tụt giảm thân nhiệt. Một hiện tượng khác hiếm gặp hơn nhưng cũng dễ nhận biết là cách thức những nạn nhân lẩn trốn: trong những góc kẹt, dưới gầm bàn, và trong quá trình đó họ cũng xô lệch bàn ghế trong nhà, đổ đồ đạc trong các ngăn tủ ra sàn nhằm “đắp” chúng lên người.

Nhóm hiện trường có vẻ hoài nghi về chứng nấp chết này. Viên thanh tra vẫn quả quyết rằng tôi sẽ tìm ra bằng chứng của vụ giết người trong quá trình khám nghiệm tử thi, kỳ thực tôi biết sẽ khó chứng minh được giả thuyết của mình. Tử vong do giảm nhiệt khó chẩn đoán trên cơ thể đã chết vì nó không khác mấy thân nhiệt người chết. Đôi khi cũng có dấu hiệu, chẳng hạn những mảng da hồng nâu quanh đầu gối và khớp khuỷu tay của những nạn nhân da trắng. Nhưng dấu hiệu quan trọng hơn cả là những khối u nhỏ tối màu viền quanh dạ dày.

Trong trường hợp này, nhẹ nhõm thay, tôi đã tìm được cả hai dấu hiệu rõ ràng chứng minh nguyên nhân tử vong do mất nhiệt. Tôi vui vì đã chứng minh được giả thuyết của mình nhưng lại thấy buồn vì sự thật. Người phụ nữ này, sống một mình và chết trong cô độc, sao phảng phất hình ảnh bà tôi, những người dì của tôi, những người bạn của dì, tất cả những người phụ nữ tôi có thể nhớ đến, những người phụ nữ sống ở miền Bắc nước Anh. Hồi tôi còn là một đứa trẻ thường xuyên trải qua những kỳ nghỉ ở đó, thế giới của những người phụ nữ lớn tuổi sống một mình có vẻ là một phần vững chắc thuộc về một cấu trúc lớn hơn cấu thành từ tình bạn, gia đình, cộng đồng và sự tương hỗ. Nếu không thể sống một mình được nữa, họ chuyển tới các nhà dưỡng lão và vẫn là một phần của cộng đồng. Nhưng người vừa nằm xuống đây không thuộc bất cứ cấu trúc nào kể trên. Bà ấy đã mất mạng do thiếu sự quan tâm. Ngoài sự thiếu quan tâm từ chính bản thân bà ấy còn có sự thiếu quan tâm từ bạn bè, gia đình và cộng đồng, khiến điều đáng tiếc này xảy ra. Từ những bức ảnh trong hồ sơ, bà ấy trông giống người mẹ, người dì hay người bà của ai đó. “Ai đó” giờ ở đâu? Liệu có thân nhân nào chẳng buồn nghĩ đến sự tồn tại của bà ấy không? Liệu họ có quan tâm hơn chút nào không khi biết bà ấy đã chết?

Tôi từng thấy khó xử khi phải đối mặt với những cảm xúc của thân nhân người quá cố nhưng giờ tôi lại rất muốn gặp vài người trong số họ. Tôi muốn giải thích cho những đứa con của người phụ nữ này biết vì sao mẹ họ chết. Chẳng có thân nhân nào liên hệ với tôi. Họ cũng không xuất hiện tại buổi điều tra chính thức. Sau khi thu thập đủ thông tin về người quá cố, chuyên viên điều tra nhận định đây là ca tử vong vì tai nạn và chấp nhận nguyên nhân tử vong tôi đưa ra trước đó: Sự mất nhiệt kèm theo bệnh lý nền sa sút trí tuệ. Hôm đó chỉ có tôi, một viên cảnh sát trẻ và chuyên viên điều tra tại tòa. Cái kết buồn, cô độc cho một kiếp người.

Khi phải chuẩn bị tiếp tục đối mặt với những thân nhân, tôi lại sợ hãi muốn tránh né, nhưng tôi nhắc mình vậy vẫn tốt hơn tự đi tìm câu trả lời cho những cuộc đời chết không người đưa tiễn. Dẫu vậy điều này vẫn không hoàn toàn gạt bỏ được nỗi sợ hãi của tôi. Chỉ mới nghĩ đến các thân nhân tôi đã thấy choáng đầu, thậm chí còn có ý định cáo bệnh thoái thác. Nhưng tôi biết, không có lối thoát. Tôi vẫn có liên hệ với nỗi đau mất mát của họ, mà giờ nhìn lại, tôi thấy mình ít nhiều trong đó, thấy những nỗi đau đớn kìm nén lâu ngày của mình trong đó.

Đó là một ca khó khăn. Nỗi thống khổ của gia đình thật khủng khiếp, đứa con gái lớn của họ bước vào phòng em gái vào một buổi sáng, phát hiện em gái đã chết đêm hôm trước mà không biết lý do. Alannah là diễn viên ba-lê yêu nghề, gương mặt khả ái, đáng yêu. Bố mẹ cô bé bế tắc, sốc nặng và suy sụp nên bác sĩ gia đình và chuyên viên điều tra đã thu xếp cho họ gặp tôi để trao đổi về nguyên nhân tử vong của cô bé.

Tôi gặp họ trong phòng dành cho thân nhân tại nhà xác. Căn phòng được trang trí bằng tông màu dịu nhằm mục đích xoa dịu những cảm xúc. Ánh sáng không quá chói gắt, căn phòng còn được cách âm khỏi tiếng xe đẩy, tiếng trò chuyện huyên náo ngoài hành lang. Tôi bước nhanh vào, với tư cách một bác sĩ pháp y trẻ vừa hoàn thành bài giảng đang chuẩn bị cho buổi khám nghiệm tử thi tiếp theo, rồi về nhà gặp các con của mình. Vừa đẩy cửa bước vào, tôi thầm nghĩ không biết phải mất bao lâu để hoàn thành nhiệm vụ này.

Trước mắt tôi là một gia đình đang bị sốc. Mẹ của cô bé, bố của cô bé, anh trai, chị gái. Chỉ mỗi cảm giác đau khổ của họ thôi cũng đủ khiến cuộc sống của tôi như dừng phắt lại. Tất cả đồng hồ đều ngừng chạy.

Tôi khát khao được đối xử tử tế với họ. Tôi mở miệng ra để nói. Rồi khép lại. Nỗi đau không thể diễn tả thành lời. Tôi cảm thấy nó bắt đầu ngấm vào cơ thể mình, nỗi đau khổ chèn lên ngực tôi. Điều tử tế nhất tôi có thể nói là gì? Một tiếng nấc từ anh trai cô bé. Chị gái cô bé vùi đầu trong lòng bàn tay. Những giọt nước mắt lăn dài trên má ông bố. Đột nhiên tôi muốn khóc cùng họ. Tôi chưa khóc bao giờ, chưa từng, chắc chắn là chưa từng khóc một lần nào nữa từ khi mẹ tôi mất. Tôi không có ký ức gì về những lần mình khóc hồi còn là thiếu niên hay khi đã trưởng thành. Tôi chưa từng khóc vì những sự ác độc, buồn bã chạy dài theo sự nghiệp của mình. Vợ tôi biết rõ điều này. Tôi không khóc. Nhưng giờ tôi muốn làm điều đó, như thể tôi cần nước mắt của ai đó để kích hoạt lại tuyến lệ đã khô từ lâu của mình.

Nhưng sự chuyên nghiệp không bao giờ cho phép tôi làm vậy.

Thế là họ kiên nhẫn chờ đợi tôi thốt ra lời chia buồn, cho đến lúc đó căn phòng chìm trong sự thinh lặng đặc quánh.

Cuối cùng cũng có người chịu lên tiếng. Đáng lẽ phải là tôi, vậy mà lại là mẹ cô bé. Gương mặt bà ấy toát lên sự tàn phá của nỗi đau, nhưng bằng cách nào đó bà ấy vẫn giữ được sự điềm tĩnh.

“Bác sĩ ổn chứ?” Bà ấy hỏi tôi. Giọng bà ấy đong đầy nỗi đau nhưng cũng thấm đẫm sự tử tế, quan tâm. Tử tế vì bà ấy đang nhìn tôi với một vẻ gần như trắc ẩn.

Tôi trấn an bà ấy, run rẩy, rằng tôi ổn.

“Anh có... có thể giải thích cho chúng tôi về nguyên nhân qua đời của Alannah không?” Bà ấy ướm lời.

Đương nhiên! Đó là phận sự của tôi ở đây. Bà ấy đã nhắc nhở tôi. Gia đình họ không cần tôi tỏ bày sự thương cảm, họ không cần nước mắt tôi rơi cho cô con gái xinh đẹp vừa bị cái chết tước đi.

Tách! Tôi quay lại thái độ chuyên nghiệp. Tôi có những kiến thức về cô bé mà họ không có, tôi biết cơ thể cô bé hoạt động thế nào và chuyện gì đã xảy ra vào cái đêm khủng khiếp đó. Cô bé đã nói chuyện với tôi – tất cả các thi thể đều làm vậy. Một buổi khám nghiệm cho tôi biết rất nhiều điều về lối sống của ai đó, có thể là cả tính cách, nhưng hơn cả là cách họ chết. Trong những trường hợp bị giết, chỉ cần tôi lắng nghe cẩn thận, những điều tử thi nói với tôi sẽ giúp mang hung thủ ra trước ánh sáng công lý. Trong trường hợp của Alannah, tôi có thể xoa dịu gia đình cô bé bằng những điều tôi lắng nghe được.

Đó không phải lần đầu tiên tôi gặp gia đình người chết, nhưng từ sau lần gặp đó, tôi hiểu ra họ muốn gặp bác sĩ pháp y chỉ để biết một điều duy nhất: sự thật.

Alannah mắc chứng động kinh và đã được kê thuốc phù hợp. Các chuyên gia độc chất học cho biết không có bất cứ hóa chất nào khác trong máu Alannah. Quan trọng nhất là, theo kết quả xét nghiệm, cô bé đã uống thuốc đúng liều lượng, không quá liều, cũng chẳng bỏ liều. Cô bé cũng không chết vì ngạt trong đêm đó.

Các khám nghiệm bên ngoài của tôi cho biết không có dấu vết của giằng co hay ngoại lực nào, còn các khám nghiệm cơ quan nội tạng cho thấy không có vấn đề tim mạch hay bệnh nền nào khác dẫn đến tử vong. Cũng chẳng có bằng chứng nào cho thấy Alannah đã chết vì đột quỵ.

“Vậy thì tại sao? Tại sao?” Ông bố nức nở.

Tôi hỏi họ về lịch sử bệnh lý của Alannah. Tất nhiên tôi đã đọc rồi, nhưng tôi muốn chắc chắn không có chi tiết nào bị bỏ sót. Nghe họ nói xong, tôi biết nguyên nhân tử vong là do chứng động kinh của cô bé, ngoài ra chẳng còn lời giải thích nào khác.

Ngày nay chúng ta biết thêm về SUDEP – Tử vong không có dấu hiệu bởi chứng động kinh (*) . Chúng ta biết về những khả năng có thể xảy ra với bệnh nhân của chứng động kinh, thường vào ban đêm và không nhất thiết phải là hệ quả của trụy tim. Nhưng chúng ta lại không biết nguyên nhân chính xác vì sao SUDEP xảy ra và vào thời đó tất cả các bằng chứng ít nhiều đều dựa trên kinh nghiệm.

Thành thử tôi có thể đưa ra các bằng chứng nhưng lại chẳng thể giải thích tường tận chính xác Alannah đã qua đời như thế nào. Có lẽ một mạch thần kinh đã bị hỏng, một đợt trào tín hiệu điện não sai lầm khiến tim ngừng đập? SUDEP là một bí ẩn. Họ chấp nhận lời tôi nói nhưng vẫn có những điều khác họ muốn nghe.

Họ muốn nghe “Không phải lỗi của mọi người đâu. Cô bé đã uống đúng thuốc, đủ liều.” Đây là sự thật, tôi nói.

Họ muốn nghe “Cô bé không chết vì mọi người không nghe tiếng kêu cứu trong đêm.” Đây cũng là sự thật. Tôi nói thêm: “Không có dấu hiệu cho thấy Alannah đã kêu cứu. Nhưng nếu có, và nếu cả nhà đều nghe thấy, nếu mọi người đều xông vào, vẫn chẳng thay đổi được gì.” Câu nói đó quan trọng với hầu hết những người vừa mất người thân. Đó là một trong những câu nói quen thuộc giúp họ vượt qua nỗi đau mặc cảm tội lỗi. “Không thể làm gì khác” chưa chắc đã gạt được hết sự giày xéo sang một bên nhưng có thể giúp nỗi đau trôi qua nhanh hơn. Tôi hy vọng vậy.

Vậy nên đó là những gì tôi nói với họ, là tất cả sự thật tôi biết, là tất cả những điều không màu mè lên gân. Đơn giản chỉ như thế. Không qua sàng sẩy, sau tất cả những trần trụi, thô bạo của cái chết. Cho phép bản thân cảm nhận cảm xúc của các thân nhân chỉ phức tạp hóa vấn đề và chẳng giúp được cho ai. Tôi không bao giờ cho phép điều đó xảy ra nữa.

Tôi chỉ nhìn khi chị gái Alannah thoát ra khỏi nét mặt căng cứng, méo mó đầy chống đối mà cô bé cố khoác lên mình. Anh trai Alannah đã thôi khóc. Ông bố ngừng nức nở. Không kéo dài bao lâu. Nhưng sự thật ít nhiều đã xoa dịu họ.

Buổi gặp gỡ đó đã thay đổi cách tôi đối diện với các thân nhân, hiểu theo cách nào đó, đã gột bỏ sự hoảng sợ của tôi khi phải gặp họ. Tôi không còn cố giúp họ tránh né đau khổ mà truyền đạt sự thật càng có tâm càng tốt – trong khi vẫn phải thừa nhận sự thật không hẳn lúc nào cũng đơn giản hoặc đơn nhất. Nó có thể là một con quái vật nhiều hình tướng. Có thể tôi không nhìn thấu hết chúng. Và sự thật có thể mang ý nghĩa khác nhau từ những quan điểm khác nhau những gia đình nói họ muốn nghe sự thật, sau đó gạt bay nó đi, đơn giản vì những điều họ được nghe không khớp với những gì họ hình dung hay kỳ vọng.

Điều đó không xảy ra với gia đình này. Nhưng họ đã hỏi tôi thêm nhiều câu hỏi, tôi cũng đã nghe những câu hỏi đó nhiều lần lắm rồi.

Anh trai Alannah trầm giọng xuống, gần như thì thào: “Cảm giác khi chết thế nào nhỉ?”

Trả lời: “Tôi không biết.”

Tôi chắc chắn trong cả những trường hợp dữ dội nhất, cái chết sau cùng là một sự giải thoát đầy thư giãn. Vì thế, tuy không có dữ liệu khoa học mà chỉ căn cứ đơn thuần vào bản năng và kinh nghiệm khi chứng kiến người ta qua đời tại khu cấp cứu bệnh viện, tôi biết dù ít người muốn chết nhưng nếu nó đến, cái chết vẫn có thể dễ chịu.

Nghe tôi nói vậy, chị gái cô bé, người đã phát hiện ra xác em mình trong phòng ngủ thốt lên: “Con bé trông rất bình an, như thể đang mơ giấc mơ đẹp!”

Tôi nghe câu này bao nhiêu lần rồi, “Cô ấy trông thật bình an!” Những biểu hiện trên gương mặt lúc ấy không hẳn nghĩa là cái chết đó bình an. Thứ chúng ta thấy đơn giản chỉ là do cơ mặt giãn ra sau khi chết. Mặc dù nét mặt bình an ấy có thể giúp người ở lại cảm thấy tốt hơn, tôi vẫn sẽ nói sự thật nếu được hỏi. Nhưng lúc này chị gái cô bé chỉ đưa ra lời nhận xét, không phải câu hỏi. Những dòng chữ của Pope hiện ra trong đầu tôi.

Cái chết có thể là sự giải thoát êm ái, nhưng bất cứ điều gì đến trước khi nó xảy ra có thể rất kinh khủng. Giờ đến lượt bố của Alannah hỏi tôi bằng giọng khản đặc: “Con bé có đau đớn không bác sĩ? Tôi mong con bé không đau đớn lâu!”

Bác sĩ pháp y lúc nào cũng gặp câu hỏi này và khi trả lời họ luôn phải đứng giữa hai làn đạn, một bên là những thân nhân đang suy sụp và một bên là sự thật.

Rất nhiều bác sĩ pháp y chọn cách nói với người ở lại rằng người thân của họ, nhất là những người chết vì xung đột bạo lực, đã ngất đi và nhanh chóng mất ý thức rồi ra đi bình an. Kể cả khi họ không biết đó có phải sự thật hay không. Rất khó để kiểm chứng khoảng thời gian hay mức độ đau đớn mà một cơ thể phải chịu đựng trước khi chết. Tôi có thể xem xét những vết thương và bệnh nền để đoán định mức độ đau đớn họ phải chịu đựng trước khi chết. Tôi cũng có thể đưa ra suy luận cái chết diễn ra lâu hay mau trong nhiều trường hợp. Nhưng nếu chỉ xem xét thi thể, rất khó để kết luận chính xác về tốc độ tử vong.

Có những niềm tin không chính xác về lượng dịch trong phổi tử thi - phù phổi - dấu hiệu được coi là dẫn đến cái chết từ từ. Chứng phù phổi này là một phần thường gặp ở những bệnh nhân sắp chết: khi tim đập yếu đi, theo lý thuyết sinh lý thông thường, dịch sẽ tràn ra khỏi các mạch máu và vào phổi. Vì thế những nạn nhân bị chặt đầu sẽ không bị phù phổi, cái chết đến với họ quá nhanh. Nhưng điều ngược lại cũng không hẳn đúng, rất nhiều dịch trong phổi không có nghĩa đó là cái chết chậm rãi, đau đớn.

Vậy làm thế nào để trả lời cho các gia đình câu hỏi về tốc độ và diễn biến của cái chết? Tôi quyết định đi theo cách cảm tính mà tôi sử dụng trong phòng khám nghiệm tử thi: dùng kiến thức để làm dịu bớt những cảm xúc đau đớn.

Tôi nói: “Phần lớn mọi người đều hiểu lầm về cái chết. Họ nhìn nhận nó như một việc xảy ra tức thời. Gia đình cho rằng giờ này đây con gái mình còn sống, rồi giây phút tiếp theo... biến mất. Không phải như vậy. Con người ta chỉ biến mất lập tức, hoàn toàn, trong một khoảnh khắc, nếu họ ‘bốc hơi vì một vụ nổ hạt nhân. Trong mọi trường hợp khác, cái chết là một quá trình.”

Cái chết là một quá trình. Tôi đã dùng câu này không biết bao nhiêu lần. Trong quá trình này, mỗi bộ phận của cơ thể tắt nguồn với tốc độ khác nhau tùy thuộc sự chuyển hóa chất tại đó. Điều này khởi động nhiều quá trình khác, sau cùng dẫn tới sự phân hủy và tan biến tự nhiên của cơ thể người. Cát bụi trở về cát bụi.

Quá trình đơn giản của cái chết mà nhiều người trong chúng ta chứng kiến cạnh giường bệnh có thể chỉ kéo dài vài giây, hoặc nhiều hơn là vài phút. Nói đúng hơn, nó có thể kéo dài nhiều giờ khi cơ thể chết dần từng tế bào. Nhiều tế bào khác, chẳng hạn da và xương có thể vẫn “sống” tới một ngày sau, những tế bào ở vùng đó tiếp tục trao đổi chất, dùng nguồn năng lượng dự trữ cho đến khi cạn. Thực tế những tế bào đó có thể được tách rời và nuôi trong phòng thí nghiệm vài ngày từ khi có giấy báo tử.

Trong vài giờ, có thể vẫn có nhịp tim, vẫn diễn ra quá trình tiêu hóa, bạch cầu di chuyển độc lập đến mười hai giờ sau đó, các cơ co giật nhẹ, nhưng đó không phải sự sống. Cũng có thể có những hơi thở hắt ra, nhưng đó không phải hô hấp.

Đã có nhiều nỗ lực định nghĩa cái chết, nhưng mỗi lần định nghĩa là một quá trình vật lộn cả về mặt đạo đức lẫn khoa học. Khi người ta không thể giao tiếp hay phản ứng lại với mọi thứ quanh mình, mất khả năng phục hồi ý thức và nhận biết thế giới xung quanh cũng như về chính mình, đó là cái chết. Tất nhiên định nghĩa này cũng có thể dùng cho người đang trong tình trạng ngủ rất sâu hoặc dưới tác dụng của thuốc mê, nhưng những trường hợp như vậy có thể đảo ngược. Định nghĩa này còn có thể áp dụng với những người hôn mê sâu hoặc sống thực vật, nhưng vì họ vẫn có nhịp tim và ít nhất là sóng não nên đó không phải cái chết.

Khi không còn nhịp tim, hô hấp và điện tâm đồ chỉ là một đường thẳng, đó là cái chết thật sự. Thi thoảng người ta vẫn nói với tôi họ biết chính xác giờ khắc “nó” đến lúc ngồi cạnh giường bệnh của người thân, nhưng phần lớn họ đã nhầm. Họ đang nói đến thời khắc tim và hô hấp dừng lại, họ chứng kiến cái chết thể lý. Cái chết của tế bào đến chậm hơn.

Gia đình người vừa nằm xuống lắng nghe những lời tôi nói, tiếng nức nở đã không còn. Sự thinh lặng là minh chứng họ đang cố gắng đan cài những kiến thức tôi vừa chia sẻ với trải nghiệm đau thương của chính mình.

“Tôi không thể cho mọi người biết cái chết đến với Alannah bao lâu, nhưng theo kinh nghiệm của tôi, cái chết bất ngờ do những cơn động kinh thường diễn ra rất nhanh. Tôi cũng không thể nói cô bé đã chịu đau đớn thế nào, nhưng không có dấu hiệu nào trong cơ thể cho thấy cô bé đã phải chịu đau đớn.”

“Con bé chắc không giật mình tỉnh dậy chứ? Con bé không biết mình sắp chết chứ?” Ông bố hỏi tôi, đầy hy vọng.

Rất dễ bị cuốn theo để đồng ý, nhưng đó không hoàn toàn là sự thật.

“Chúng ta không bao giờ có thể biết chính xác những gì Alannah đã trải qua. Tôi chỉ có thể nói không có dấu hiệu nào của sự đau đớn. Và tôi xin nói lại rằng, cái chết là một quá trình mà sự sống từ từ được gói lại, đặt sang một bên. Tôi tin đây là một quá trình êm ái.”

Gia đình họ có vẻ đã hỏi đủ và sắp ra về, trông họ bình tĩnh và thoải mái hơn. Rồi bất ngờ ông bố nói, trong sự kinh ngạc tột độ của tôi: “Nghe những điều này thật hữu ích, nhưng… tôi chỉ không thể chịu được ý nghĩ rằng bác sĩ đã cắt con gái tôi ra từng mảnh.”

Đến lúc này, bà mẹ vốn giữ được bình tĩnh từ đầu tới giờ òa khóc.

“Chúng tôi rất muốn nhìn mặt con bé lần cuối, nhưng giờ thì không thể vì bác sĩ đã cắt nát con bé ra rồi!”

Anh trai cô bé bị sặc, gương mặt ông bố trở nên rúm ró, ông ấy tiếp tục khóc.

Tôi chưa bao giờ dám nghĩ mình lại giống thần chết trong những dịp Halloween, chuyên “cắt nát” người thân của mọi người. Đó cũng là lần đầu tiên tôi đối diện với những lầm tưởng về nghề nghiệp của mình, rằng các bác sĩ pháp y là những kẻ biến các xác chết đẹp đẽ thành những tảng thịt nham nhở. Mặc dù tôi cũng thường thấy điều đó xảy ra.

Rất nhiều người, tôi xin lỗi phải đề cập đến, bao gồm cả cảnh sát và cả chuyên viên điều tra (những người đáng lý phải hiểu chuyện hơn) đưa ra những lời khuyên sai lầm cho các thân nhân là không nên gặp mặt người thân của mình lần cuối, vì những gì “bên pháp y đã làm”. Những người không chịu nổi ý nghĩ tham gia một buổi khám nghiệm tử thi, kể cả những người theo lý thuyết là dân trong ngành nhưng chưa từng tham gia một buổi khám nghiệm hay nhìn thấy một thi thể hậu khám nghiệm, thì không nên áp đặt cảm xúc của mình lên gia đình nạn nhân trong thời điểm nhạy cảm như vậy. Tôi không nghi ngờ thành ý muốn giúp của họ, nhưng hành động đó chỉ làm tấy lên những vết thương lâu dài trong lòng những người muốn và cần nói lời vĩnh biệt.

Hậu quả của những hiểu lầm đó là rất nhiều thân nhân không đồng ý tiến hành khám nghiệm tử thi, dù chẳng phải lúc nào họ cũng có sự lựa chọn. Nếu cái chết đáng ngờ, dù vì nguyên nhân tự nhiên hay tai nạn, bộ phận điều tra sẽ vào cuộc, các chuyên viên điều tra sẽ yêu cầu khám nghiệm tử thi khi tình nghi đó là một vụ giết người. Xã hội cần sự thật, yêu cầu chính đáng này phải vượt lên trên ý muốn riêng của gia đình và đừng quên rất có thể thành viên nào đó trong gia đình lại chính là kẻ thủ ác.

Nỗi khiếp đảm trước nhiệm vụ khám nghiệm tử thi chỉ trở nên rõ ràng khi tôi đọc được tuyên bố của thân nhân một người chết do thiên tai. Bà ấy phát hiện xác con trai đã bị khám nghiệm mà chưa được đồng ý trước. Anh ta chết trong một vụ thiên tai nên bà ấy cho rằng nguyên nhân tử vong đã rõ rành rành:

“Hành động mang tính chất phá hủy cơ thể con trai tôi một cách thiếu kính trọng đã xâm phạm nhu cầu tình cảm, đức tin tôn giáo của gia đình tôi. Đối với tôi, con trai tôi vẫn là con trai tôi, mọi hành vi xâm phạm thi thể nó đều không thể tha thứ.”

Tôi biết, rất khó để hiểu được sự khép màn mang tên cái chết. Thật khó hình dung được con trai hôm qua còn nói cười với mình, hôm nay bỗng chẳng còn nữa. Thật khó cảm thông được khi hôm qua anh ta vừa quằn quại vì bị tôi cứa dao vào cơ thể thì hôm nay anh ta chẳng thể cảm nhận gì. Và khó nhất chắc là nhìn nhận nhát rạch ấy không phải sự xúc phạm mà là hành động đầy tôn trọng, thậm chí cả yêu thương.

Theo lời vị luật sư bảo vệ nhóm người đầy giận dữ, bao gồm cả người mẹ tôi trích lời bên trên: Cách đối xử với thi thể người quá cố thể hiện sự văn minh của xã hội chúng ta đang sống. Có rất nhiều việc phải làm sau những cánh cửa phòng khám nghiệm, chúng ta hiểu tại sao. Vì lẽ đó, trách nhiệm đặc biệt được tin cẩn đặt vào tay những người có khả năng và quyền hành sẽ bảo đảm thi thể người quá cố được tôn trọng tuyệt đối. Đó là điều mà những thân nhân ở lại cũng như xã hội yêu cầu.

Ai không đồng tình với ông ấy? Trừ việc ông ấy đang đại diện cho những thân nhân khốn cùng vừa mất đi người thân và giận dữ vì người thân đã bị khám nghiệm.

Đối với tôi, những lời ông ấy nói chỉ ra lý do chính xác vì sao quá trình khám nghiệm tử thi lại không thể thiếu. Khi tôi thực hiện một ca, tôi đặt vào đó sự mẫn tiệp, hiệu quả và nhận thức sâu sắc không những chỉ với “sự tôn trọng tuyệt đối” mà còn với sự yêu quý tôi dành cho đồng loại của mình. Tôi cố tìm ra nguyên nhân tử vong, do đó, đau đớn làm sao khi bị xem là gã đồ tể bí hiểm đội lốt bác sĩ. Tôi thật sự hy vọng những người tôi từng tiếp xúc trực tiếp, những người từng nghe chứng cứ tôi trình bày tại tòa sẽ nhận thấy tôi đã thực hiện công việc của mình rất cẩn trọng và, tôi tin là với cả tình thương dành cho nhân loại.

Rất từ tốn, tôi giải thích cho gia đình Alannah hiểu thi thể cô bé không bị cắt xẻo man rợ mà được kiểm tra một cách tôn trọng nhất, vì gia đình, vì chính cô bé và vì xã hội. Thế giới không chỉ nhún vai và nói “Rồi, đi đời thêm một con nhóc mười lăm tuổi”, thế giới cần biết sự thật.

Tôi cam đoan với họ thi thể cô bé đã được các đồng nghiệp của tôi phục hồi cẩn thận, tươm tất, như tất cả các thi thể khác. Các kỹ thuật viên nhà xác tự hào về kỹ năng đặc biệt của họ hoàn toàn có lý do. Gia đình Alannah không cần ngại nhìn cô bé lần cuối. Và thật sự họ cần làm vậy. Chào từ biệt người thân lần cuối là cách nói lời tạm biệt sau chót và để ghi nhớ một cuộc đời.

Tôi sắp xếp cho họ được gặp Alannah lần cuối. Họ lí nhí cảm ơn khi tôi rời đi. Tôi biết hành trình của khổ đau sẽ còn trải dài trước mắt họ. Tôi đã dợm trước vài bước, hy vọng khiến nó dễ dàng hơn chút nào đó. Vì nhiều lý do khác nhau, không người nào trong chúng tôi có thể quên được buổi gặp mặt hôm ấy.

Dĩ nhiên tôi không thể gánh hết buồn đau cho hàng vạn người tôi từng tiến hành khám nghiệm tử thi. Buồn đau mất mát không phải cảm xúc của tôi khi rạch cơ thể người. Tôi chỉ trải nghiệm nó lúc chứng kiến mất mát của người khác, trong vòng kìm nén của tòa án hoặc trong những khoảng không gian nhiều cảm xúc hơn như nhà xác hay văn phòng. Tôi đã dần quen điều chỉnh những câu trả lời của mình. Suốt nhiều năm kể từ lần gặp mặt đó, tôi vẫn luôn tin rằng những lần tiếp xúc giữa bác sĩ pháp y và thân nhân người quá cố nên diễn ra thường xuyên hơn. Sự vững chắc, chính xác của các thông tin không những cung cấp lời giải thích rõ ràng mà còn có tác dụng hỗ trợ các thân nhân, giúp họ được giải tỏa phần nào và có một nền tảng vững chắc để bước tiếp.

Về phần tôi, có thể nói xuyên suốt sự nghiệp của mình, tôi đã tôn trọng, thấu hiểu nỗi đau của các thân nhân trong khi vẫn cố gắng để không bị nó ảnh hưởng. Các độc giả tinh ý sẽ hiểu vì sao trong giai đoạn đầu của sự nghiệp tôi rất chần chừ khi phải gặp thân nhân người quá cố, vì cái chết của mẹ. Sau cùng, khi tôi dám trải lòng với nỗi đau của người khác, tôi sẽ nghe họ nói “A ha! Ông ta không cho phép bản thân trải nghiệm nỗi đau của chính mình! Vì vậy ông ta phải trải qua nó dưới hình dạng nỗi đau của người khác, lặp đi lặp lại để quen dần. Rồi khi cuộc gặp mặt kết thúc, ông ta quay lưng đi!”

Tôi chấp nhận là nghe cũng hơi có lý.

« Lùi
Tiến »