Chỉ tám tháng sau thảm họa đường sắt ở Clapham, tôi lại nhận được một cuộc gọi tinh mơ Chủ nhật, một thảm họa khác. Tháng 8, Iain đang trong kỳ nghỉ, còn tôi là chuyên viên pháp y phụ trách London và khu vực Đông Nam nước Anh. Thời khắc đó chẳng một ai biết chắc có bao nhiêu thi thể sẽ được tìm thấy, nhưng có một điều chắc chắn: sẽ không ít.
Lần này thảm họa không xảy ra trên đường sắt mà là đường thủy: sông Thames. Tôi chờ nhận thêm tin tức trước khi khởi hành, điểm dừng chân đầu tiên của tôi là cảng đồn cảnh sát ở Wapping. Một chiếc du thuyền bị chìm đâu đó gần Southwark, những thi thể được tìm thấy đều chuyển đến đây. Đó là những gì tôi biết.
Một viên hạ sĩ quan cảnh sát đứng tuổi đón tôi, trước sự kinh ngạc của tôi, ông ta rơm rớm nước mắt.
“Gần ba mươi năm trong nghề rồi bác sĩ ạ, vậy mà giờ tôi mới thấy 25 thi thể vớt từ dưới sông lên, 24 trên tàu, còn một xác ở phía thượng lưu tại Vauxhall cách đây tám cây cầu. Chưa bao giờ tôi dám nghĩ một ngày tôi sẽ phải thấy những cảnh này. Toàn bọn nhóc cả, mới ngoài 20.”
Chiếc du thuyền bị chìm hẳn phải là kiểu du thuyền được thương mại hóa để tổ chức tiệc mọi người vẫn thường thuê đi dọc sông Thames. Tôi đã thấy và nghe về chúng nhiều rồi. Những người trẻ tuổi đứng trên boong tàu, quần áo phần phật trong gió như cánh bướm đêm khổng lồ. Những tràng cười, tiếng nhạc ở cả hai bên bờ sông cũng nghe thấy. Xuyên qua những ô cửa sổ là bóng người nhảy múa đầy sắc màu.
Viên hạ sĩ quan thêm vào: “Bác sĩ phía cảnh sát đã có mặt tại hiện trường và chứng thực tất cả bọn họ đều đã chết.” Ông ta bắt đầu khóc rồi bước đi, đầu lắc nguầy nguậy. Tôi có thể nghe tiếng ông ta xì mũi trước khi mở cửa ra ngoài để xua phía truyền thông đi chỗ khác.
Cảng đồn cảnh sát Wapping là trạm cảnh sát xây theo kiểu Victoria ngay cạnh bờ sông. Mặt sau, một khu vực được dùng làm nhà xác tạm, là một căn phòng thì đúng hơn. Nền nhà bê tông bị những túi xác phủ gần hết. Tất cả các túi xác đều được mở, để lộ thi thể trẻ măng bên trong. Tất cả đều mặc đồ dự tiệc, hầu hết là gam màu chói. Tôi nhìn cảnh tượng đau lòng đó, nhận ra có điều bất thường. Tất cả trang phục của các nạn nhân đều bị xáo trộn: váy vóc lộn xộn, quần bị cởi ra...
Tôi liền tìm viên hạ sĩ quan, ông ta cau mày.
“Bác sĩ phía cảnh sát đã cởi quần áo của họ. Tôi nghĩ để kiểm tra giới tính.”
Tôi không hài lòng nhưng cũng chẳng thể làm gì khác. Có lẽ họ bị choáng ngợp trước thảm họa và cảm thấy cần phải làm gì đó, gì cũng được miễn là có ích: kiểm tra mạch, tìm nhịp tim. Tôi từng chứng kiến kiểu phản ứng này trước đây - kể cả những chuyên gia được huấn luyện kỹ cũng cảm thấy “cần làm gì đó” dù họ biết rõ hơn ai hết việc đúng đắn duy nhất cần làm là không làm gì cả.
Sau đó tôi đến Nhà xác Westminster vì biết rằng thi thể các nạn nhân sẽ không lưu lại nhà xác tạm thời đó lâu. Tôi muốn chắc chắn Westminster đã có sự chuẩn bị để đón nhiều thi thể như vậy.
Nhưng không. Tôi sực nhớ ra quản lý thường trực, Peter Bevan, cũng đang trong kỳ nghỉ. Cấp phó của ông ta đang quản lý thay, tôi chưa từng thấy anh ta có chút khiếu tổ chức nào hay có năng lực bằng một phần sếp mình. Sự bình tĩnh, kỹ năng tổ chức của Peter là những gì chúng tôi cần khi phải đối phó với thảm họa. Dù sao, ít nhất các nhân viên nhà xác cũng đã chuẩn bị trang thiết bị để tiếp nhận thi thể. Trong không khí chuẩn bị căng thẳng, lần đầu tiên tôi cảm thấy một nỗi khiếp sợ mơ hồ gần như gây choáng đầu. Chóng vánh, nhưng thật mạnh mẽ.
Cùng một bác sĩ pháp y hỗ trợ khác, chúng tôi thống nhất sẽ quay lại vào sáng hôm sau, khi tất cả thi thể đã được chuyển đến để tiến hành khám nghiệm.
Dần dần các sự thật được hé lộ. Trong đêm mùa hè yên ả ấy, một con tàu nạo vét khổng lồ đã va chạm với chiếc du thuyền nhỏ tên Marchioness trên sông Thames, gần cầu Southwark.
Tàu Bowbelle đã trút hết sỏi nó chở ở Nine Elms và đang trên đường ra biển vét thêm. Du thuyền Marchioness được thuê để tổ chức một buổi tiệc sinh nhật, khách là những người trẻ đến từ nhiều quốc gia.
Ban đầu, tàu Bowbell đụng phải du thuyền Marchioness bé nhỏ ở phía sau, bên mạn phải, khiến chiếc du thuyền rung lắc mạnh và đổ nghiêng. Một nhân chứng kể lại rằng tàu Bowbell “cắm vào, đẩy chiếc thuyền xuống nước như một món đồ chơi”. Kỳ thực, mỏ neo của tàu Bowbell đã xiên thẳng qua boong thuyền Marchioness trước cú va chạm lần hai khiến chiếc thuyền xoay vòng và lật ngang.
Các nhân chứng sống sót kể lại:
“Tôi thấy một cú nảy mạnh... rồi đuôi thuyền đánh sang phải... Nước tràn vào qua những cửa sổ đang mở. Tôi cảm thấy chiếc thuyền đang lật nhào... Tôi nhớ đã quay người lại, nhắm hướng cửa sổ để thoát thân... Khi nước bắt đầu tràn vào... tôi hiểu chiếc thuyền sẽ chìm. Chỉ trong vài giây ngắn ngủi, hệ thống điện vụt tắt. Tất cả chìm trong bóng đêm... Tôi bị một tường nước khổng lồ cuốn mạnh về phía trước. Chiếc thuyền nhanh chóng ngập đầy nước... Khi tôi trồi lên khỏi mặt nước cách Marchioness một khoảng xa, tôi thấy chiếc thuyền đã chìm một phần...”
“Tôi... tôi cảm thấy bên phải chiếc thuyền đột nhiên chìm xuống... Khi tàu nghiêng, nước bắt đầu tràn vào qua những ô cửa sổ. Tất cả mọi người đều mất đà, bàn ghế trượt sang bên phải, chìm xuống phần nước đang ngập dần trong khoang thuyền với một tốc độ chóng mặt. Tôi ngụp xuống.”
“Rồi tàu nghiêng hẳn sang một bên, nước ngập vào trong các nhà vệ sinh. Tôi cố mở cửa để thoát ra ngoài. Khi tôi mở được cửa, toàn bộ thuyền đã chìm.”
“Tôi cảm thấy chiếc thuyền rung lên, rồi đột nhiên tất cả như bị xô lệch, tôi mất thăng bằng. Tôi nghĩ tôi ngã vào một chiếc bàn... Tôi thấy thân con tàu ấy xuyên thẳng qua thuyền chúng tôi, cái neo đập vỡ tan kính cửa sổ, thủy tinh rơi như mưa vào người chúng tôi, nước tràn vào khoang...”
Một thách thức tâm lý ghê gớm cho những người trẻ trên thuyền. Cơ hội sống sót của họ bị quá nhiều thứ đe dọa, cú xoay tàu bất thình lình, khối lượng nội thất khổng lồ chao trượt, bóng tối, giá lạnh, làn nước lạnh cóng, đối với vài người khác còn là việc không thể tới gần lối thoát hiểm. Để thoát thân, sức mạnh thể chất là điều bắt buộc, cũng vì vậy mà dập tắt cơ hội sống sót của rất nhiều nạn nhân.
Mãi thời gian sau, trong một thông cáo về bi kịch này, Bác sĩ Howard Oakley, một chuyên gia về y học nhiệt và sinh tồn cho biết: “Tàu lật nghiêng bất ngờ là trải nghiệm gây sốc, phản ứng của các nạn nhân có thể chuyển từ hoảng loạn đến bình tĩnh và quyết tâm sống sót. Các phản ứng sinh lý sau cơn sốc đó khiến khả năng nín thở của các nạn nhân bị rút ngắn, càng làm giảm cơ hội thoát thân của họ.”
Chỉ 30 giây sau cú va đập, chiếc Marchioness đã nằm dưới lòng sông Thames. Mười bốn phương tiện đường thủy khác được điều đến phục vụ công tác cứu hộ, nhưng phải ít nhất vài giờ, các thi thể mới được đưa lên bờ. Rất nhiều nạn nhân có thể đã bị kẹt trong thuyền, số khác hẳn đã rơi khỏi tàu. Thames là một dòng sông nguy hiểm, vừa sâu vừa tăm tối, với hỗn hợp dòng chảy từ lâu đã nổi tiếng vì khả năng giấu xác người chết đuối mấy ngày, thậm chí vài tuần sau mới phát hiện được. Kỳ thực, phải mất năm tiếng đội cứu hộ mới tìm thấy thi thể đầu tiên, và gần hai tuần sau người ta mới tìm được thi thể cuối cùng.
Một thi thể chết đuối – hoặc một người ngập trong nước sau khi đã chết vì lý do khác, thường có làn da nhăn nheo, mờ đục. Ai từng ngâm bồn tắm quá lâu cũng sẽ trải qua hiện tượng này, gọi là “bàn tay người giặt đồ”: lớp sừng dày trên các ngón tay, lòng bàn tay và gót chân thấm mềm, da trắng bệch nhăn nhúm, bất kể sắc da gốc của nạn nhân là gì. Thêm vài ngày, nếu thi thể vẫn ở trong nước, da sẽ bắt đầu tách khỏi thịt, bong ra.
Cũng nên nói thêm vì nó liên quan nhiều đến các bước tiếp theo. Thời điểm thi thể nổi lên phụ thuộc nhiều vào lượng khí ga trong cơ thể đang phân hủy. Thường những người béo phì sẽ nổi lên đầu tiên.
Chiếc du thuyền đi vào lòng sông trước 2 giờ sáng ngày Chủ nhật 20 tháng 8. Vào cuối ngày hôm đó, dù tôi và một cộng sự từ Bệnh viện Guy’s đã xem xét, sắp xếp các thi thể nhưng vẫn không thể biết chính xác có bao nhiêu người đã thiệt mạng. May mắn, có khá nhiều người thoát nạn, chúng tôi nuôi hy vọng sẽ không còn quá nhiều thi thể bị kẹt lại.
Theo luật, chuyên viên điều tra những vụ bất thường chịu trách nhiệm trong vụ này, chuyên viên điều tra của Nhà xác Westminster là Paul Knapman đã từ Devon quay lại London ngay giữa kỳ nghỉ để họp với tôi và một viên cảnh sát cấp cao thống nhất các bước tiếp theo. Là chuyên viên điều tra, ông ấy sẽ phải thiết lập các bước nhận diện nạn nhân, chúng tôi cùng thảo luận về quy trình này.
Trong quy trình sắp xếp hậu thảm họa, nhận diện sai là nỗi sợ lớn nhất. Chỉ tưởng tượng thôi đã thấy sợ, nhất là đối với những gia đình nghi ngờ thi thể mình chôn cất không phải người thân của mình. Chuyên viên điều tra vì vậy hoàn toàn có đủ lý do yêu cầu các phương pháp nhận diện an toàn và chính xác nhất có thể. Giờ chúng ta đều biết tới phương pháp phân tích DNA nhưng vào thời điểm đó, phương pháp này bất khả thi, dù chúng tôi đã nhắc đến nó rất nhiều lần trong các quán bia. Hai phương pháp phổ biến nhất vẫn là lấy dấu vân tay và đối chiếu mẫu răng với các thông tin nha khoa sẵn có.
Vấn đề trong phương pháp đối chiếu thông tin nha khoa là phải lấy được tên nạn nhân, từ đó tra ra nha sĩ riêng của họ để có thêm dữ liệu về người chủ các dấu răng. Các yêu cầu gửi đến phòng khám nha khoa có thể mất rất nhiều thời gian nếu nạn nhân là người nước ngoài. Ngay lúc đó chúng tôi đã biết hành khách trên du thuyền đến từ khắp nơi trên thế giới, chắc chắn sẽ có nhiều trì hoãn và chờ đợi.
Bởi vậy phương pháp lấy dấu vân tay được lựa chọn để nhận dạng nạn nhân. Dấu vân tay cùng thông tin mẫu răng sẽ là lý tưởng nhất. Dĩ nhiên để có sự chính xác tuyệt đối lúc nào cũng mất nhiều thời gian, nhưng chuyên viên điều tra tin rằng độ chính xác quan trọng hơn tốc độ. Điều này về chuyên môn hoàn toàn đúng, nhưng tôi cũng hiểu nó sẽ khiến người thân các nạn nhân thấp thỏm chờ đợi như thế nào.
Những người vừa đột ngột mất đi người thân không thể hiểu được lý do vì sao họ không được mời tới nhà xác, đi vòng quanh các thi thể để nhận diện. Rất nhiều gia đình nạn nhân vụ Marchioness cho rằng nhận diện là công việc đơn giản và đã đề nghị rằng nếu để họ được phép vào nhà xác, họ có thể tìm ra người thân mình. Tôi hiểu nhu cầu cũng như logic của họ, nhưng điều này hoàn toàn sai lầm. Không những thế, nếu chuyện đó xảy ra, nó còn là một việc phi nhân tính.
Mọi người thường thấy khó tin khi biết hậu thảm họa, việc nhận dạng bằng mắt không còn đáng tin cậy, đặc biệt khi cái chết xảy ra quá tang thương hoặc thi thể đã bị ngâm trong nước một thời gian. Thậm chí dù không đến mức như vậy thì việc nhận dạng một thi thể không bị phân hủy, không bị chấn thương vẫn là việc bất khả thi đối với những người từng biết nạn nhân dưới hình hài sống động. Vắng bóng sự sống, những biểu hiện trên gương mặt, cơ thể chúng ta rất khác. Đây rõ ràng là một vụ như thế khi sông Thames đã ngậm cơ thể họ nhiều giờ hay thậm chí nhiều ngày.
Có một sự thật là người thân, hay thậm chí gia đình ruột thịt rất dễ mắc sai lầm khi căng thẳng tột độ. Họ có thể nhận diện nhầm một thi thể không phải người thân của mình, hoặc không nhận diện được chính xác thi thể nằm đó có phải người thân của họ không. Những trường hợp này gọi là nhận diện khẳng định sai hoặc nhận diện phủ định sai, xảy ra thường xuyên hơn chúng ta tưởng. Một thời gian sau, thường là rất lâu sau, người thân tham gia nhận diện lo lắng cho rằng mình đã mắc sai lầm và đổi ý. Điều này xảy ra sau khi nạn nhân đã được chôn cất hay hỏa thiêu từ lâu, khả năng xem xét lại nhận dạng lúc này bằng không. Chưa dừng lại ở đó, khó khăn khi phải nhận dạng người thân trong nhà xác chính là phải đối diện với rất nhiều thi thể, cố gắng tìm ra người thân của mình. Bằng tất cả trải nghiệm về chết chóc và quá trình qua đời, tôi biết rõ cá nhân tôi không thể bước đi giữa những dãy bàn đặt thi thể để tìm và nhận dạng chính xác vợ, con hay bố mẹ ruột của mình.
Cũng phải nói thêm rằng, trực tiếp nhận dạng người thân của mình khác hẳn việc đến tiễn biệt họ sau khi cảnh sát đã hoàn thành quá trình nhận dạng và xác thực. Cá nhân tôi tin tưởng tuyệt đối bất cứ ai cũng có quyền được đến tiễn biệt người thân mình lần cuối. Từ chối quyền này, dù vì lý do gì, cũng là việc làm độc ác. Nhưng sự thật, các thi thể có thể đã bị thương, phân hủy và bốc mùi. Chúng tôi đã cố hết sức tái dựng thi thể nạn nhân, nhưng chúng tôi không tạo ra được phép màu. Vì vậy ban đầu chúng tôi mất rất nhiều thời gian bàn bạc, xem xét qua ảnh chụp trước khi thật sự tiếp xúc với các thi thể. Sau đó có thể lại mất thêm một thời gian nữa người thân của nạn nhân mới được phép vào thăm. Ở bên cạnh gia đình nạn nhân lúc này được coi là cần thiết, cần cả sự quan tâm và lòng trắc ẩn. Chúng tôi phải giữ bình tĩnh bằng cách không làm gì cả, không làm những nỗi đau sưng tấy thêm.
Cũng ít đáng tin như việc nhận dạng bằng mắt thường là việc sử dụng các vật dụng “di động”, chẳng hạn quần áo, trang sức hoặc các loại túi ví. Những vật dụng đó chỉ có thể xem như một trong nhiều manh mối hỗ trợ việc nhận dạng vì mọi người có thể đã đổi quần áo hoặc cầm giúp nhau ví tiền. Nếu muốn sử dụng quần áo như manh mối, chúng tôi phải phụ thuộc vào các thông tin của nạn nhân vào đêm xảy ra vụ việc thông qua lời khai của người khác, mà lời khai thì hiếm khi chính xác hay có sẵn.
Mặc dù vậy, chuyên viên điều tra đã thiên theo hướng nhận dạng bằng mắt thường và nhận dạng qua vật tùy thân – nhưng chỉ đối với những thi thể được vớt trực tiếp từ thuyền lên và không có dấu hiệu phân hủy. Đối với các trường hợp khác, ông ấy chỉ thị phương pháp nhận dạng bằng mắt thường không đáng tin cậy.
Theo chuyên viên điều tra, việc lấy mẫu vân tay là cần thiết. Sau khi danh sách người mất tích được tổng hợp, các đội cảnh sát bắt đầu tản ra tìm đến gia đình nạn nhân (trừ trường hợp họ đã có thông tin trong hệ thống) để thu thập vật dụng, từ đó lấy được mẫu vân tay xem có khớp với mẫu họ thu được ở nhà xác không.
Vấn đề của chúng tôi là các nạn nhân bị chết đuối. Thi thể họ rất có thể đã bị hư hoại do các loại sinh vật dưới nước hoặc do va chạm với đá, chân cầu, những vật thể dưới nước. Cơ thể đuối nước sẽ có những dấu hiệu biến màu ở da và sự trương phình của quá trình phân hủy bình thường kèm theo thay đổi ban đầu ở da. Kể cả khi được vớt lên bờ trong vài tiếng, những dấu hiệu không thể tránh khỏi của “bàn tay người giặt đồ” vẫn bắt đầu xuất hiện. Nó có thể gây rắc rối cho việc lấy dấu vân tay, đặc biệt khi da tay bị mất hẳn, được gọi mỹ miều là “tháo găng”. Đến mức này thì cực kỳ khó khăn cho chúng tôi, nếu không muốn nói là không thể lấy được dấu vân tay ở lớp da sâu hơn, lớp trung bì.
Ban đầu vụ này có vẻ đơn giản hơn vụ Clapham vì không có thi thể nào què quặt. Thời gian càng trôi qua, các thi thể được chuyển đến chỗ chúng tôi càng xấu dần đều, quá trình phân hủy trở thành cơn giận của nữ thần báo oán giáng lên đầu chúng tôi.
Một lần nữa, tất cả các thi thể được chuyển qua một hệ thống. Đầu tiên, chúng tôi miêu tả thật chi tiết các lớp quần áo, trang sức và ngoại hình chung. Sau đó tôi hỗ trợ việc cởi bỏ quần áo, khám nghiệm bên ngoài, mô tả các hình xăm, vết sẹo hoặc bất cứ thứ gì bất thường giúp ích cho quá trình nhận dạng. Phía cảnh sát ghi chép lại, thi thể được chụp ảnh và chuyển vào ướp lạnh.
Giai đoạn thứ hai là khám nghiệm tử thi toàn diện, sau đó các bộ phận nội tạng sẽ được trả về ổ bụng nạn nhân, khâu thẩm mỹ đủ để trình diện người thân họ lần cuối.
Cuối cùng tôi nộp báo cáo về các nạn nhân cho chuyên viên điều tra, kết luận nguyên nhân tử vong: đuối nước. Nếu chuyên viên điều tra hài lòng với tất cả những thông tin này, đặc biệt về nhân dạng, ông ấy sẽ cho mở cuộc thẩm tra chính thức, cho phép các thi thể được chuyển ra ngoài.
Thi thể trôi sông đầu tiên được tìm thấy vào khoảng 7 giờ sáng hôm đó, ngoài ra không còn thi thể nào khác. Mãi sau khi chiếc du thuyền được cẩu lên khỏi lòng sông vào buổi chiều, lúc tôi đến Cảng đồn cảnh sát Wapping, 24 thi thể đã được tìm thấy trong xác thuyền vào ngày tháng tám oi nồng ấy. Tất cả các thi thể được gắn thẻ trước khi chuyển tới Nhà xác Westminster.
Nhà xác do Hội đồng Thành phố Westminster điều hành. Vào thời điểm đó, nó có sáu tủ lạnh ướp xác, ướp được 60 thi thể, thêm sáu tủ đặc biệt cho những thi thể kích thước lớn. Nhà xác có sức cấp đông cùng lúc 18 thi thể.
Bất kể nhiệt độ ngoài trời thế nào, các thi thể luôn được ướp ở 4°C, giúp làm chậm quá trình phân hủy nhưng không ngưng đọng nó hoàn toàn. Chúng tôi sẽ không cấp đông xác cho tới khi quá trình khám nghiệm tử thi hoàn tất.
Hậu thảm họa, chúng tôi phải làm việc với một lượng thông tin bị thay đổi liên tục để sửa lại, rồi hiệu đính thêm phần thông tin đã sửa. Vấn đề lớn nhất của các bên phụ trách trong vụ Marchioness là không ai biết chính xác trên du thuyền có bao nhiêu người, hoặc họ là ai. Vì vậy, chỉ vài giờ sau khi đội cứu hộ bắt đầu tìm kiếm và trước khi nạn nhân đầu tiên được vớt lên gần cầu Vauxhall, một đường dây tổng đài đã được thiết lập để nhận các cuộc gọi cung cấp thông tin hỗ trợ việc tìm kiếm, nhận dạng nạn nhân. Buổi chiều hôm đó khi Nhà xác Westminster đang chuẩn bị nhận thi thể, một số người thân của các nạn nhân đã xuất hiện trước đồn cảnh sát, mang theo ảnh và những bản mô tả về quần áo có thể họ đã mặc vào đêm xảy ra thảm họa.
Cuối ngày hôm đó, phía cảnh sát tin rằng có 150 người trên du thuyền, trong đó 65 người gồm cả 24 thi thể được kéo ra khỏi xác thuyền, bị coi là mất tích.
Hôm sau tôi quay lại nhà xác để bắt đầu quá trình nhận dạng và khám nghiệm tử thi. Chúng tôi được biết 86 người sống sót đã tự đến trình diện, ghi nhận 25 xác chết, đồng nghĩa nếu con số ước lượng của cảnh sát chính xác, chúng tôi phải chuẩn bị tinh thần để tiếp nhận thêm nhiều thi thể nữa.
Hiểu rõ điều đó, chúng tôi cố tăng tốc hết sức trong biên độ chính xác tối đa cho phép. Một tuần lễ cân não. Phải chứng kiến quá nhiều xác chết trẻ ở một nơi cùng một thời điểm không chỉ bất thường mà thật sự gây sốc. Ở một tầng ý thức khác, tôi hiểu rõ nỗi thống khổ của các bậc phụ huynh mong ngóng tin con, khiếp sợ điều tồi tệ nhất xảy ra. Các thi thể được đặt nằm trên sáu chiếc bàn dài trong phòng xác để chúng tôi tiến hành công việc một cách tỉ mỉ, cảm nhận sâu sắc đóng góp lớn lao nhất chúng tôi có thể dành cho các gia đình đang đau khổ là làm việc càng hiệu quả càng tốt.
8 giờ tối hôm đó, chúng tôi đã hoàn tất việc khám nghiệm toàn bộ 25 tử thi trong nhà xác và nhận dạng được 13 trong số đó. Ngày 22 tháng 8, chúng tôi được thông báo đường dây tổng đài đã nhận được 4725 cuộc gọi và tổng hợp được hơn 2000 tài liệu các loại liên quan đến thông tin về các nạn nhân trên tàu. Trong khi chờ đợi, chúng tôi tiếp tục nhận tin báo phát hiện thêm xác người trôi trên sông Thames, cả thượng lưu và hạ lưu dòng sông, phía cảnh sát hạ ước tính số người có mặt trên thuyền xuống 136.
Vào cuối ngày, đã có 30 thi thể trong phòng xác, cảnh sát ước tính còn 27 thi thể mất tích. Nhưng lúc đó, sự dữ tợn của sông Thames đã bắt đầu thành hình. Những làn da ngậm nước đã bắt đầu tróc ra khỏi các ngón tay khiến phía cảnh sát phải vật lộn với việc lấy dấu vân tay bằng kỹ thuật quét mực tiêu chuẩn. Chuyên viên điều tra đề cập đến việc đối chiếu dấu răng nhưng đây là công việc tốn nhiều thời gian, trong khi gia đình các nạn nhân như ngồi trên đống lửa. Vì thế chúng tôi vẫn cố gắng dùng phương pháp lấy dấu vân tay, nhưng càng cố gắng càng tuyệt vọng. Chúng tôi buộc phải dùng phương pháp chuyên sâu và thiết bị chuyên dụng hơn. Thiết bị này được đặt trong phòng thí nghiệm tại Southwark, trớ trêu thay, phòng thí nghiệm này không có sức chứa thi thể.
Thủ tục đối với các thi thể được vớt lên trực tiếp từ lòng sông Thames và gặp khó khăn trong việc lấy mẫu vân tay là tháo khớp hai bàn tay, chuyển đến phòng thí nghiệm tại Southwark để lấy dấu vân tay, rồi lắp trả hai bàn tay vào thi thể. Chúng tôi sẽ khâu thẩm mỹ để không gây sốc thêm cho người thân. Sau khi chuyên viên điều tra duyệt phương án này, mười bảy đôi bàn tay đã được tháo khớp.
Tối hôm đó, thêm nhiều thi thể được vớt lên, một thi thể tận dưới hạ lưu quá Wapping. Ngày tiếp theo, thêm tám thi thể được tìm thấy. Một thi thể mặc đồng phục được vớt lên ở Cảng vườn Cherry mạn phía Nam sông tại Bermondsey, chúng tôi nghi ngờ là thi thể Thuyền trưởng Stephen Faldo. Một thi thể khác nổi lên gần đó, rồi lại thêm bốn thi thể khác được vớt gần HMS Belfast (*) , cách cầu London không xa. Thêm hai thi thể khác phía đối diện khu vực đắm tàu, ở thượng lưu sông gần Westminster.
Vậy là chúng tôi tiếp nhận tổng cộng 44 thi thể, trong số đó đã nhận dạng được 24 nạn nhân. Dĩ nhiên, giả thuyết đặt ra là tất cả thi thể chúng tôi tìm được trên sông đều là nạn nhân vụ Marchioness, nhưng thực tế không phải vậy, tuần nào sông Thames cũng chứng kiến các vụ tự tử, các ca tử vong do đủ nguyên nhân khác nhau.
Hôm sau chúng tôi lại tiếp nhận thêm bốn thi thể. Dù đã làm việc hết năng suất, vẫn còn sáu thi thể chờ được khám nghiệm. Cảnh sát lại một lần nữa cập nhật số liệu từ thuyền Marchioness với 140 người: 86 người thoát chết, 54 người mất tích hoặc thiệt mạng. Mẫu răng của tất cả các nạn nhân đều đã được gửi đi xác nhận, thông qua cả đại sứ quán nếu là nạn nhân người nước ngoài. Đêm thứ Tư, tổng đài đóng lại, thông báo đã có đủ thông tin họ cần.
Vậy mà thi thể vẫn tiếp tục được vớt lên, cảnh sát lại hiệu chỉnh các số liệu. Ban đầu họ cho rằng có 86 người sống sót, 56 người thiệt mạng hoặc mất tích. Nhưng giờ lại xuất hiện thông tin mới từ một người phụ nữ 54 tuổi phụ trách sàn nhảy trên thuyền. Rồi thêm thông tin về một vụ nhảy sông tự tử sau khi một chiếc túi đầy gạch được tìm thấy gần bờ sông. Trong lúc chúng tôi tiến hành khám nghiệm, nhiều cảnh sát rất giận dữ với quyết định đóng tổng đài trong khi có quá nhiều nguồn thông tin chưa thống nhất vẫn còn quẩn quanh. Vào tối thứ Năm, lại có những diễn tiến mới khiến con số ước tính tăng lên: Một nhóm khách không mời mà tới trong bữa tiệc sinh nhật trên thuyền Marchioness tự trình diện, báo cáo tất cả bọn họ đều thoát chết, trừ một người bạn bị mất tích.
Đồng thời nhà xác liên tục yêu cầu phòng thí nghiệm chuyển lại các bàn tay nhanh nhất có thể để lắp vào thi thể. Lại tiếp tục thêm tám đôi bàn tay được chuyển đến phòng thí nghiệm.
Chúng tôi quả thật không thể làm gì ngoài chờ đợi. Hôm đó là thứ Sáu trước ngày nghỉ của giới ngân hàng (*) vào tháng tám. Rất nhiều người lên đường đi nghỉ tránh cái nóng oi nồng của London. Còn chúng tôi phải đợi hồ sơ nha khoa của nạn nhân, kết quả vân tay từ phòng thí nghiệm, hoặc chỉ đơn giản là chờ thêm thi thể được chuyển về: 50 thi thể đã được trục vớt. Sau tất cả những chuyển dịch điên cuồng đó, nhà xác đột ngột trở về trạng thái tĩnh mịch ghê rợn.
Không còn thi thể nào được chuyển đến suốt cuối tuần đó. Thứ Tư tuần kế tiếp, cảnh sát cố gắng định danh những người vẫn trong vòng hoài nghi danh tính. Một trong số đó là chủ bữa tiệc sinh nhật thứ 26 của mình, Antonio Vasconcellos. Một người khác là người đàn ông mang quốc tịch Pháp. Rồi còn một thanh niên trẻ không thể xác định danh tính nằm trong nhà xác, cũng có thể anh ta chẳng có mối liên hệ nào với chiếc du thuyền. Hoặc anh ta chính là kẻ không mời mà đến, người bạn mất tích của nhóm người kể trên.
Cuối tuần, 46 trên tổng số 50 thi thể đã được nhận dạng, số còn lại được nhận dạng một phần, nghĩa là chúng tôi vẫn còn cần thêm thông tin để nhận dạng hoàn chỉnh. Trừ chàng thanh niên trẻ vô danh. Anh ta là ai? Không ai biết gì. Anh ta không khớp với bất cứ bản mô tả nào.
Anh ta có mang theo người một móc treo chìa khóa khá đặc biệt, cảnh sát chụp ảnh nó và đăng báo. Chúng tôi còn một người đàn ông không xác định được danh tính và hai người mất tích: người đàn ông Pháp và Antonio Vasconcellos. Ít nhất chúng tôi có thể bớt ám ảnh thêm về người thanh niên không mời mà tới bữa tiệc rồi mất tích: Anh ta đã tự ra trình diện, hoàn toàn khỏe mạnh.
Vào ngày thứ Sáu, có một bước tiến đáng kể trong việc xác định danh tính người đàn ông bí ẩn. Chiếc móc chìa khóa được mang đến căn hộ của người đàn ông Pháp, nó mở được cửa. Giờ chỉ còn chủ bữa tiệc bị mất tích. Đêm đó có một xác thanh niên được tìm thấy ở hạ lưu, giữa cầu London và Bermondsey, nơi thường được biết đến với cái tên chung Thames Upper Pool. Chúng tôi khá tự tin đó chính là Antonio Vasconcellos, nhưng sau hai tuần đằng đẳng trầm mình trong nước, chúng tôi hiểu sẽ phải mất một thời gian để khẳng định được nhân dạng cậu ta. Chúng tôi tự tin các thi thể còn lại trong nhà xác không có liên hệ gì với chiếc du thuyền, phía cảnh sát cũng chắc chắn không còn xác chết nào nữa. Con số tử vong là 51, và tổng số người trên chiếc du thuyền đó là 137.
Chúng tôi đã tận lực, tôi cảm thấy chúng tôi đã cống hiến hết mình cho các nạn nhân cũng như gia đình họ. Phải một thời gian sau tôi mới biết trong khi tôi đang vùi đầu vào công việc, khá nhiều chuyện đã xảy ra, trong nội bộ cũng như từ bên ngoài.
Tất cả mọi người đều phản ứng nhanh, toàn tâm toàn lực khi thảm họa xảy ra. Tất cả đều dốc hết sức. Vì thế dù mọi người có ý tốt đến mấy sau khi mọi việc đã kết thúc cũng khó lòng đón nhận chỉ trích về một vài hành động họ phải thực hiện dưới áp lực không tưởng khi xử lý hậu thảm họa. Cấp cứu và các dịch vụ theo sau đó của rất nhiều thảm họa xảy ra trong thập niên 80 mà tôi đã liệt kê từ trước thường phải hứng chịu búa rìu dư luận rất ác liệt. Thường cũng từ dư luận mà các cuộc cải tổ mới diễn ra. Không còn ví dụ nào chính xác hơn vụ Marchioness.
Rồi tôi biết được dù nhiều người đã được gặp người thân của mình lần cuối trong phòng riêng ở nhà xác, vẫn còn nhiều người khác không nhận được quyền đó, có thể do phát hiện xác muộn, quá trình phân hủy đã quá khủng khiếp. Những cuộc hội ngộ tang tóc của gia đình với nạn nhân thường không diễn ra ngay trong nhà xác mà ở nhà tang lễ. Các nhân viên nhà tang lễ và cảnh sát cho biết họ được chỉ thị phải ngăn người thân tiếp xúc với thi thể nạn nhân lần cuối.
Tôi không hiểu ai ra lệnh này và lý do là gì. Khi nghe tin, tôi chỉ nghĩ đó là hậu quả của lòng trắc ẩn đặt nhầm chỗ, ai đó cho rằng việc phải nhìn thấy xác con gái hay con trai mình đang trong quá trình phân hủy dễ gây sang chấn. Chắc chắn người đó không hiểu sự cấm cản gặp người thân họ lần cuối còn tệ hơn nhiều.
Một người sau đó viết lại:
“Chúng tôi chưa bao giờ bị can ngăn gặp con gái lần cuối, nhưng ý tưởng đó lại bị gạt phăng đi... Khi tôi đến gặp nhân viên nhà tang lễ ngỏ ý muốn nhìn mặt con bé, quan tài đã được dán kín... Tôi không thể ngồi trong phòng cùng một cái hộp nên đã đi ra ngoài. Tôi chắc chắn mình phải gặp được con bé... đã nhìn thấy ảnh của nó, tôi thấy chẳng có lý do gì chúng tôi không được nhìn thấy con bé bằng xương bằng thịt.”
Một người khác viết:
“Vào thứ Sáu ngày 25 tháng 8, chuyên viên điều tra cho tôi biết con trai chúng tôi không thể nhận diện được dưới hình hài con người nữa. Vào thứ Năm ngày 31, nhân viên nhà tang lễ gọi điện cho tôi, thông báo họ đã nhận được thi thể thằng bé. Tôi lập tức đến đó, yêu cầu mở nắp quan tài. Tôi muốn biết chắc chắn tôi đã tìm được đúng con trai mình. Nhân viên nhà tang lễ trả lời họ được lệnh không cho tôi nhìn xác con trai. Điều này khiến tôi đau đớn cực độ. Tôi không bao giờ có cơ hội được nhìn, chạm vào hay nói lời tạm biệt thằng bé. Nhân viên nhà tang lễ nói anh ta đã làm công việc đó 25 năm và chưa từng thấy việc người thân không được phép vĩnh biệt người nhà mình. Tôi được thông báo quan tài đã đóng kín và phải được giữ nguyên hiện trạng. Cũng chính vì nhân viên tang lễ là người trực tiếp đặt thi thể vào quan tài và là người gần gũi nhất trong toàn bộ quá trình, lý do đó nghe không thật chút nào.
Tôi vẫn không chắc người tôi chôn cất có phải con trai mình không. Tôi nghĩ gốc rễ nỗi lo này xuất phát từ việc tôi không được nhìn thấy con... Thêm vào nỗi lo các thi thể lẫn lộn nhau... [Sau này] tôi đã nhìn các bức ảnh chụp con trai mình, trông không ghê rợn như tôi nghĩ... Tôi thấy phát sốt khi nghĩ tới quá trình giải quyết hậu thảm họa tệ thế nào... Những lo lắng khiến tôi phải tìm cách xin lệnh khai quật mộ.”
Tôi thật sự không hiểu vì sao người thân các nạn nhân không được cho phép tiếp cận người nhà họ. Đây quả thực là quyết định vừa vô ích vừa tàn nhẫn. Phải vài năm sau chúng tôi mới được biết thêm thông tin về vụ này, một lý do khả dĩ vì sao những thi thể không nhận được lời chào vĩnh biệt và các cỗ quan tài bị phong kín.