Người Chết Không Nói Dối

Lượt đọc: 2214 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 23

Chớm thu 1992, giờ Jen đã trở thành bác sĩ. Cô ấy ra trường năm ngoái, chúng tôi cùng đến dự bữa tiệc tốt nghiệp của cô ấy tại bar của trường y. Lần đầu tiên tôi cảm thấy mình thuộc hàng lão làng. Tôi quyết định thả mình vào trong điệu nhảy. Tôi tự hào phát điên về Jen nhưng không thể hiện ra. Có lẽ cô ấy cũng thấy biết ơn tôi vì những sự hỗ trợ với các con, với gia đình, và đủ kiểu chi tiêu nhưng cô ấy cũng không hề lộ ra ngoài. Vượt qua những vực thẳm giữa hai chúng tôi là một việc khó khăn! Thôi thì thà phớt lờ chúng đi, nhất là khi giờ cô ấy là một bác sĩ trẻ làm việc suốt ngày, còn tôi cũng rất bận với công việc ở Bệnh viện Guy’s.

Hôm nay là lần đầu tiên tôi được làm việc ở nhà. Mấy đứa nhỏ đi học, chị giúp việc nghỉ còn Jen đi làm. Ban ngày, những con đường thật tĩnh lặng, tĩnh lặng hơn nhiều so với không khí tại văn phòng. Phòng đọc sách của tôi ấm áp dễ chịu, chú chó nhỏ lăn phịch xuống cạnh chân tôi. Trên mặt bàn là vô số ảnh chụp các vụ án mạng tôi bị cuốn vào.

Chồng chất trên những bức ảnh khám nghiệm tử thi và ảnh chụp quần áo của nạn nhân là những bức ảnh hiện trường vụ án. Tôi không thể quên được cái ngày tháng bảy xám đục ấy và hình ảnh công viên phía Nam London nhuốm màu hoang dại. Một lối mòn phủ bóng cây được khoác lên chút tươi tỉnh với những thân gỗ phong bạc, nhưng rồi lại tiếp tục được khoác thêm một dải băng “Cấm đi qua” vàng chóe của cảnh sát.

Tôi thấy vật gì đó màu trắng trên thảm cỏ, giữa những tàng cây mà nhìn từ xa dễ nhầm với khăn tay ai đó vứt đi. Tôi đến gần nó cùng hai thanh tra hai bên, vật thể màu trắng càng lúc càng lạc với mọi thứ xung quanh, dần dần thành hình thù một xác người trắng bệch gần như lõa thể trên thảm lá phong. Một người phụ nữ trẻ nằm chết co ro trong tư thế phòng thủ, bị đâm nhiều nhát, phần thi thể bên dưới trần truồng, đã bị xâm hại tình dục.

Tôi chờ nhiếp ảnh gia hiện trường hoàn thành công việc của mình rồi bắt đầu tiến hành đo nhiệt độ và lấy mẫu phết tinh dịch từ thi thể. Tôi cảm nhận được sự co cứng tử thi đã bắt đầu xuất hiện, xung quanh phần hàm. Tôi xem xét khu vực hiện trường, nhất là phần mặt đất có dấu hiệu bị xáo trộn. Phía thanh tra chỉ tôi khu vực phát hiện các dấu máu, lá cây dập nát và các cành cây gãy, dấu hiệu của sự kháng cự. Toàn bộ quá trình mất vài giờ đồng hồ. Sau cùng thi thể được chuyển đến nhà xác, việc khám nghiệm tử thi được tiến hành dưới sự quan sát của các thanh tra. Thoải mái trong căn phòng của mình hiện giờ, tôi bắt đầu nhớ lại đêm dài đằng đẵng đó, cho đến khi sự thật hé rạng với tất cả mọi người rằng tổng cộng 49 vết đâm xả xuống nạn nhân đã được đo và ghi chép lại.

Tôi ngước lên. Kim đồng hồ tích tắc nặng nề trong ngôi nhà im vắng. Tôi với tay lấy báo cáo khám nghiệm tử thi, đọc lại phần kết luận. Không có nguyên nhân tự nhiên nào đã lấy đi mạng sống của nạn nhân. Cô gái chết vì nhiều nhát đâm do một hoặc nhiều con dao, dài khoảng 9cm, rộng khoảng 1,5cm ở phần cán. Cô ấy đã cố chống cự và bị đâm xuyên qua lòng bàn tay trái. Sau khi cô ấy chết, kẻ thủ ác vẫn không ngừng đâm và còn có hành vi xâm hại tình dục với xác chết.

Công luận dậy lên nỗi kinh hoàng tột độ trước vụ sát hại thú tính đối với Rachel Nickell. Là một người mẹ 23 tuổi xinh đẹp, cô ấy đang dẫn đứa con còn chập chững ra khu Wimbledon Common để tập đi. Cú sốc với cả nước này đã gây áp lực cho phía cảnh sát phải phá án nhanh nhất có thể. Áp lực lớn tới nỗi phía Cảnh sát Đô thị phải vượt qua khỏi vòng an toàn cố hữu của mình. Cảnh sát trao đổi với các nhà tâm lý pháp y để lập hồ sơ tội phạm. Rồi họ bàn luận với tôi về việc dựng lại vụ án mạng.

Tôi gần như đã từ bỏ hy vọng đóng góp cho cảnh sát trong việc điều tra tội phạm kể từ sau vụ điều tra phục dựng đầu tiên hết sức cẩn thận của mình – vụ giết người trong phòng ngủ ngày ấy, nỗ lực đã bị thanh tra vụ án bác đi. Giờ họ lại đến tìm tôi yêu cầu dựng lại vụ án. Cụ thể hơn, họ muốn tôi kết nối thứ tự các sự kiện diễn ra trong ngày hôm ấy dựa vào các chứng cứ tại hiện trường và những kết quả từ cuộc khám nghiệm tử thi của tôi.

Lúc đó tôi đang được truyền cảm hứng từ hướng đi của ngành pháp y Hoa Kỳ tại một hội thảo chuyên ngành tôi tham dự. Suốt một thời gian dài tôi đã nghĩ pháp y không có được hướng phát triển lớn: Chúng tôi bận rộn xem xét một vụ án, thảo luận rôm rả về nó ngoài quán bia, nhưng đó lại không phải cách ngành này hoặc chính chúng tôi có thể phát triển hơn. Tôi tham dự hội thảo chuyên ngành pháp y Hoa Kỳ để lĩnh hội các góc nhìn mới và phát hiện ra các nhà pháp y Hoa Kỳ được khuyến khích mạnh dạn hơn trong quá trình điều tra, giống Simpson ngày trước.

Tôi đọc qua tập báo cáo khám nghiệm Rachel Nickell dày cộp. Chi tiết các vết thương kéo dài hết trang này qua trang khác. Ba vết thương trên ngực và lưng nạn nhân tôi đánh số 17, 41 và 42 đặc biệt hơn cả. Đó là những vết thương bất thường trên người nạn nhân, đã nhận nhiều hơn một lần đâm. Có lẽ nào đó là những vết đâm đầu tiên?

Khoảnh khắc đầu tiên bắt đầu chuỗi sự kiện hôm đó là khi hung thủ tiến sát gần nạn nhân để chiếm kiểm soát. Chúng tôi hiểu chiếm được kiểm soát là phần quan trọng trong một vụ giết người có tấn công tình dục. Trong những trường hợp như vậy, chúng tôi thường tìm thấy những vết thương không đủ gây tử vong nhưng khiến nạn nhân khiếp sợ rồi phục tùng theo ý muốn kẻ thủ ác, chúng tôi gọi đó là những vết đâm nhá. Vậy 17, 41 và 42 có phải những vết đâm nhá không?

Chỉ có một vết đâm phía sau lưng nạn nhân, vết đâm số 17 – trong khi những vết đâm khác ở phía trên, trước ngực. Tôi nhìn những vết thương lần nữa. Có lẽ nào cô gái đã bị đâm nhá vào lưng, rồi sau đó mới quay lại đối diện với hung thủ?

Qua các bức ảnh chụp hiện trường, các vết máu rất nổi bật, dễ nhận ra. Các vết máu không nằm dưới tán cây mà ở một nơi cỏ mùa hè mọc um tùm, đầy hạt giống, trông gần như một đồng cỏ. Một bà mẹ khác đẩy xe nôi đi ngang qua nơi này, kinh hoàng phát hiện thi thể cô ấy cách đó khoảng 5 mét.

Còn một vùng thứ hai nhỏ hơn có dấu máu, gần vị trí thi thể hơn, cạnh cây phong chĩa nhánh, nơi xác nạn nhân được tìm thấy. Dĩ nhiên dấu máu sau cùng ở trên đất, bên dưới thi thể nạn nhân. Có thể cho rằng vụ án đã diễn ra tại khu vực bê bết dấu máu nhất, sau đó thi thể nạn nhân bị kéo lê đến vị trí thứ hai dưới tán cây, cuối cùng bị kéo sang vị trí nạn nhân được phát hiện gần đó.

Nhìn danh sách không hồi kết về chi tiết các vết thương, thật khó nhận định vết thương nào bị trước, nhưng vết thương há toác miệng trên cổ nạn nhân hẳn phải xảy ra khá sớm trong chuỗi sự kiện hôm đó, cũng là vết thương khiến nạn nhân mất máu nhiều nhất. Cũng chính nó giải thích vì sao nạn nhân không kêu la. Cổ cô ấy đã bị tấn công bằng lực, sự đau đớn chắc hẳn vô cùng khủng khiếp. Nếu nó vẫn chưa đủ ngăn cô ấy la hét, những thương tổn nghiêm trọng đến cơ thanh quản của cô ấy cũng sẽ làm việc đó.

Thế rồi những bức ảnh chụp quần áo của Rachel Nickell lại kể với tôi câu chuyện khác. Áo thun của cô ấy đẫm máu, tất nhiên. Nhưng quần jeans của cô ấy, đặc biệt phần từ hai đầu gối trở xuống lại vấy đầy bùn ở mặt trước. Máu cũng văng lên phía sau lưng. Tôi gần như chắc chắn cô ấy đã quỳ trong giai đoạn đầu xảy ra chuỗi sát thương khi hung thủ tấn công vào cổ cô ấy.

Tất nhiên với ngần ấy vết thương, cô ấy khó lòng giữ nguyên tư thế quỳ. Cô ấy hẳn đã ngã xuống. Rất nhiều khả năng cô ấy đã ngã về phía trước, lúc này hung thủ đâm vào lưng cô ấy: 18 nhát cả thảy.

Dù ngã thế nào, nhưng khi cô ấy ngã chúi về phía trước, máu cô ấy hẳn đã tuôn ra trên cỏ. Có phải vì vậy mà hung thủ lôi cô ấy về vị trí thứ hai dưới tán cây? Hay hắn làm vậy vì cô ấy đã chết? Hoặc hắn lo sợ mình có thể bị bắt gặp?

Những bức ảnh cho thấy vết máu ít hơn dưới tán cây nhưng phân bổ rộng hơn. Điều này cho thấy cơ thể cô ấy đã nằm ngửa. Tôi xem lại những bức ảnh chụp buổi khám nghiệm tử thi, đúng như thế, có dấu cỏ và lá dưới lưng cô ấy. Đây hẳn là khi hắn đâm vào ngực cô ấy. Nếu cô ấy không chết khi bị hắn lôi từ chỗ này sang chỗ kia, cô ấy cũng không sống nổi quá lâu sau đó. Thậm chí đến lúc đó, hắn vẫn không ngừng đâm cô ấy. Hắn đâm vào tim và gan sau khi cô ấy đã chết, các cơ quan nội tạng bị chọc thủng, nhưng nạn nhân không còn chảy máu.

Tiếp đó, tôi nhận ra phần cỏ và lá ở lưng cũng dính trên mông nạn nhân. Điều này chứng tỏ dưới tán cây, hắn đã xé toạc quần cô ấy. Vào thời điểm này hoặc chỉ ít lâu sau đó, cô ấy bị xâm hại trong tư thế phục tùng của một người đã chết.

Hắn có tiếp tục đâm cô ấy không? Hay hắn tháo chạy ngay sau đó?

“Theo ý kiến của tôi, thời gian tối thiểu hắn cần để ra tay với chừng đó vết đâm là khoảng ba phút.” Báo cáo khám nghiệm tử thi của tôi trình bày.

Tôi biết điều đó vì, như thường lệ, tôi tái hiện vụ án ở nhà mình. Nếu vụ án chỉ xảy ra trong vòng ba phút, hẳn nó phải rất liều mạng, mang mọi màu sắc của một cuộc tấn công cuồng loạn. Ngay cả chuyên viên điều tra cũng sử dụng cách miêu tả này, dĩ nhiên, giới truyền thông chẳng thể cưỡng lại sức hút của từ ấy.

Tôi dành hàng giờ phân tích các vết thương - một số cho thấy chứng cứ là những hình vuông của dấu cán dao trên cơ thể nạn nhân vì lưỡi dao đã bị đẩy lút cán vào thi thể. Lần đầu tiên tôi yêu cầu scan một phần nội tạng. Phương pháp chụp cộng hưởng từ cho thấy đường đi của lưỡi dao trong lá gan nạn nhân. Nhờ các thông tin này, dù phía cảnh sát đã đưa tôi xem một vài loại dao, tôi vẫn tự tin rằng không, những vết thương nói đó chưa phải hung khí.

Sau khi hoàn tất liệt kê loạt sự kiện cuối cùng xảy ra trong cuộc đời người phụ nữ trẻ trên Rachel Nickell, cái tên trở nên nổi tiếng vì một lý do thật đáng buồn, tôi cảm thấy cái mệt thấm vào tận xương tủy. Mệt quên trời đất. Tôi nhìn đồng hồ, đã gần đến giờ đón mấy đứa nhỏ và dắt lũ chó đi dạo.

Tôi tắt máy tính, nghe tiếng khò khè rất khẽ khi nó tắt ngúm. Mấy chú chó đã quen với tiếng động này, thức dậy ngay lập tức, ngáp ngáp rồi duỗi mình. Chúng thao láo mắt nhìn tôi khóa những bức ảnh và hồ sơ vụ án vào tủ riêng để không đứa nhỏ nào phải vô tình nhìn thấy.

Việc dựng lại vụ án giúp cảnh sát vây bắt kẻ thủ ác mang lại cho tôi cảm giác thỏa mãn. Chẳng mấy nữa mà tôi đến mốc 40, mức độ công việc này chính là giá trị đóng góp tôi luôn vững tin các chuyên gia pháp y có thể làm được trong quá trình điều tra.

Mấy chú chó quẫy đuôi, nôn nóng được ra ngoài. Tôi đứng bất động. Tôi không muốn quay về với “giây phút thực tại” trong khi vẫn đang ngây ngất vì công việc. Vẫn còn một công việc nữa tôi phải giải quyết, trước lũ trẻ và lũ chó.

Ngập ngừng, tay tôi nhấc điện thoại lên, nhấn một số, rồi lại một số nữa trong danh sách Những trang vàng (*) .

“Xin chào, cho tôi nói chuyện với nhân viên nhà tang lễ.”

“Tôi có thể giúp gì không ạ?”

Bố tôi lúc ấy đang cận kề cái chết và ở một nhà an dưỡng tại Devon. Bố bị ung thư giai đoạn cuối và được chăm sóc giảm nhẹ. Vài ngày trước tôi phải nói lời giã biệt buồn bã với bố tại đó, khi các phiên tòa và những bổn phận khác kéo tuột tôi về London. Chị Helen và anh Robert đã thu xếp về gặp bố. Tôi gọi cuộc điện thoại này vì cảm thấy không ai trong ba chúng tôi có thể trực tiếp làm việc này khi thời khắc đến.

Giọng nói ở đầu dây bên kia có vẻ bối rối.

“Xin lỗi nhưng... chắc tôi nghe nhầm. Anh nói bố anh vẫn.. chưa chết?”

“Tôi e bố sẽ không còn nhiều thời gian nữa, tôi nghĩ tôi phải bắt đầu sắp xếp mọi việc.

“Tôi hiểu rồi.” Không hiểu đó là câu trả lời vì bị sốc hay vì không đồng tình. Tôi thấy xấu hổ.

“Tôi là bác sĩ pháp y nên tôi... tôi toàn làm việc với cái chết, tôi hiểu rõ những... thực tế.”

“À.” Lời bào chữa giảm nhẹ của tôi đã được chấp thuận.

Các quy trình thủ tục được thu xếp, khi tôi được báo bố đã qua đời, tôi có thể gác qua một bên những lo liệu tủn mủn để tự cho phép mình tiếc thương bố. Không có nước mắt, dĩ nhiên, nhưng để cảm nhận nỗi mất mát trước sự ra đi của người bố nhân hậu yêu dấu của chúng tôi. Bằng cách nào đó, bố đã trải qua kỳ hưu dài ở Devon với sự hiện diện ngượng nghịu của Joyce bên cạnh. Cuộc sống của tôi không hề quay quanh chiếc trục là bố, nhưng lúc nào bố cũng hiện diện ở đó. Chủ nhật nào tôi cũng gọi, cứ hai tuần một lần bố lại viết thư. Đều đặn như vậy, giờ thì không còn nữa. Một điều gì đó lớn lao và vô hình ập xuống tôi. Chiều kích của cái chết, thứ tôi luôn có thể lùng bắt trong công việc, giờ đổ bóng xuống tôi đầy khiếp sợ.

Mấy hôm sau tôi xuống Devon lấy vài thứ giấy tờ ở nhà an dưỡng, mang đến phòng hộ tịch như hướng dẫn. Ngoài phong bì ghi: “Tài liệu mật. Cấm mở.”

Như thường lệ, tôi lờ dòng chữ đó ngay. Cả cuộc đời mình, tôi dành để xử lý mọi loại thông tin mật liên quan tới người đã khuất, huống hồ đây là thông tin về bố ruột tôi. Trong khi đợi ở phòng hộ tịch, tôi mở phong bì, đọc ngấu nghiến các thông tin trong đó, không hề e ngại.

Một bàn tay lạnh lùng giật phăng phong bì của tôi.

“Anh nghĩ anh đang làm cái gì vậy?”

“Ờm... tôi đang đọc...”

“Nếu anh biết đọc, chắc anh đã phải thấy những chữ ngoài phong bì. Anh không có quyền mở nó ra.”

Mấy khớp ngón tay tôi co lại. Chúng tôi tiến vào một hành lang vừa nhỏ vừa tồi tàn để tiến hành các thủ tục. Trừ việc tôi đã thấy trên biên bản những điều bác sĩ viết về nguyên nhân tử vong của bố tôi: ung thư biểu mô tuyến tiền liệt (carcinoma of prostate). Trong bản tốc ký của bác sĩ, tôi lại đọc thấy chữ gì đó như thể “ung thư bỉu mô tuyến tiền liệt” (carcenoma of prostate).

Tôi vẫn nhìn nhân viên hộ tịch mặt lạnh như tiền lúc này đang hí hoáy viết giấy báo tử cho bố tôi.

Tôi nói: “Xin thứ lỗi... ung thư biểu mô tuyến tiền liệt bị viết sai rồi.” Bà ấy nhìn tôi bằng con mắt sắc như dao găm.

“Tôi... tôi là bác sĩ pháp y. Đó là lý do tôi quan tâm đến báo cáo nguyên nhân tử vong của bố tôi và... ờm, tôi viết cụm từ ung thư biểu mô suốt, nên tôi có thể chắc chắn nó là chữ ‘i’ chứ không phải chữ ‘e'”. Người phụ nữ nhìn tôi trừng trừng.

“Bác sĩ viết như thế. Công việc của tôi là viết lại nguyên nhân tử vong chính xác như những gì bác sĩ viết. Vậy nên tôi sẽ viết là ung thu bỉu mô, bởi vì đó là chữ bác sĩ đã viết.”

Vậy nên đó là nguyên nhân tử vong được ghi trong giấy báo tử của bố tôi, tờ giấy tôi phải gửi đi rất nhiều lần, mỗi lần mỗi ngứa ngáy khó chịu kinh khủng. Tờ giấy đã gán cho bố tôi một nguyên nhân tử vong chưa ai biết tới trước đó, gọi là “ung thư bỉu mô”. Bố mà biết chắc cũng phát rồ như tôi, mặc dù trong các bảng thống kê của chính phủ, tự bố có vị trí một mình một cõi.

Hai ngày trước sinh nhật tôi, cả ba chúng tôi tề tựu về Devon cho một dịp còn quan trọng hơn: tang lễ bố. Helen ở cùng gia đình ở phía Bắc, Robert ở cùng vợ tại Pháp, dù xa xôi nhưng chúng tôi vẫn giữ liên lạc.

Đêm trước tang lễ, chúng tôi có một bữa tối đoàn viên nhưng tôi phải xin lỗi trước rằng, không có sự hiện diện của Joyce. Tôi hy vọng chúng tôi đã không cứ xử quá tệ. Tôi vẫn giữ liên lạc với Joyce suốt quãng đời còn lại, nhận trách nhiệm chăm sóc bà có nơi ăn chốn nghỉ. Nhưng tối hôm đó, chúng tôi không muốn phải gạn lọc bất cứ câu chuyện gì của bố vào thời điểm trước khi Joyce xuất hiện. Chúng tôi muốn được tự do kể lại những giai thoại về cuộc đời và tính cách của người đàn ông tuyệt vời ấy. Không phải tất cả mọi chi tiết đều là “công” của bố nhưng chắc hẳn bố cũng tham gia tán dương và tận hưởng toàn bộ câu chuyện. Chúng tôi cười thật nhiều, uống để tri ân bố, buổi tối hôm đó thật sự là một lời cảm ơn cuộc đời sâu sắc.

Một người qua đời để lại sự ngưỡng mộ sâu sắc cho các con là việc không hề dễ dàng. Bố là con cả trong một gia đình đông anh em, khi tiền bạc không đủ để trang trải cho việc học hành, có lẽ còn thiếu thốn cả tình yêu thương, bố tự đứng dậy kiến tạo cả hai cho chính bản thân và gia đình nhỏ của mình.

Dù ngập chìm trong cảm xúc mất mát, chúng tôi vẫn cảm nhận được sự hỗ trợ, nâng đỡ giữa các anh chị em. Chúng tôi quay về London, lũ trẻ ngồi ghế sau, tôi giữ tay lái, Jen ngồi ghế phụ cố gắng chợp mắt. Đối với các bác sĩ trẻ, không gì quý giá hơn những phút giây được chợp mắt. Đây là một gia đình nhỏ khác, một thế hệ khác.

Kỳ thực, tôi cảm thấy hơi lưỡng lự khi phải rời Devon để quay lại công việc. Bệnh viện Guy’s là một nơi năng động, khuyến khích tìm tòi và rất thân thiện. Thật không may gần đây tôi bị cuốn vào nước xoáy. Tôi vấp phải sự công kích từ các đồng nghiệp khi đồng ý hợp tác với cảnh sát trong việc dựng lại vụ Rachel Nickell.

“Anh đang đi chệch hoàn toàn khỏi lĩnh vực chuyên môn của mình rồi đấy.” Họ nói.

Tôi giải thích tôi đã dựa hoàn toàn vào kiến thức chuyên môn của mình để phục vụ cho việc dựng lại vụ án. “Đây cũng là hướng ngành pháp y Hoa Kỳ đang theo đuổi.”

Đồng nghiệp của tôi chẳng mấy quan tâm đến hướng ngành pháp y Hoa Kỳ đang theo đuổi. Họ chỉ lắc đầu. Họ nói: “Khi cảnh sát bắt ai đó, rồi bên công tố dùng thông tin trong quá trình dựng lại của anh, bên luật sư bào chữa sẽ sấn sổ vào xé anh ra ở ghế nhân chứng.”

Cho đến thời điểm đó, trên ghế nhân chứng, tôi đã nếm mùi đủ các kiểu sỉ nhục từ công luận, tôi hiểu lời răn đe đó có thể trở thành sự thật.

Một nỗi lo khác của tôi là vụ Marchioness.

Bi kịch xảy ra đã hơn ba năm, nhưng xác con thuyền chìm đó cứ thi thoảng lại trồi lên trong tôi. Lẽ dĩ nhiên, những buồn đau của người ở lại chẳng bao giờ có thể chấm dứt và giờ những nỗi buồn đau dần biến thành phẫn nộ.

Giới chuyên môn chúng tôi hẳn đã cho rằng sóng gió đã qua đi, vài phân đoạn của quá trình giải cứu vẫn còn trúc trắc nhưng từ sau cú va chạm, sự chú ý đã chuyển sang các nguyên nhân vụ việc. Rất nhiều hệ thống an toàn phải được chuẩn bị sẵn sàng nhưng không, và người ta tin rằng tai nạn xảy ra vì cả hai con tàu đều không tránh nhau kịp, không con tàu nào canh gác cẩn thận cả. Dù lý do là gì, tàu Bowbelle khổng lồ đã xiên thẳng vào thuyền Marchioness tí hon, giờ các tiến trình khởi tố bắt đầu nhắm vào thuyền trưởng tàu Bowbelle.

Người nhà các nạn nhân phát điên lên khi biết viên thuyền trưởng đã uống say mèm buổi chiều trước đêm xảy ra tai nạn, khi đang chờ thủy triều đổi chiều để xuôi tàu về hạ lưu. Tuy nhiên các chuyên gia (những người không tin Luật tám giờ từ sau khi uống rượu cho đến lúc cầm bánh lái của Không quân Hoàng gia (*) có thể áp dụng trong ngành hàng hải) nói viên thuyền trưởng đã tỉnh rượu sau giấc ngủ trước giờ xuất bến. Vì thế, chỉ có thể cáo buộc ông ta tội không quan sát cẩn thận.

Chuyên viên điều tra vụ án bị chánh công tố viên gây áp lực phải hoãn cuộc thẩm tra chính thức các vụ tai nạn cho đến khi phiên tòa này chấm dứt – nhưng nó chẳng bao giờ đi đến kết quả cuối cùng. Hai thành viên bồi thẩm đoàn không thể nhận định thuyền trưởng tàu Bowbelle có tội hay không, rồi sau đó nỗ lực cáo buộc chủ tàu Bowbelle cũng dần trôi vào quên lãng.

Sau các nhận định về tàu Bowbelle, hoặc đúng hơn không nhận định hoàn chỉnh nào được đưa ra, chuyên viên điều tra quyết định việc lật lại quá trình thẩm tra cũng chẳng ích gì, đã có những cuộc điều tra kỹ lưỡng về nguyên nhân va chạm, các nguyên tắc an toàn đường thủy trên sông Thames cũng được thiết lập. Tuy nhiên quyết định của ông ấy chỉ khiến nỗi đau của người ở lại thêm sâu: Nhiều người cho rằng quyết định này thiên vị, đặc biệt khi ông ấy đã có vài lời nhận xét thiếu thận trọng về họ trước báo giới, sau này những nhận xét đó được công bố. Người nhà các nạn nhân không chỉ muốn lật lại quá trình thẩm tra, họ còn muốn một cuộc thẩm vấn công khai chính thức. Yêu cầu này không được chấp thuận nhưng họ không hề chùn bước. Họ nuôi ý định theo đuổi qua tòa phúc thẩm.

Sự giận dữ của họ còn được một vài phát hiện mới gần đây châm ngòi thêm, không may những phát hiện đó được Tờ Sunday khơi ra, rằng bàn tay của các nạn nhân đã được tháo khớp ra khỏi cơ thể phục vụ công tác khám nghiệm và nhận dạng. Tuy những đôi bàn tay đã được chuyển về nhà xác nhưng điều không thể tha thứ là vài đôi chẳng bao giờ được trả lại cho khổ chủ của nó nữa. Người nhà các nạn nhân giờ đây nghi ngờ lý do duy nhất khiến họ bị từ chối quyền tiếp xúc với thi thể lần cuối trước tang lễ không phải vì thi thể đã phân hủy quá lâu mà vì các thi thể không còn tay. Tất cả mọi người chuyển hướng giận dữ sang bác sĩ pháp y phụ trách vụ án – chính là tôi. Ở vị trí của họ, chắc chắn tôi cũng sẽ giận dữ. Nhưng sự giận dữ đã biến thành cơn thịnh nộ. Chẳng ích gì khi giải thích với những người thân đang oằn mình trong tiếc thương rằng việc tháo khớp tay là thủ tục trong quy trình khám nghiệm tử thi. Chẳng ích gì khi giải thích với họ việc lấy dấu vân tay của những người chết đuối phải cần đến kỹ thuật phòng thí nghiệm, những việc này không thể thực hiện được ở nhà xác. Và đã quá muộn để đặt câu hỏi việc tháo khớp bàn tay các nạn nhân có phải thủ tục được chấp nhận ở thời điểm đó hay không.

Kỳ thực, không chỉ quyết định tháo bàn tay vài nạn nhân, quá trình tháo khớp, hay lỗi không trả các bàn tay về cơ thể nạn nhân không phải là trách nhiệm trực tiếp của tôi. Tuy nhiên giải thích của tôi đều bị từ chối, lời bào chữa của tôi cũng bị buộc tội. Những bức ảnh của tôi (không hiểu vì sao lúc nào trông cũng rất thảm hại, cà-vạt bị gió thốc ngược về sau trông rất nham hiểm) luôn xuất hiện minh họa cho các bài báo giọng điệu không cạnh khóe thì buộc tội. Báo chí gọi tôi liên tục bất kể ngày đêm, đến tận cả thềm nhà. Một tay liều lĩnh hơn, không biết bằng cách nào đến tận bàn làm việc của tôi tại văn phòng, ngồi chễm chệ bên cạnh cùng cuốn sổ ghi chép.

Về phía đồng nghiệp, những cái lắc đầu của họ nối tiếp nhau từ việc tôi phối hợp với cảnh sát dựng lại vụ Rachel Nickell sang đến việc tôi xử lý hậu Marchioness. Họ hỏi tôi không thể ngăn việc tháo khớp bàn tay à. Đối với nhiều trường hợp, vẫn còn những cách khác để nhận dạng. Phía cảnh sát đã báo cáo họ phải “bơi” trong lượng thông tin nha khoa được gửi từ khắp nơi trên thế giới về mà? Vậy chắc chắn tôi sẽ ngăn cản quyết định tháo khớp bàn tay ngu dốt.

Dù vậy, các đồng nghiệp của tôi cũng đồng ý họ đã phát biểu khi chưa trực tiếp trải qua công việc ứng phó thảm họa lớn, và chắc chắn không phải thảm họa đuối nước. Họ đồng tình chúng tôi đều đang nói với lợi thế “việc đã rồi”, và có lẽ họ cũng không can thiệp việc tháo rời các bàn tay khi việc đó gần như thủ tục tiêu chuẩn của cảnh sát, lại còn được phép của chuyên viên điều tra các vụ bất thường.

Trưởng khoa Iain im như thóc từ đầu tới cuối, đúng phong cách trong bất cứ vụ án nào ông ấy vắng mặt. Tôi cảm thấy đơn độc trước mũi dùi trong thời gian hậu Marchioness, một vị thế khó xử bất kể sự cảm thông với đám đông cuồng nộ lớn cỡ nào.

Pam, người có thể cho tôi chút ủng hộ đã không còn là “tổng quản” nữa. Vào thời điểm khá muộn trong cuộc đời, cô ấy sa vào lưới tình với một người đàn ông góa vợ rồi trở thành bà nội trợ kiêm mẹ kế. Cô ấy thậm chí còn chẳng muốn dung hòa thế giới pháp y với cuộc у sống gia đình. Cô ấy đã nhận ra quán xuyến một mái ấm không hề đơn giản, càng không có điểm chung với thế giới pháp y – giết người. Chúng tôi có một buổi từ biệt cô ấy trong buồn bã, các trợ lý khác đều thuyên chuyển vị trí, sau khi thêm một nhân viên non nớt được giới thiệu đến với thế giới giết chóc u ám của London, cuối cùng chúng tôi cũng nhận được Lorraine đầy năng lực vào vị trí đó.

Ồ, thêm một tân bác sĩ pháp y nữa.

Một ngày nọ, một phụ nữ cao, tóc vàng óng ả, đôi chân dài sải bước vào văn phòng. Cô ấy mặc váy ngắn, nở nụ cười thân thiện, chưa kể đôi gò má sắc như thể được gọt từ giấy bìa cứng bằng chiếc kéo bén nhất trần đời. Các nhân viên khác gần như không có cơ hội kịp nhìn thấy cô ấy trước Iain, vốn là người đàn ông quyền lực nhất văn phòng toàn những người đàn ông quyền lực. Iain phóng vọt ra khỏi ghế ngồi như cách người Neanderthal nguyên thủy đã làm, vì vâng, ở thế kỷ trước, giống đực hầu như không tiến hóa thêm mấy.

Vesna Djurovic là một bác sĩ pháp y mang dòng máu lai Serbia và Croatia, thuộc Nam Tư lúc ấy. Thời điểm đó, cô ấy là phiên bản hoàn mỹ giữa nhan sắc và tài năng vượt trội. Cô ấy đã thực tập ở Belgrade trước khi chuyển đến London tìm việc. Cô ấy chẳng những tìm được công việc ở Bệnh viện Guy’s mà còn tìm được thêm một điều có lẽ chính cô ấy cũng không kỳ vọng trước đó: một người chồng. Iain đã qua một lần đò, các giai đoạn sau đó khá phức tạp và khó khăn nhưng tới một mức mà sự u ám của thế giới án mạng ở London sẽ được thắp sáng bởi cặp đôi vàng, Iain và Vesna sẽ là cặp đôi đó.

Jen và tôi chẳng bao giờ trở thành cặp đôi ấy. Từ khi Vesna và Iain bước vào thế giới pháp y cùng nhau, càng ngày càng có thêm nhiều sự kiện khuyến khích các cặp đôi có mặt, nhưng Jen và tôi quá bận bịu để tham gia. Jen vừa hoàn thành xong năm đầu bác sĩ của mình. Tuần làm việc của cô ấy kéo dài 36 tiếng, đồng nghĩa ca ngày dài còn ca đêm xen kẽ ở bệnh viện. Tuy nhiên vòng lặp này dần trở nên dễ thở hơn vì Jen bắt đầu bước vào giai đoạn được đào tạo trở thành bác sĩ đa khoa gia đình, cùng lúc phát hiện ra đam mê của mình với nhánh da liễu.

Tôi hiểu trong giai đoạn sự nghiệp này, Jen cần rất nhiều hỗ trợ. Khi tôi cần, cô ấy đã ở đó vì tôi. Giờ tôi cố gắng làm vậy vì cô ấy. Trở thành bác sĩ quả là thành tựu lớn lao vì mãi đến tận khi ngoài 30 Jen mới bắt đầu đi học. Có lẽ tôi đã không thường xuyên bày tỏ đủ nhiều niềm tự hào của mình. Tôi hy vọng thỉnh thoảng mình đã thể hiện như vậy, hoặc chí ít là một lần, quỷ tha ma bắt tôi đi.

Giờ hướng đi của chúng tôi hiếm khi giao nhau, mỗi lần gặp chúng tôi chỉ toàn cãi vã. Có vẻ chẳng còn cách nào để hai chúng tôi tìm về con đường cũ dẫn tới một nơi an toàn và hạnh phúc hơn. Tôi biết nhiều cặp đôi hàn gắn bằng những cách thức rất âu yếm, nhẹ nhàng nhưng tôi chẳng bao giờ thấy được điều đó trong gia đình mình chắc chắn không phải kiểu âu yếm, nhẹ nhàng hiện hữu trong mối quan hệ giữa bố và mẹ kế của tôi. Hoặc có lẽ tôi không bao giờ giả vờ được. Người vợ tốt của tôi chắc đã rất cáu tiết khi phải sống cùng gã chồng bận rộn, sao nhãng như tôi?

“Sao anh không để em được yêu anh?” Jen khóc. “Sao lúc nào anh cũng im lặng vậy?”

Chúng tôi cùng tham gia khóa trị liệu hôn nhân. Tôi đồng ý cùng đi, nhưng cũng có cảm giác Jen lôi tôi ra trước mũi đe.

“Mẹ anh ấy mất hồi anh ấy mới 9 tuổi.” Cô ấy dõng dạc, người cố vấn cũng gật đầu rất mạnh. Họ là bạn cũ à, hay nó là kiểu âm mưu giữa những người phụ nữ?

“Chị muốn anh Dick làm gì cho mình à Jen?” Cố vấn hỏi.

“Chỉ cần anh ấy vòng tay qua người tôi và nói anh ấy yêu tôi. Có đòi hỏi gì lớn lao đâu, phải không?”

“Và Dick, anh muốn chị Jen làm gì cho mình nào?”

Tôi ngẫm nghĩ một thoáng.

“Nấu bữa khuya cho tôi.” Tôi nói.

Cố vấn tựa người vào lưng ghế.

Khả năng bếp núc có hạn của Jen luôn trở thành tâm điểm trêu đùa.

“Chuẩn bị cho tôi một bữa ăn. Với tôi đó là hành động nhân danh tình yêu. Nhưng tôi lúc nào cũng bận bịu lo cho tất cả mọi người, còn Jen thì quá bận lịch đào tạo để có thể lo chu đáo.”

“Vậy anh Dick, anh cảm thấy mình lo lắng cho tất cả mọi người?”

“Tôi không than phiền đâu. Bố tôi cũng làm vậy, bố nuôi chúng tôi lớn. Tôi vui khi được lo cho mấy đứa nhỏ, nấu ăn và có mặt khi gia đình cần, điều đó bình thường thôi. Chỉ là...”

Bố tôi đã làm tất cả những việc đó. Nhưng đó cũng là đầu dây mối nhợ cho cơn phẫn nộ của bố, thỉnh thoảng nó bùng phát khỏi bố và lan đến những người sống xung quanh. Giờ tôi bắt đầu thắc mắc liệu đó có phải nguồn căn của những điều không như ý trong ông không. Bố tôi không vui vẻ. Có lẽ tôi cũng vậy, cũng không hạnh phúc. Lần đầu tiên trong đầu tôi xuất hiện suy nghĩ có lẽ cuộc hôn nhân của chúng tôi sẽ được cải thiện nếu tôi, cũng như bố, thỉnh thoảng bùng nổ hết các tầng sâu cảm xúc của mình ra ngoài. Nhưng nếu tôi có những cảm xúc đó, chắc chúng phải được chôn sâu ở một nơi không thể tới được. Nếu tôi còn không thể làm mình khóc, sao tôi bùng nổ được?

“Vâng?” Cố vấn hỏi. Tôi đã quên mình đang ngồi trong văn phòng tại Clapham, còi xe cứu thương hú bên ngoài, vợ tôi và người cố vấn kiên nhẫn chờ tôi kết thúc câu nói.

Cô ấy nhắc: “Anh nấu nướng và chăm sóc lũ trẻ nhưng… sao ạ?”

“Tôi cũng muốn Jen thể hiện cô ấy yêu tôi bằng cách thỉnh thoảng làm vài việc.”

Buổi cố vấn không kéo dài mấy. Nó tự tắt dần, cũng có thể vì chúng tôi đều quá bận. Lũ trẻ vẫn đang tuổi đi học, vui vẻ và khỏe mạnh, còn chúng tôi làm hết sức để tạo nên một mái ấm hạnh phúc. Thường luôn có tiếng ồn trong nhà, khi thì tiếng nhạc, không thì tiếng cười. Jen và tôi đều đắm mình trong những công việc mình đam mê. Tự nhiên như hơi thở, chúng tôi không nhắc về chuyện này nữa. Tôi tham gia ca đoàn phụ huynh tại trường lũ trẻ và trở thành một ông ca sĩ mặt dày, rống to, tôi e đôi khi còn phô chênh. Jen, Chris, Anna và tôi cùng hát trên đường trong những kỳ nghỉ gia đình đầy màu sắc của cát, núi đồi và đồng hoang trên Đảo Man, nơi chúng tôi sẽ được những người tuyệt vời và tốt bụng thết đãi. Cuộc sống của chúng tôi chắc chắn khá đủ đầy.

« Lùi
Tiến »