Người Chết Không Nói Dối

Lượt đọc: 2216 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24

Sinh nhật lần thứ 40 của tôi gần thời điểm bố tôi qua đời, lẽ dĩ nhiên tôi khó tránh khỏi tự ngẫm về sự sống chết của bản thân. Tôi không sợ cái chết, nhưng tôi không thích những thứ đến trước nó: sự lão hóa, quy trình được cài đặt trước của tuổi già. Cho đến lúc ấy, tôi đã nhìn thấy đủ nhiều cơ thể lão hoá để có những khái niệm chuẩn xác về hình dáng các cơ quan nội tạng của mình.

Ở tuổi 40, tôi ý thức được trên những bề mặt nhẵn nhụi của hai lá phổi của mình có những chấm đen li ti đang bắt đầu hình thành, tạo nên đường nét như những nhánh cây. Thoạt nhìn trông chúng có vẻ đẹp đẽ, nhưng sự thật không phải vậy: Chỉ riêng lượng muội ô nhiễm của London đã đủ khiến tôi ít nhiều bị khí phế thũng, dù có hút hơn kém hai mươi điếu thuốc một ngày hay không cũng vậy. Tôi chẳng phải người duy nhất hút thuốc. Các đồng nghiệp của tôi đều hút, chúng tôi lúc nào cũng ngồi làm việc trong bầu khói xanh nhờ nhờ. Ở nhà, Jen hút thuốc. Trên Đảo Man, bố mẹ vợ tôi cũng hút thuốc. Những nơi khác, bạn bè chúng tôi đều hút thuốc. Năm 1992 hầu như ai trong chúng tôi cũng hút thuốc, chúng tôi hút trong quán bia rồi nhà hàng, trên tàu hỏa, tại bàn làm việc và trên xe buýt. Chúng tôi hiểu thuốc lá có hại, chứa hơn 4000 chất, rất nhiều trong số đó toàn chất độc hại từ hydro cyanide, cadmium và benzopryene, nhưng chúng tôi lờ đi tất cả chỉ vì một thứ duy nhất: nicotine. Chúng tôi nghĩ mình còn trẻ và bất khả chiến bại. Giờ tôi hiểu mình phải bỏ thuốc để thêm mười năm tuổi thọ nữa, mặc dù phổi của tôi đã bị hư hại khó lòng cứu vãn, những tổn thương đó càng nặng thêm qua năm tháng.

Nỗ lực bơm máu tới các lá phổi đã bị tổn hại quả là vất vả cho tim, tôi hy vọng giờ có kiểm tra thì phần bên phải trái tim tôi cũng chưa phình đại. Phần còn lại, tôi hiểu nếu tôi không học cách tiết chế phản ứng với stress, huyết áp của tôi sẽ tăng, tâm thất trái sẽ phải dày lên để đương đầu. Tim là bộ phận có thể nằm gọn dễ dàng trong một bàn tay. Nhỏ nhưng rất vững vàng, chỉ một nắm tay mà biết co bóp nhịp nhàng bảy mươi lần một phút, đêm cũng như ngày, năm này qua tháng nọ, 30 tỉ lần trong một đời người. Quả là người bạn trung thành, đập cần mẫn cho đến khi ngừng lại. Nó hoàn toàn tùy thuộc vào việc tôi đền đáp sự trung tín này như thế nào, chẳng hạn để tâm đến chế độ ăn uống, tập luyện, bớt hút thuốc và giảm stress. Tôi cũng hiểu mình cần cho phép lá gan nghỉ ngơi bằng cách giảm bớt lượng cồn nạp vào người, nếu tôi còn muốn nó nhận nhiệm vụ bảo trì toàn bộ cỗ máy cơ thể.

Thành ý nào cũng tốt, và cũng chóng trôi vào quên lãng. Thỉnh thoảng uống một ly whisky soda có vẻ là cách để thư giãn, cũng như châm một điếu thuốc mới dễ dàng hơn nhiều việc mất thời gian ngồi tính toán xem mình thèm thuốc ra sao nếu không được hút. Giờ nhìn lại, tôi hiểu vì sao bỏ thuốc vào năm đó hay năm kế tiếp lại bất khả thi vì năm 1993 kéo theo một chuỗi các vụ án lớn.

Tháng tư, tôi tiến hành khám nghiệm tử thi một thanh niên da màu ở phía Nam London đã bị đâm chết trước đó. Có rất nhiều vụ đâm chém gây tử vong, vụ này không ngoại lệ. Kết quả điều tra thường là các vụ đâm chém băng đảng và ma túy. Vào thời điểm đó, các cuộc tấn công do sắc tộc chưa vào vòng nghi vấn. Thông tin duy nhất tôi có là thanh niên này đã tham gia một cuộc ẩu đả. Ngoài ra, không còn gì khác cho thấy đây là một vụ tử vong bất thường, không còn gì khác cho thấy tên nạn nhân sẽ nổi tiếng sau đó, cũng không còn gì khác cho thấy tôi sẽ phải hầu tòa làm nhân chứng rất nhiều lần sau đó.

Stephen Lawrence là một thanh niên mười tám tuổi, sáng láng, nhiều ước vọng, không có điểm nào khớp với những suy nghĩ phổ thông vào thời điểm năm 1993 về người da màu trẻ tuổi. Dù đúng hay sai, thừa nhận chàng trai ấy như một sinh viên chăm chỉ với tương lai tươi sáng phía trước là điều sống còn để thay đổi thái độ, thành kiến của dư luận. Chỉ đơn giản là đứng chờ xe buýt cùng một người bạn, cậu ấy đã bị một nhóm thanh niên da trắng đâm hai nhát, sau này tìm hiểu thêm chúng tôi biết được nhóm này đã tuôn ra những nhận xét phân biệt chủng tộc. Có một vết rạch khác thường ở cằm nạn nhân, một vết đâm xuyên phổi và một vết đâm khác vào vai. Dù chảy máu xối xả, cậu ấy vẫn cùng bạn cố chạy về phía trước khoảng 100m rồi ngã gục.

Những tháng sau đó, phía cảnh sát mang đến cho tôi xem xét tổng cộng 16 con dao, trong đó bảy con dao được khoanh vùng, một con dao có khả năng giống con dao hung khí. Tháng bảy, tôi được yêu cầu báo cáo sâu hơn, tôi cho rằng Stephen đang đứng thì bị đâm vào phần xương đòn bên phải và bắt đầu khuỵu xuống khi bị đâm phát thứ hai vào vai trái. Dù đã suy xét rất cẩn trọng, tôi vẫn không thể tự tin nhận định kẻ thủ ác thuận tay trái hay tay phải. Chọn một trong hai khả năng trên giúp tôi trông như kẻ thông thái, nhưng chứng cứ quá mong manh, sẽ gây ra rủi ro làm vuột mất kẻ thủ ác thật sự.

Sự liên đới của tôi với phía cảnh sát trong vụ Stephen Lawrence chỉ đến đó. Tôi không ý thức được sự bàng quan, phân biệt chủng tộc ngầm cháy bên dưới. Ngược lại, gia đình Lawrence thì không. Họ hiểu có các nhân chứng, bằng chứng, cả những kẻ bị tình nghi. Nhưng không có bất cứ bản án nào.

Bốn tháng sau, tôi được điều đến quan sát một buổi khám nghiệm tử thi ở Bắc London thay mặt phía cảnh sát. Buổi khám nghiệm do bác sĩ pháp y khác thực hiện, công việc của tôi là quan sát, lấy mẫu liên quan, tham gia quá trình khám nghiệm nếu được mời, nhưng do sự nài nỉ của bác sĩ pháp y kia, tôi chỉ đứng nhìn. Thấy khá rõ người phụ nữ chúng tôi đang khám nghiệm đã chết do hệ quả của những tổn thương não nghiêm trọng vì bị ngạt, nhưng cũng có thể còn nguyên nhân khác mà các chuyên gia được mời tới sẽ cho ý kiến - đặc biệt về não và tim.

Dễ thấy nạn nhân đã trải qua một cuộc chống trả quyết liệt trước khi bị ép đeo một chiếc đai thân – loại đai quấn quanh cơ hoành để móc còng tay vào – rồi qua đời. Cả người cô ấy toàn những vết cắt và bầm dập, hai chân cô ấy bị buộc lại ở đùi trên, hai mắt cá và eo. Liệu cô ấy có bị thương phần đầu không? Bác sĩ chuyên khoa não sẽ trả lời câu hỏi đó cho tôi.

Vụ án này cũng trở thành một vụ lớn. Joy Gardner là một phụ nữ Jamaica 40 tuổi, đang sống cùng con trai 5 tuổi. Sự thật cô ấy đã ở quá hạn visa. Mẹ ruột và rất nhiều họ hàng của cô ấy cũng ở đây, hỗ trợ trong lúc cô ấy đi học, cô ấy không muốn trở về Jamaica.

Sáng sớm hôm đó chẳng hề có báo trước, các nhân viên Sở Di trú ập đến nhà để trục xuất cô ấy. Họ được phía cảnh sát hỗ trợ, chắc vì họ lường trước sẽ có kháng cự. Joy Gardner đã kháng cự. Hẳn cô ấy đã nghĩ cô ấy chiến đấu cho cuộc sống mình lựa chọn, hẳn cô ấy không nghĩ mình đã chiến đấu để giành mạng sống.

Không có kỹ năng, thiếu đào tạo, các nhân viên di trú chỉ có quyết tâm thi hành mệnh lệnh nên đã ép cô ấy đeo đai thân trong khi cô ấy cố chống cự và cắn họ. Con trai cô ấy đã chứng kiến tất cả. Đáp trả lại sự chống đối của cô ấy, các nhân viên di trú đã dùng gần bốn mét băng dính phẫu thuật, Elastoplast, để quấn quanh miệng và mặt cô ấy. Họ đã sai khi cho rằng chỉ cần để hở phần mũi, cô ấy vẫn có thể thở được. Đây là một sai lầm. Che miệng cũng có thể gây ra tử vong. Không phải vấn đề có thở được hay không, mà là vấn đề có thở đủ hay không. Nhất là khi quá trình chống trả đã gây ra stress và sự ráng sức, khiến cơ thể cần oxy nhiều hơn bình thường.

Khi bị nhét vật lạ vào miệng, người ta có thể sẽ nôn, nên nếu bị bịt kín miệng, các chất nôn không thể thoát ra ngoài. Vật bị nhét vào miệng có thể đè lên lưỡi, khiến lưỡi đùn ra sau khoang miệng, chặn phần sau của mũi. Các chất dịch khác cũng có khả năng đầy lên trong khoang miệng và cổ họng, cản trở quá trình đưa không khí vào phổi. Bịt miệng một người phụ nữ đang hoảng loạn trong nhiều phút là lý do dễ dàng đến không tưởng khiến cô ấy trụy tim.

Joy Gardner không bị siết cổ đến chết. Cũng không có những vết thương nặng ở đầu. Cô ấy không nuốt phải chất nôn của mình. Cô ấy bị ngạt vì chính miếng nhét vào miệng. Một đội cứu thương đã cố gắng làm cô ấy hồi tỉnh bằng cách kích tim và nhanh chóng chuyển tới bệnh viện. Đáng buồn thay, não cô ấy đã bị tổn thương quá sâu do thiếu oxy, cô ấy qua đời sau đó bốn ngày.

Rất nhiều bên liên quan trong vụ này - bệnh viện, cảnh sát, gia đình – kết quả thi thể cô ấy phải trải qua rất nhiều lần khám nghiệm, rất nhiều đợt phân tích mô, tới nỗi các cuộc họp về vụ Joy Gardner chẳng khác nào hội thảo chuyên ngành pháp y. Trong số các ý kiến chuyên gia quan trọng nhất, ý kiến của bác sĩ khoa thần kinh quan trọng hơn cả vì bác sĩ khám nghiệm tử thi đầu tiên, lần khám nghiệm tôi có mặt, cho rằng cô ấy chết do vết thương ở đầu. Cuối cùng cũng đạt được thống nhất chung cô ấy chết vì ngạt khí, do vật nhét vào miệng gây ra.

Tôi viết một bản báo cáo thật chi tiết, liệt kê các nguyên nhân tử vong, cũng như thường lệ, phải sửa và hiệu đính rất nhiều lần. Thời điểm đó có nhiều phản đối kịch liệt từ các tổ chức nhân quyền và nhiều tổ chức khác. Rất nhiều người, đặc biệt là cộng đồng người da màu, nghĩ rằng cảnh sát đã coi nhiệm vụ trục xuất là việc phải làm bất chấp hậu quả, chính vì thế mới giết chết Joy Gardner không suy nghĩ.

Các bạn có thể nhớ lại ca tử vong đầu tiên trong trại giam tôi từng khám nghiệm đã khiến tôi cảm thấy không thoải mái thế nào với nhận định của chuyên viên điều tra vụ án. Bệnh nhân đó bị cả viêm phổi lẫn chứng thiếu máu hồng cầu hình lưỡi liềm, do đó đã bị khép vào nguyên nhân tử vong tự nhiên, chết vì thiếu sự chăm sóc. Từ hồi đó, tôi bắt đầu để ý đến các phương pháp của những người thi hành luật, rõ ràng nhiều người trong số họ không biết cách khống chế người khác một cách an toàn.

Khống chế – kỳ thực, những ca tử vong vì bị khống chế đang trên đà tăng. Joy Gardner đã bị khống chế để trục xuất. Những ca tử vong khác xảy ra khi cảnh sát cố bắt kẻ tình nghi, đặc biệt khi những kẻ tình nghi bị SCT. Tuy nhiên, đa số các ca tử vong do bị khống chế chúng tôi từng chứng kiến hiện giờ đều bắt nguồn từ một nguyên nhân: sử dụng chất gây nghiện không điểm dừng, chất ma túy đó không gì khác ngoài cocain.

Cocain chặn bớt quá trình nhận tín hiệu truyền dẫn của não bộ, tình trạng ngăn chặn này có thể gây ra những kích thích dễ chịu và liên tục. Nó khiến người dùng tự tin, khoan khoái và đầy năng lượng. Những người dùng cocain có thể nói chuyện nhiều giờ liên tiếp, xúc giác nhạy hơn bình thường, do đó quan hệ tình dục trở nên vui thú hơn, họ cũng không có nhu cầu ăn hay uống. Ma túy cũng khiến nhịp tim đập nhanh, gây ra cáu kỉnh hoặc chứng loạn thần kinh. Vì lẽ đó, nếu việc khống chế cần thiết với đối tượng sử dụng ma túy, nguyên nhân có thể do đối tượng đang có dấu hiệu loạn thần kinh không kiểm soát nổi.

Vụ án đầu tiên liên quan đến cocain tôi khám nghiệm xảy ra vào thời gian này, khi tỷ lệ ma túy ở Anh đang trên đà tăng. Một tên tàng trữ, buôn bán (và nghiện) ma túy to cao, cơ bắp cuồn cuộn bị bắt. Hắn vừa giao dịch xong khối lượng lớn cocain và ngay lập tức đấm hai cảnh sát đang cố bắt mình. Một cảnh sát móc cánh tay quanh cổ hắn, đó gần như là hành động duy nhất của “cuộc giằng co”. Va chạm kết thúc bằng cái chết của tên buôn ma túy. Nhưng nguyên nhân tử vong là gì?

Một chuyên viên pháp y não bộ khá có tiếng cho rằng nạn nhân không bị thương ở đầu trong cuộc đụng độ, nên đó không phải nguyên nhân tử vong. Hắn có thể bị cánh tay vòng qua cổ siết ngạt, nhưng trên thi thể hắn cũng chỉ thấy một trong ba dấu hiệu kinh điển để đi đến kết luận ngạt thở là nguyên nhân gây tử vong. Hắn đã sử dụng rất nhiều cocain, nhưng kết quả xét nghiệm máu lại cho thấy mức độ cocain trong máu dưới mức gây chết người, vì vậy rất có thể hắn không chết do quá liều.

Cuối cùng, tôi đưa ra sự kết hợp các nguyên nhân với nhau: mức độ stress lên tim khi hắn kháng cự cảnh sát đi liền mức độ stress sẵn có của cơ thể do dùng cocain. Dù còn trẻ, hắn bị viêm cơ tim. Hiện chứng này đã được công nhận ở người dùng ma túy dưới cái tên “chứng viêm cơ tim do cocain”.

Các bản luận tội hai viên cảnh sát sau đó được dỡ bỏ. Vụ này lại gây thêm cho tôi sự khó chịu không thể phớt lờ. Đơn giản có quá nhiều cái chết do cách cảnh sát khống chế nghi phạm. Chắc chắn phía cảnh sát chỉ nghĩ họ đang làm nhiệm vụ, không đời nào họ có ý định giết người. Nhưng người ta vẫn chết. Tôi hiểu tôi phải làm gì đó, nhưng mọi thứ vẫn chưa rõ ràng là việc gì.

Trong khi chúng tôi đang chờ xem ai sẽ bị bắt vì cái chết của Joy Gardner, trang nhất các báo đồng loạt đưa tin về vụ bắt nghi phạm giết Rachel Nickell. Tôi không hề ngạc nhiên. Tôi đã biết trước rằng phía cảnh sát khoanh vùng nghi vấn người đàn ông tên Colin Stagg. Tôi cũng biết vì không có chứng cứ pháp y, họ đã đặt một cái bẫy ngọt ngào nhờ lời gợi ý của chuyên gia lập hồ sơ tội phạm. Họ ghi âm các cuộc trò chuyện thân mật giữa Stagg và một cảnh sát ngầm là nữ, hy vọng hắn sẽ thú nhận việc giết Rachel Nickell. Hắn không làm vậy, nhưng Cơ quan Khởi tố Hoàng gia cho rằng chứng cứ họ có đã đủ buộc tội. Tôi đã trả lời các câu hỏi về vụ án cho bên nhắm vào Colin Stagg, cũng như những thông tin từ quá trình dựng lại vụ án tại Wimbledon Common của tôi đã được sử dụng để buộc tội Colin. Tôi có thể sẽ xuất hiện với tư cách nhân chứng tại phiên tòa vào năm sau.

Khi kẻ giết người khét tiếng nhất nước Anh đã yên vị trong trại tạm giam chờ ngày hầu tòa, tôi rất ngạc nhiên vì được gọi đến hiện trường vào mùa thu năm ấy, rồi chứng kiến thi thể một phụ nữ trẻ khác. Cô gái là nạn nhân một vụ giết người còn loạn trí hơn vụ Rachel Nickell.

Jack Phanh Thây, kẻ đã sát hại ít nhất năm người phụ nữ ở phía Đông London năm 1888, đến giờ vẫn còn là chất liệu cho phim ảnh, giai thoại và là chủ đề của các tour tham quan hằng ngày quanh khu Whitechapel. Tôi ngờ rằng lý do khiến công chúng phấn khích với tội ác kinh tởm này là vì nó đã xảy ra quá lâu về trước. Tên tuổi Samantha Bisset và kẻ thủ ác giết hại cô ấy, ngược lại, ít được biết đến rộng rãi, có lẽ do cô ấy là nạn nhân của vụ án mạng theo kiểu “phanh thây” gây sốc ở trên, đến độ cả báo giới cũng lần đầu tiên dè dặt trong việc tường thuật toàn bộ câu chuyện nhằm tránh gây ra hoảng sợ trong dư luận. Lúc này đây, tôi cảm thấy một sự miễn cưỡng giống như vậy và sẽ không tường thuật lại chi tiết vụ án mạng ở đây.

Không chỉ Samantha bị giết rồi xâm hại tình dục, con gái bốn tuổi của cô ấy cũng không thoát khỏi số phận. Thi thể đứa trẻ được đặt gọn gàng trên giường, giữa những món đồ chơi, khiến các cảnh sát đầu tiên ập vào hiện trường đã mong mỏi cô bé đang ngủ và sống sót an toàn khi hung thủ giết hại người mẹ, nhưng hy vọng dấy lên để rồi ngay lập tức tắt ngúm.

Tôi được gọi đến hiện trường để khám nghiệm lần hai thi thể Samantha và con gái, như một chuyên gia pháp y về dao – chuyên môn này của tôi giờ đã được công nhận. Lần khám nghiệm thứ hai này không phục vụ mục đích cáo buộc tội danh vì chưa tìm được nghi phạm mà để chuyển hai thi thể qua khâu khác.

Trong vụ Samantha Bisset, một đồng nghiệp đã phát hiện án mạng khi đến căn hộ thăm cô ấy. Do đó, tôi chỉ thấy ảnh chụp hiện trường. Dù vậy tôi vẫn có thể mường tượng ra nỗi kinh hãi giấu trong sự im lặng, sau tinh thần bằng hữu thường thấy trên hiện trường, sau những câu chào hỏi cuộc sống thường ngày nhằm tự nhắc nhở nhau cuộc sống bình thường vẫn tồn tại song song ngoài kia. Những việc đó trở nên bất khả thi khi các nhân viên điều tra phải đối diện với cảnh tượng mất nhân tính đã diễn ra trong căn nhà trước đó.

Trong lúc khám nghiệm tử thi, tôi lờ mờ nhận ra tương tự phong cách của Jack Phanh Thây, kẻ thủ ác lần này cũng là dạng giết người theo kiểu săn chiến lợi phẩm.

Tôi nói với các cảnh sát có mặt hôm đó: “Nếu chưa biết các anh đã tóm được Colin Stagg, tôi chắc chắn sẽ nghĩ vụ này là ‘tập’ tiếp theo sau vụ Rachel Nickell.”

Viên cảnh sát nhún vai.

“Không đời nào, chúng tôi đã tóm được Colin Stagg, hắn gần như nhận tội rồi.”

“Không hẳn tương tự đâu.” Một đồng nghiệp của anh ta lên tiếng. “Ít ra Rachel Nickell không bị phanh thây.”

“Cũng có thể hắn đã ra tay nếu có thêm thời gian. Có lẽ hắn muốn thưởng thức việc giết cô gái nhưng lại đang ở nơi công cộng, đơn giản là không thể làm thế mà không bị bắt. Ra tay với một người phụ nữ trong chính căn nhà của cô ấy là bước tiếp theo của hắn.”

“Ừ, giờ thì hắn đã ở trong nhà rồi và sẽ ở đó đến cuối đời” Viên cảnh sát nói. Điều tương tự cũng sẽ sớm xảy ra với tên giết hại Samantha Bisset. Robert Napper là thủ kho 28 tuổi với một tiền sử bạo lực và bị tâm thần. Hắn từng bị cảnh sát nhiều lần chú ý, nhưng do nhiều nguyên nhân, có thể liên quan đến hệ thống quản lý hồ sơ dữ liệu nghèo nàn vào thời điểm đó, trước khi máy tính được đưa vào sử dụng rộng rãi, hắn luôn thoát khỏi sự truy lùng. Giờ các mẫu vân tay của hắn tại nhà Samantha Biset đã kết án hắn.

Khi hắn bị bắt giữ, phía cảnh sát tự tin rằng họ đã nhổ tận gốc hai tên giết người không gớm tay là Stagg và Napper. Cũng chính vì lẽ đó, tất cả đều bị sốc nặng lúc nghe tin Colin Stagg đã được trả tự do vào tháng 9 năm 1994.

Các nỗ lực kết tội đã bị gạt đi khi một thẩm phán nói tất cả những việc phía cảnh sát làm với Colin Stagg không có gì khác ngoài đặt bẫy hắn, Stagg đã bị gài khi nói chuyện cảnh sát ngầm, vì thế mọi thông tin hắn nói đều không được chấp thuận là bằng chứng. Như những người nghe chuyện khác, tôi kinh ngạc khi biết cảnh sát đã phối hợp với rất nhiều bên có chuyên môn trong vụ này và tôi chưa bao giờ có ý nghi ngờ những gì họ chắc chắn trước đó: Colin Stagg đã giết Rachel Nickell.

Colin Stagg được thả, nhưng lại rơi vào kiểu ngục tù khác. Hắn chỉ cần ra khỏi cửa nhà sẽ nhận được một bản án khác ném vào người từ phía cảnh sát, báo chí và nhất là công chúng, tất cả đều tin hắn là hung thủ sát hại Rachel Nickell nhưng lại tránh được lưới pháp luật. Niềm tin và nỗi thất vọng này phủ sóng rộng tới nỗi tâm trí tôi không bao giờ nghĩ về những điều tương tự nhau giữa hai hung thủ giết Nickell và Bisset nữa. Tôi đã quá thấm đòn các ý kiến chuyên gia bị xô lệch dưới sức mạnh chế độ, sau màn thám hiểm dựng lại án mạng thoáng qua, giờ tôi quay về vòng an toàn của mình.

« Lùi
Tiến »