Người Chết Không Nói Dối

Lượt đọc: 2217 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 25

Người nhà các nạn nhân vụ Marchioness vẫn kiên gan theo đuổi vụ án suốt bao năm. Giờ họ thắng giòn giã. Khi những nỗ lực đòi hỏi chuyên viên điều tra vụ án mở lại cuộc thẩm tra chính thức không đi đến đâu, các gia đình đệ đơn lên tòa phúc thẩm. Tòa đã đồng tình nếu cứ tiếp tục từ chối thẩm tra chính thức, chuyên viên điều tra vụ án sẽ đứng trước nguy hiểm bị gán tội thiên lệch và thiếu công minh (dù vô thức). Kết quả, một cuộc thẩm tra được một chuyên viên khác phụ trách. Sáu năm sau thảm họa, năm 1995, thẩm phán cuộc thẩm tra đồng ý với kết quả các nạn nhân đã bị “giết hại một cách bất hợp pháp”.

Không còn ai để truy tố trách nhiệm sau hai nỗ lực cố truy tố thuyền trưởng tàu Bowbelle nhưng thất bại. Tuy nhiên nhận định của thẩm phán lại làm dậy lên niềm tin của gia đình các nạn nhân rằng cần có một cuộc chất vấn công khai. Một nhóm hoạt động vẫn tiếp tục đấu tranh đòi cuộc chất vấn. Nhưng những nỗ lực của họ bị các nhà chức trách khước từ vì cho rằng đã có một cuộc cải tổ hệ thống an toàn đường thủy trên sông Thames sau vụ tai nạn, vì thế kết quả cuộc chất vấn sẽ không mang lại thêm lợi ích gì. Nhóm hoạt động không đồng ý như vậy. Dù chắc chắn phải chịu đựng thêm những gánh nặng tâm lý cá nhân khi cứ theo vụ án dai dẳng, họ vẫn kiên quyết cho rằng còn nhiều bài học có thể rút ra sau mất mát của chính họ, và một cuộc chất vấn công khai sẽ là diễn đàn lý tưởng.

Chưa ai quên được những bàn tay nạn nhân bị thất lạc trong vụ án, và tôi chính là người chịu trách nhiệm. Vì thế dù đồng tình với lý do các gia đình muốn có một buổi chất vấn, tôi vẫn rất lo lắng. Toàn bộ chủ đề, bao gồm những bàn tay, sẽ xuất hiện trở lại.

Áp lực không khoan nhượng của dư luận tới các nhà chức trách còn in dấu lên những vụ án quan trọng khác cùng thời. Các cuộc điều tra vụ án Joy Gardner và Stephen Lawrence hai năm sau cũng lụi dần. Dĩ nhiên, rất nhiều người không để chuyện đó xảy ra. Đầu tiên là các thân nhân, sau đó là cộng đồng đã nhắm đến việc huy động những góc nhìn khác nhau của dư luận về việc phân biệt chủng tộc đã làm ảnh hưởng tới quá trình điều tra của Cảnh sát Đô thị London. Trong trường hợp Joy Gardner, họ phải chứng minh còn ai đó khác ngoài tòa án đã miễn tội cho những viên chức liên quan đến cái chết.

Ban đầu vụ Lawrence không có mấy tiến triển. Tuy nhiên, trước sự kinh ngạc của phía cảnh sát đô thị cùng những nỗ lực giải thích nhân viên của mình chỉ thực hiện nhiệm vụ, các công tố viên đã luận tội ngộ sát với ba cảnh sát trong vụ Joy Gardner.

Trong phiên tòa, tôi có một màn kiểm tra chéo với luật sư mà tôi sẽ không bao giờ quên. Ai đó đã có bản sao chép báo cáo nháp đầu tiên của tôi, anh ta chỉ ra có hơn 70 sự thay đổi trong bản báo cáo cuối cùng của tôi. Anh ta kéo lê tôi qua từng chi tiết hiệu đính, từng chỗ một, yêu cầu tôi giải thích mọi sự thay đổi cách dùng từ, mọi dấu phẩy, mọi dấu chấm phẩy. Tôi thấy mỗi thay đổi của tôi trong các bản nháp (chẳng hạn từ “có lẽ” thành “có thể”, hoặc “một cách nhanh chóng” thành “một cách chóng vánh”) không gây nhiều khác biệt cho kết quả vụ án, nhưng nói vậy cũng chẳng ích gì. Luật sư ám chỉ tôi sát cánh với phía cảnh sát và đã đứng về phía họ để làm giảm nhẹ tội cho họ trong cái chết của Joy Gardner.

Các cuộc đối thoại của chúng tôi đi theo hướng như sau (tôi viết lại từ trí nhớ vì không thể tìm thấy bản ghi chép nào):

Luật sư: Hãy cùng nhìn trang 36... tại sao anh đổi từ “nghiêm trọng” thành “trung bình”, Bác sĩ Shepherd? Chắc chắn đó là một sự chỉnh sửa lớn.

Tôi: Sau khi suy xét lại, cách miêu tả này phù hợp hơn.

Luật sư: Nhưng vì sao nó lại phù hợp hơn?

Tôi: Tôi đã cẩn thận cân nhắc lại sau tất cả các thông tin đã có và chỉnh sửa ý kiến của mình.

Luật sư: Anh có chắc những điều chỉnh đó không dựa trên các thông tin khác không?

Tôi: Những điều chỉnh đó dựa hoàn toàn vào các phân tích của tôi về vụ án.

Luật sư: Nhưng sao anh lại chỉnh sửa quá nhiều như vậy trong khi không có thêm thông tin mới?

Tôi: Tôi cảm thấy như vậy chính xác hơn.

Luật sư: Vậy... có phải anh đang nói anh... đổi ý?

Tôi: Đúng vậy, tôi đã đổi ý.

Luật sư: Anh đơn thuần là đổi ý thôi! Đổi dựa theo, dựa theo... ý thích?

Tôi hiểu vì sao ông ta nghi ngờ. Tất nhiên, tôi thường xuyên làm việc với phía cảnh sát, cũng dễ hiểu khi nghĩ tôi đang cố gắng lấy lòng họ. Kỳ thực, chẳng ai dựa hơi tôi và tôi cũng chẳng phải lấy lòng ai. Sẽ khá ngượng ngùng trong quá trình làm việc với phía cảnh sát nếu tôi cứ sốt sắng cáo buộc ba nhân viên của họ, đó cũng là thế tiến thoái lưỡng nan đôi lúc bác sĩ pháp y sẽ phải đối mặt. Tôi đã hy vọng mình có thể đáp trả hiên ngang trước áp lực và đưa sự thật lên trên hết.

Rồi hết sức thị phi, cả ba viên cảnh sát được tha.

Về phía tôi, dù tôi không thể bỏ qua những hành động của họ, nhưng rõ ràng chính họ cũng là nạn nhân của một hệ thống đầy thiếu sót. Họ không được huấn luyện cách khống chế nghi phạm an toàn, họ cũng không được cảnh báo những nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra do hành động của mình. Họ không hiểu toàn bộ việc trục xuất Joy Gardner là sai hay đúng. Nhiệm vụ của họ đơn giản chỉ là sử dụng tay chân để hoàn thành mệnh lệnh của nhà chức trách. Họ đã nghĩ khống chế Joy Gardner chỉ để hoàn thành công việc khó khăn họ được trả lương. Họ hoàn thành công việc quá tệ như vậy chỉ chứng minh bản chất tệ hại trong cung cách hoạt động của những người tuyển dụng họ.

Cái chết đau buồn của Joy Gardner là chất xúc tác cho những thay đổi sau đó. Đối với tôi, tôi biết mình cần làm gì. Tôi trở thành người nhiệt huyết bậc nhất với tất cả các cơ quan không chỉ rà soát lại quy trình khống chế người an toàn mà còn huấn luyện những người có công việc liên quan đến khống chế người khác: cảnh sát, nhân viên nhà tù, nhân viên Sở Di trú.

Không thể biết trước được chuyện gì sẽ tạo nên những thay đổi lớn trong cuộc đời mỗi người. Tôi vẫn hay nghĩ, trong trường hợp của tôi, sẽ là những đóng góp của tôi vào quá trình thay đổi này. Căn bản tôi sẵn lòng thêm việc cho chính mình: dạy các khóa đào tạo, tổ chức các buổi hội thảo, viết báo cáo, tham gia các ban ngành, nhưng quan trọng nhất là tham gia giáo dục.

Những người gièm pha phía cảnh sát chắc sẽ ngạc nhiên khi biết tôi gặp rất nhiều cảnh sát tha thiết muốn học cách khống chế an toàn và nhân đạo. Hơn ai hết họ hiểu những thiếu sót trong cách hoạt động của mình. Hơn ai hết họ hiểu không chỉ nạn nhân và gia đình nạn nhân bị tổn thương, chính cuộc sống và sự nghiệp của họ cũng có thể thay đổi hoàn toàn chỉ sau vài phút ngắn ngủi. Tuy nhiên, cũng phải mất nhiều năm cho đến khi mọi tổ chức, từ Cục Xuất Nhập cảnh tới Ủy ban Công lý Giới trẻ xác nhận thực hành bộ quy tắc khống chế người an toàn mà chúng tôi đã huấn luyện Cảnh sát Đô thị sau cái chết của Joy Gardner.

Tôi trở thành thành viên Ban hội thẩm độc lập của Ủy ban Chuyên trách những ca tử vong trong trại giam. Ủy ban này được sự hỗ trợ của Bộ Y tế và Tư pháp, cũng như Bộ Nội vụ Anh. Nghe có vẻ quan liêu? Không hề. Đó chỉ là những hỗ trợ chúng tôi cần có để chắc chắn các quy chuẩn chúng tôi đưa ra sẽ được phê chuẩn và làm theo.

Bộ hướng dẫn nhận định quá trình khống chế sẽ để lại ảnh hưởng tâm lý tới những người liên quan, kể cả những người chứng kiến. Họ đặt ra các quy ước khống chế: khi cần thiết, có lý do chính đáng, tương quan đúng với những mối đe dọa. Họ cũng công nhận quy trình khống chế không đúng cách có thể dẫn đến tử vong. Vì thế, chỉ những kỹ thuật khống chế được phê chuẩn mới được sử dụng, và được sử dụng bởi những người đã qua huấn luyện và được ủy quyền.

Khi một vụ việc bất ngờ xảy ra cần có sự quản lý. Tôi vẫn cho rằng những hướng dẫn này bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm bay lượn của mình. Khi có cùng lúc hai phi công trên máy bay, chỉ một người nắm quyền điều khiển toàn bộ, nếu quyền điều khiển được chuyển giao từ người này sang người kia, phải có sự thừa nhận bằng lời nói.

Phi công 1: Tôi giữ quyền điều khiển.

Phi công 2: Anh có quyền điều khiển.

Lộ trình này mang lại tính rõ ràng cho một cơn khủng hoảng. Vì thế, tôi có ý định chuyển những quy cách thực hành bay sang cách xử lý khủng hoảng như trong việc khống chế người. Lúc này, người chịu trách nhiệm khống chế đầu, cổ và hô hấp của nghi phạm sẽ là người toàn quyền điều khiển. Không quan trọng cấp bậc, người đó có nhiệm vụ nắm quyền điều khiển bằng cách nói: “Giờ tôi có quyền trong vụ này. Những người khác phải thừa nhận điều đó và nói: “Anh có quyền trong vụ này. Quan trọng nhất, quyền điều khiển cho phép người đó ra lệnh thả lập tức, và lệnh này phải được làm theo.

Dĩ nhiên còn rất nhiều thông tin, bao gồm giám sát y tế, quay phim, thu âm, ghi chép, rồi báo cáo vắn tắt. Mục đích chính để biến việc khống chế bằng vũ lực sang việc chỉ dùng khi cần thiết, được điều tiết cẩn thận, an toàn. Kết quả, số ca tử vong do bị khống chế giảm sâu. Kỳ thực, giờ nếu ai đó bị người khác, hoặc bảo vệ hộp đêm hay cửa hàng khống chế còn nguy hiểm hơn.

Sau khi các cảnh sát trong vụ Joy Gardner được thả tự do, dư luận lại yêu cầu một cuộc chất vấn công khai khác và bị kiên quyết từ chối. Trong vụ Stephen Lawrence, phía cảnh sát đã có trong tay vài cái tên thuộc diện tình nghi. Tuy nhiên, không có vụ buộc tội nào diễn ra, gia đình và bạn bè Stephen Lawrence bắt đầu những nỗ lực dũng cảm để giành lại công bằng. Họ tiếp tục tự khởi tố dân sự ba trên năm kẻ bị cáo buộc giết người.

Tôi được yêu cầu hiện diện tại tòa với tư cách nhân chứng. Luật sư Michael Mansfield đại diện cho gia đình nạn nhân với tư cách công tố viên tư. Nhưng tất cả vẫn không mang lại kết quả gì. Thế giới dõi theo diễn biến phiên tòa khép lại ngay trước khi nó bắt đầu vì các bằng chứng không được thẩm phán chấp thuận. Tệ hơn, nguyên tắc bất trùng khả tố (double jeopardy) vào thời điểm đó có nghĩa ba người đã bị buộc tội sẽ không bao giờ bị mang ra xét xử với cùng tội danh. Tất cả các khả năng giành lại công lý cho gia đình Lawrence dường như đã mất hết.

Họ không chấp nhận sự thật này. Họ đòi hỏi một cuộc thẩm tra chính thức. Có vẻ công luận đã hoàn toàn đứng về phía họ. Rất nhiều người bị sốc trước sự trao trả tự do cho những viên cảnh sát trong vụ Joy Gardner. Mọi người bắt đầu tin rằng quá trình điều tra vụ Stephen Lawrence cũng bị ảnh hưởng ít nhiều bởi tư tưởng phân biệt chủng tộc, thậm chí một cuộc thẩm vấn công khai được thực hiện do chỉ thị của chính quyền, với quy mô lớn hơn mới mang lại hiệu quả so với cuộc thẩm tra chính thức cùng chuyên viên điều tra vụ án.

Sự kiên gan của gia đình Lawrence cuối cùng cũng đưa tới một cuộc thẩm tra chính thức. Năm nghi phạm được yêu cầu có mặt. Họ hiện diện nhưng từ chối trả lời các câu hỏi, đó là quyền lợi hợp pháp của họ. Chuyên viên điều tra vụ án vốn không được phép gọi tên kẻ sát nhân bất lực trước sự im lặng tàn nhẫn của năm người họ. Tuy nhiên thẩm phán đã tìm được cách xử lý khôn ngoan và kết luận, tháng 2 năm 1997, Stephen Lawrence đã bị “năm thanh niên da trắng giết bất hợp pháp trong một vụ tấn công phân biệt chủng tộc hoàn toàn vô cớ”, thẩm phán cũng nói thêm: “... năm thanh niên da trắng ngồi đằng kia.” Tờ Daily Mail tường thuật lại phiên tòa, đăng ảnh họ, đưa ra năm cái tên và mời họ khởi kiện nếu tờ báo làm sai.

Sự khinh bỉ của dư luận trước sự kém cỏi của phía cảnh sát trong việc bắt giữ những kẻ tấn công Lawrence đã dẫn tới buổi chất vấn công khai – điều trước đó là không tưởng. Cá nhân tôi rất xúc động trước thay đổi này, nó dẫn đến những thay đổi lớn hơn trong văn hóa hoạt động của nhân viên nhà nước và cảnh sát. Tôi luôn để tâm đến sự thật rất nhiều ca tử vong do bị khống chế trong nhà giam là những người da màu, ngay cả những đặc điểm sinh học như SCT cũng khó khiến các con số chênh lệch nhiều như vậy. Tôi thấy được sự cần thiết của thay đổi, nhưng tôi chưa thể tưởng tượng được bằng cách nào. Chưa bao giờ tôi nghĩ quá trình khám nghiệm tử thi Stephen Lawrence cùng chuyên môn về các vết thương từ dao của tôi lại chuyển mình thành những yếu tố thúc đẩy sự thay đổi trong hơn hai thập niên tiếp theo.

« Lùi
Tiến »