Sau khoảng tám năm làm việc tại Bệnh viện Guy’s, tôi bắt đầu thấy chồn chân. Cái bóng của Iain West ngày càng bóp nghẹt tôi thay vì trở thành điểm tựa. Bất chấp tình bạn giữa chúng tôi và những lời đã hứa, Iain vẫn không đề bạt tôi vào vị trí cao hơn. Tôi bí mật ứng tuyển vị trí giảng viên cấp cao và lập tức được chấp thuận. Nhưng Iain không thực sự muốn tôi hay bất cứ ai trở thành phó của ông ấy. Điều đó trở nên rõ hơn bao giờ hết khi khả năng Iain về hưu non hoàn toàn có thể, để ông ấy toàn tâm theo đuổi cuộc sống điền viên và săn bắn.
Tôi vẫn bí mật tìm kiếm các cơ hội công việc khác trong khi chu toàn nhiệm vụ của mình. Lúc đó là giữa thập niên 90, hai con tôi đã bước vào cấp hai. Thỉnh thoảng nhìn thoáng qua gương mặt các con, dường như tôi thấy được con người trưởng thành các con sẽ trở thành thay vì những bé con trong quá khứ. Tôi luôn gặp khó khăn trong việc khám nghiệm tử thi những đứa trẻ trạc tuổi các con tôi, đó có thể là lần duy nhất tay tôi dao động trước một thi thể. Khi các con tôi dần lớn, số ca trẻ em dường như tăng lên. Vì tôi luôn tìm cách né tránh, hay vì tỷ lệ tử vong ở trẻ em thật sự đã tăng cao?
Một ngày nọ tôi được cử đến khám nghiệm thi thể một đứa bé mười tháng tuổi, chết trên tay mẹ. Tôi thấy đứa bé được chăm sóc kỹ và phát triển bình thường. Dễ thấy đã có những nỗ lực hồi sức đứa bé, ngoài ra không còn dấu vết nào khác, chắc chắn không có dấu hiệu bạo lực hay chấn thương. Các khám nghiệm bên ngoài không cho thấy gì thêm, không có dấu hiệu bất thường.
Tôi chờ kết quả xét nghiệm độc học, virus và vi khuẩn, nếu tất cả các kết quả đều âm tính, tôi sẽ phải đưa ra nguyên nhân tử vong là hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (SIDS) (*) . Phía cảnh sát không hài lòng khi tôi nghĩ nguyên nhân có thể là SIDS, rồi đưa tôi xem rất nhiều thông tin phía sau. À. Giờ thì vụ án đã được đặt vào bối cảnh của nó, những gì tôi vừa đọc sẽ khiến nhiều thứ phải thay đổi.
Cảnh sát ập đến căn hộ của hai mẹ con sau khi nhận được cuộc gọi của người mẹ tới tổng đài 999. Cô gái mới 22 tuổi, sống một mình sau khi bị bố đứa bé đe dọa giết chết. Những mối đe dọa cộng với thói quen rượu chè của người mẹ đã đặt đứa bé vào một vị trí rất rủi ro. Để bảo vệ hai mẹ con khỏi người bố, chuông báo động dành riêng cho các vụ tấn công đã được lắp tại căn hộ.
Khoảng chín giờ tối, khi người mẹ gọi đến số máy khẩn cấp, giọng cô ấy nghe có vẻ đã say, nói đến “một cái chết trong gia đình”. Chuông báo động cũng kêu vang, nhưng chỉ khi cảnh sát trên đường đến nhà cô ấy.
Phía cảnh sát lo ngại vì chỉ một tháng trước, người mẹ trẻ này đã bị buộc tội say xỉn khi đang một mình nuôi con. Đây là tội danh chỉ phạt hành chính và hiếm khi trở thành bản án tù, mục đích chính là răn đe những người mẹ sống điều độ trở lại và cảnh tỉnh những dịch vụ xã hội về lối sống bạo hành hoặc thờ ơ.
Chỉ bảy phút sau cuộc gọi, cảnh sát đã có mặt tại căn hộ, bấm chuông nhưng không ai ra mở cửa. Họ nhìn qua hòm thư, thấy người mẹ đang nhịp đứa con trên cánh tay mình.
Cô ấy không hoảng hốt, không có dấu hiệu bị đe dọa, vì thế cảnh sát không phá cửa. Họ chỉ nhẹ nhàng thuyết phục cô ấy mở cửa, mặc dù việc này không hề dễ dàng vì cô ấy đã quá say. Cuối cùng khi cảnh sát vào được trong nhà, họ thấy đứa bé cô ấy đang dỗ đã chết từ lúc nào.
Mọi nỗ lực hồi sức đã được thực hiên. Người mẹ trẻ trở nên giận dữ, hung hãn và đau buồn. Vài giờ sau, người mẹ được lấy mẫu máu, từ đó có thể suy ra nồng độ cồn trong máu cô ấy tại thời điểm được cho là lúc đứa bé tử vong: chính là khi cô ấy gọi 999. Nồng độ cồn là 255mg/100ml máu. Ở England và xứ Wales, lái xe với nồng độ cồn trên 80mg đã là phạm luật (ở Scotland mức này là 50mg), đối với những người không quen uống rượu, mức 255mg/100ml máu có thể gây tử vong. Chúng tôi kết luận dù cơ thể người mẹ đã quen với chất cồn, lúc đó cô ấy cũng đã say mềm.
Không có ma túy trong máu. Tuy nhiên cô ấy đã quá say để có thể giải thích đứa bé đã chết trên tay cô ấy, trong cũi, trên sô pha hay trên giường. Cô ấy cũng không thể cho biết mình đã ở đâu vào lúc đó.
Có lẽ sự cảm thông đối với bậc phụ huynh vừa mất con đang bị lợi dụng quá mức. Có lẽ sự cảm thông của tôi bị lợi dụng quá mức. Tôi nhận được kết quả xét nghiệm máu của đứa trẻ. Chúng tôi bắt đầu công nhận sự thật rằng vài bậc phụ huynh nghiện rượu hoặc ma túy, khi muốn con mình yên lặng để mình tập trung đã không ngần ngại dùng thuốc với con. Đôi khi họ dùng quá liều khiến lũ trẻ tử vong. Tuy nhiên, theo kết quả khám nghiệm độc học được gửi lại, đó không phải nguyên nhân đứa bé tử vong.
Các bệnh lý cũng có tính nhất thời. Mức độ phổ biến của nó tăng giảm theo cách nhìn nhận của chúng ta. Hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh dần trở nên rõ ràng trong ý thức dư luận vào khoảng giữa thập niên 70 và 80, vào đầu thập niên 90 các con số thống kê đã trở nên đậm nét, với tỷ lệ 2 trên 1000 trẻ sơ sinh.
Hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh trở thành nguyên nhân chẩn đoán của khá nhiều bác sĩ pháp y. Dường như nó có khả năng giải thích những thứ khó lý giải, giải thoát các bậc phụ huynh hoặc người chăm sóc khỏi chịu trách nhiệm. Với hội chứng này, đứa trẻ không chết do nguyên nhân bất thường, vì thế nguyên nhân tử vong của đứa trẻ sẽ trở nên bình thường. Tuy nhiên hội chứng này không được công nhận phổ thông – nhiều cảnh sát và chuyên viên điều tra không thuộc chuyên ngành y vẫn cảm thấy nghi ngờ. Trong trường hợp này, cảnh sát nghi bàn tay của người mẹ say xỉn có liên quan tới cái chết của đứa bé. Cũng không hẳn phi lý, nhưng không có bằng chứng nào đủ thuyết phục. Vì thế sau khi loại trừ tất cả các khả năng tử vong khác, tôi chỉ còn SIDS. Có rất nhiều sự thay đổi trong cuộc đời tôi sau việc này, khi nhìn lại nguyên nhân tử vong của ca này một năm sau đó, tôi khá bất ngờ.
Kỳ thực đó là ca cuối cùng của tôi tại Bệnh viện Guy’s. Tôi được biết Bác sĩ Rufus Crompton tại nơi tôi theo học hệ đại học, Bệnh viện St Georges tại Tooting sắp nghỉ hưu. Ông là cựu giảng viên, cũng là người hướng dẫn của tôi, hiện đang đứng đầu một khoa gồm chỉ vỏn vẹn một mình ông. Cơ hội được thay thế vị trí của ông khiến tôi háo hức. Bệnh viện St Georges muốn mở rộng khoa, vì thế nếu có được vị trí đó, tôi có thể phát triển nó theo hướng quản lý, điều tôi luôn đề nghị với Iain và bị phớt lờ.
Vào một ngày xám xịt, tôi hỏi Lorraine xem Iain có ở văn phòng không, hơi thấp thỏm, tôi bước vào. Căn phòng lớn, được nhồi nhét trong mớ hỗn độn thượng thừa. Từng chồng hồ sơ và giấy trải trên bàn, trên mọi kệ tủ, trên sàn, trên mặt chiếc bàn lớn giữa phòng được dùng trong các cuộc họp. Khi có cuộc họp, Lorraine sẽ chuyển hết các tập hồ sơ khỏi mặt bàn rồi tìm một góc trên sàn vừa với chúng, đồng thời dọn dẹp gạt tàn đầy và những bao thuốc lá cũ. Cuộc họp kết thúc, tất cả lại trở về nguyên trạng. Nhìn đống giấy trên mặt bàn, tôi ước chừng đã hơn một tuần kể từ cuộc họp cuối cùng.
Iain đang ngồi ở bàn làm việc, không quay quả xương hàm bạnh khổng lồ lại ngay để nhìn tôi. Có lẽ đó không phải thời điểm lý tưởng nhất để nói chuyện, tôi hiểu ông ấy đang mệt. Hôm qua ông ấy gào lên, nghĩa là trông như ông ấy đang giận dữ với ai đó, kỳ thực là ông ấy giận dữ với chính mình, đôi khi chỉ vì ông ấy đã không làm được việc gì đó. Trong trường hợp này ông ấy mắng Lorraine vì không nhắc ông ấy làm báo cáo đúng hạn. Bản báo cáo đó hẳn đã bị cuốn xoáy vào đống hồ sơ trên sàn, và bên tòa án không hề khoan nhượng, yêu cầu ông ấy trình bản báo cáo hoàn chỉnh muộn nhất là sáng nay. Ông ấy và Lorraine đã làm việc ở văn phòng đến tối mịt, ông ấy chỉ đạo, còn cô ấy bỏ luôn cuốn sổ tay, trực tiếp đánh máy bản báo cáo.
Giờ thì ông ấy ngồi với điếu thuốc bạc hà trên tay. Một điếu khác đang cháy, bị bỏ quên trên gạt tàn cạnh kính hiển vi. Điếu thứ ba vòng khói vẫn còn bốc lên nằm cạnh máy tính để bàn.
Tôi nói: “Iain, chắc ông đã nghe tin Bác sĩ Rufus Crompton sắp về hưu...”
Ông ấy nhướn mày. Đã từ lâu giữa Rufus, tôi và Iain có một thỏa thuận ngầm một ngày nào đó tôi sẽ về lại Bệnh viện St George’s.
“Tôi đang lên kế hoạch ứng cử vào vị trí đó.” Tôi nói.
Ông ấy đốt thêm một điếu thuốc khi điếu đang hút vừa tàn hẳn rồi nhìn quanh tìm gạt tàn, hoặc một chiếc gạt tàn chưa kịp đầy nhưng không có nên đành dụi điếu thuốc vào vỏ bao.
“Tôi đoán cậu cần thư giới thiệu.” Ông ấy nói.
Ông ấy hút thuốc còn kinh khủng hơn bình thường nhưng không để lộ cảm xúc gì bất thường. Ông ấy tỏ vẻ thân ái, chúc tôi may mắn, chúng tôi đồng ý với nhau khi hai chúng tôi cùng ở vị trí điều hành khoa, chúng tôi sẽ không trở thành kình địch mà hợp tác vui vẻ. Tôi không chắc cả hai chúng tôi có cùng muốn thế không. Cả khi ở đây, chúng tôi đã là kình địch, giờ chúng tôi lại ở vị trí ngang ngửa tại hai bệnh viện khác nhau, sự đối đầu chẳng có lý do gì để dừng lại.
Rời môi trường bận rộn của Bệnh viện Guy’s và trưởng khoa nổi tiếng của nơi ấy cùng một hồ sơ dày đặc các ca khám nghiệm để phiêu lưu tới một nơi chưa có gì chắc chắn, tôi thấy sợ. Mùa hè đó, tôi tạm ngưng công việc khám nghiệm pháp y, chuyển đến Bệnh viện St George’s, dần dần khởi động một khoa mới. Tôi cần phía cảnh sát biết nhiều hơn đến mình để liên hệ khi có các vụ án, vì thế, dù muộn, tôi vẫn phải bắt tay vào thiết lập hệ thống quản lý và tài chính vững vàng.
Sau vài tháng, tôi ngạc nhiên thấy mình nhớ nhà xác nơi tôi có thể vận dụng thành thạo các kỹ năng đã được mài giũa nhiều năm. Khi một người bạn làm bác sĩ pháp y tại vùng bờ biển phía Nam đi nghỉ hè, tôi đồng ý làm thay bạn vài ca khám nghiệm tử thi. Đúng kỳ nghỉ hè, Chris và Anna giờ đã trở thành thiếu niên. Anna vẫn đi học nhưng Chris vừa hoàn thành chương trình GCSE (*) và đang rảnh rỗi ở nhà, vì thế tôi đưa Chris cùng tôi đến chỗ làm. Tôi ra điều kiện nếu thằng bé chờ đến khi tôi xong vài ca khám nghiệm pháp y trong thời gian rất ngắn thôi, chỉ là những ca tử vong tự nhiên, tôi sẽ dẫn thằng bé đi tản bộ trên vách núi đá vôi tuyệt đẹp. Chris khá dễ tính, thằng bé thoải mái với bất cứ điều gì và sẵn lòng ngồi đọc sách trong xe chờ tôi xong việc.
Tôi mặc đồng phục. Các nhân viên nhà xác đã sắp xếp thi thể theo hàng, chuẩn bị sẵn sàng. Vào thời điểm bấy giờ, điều đó đồng nghĩa thi thể đã được mổ sẵn, xương lồng ngực được dỡ đi, hộp sọ cũng được mở ra.
Như thường lệ, các cuộc trò chuyện với nhân viên phụ trách điều tra lại diễn ra, tôi vô tình nói con trai tôi đang đọc sách và chờ tôi ngoài xe.
Nhân viên phụ trách điều tra hiển nhiên cho rằng đây là sự vô tâm.
“Tôi sẽ đưa thằng bé vào trong ngồi chờ, ở đó thoải mái hơn.” Anh ta niềm nở. “Thằng bé có thể ngồi uống trà.”
Tôi đang cắm cúi với một thi thể đã mở toang, trên tay cầm con PM40 thì mắt nhác thấy Chris. Thằng bé đi xuyên qua phòng khám nghiệm tử thi cùng nhân viên phụ trách điều tra. Thằng bé trông rất điềm nhiên. Bố của nó, là tôi, thì hoảng hồn. Tôi chỉ muốn hét lên: “Đưa thằng bé ra khỏi đây!”
Nhưng tôi hiểu làm vậy chỉ khiến nhà xác sốc hơn với một thiếu niên lò dò xuất hiện. Vì thế, tôi dốc toàn lực và chỉ có thể nháy mắt với thằng bé từ phía sau lớp khẩu trang, ve vẩy PM40 chào một cách thong dong. Thú thật, tôi cảm thấy lớp khẩu trang như vô hình. Trong ngần ấy năm, tôi luôn cố giương khiên che chắn các con tôi khỏi thực tế công việc của mình mà không phải nói dối hay quanh co với chúng. Để rồi bây giờ Chris phải chứng kiến mà không có sự chuẩn bị.
Khi bố con tôi cùng tản bộ dọc các mỏm núi đá vôi, chúng tôi tâm sự cùng nhau.
“Ờm... khi nãy thấy chuyện trong nhà xác, con có sao không?”
“Con chẳng thấy sao cả." Thằng bé nói. “Nhưng nhân viên phụ trách vụ án là một tên ngốc.”
Dù hai người họ bất đồng về chủ đề gì trong cuộc nói chuyện đi nữa (tôi đoán về đá bóng), Chris cũng thấy nó đáng nhớ hơn khung cảnh thằng bé chứng kiến ở một nhà xác trong giờ khám nghiệm tử thi. Thằng bé và Anna thỉnh thoảng theo tôi đến nhà xác khi tôi làm việc, vì vậy cũng quen với mùi, tiếng động và cả những đặc tính ở đó. Nếu phòng dành cho thân nhân bỏ trống, chúng sẽ xếp ghế ra ngồi làm bài tập cạnh bể cá, các nhân viên nhà xác dễ thương sẽ mang trà và bánh cho chúng. Lũ trẻ chưa từng hỏi tôi làm gì ở đó.
Tôi thật sự hy vọng Chris không hé môi nửa lời ở nhà về “cuộc thám hiểm” qua phòng khám nghiệm tử thi. Dĩ nhiên, Chris kể với Anna.
“Cho con đến xem khám nghiệm tử thi được không bố?” Con bé yêu cầu. “Không công bằng nếu anh Chris được đến còn con thì không.”
“Bố sẽ không gọi đó là đến xem khám nghiệm tử thi...” Tôi nói. Giờ thì Jen đã nghe thấy.
“Con thấy gì cơ?” Cô ấy hỏi Chris, cùng lúc ném cho tôi ánh mắt hình viên đạn.
“Con sẽ phải làm quen với những điều đó nếu muốn trở thành bác sĩ thú y” Chris khảng khái. “Con sẽ phải cắt mổ những thứ đã chết suốt thôi.”
“Đúng vậy, con cũng sẽ trở thành bác sĩ thú y.” Anna nói. “Hoặc một bác sĩ.”
Gia đình chúng tôi là gia đình y khoa, các ca bệnh thường được thẳng thắn thảo luận chung, mặc dù tôi sẽ vẫn giấu giếm các bức ảnh tài liệu hiện trường. Nếu được hỏi bố mẹ làm nghề gì, bọn trẻ trả lời: “Là bác sĩ.” Nếu được hỏi sâu hơn, bọn trẻ thường trả lời “Bố bọn con mổ tử thi” và câu chuyện thường dừng lại ở đó. Nhưng nói chung, giải thích mẹ bọn con là bác sĩ chuyên khoa da liễu sẽ dễ hơn giải thích bố bọn con là bác sĩ pháp y.
Chỉ vài năm nữa, Chris và Anna sẽ vào đại học. Thật khó tưởng tượng nổi bọn trẻ sẽ trở thành những người độc lập. Khó tưởng tượng nổi bọn trẻ không cần đến tôi nữa. Tôi quyết tâm rằng dù công việc mới bận rộn thế nào vẫn sẽ dành thật nhiều thời gian ở bên bọn trẻ trước khi chúng tự lập và rời nhà.