Người Chết Không Nói Dối

Lượt đọc: 2220 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 27

Khi các phòng ban đã đi vào hoạt động, tôi quay trở lại công việc khám nghiệm, giai đoạn này bận rộn nhưng nhiều lợi ích. Các cộng sự dần chuyển đến. Rob Chapman, một người bạn và là chuyên gia bệnh học tài ba từ Bệnh viện Guy’s sát cánh cùng tôi, hai thư ký là Rhiannon Layne và Kathy Paylor. Sau đó là hai bác sĩ lâm sàng Debbie Rogers và Margaret Stark. Họ thăm khám những nạn nhân sống sót sau các vụ phạm tội cũng như chăm sóc nhu cầu y tế của bệnh nhân trong các trại tạm giam. Các vị trí này là những công việc đầu tiên trong mảng học thuật về bệnh học lâm sàng tại Anh, còn họ là những trụ cột cho phòng ban còn trong thời kỳ thai nghén của chúng tôi. Rồi chúng tôi có thêm một bác sĩ thực tập. Không lâu sau chúng tôi được công nhận rộng rãi trong nước lẫn quốc tế và nhanh chóng trở nên bận rộn.

Ở vị trí lãnh đạo, đến một mức độ nào đó tôi có quyền chọn các vụ án cho mình. Một lĩnh vực tôi rất muốn “khoán” cho các đồng nghiệp của mình là lĩnh vực liên quan tới vụ tôi phụ trách cuối cùng tại Bệnh viện Guy’s: các vụ liên quan tới trẻ em. Tôi cũng thấy điều đó thật không công bằng. Thời điểm ấy, phân tích bệnh học nguyên nhân tử vong ở trẻ em dần thay đổi, cả thái độ của dư luận cũng thay đổi. Tôi nhận ra mình có thể đưa ra nguyên nhân tử vong khác cho đứa con của người mẹ say xỉn năm nào.

Từ đầu thập niên 90, các ca đột tử ở trẻ đã giảm đáng kể, và vẫn tiếp tục giảm (số liệu gần đây cho thấy tỷ lệ chỉ còn 0,27/1000 trẻ). Kết quả này có được nhờ chiến dịch đánh vào ý thức toàn cầu tên là “Ngủ đi con nhé (*) ” ở Anh. Chiến dịch này thuyết phục các bậc phụ huynh ngừng đặt con ngủ tư thế nằm sấp trên giường, đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đột tử ở trẻ sơ sinh. Các yếu tố khác chúng tôi ghi nhận được gồm người lớn hút thuốc trong nhà, người lớn ngủ cùng trẻ sơ sinh trên sô pha hoặc trên giường (dẫn đến nằm đè lên trẻ), những ông bố bà mẹ nghiện rượu hoặc ma túy, có quá nhiều thứ trên giường, hoặc nhiệt độ phòng quá cao. Những kiến thức này kết hợp cùng các chương trình giáo dục khiến con số tử vong giảm xuống.

Các con số cũng giảm đi do nhận thức về triệu chứng này đã thay đổi, từ đó làm thay đổi nền tảng chẩn đoán. Giờ đây triệu chứng này còn được biết đến với tên gọi “thùng rác của các chẩn đoán”. Ý nghĩa là trước khi chẩn đoán SIDS, bác sĩ sẽ xem xét kỹ tiền sử bệnh của đứa trẻ và lời kể của người chăm sóc về sự kiện đó, sau đó là thông tin hiện trường, bệnh lý của đứa trẻ vừa qua đời. Kỳ thực, không có nền tảng bệnh lý nào cho SIDS, nó chỉ xoay quanh vấn đề xác nhận không còn nguyên nhân tử vong khả thi nào khác.

Vậy vì sao các chỉ dẫn dành cho các bác sĩ pháp y trở nên chặt chẽ hơn và mọi người nói về SIDS như “thùng rác của các chẩn đoán”? Đơn giản vì nhiều bác sĩ không theo bất cứ tiêu chí nào, chỉ đưa ra nguyên nhân tử vong về những cái chết họ không thể giải thích thông thường chính những cái chết đó là các ca gặp thiếu sót điều tra từ cả phía cảnh sát lẫn bác sĩ pháp y. “SIDS” trở thành một từ gây nghi ngờ đến mức khó chịu. Có khi nào nhiều ca đột tử ở trẻ em là hậu quả của bàn tay người lớn chứ không phải do Chúa trời?

Những mối nghi ngờ bắt nguồn từ nỗ lực bảo vệ trẻ em của Giáo sư David Southall và cộng sự. Trước các bằng chứng ông cung cấp, khó lòng mà không đối diện với sự thật. Các nghiên cứu của ông không những nhận diện được triệu chứng Munchausen (bố mẹ có bệnh lý tâm thần dạng này sẽ cố ý khiến con mình bị bệnh để nhận được sự chú ý hoặc trợ giúp), mà còn đưa ra được bằng chứng không thể chối cãi qua camera giám sát rằng nhiều bậc phụ huynh cố ý làm tổn thương, thậm chí giết chết con mình mà không rõ lý do.

Trong cuộc điều tra nổi tiếng nhất của ông, 39 đứa trẻ có đặc điểm chung là đã trải qua những sự kiện gây nguy hại đến tính mạng, thường bên ngoài bệnh viện nhưng cũng có khi ngay trong bệnh viện. Bọn trẻ được chuyển đến một đặc khu nơi chúng được bí mật ghi hình lại. 33 trường hợp trong số đó hóa ra bị chính bố mẹ làm hại. Những thước phim cho thấy không chỉ có các trường hợp xâm hại về mặt cảm xúc mà còn cả đầu độc, siết cổ, làm nghẹt thở. Có không dưới 30 trường hợp cố ý làm nghẹt thở chỉ trong nhóm nhỏ này.

Nhờ sự trợ giúp của camera giám sát, đã có những can thiệp chuyên môn cứu sống những đứa trẻ. Tuy nhiên, bọn trẻ còn có 41 anh chị em, 12 em đã chết không báo trước. Khi các bậc phụ huynh bị phát giác, bốn người trong số đó thừa nhận đã giết chết tám em. Những trường hợp đó được điều tra lại, phát hiện 11 trên 12 ca được bác sĩ pháp y chẩn đoán nguyên nhân tử vong do SIDS, ca cuối cùng chẩn đoán do viêm dạ dày ruột, trong khi theo kết quả điều tra đứa trẻ đã bị đầu độc. Thêm 15 đứa trẻ trong số 41 anh chị em đó sau này được phát hiện đã bị ngược đãi.

Dĩ nhiên, khi kết quả này được lan rộng, thái độ chung là bị sốc, không dám tin. Tôi thấy kết quả từ nỗ lực của Giáo sư David Southall đã lôi tất cả chúng ta ra khỏi giai đoạn vô can. Khó tưởng tượng nổi những đứa trẻ đó lại cần được bảo vệ khỏi những người lớn đáng ra phải bảo vệ chúng.

Sự ngờ vực dần trở thành lời phản hồi với những cái chết không giải thích được ở trẻ sơ sinh, điều này hẳn sẽ rất bất công với những ai vô can thật sự. Bất công với cả Giáo sư David Southall khi phải đối mặt với những lời cay độc và sự chống đối ra mặt. Mặt đạo đức của việc ghi hình những đứa trẻ bị mang lên bàn cân. Tôi cảm thấy nếu không có những bằng chứng đó, chẳng bao giờ người ta tin ông ấy. Quả là kết quả đáng kinh ngạc thời bấy giờ.

Các bậc phụ huynh (cũng như phía cảnh sát và các nhân viên xã hội) từng cho rằng quan ngại từ bên ngoài về sự an toàn của những đứa trẻ chỉ gây ra xáo trộn sự riêng tư, giờ bắt đầu thay đổi tư duy. Các nạn nhân đã trưởng thành của những vụ ngược đãi bắt đầu lên tiếng công khai tuổi thơ, một luồng ánh sáng chiếu qua những góc tối gia đình trước đây được che đậy dưới danh nghĩa riêng tư. Ngọn đuốc đó được đốt lên bởi các chuyên viên y tế: nhân viên y tế, bác sĩ, y tá, những người giờ đây được khuyến khích báo cáo các hành vi nghi ngờ là ngược đãi.

Khi bảo vệ trẻ em trở thành chủ đề trong các cuộc tranh luận trên toàn nước Anh, những cuộc tranh cãi về việc trẻ sơ sinh tử vong đã bỏ lại mọi lý thuyết quanh nó, chỉ xoay quanh duy nhất một trường hợp. Phiên tòa xử Sally Clark.

SIDS từng hoành hành với mọi tầng lớp xã hội, nhưng khi giới trung lưu nắm nhiều thông tin về rủi ro hơn và tìm cách hạn chế nó, SIDS trở nên dễ ảnh hưởng đến tầng lớp bình dân hơn. Cho đến năm 1996, một luật sư trung lưu, khá giả, là con gái cảnh sát, nền tảng gia đình có quá nhiều điều chung với những bà mẹ trung lưu khác – luật sư Sally Clark mất đứa con của mình do SIDS, rồi năm 1997, đứa trẻ tiếp theo ra đi, mọi thứ mới thay đổi.

Đứa con đầu lòng là con trai, 11 tuần tuổi. Chồng Sally là Stephen cũng là luật sư. Khi người chồng đi dự tiệc cùng đồng nghiệp, người vợ ở nhà phát hiện con trai đã bất tỉnh. Cô ta gọi xe cứu thương nhưng không hiểu vì lý do gì lại không mở được cửa khi xe cứu thương đến. Khi đội cấp cứu nhìn thấy đứa trẻ, nó đã không còn mạch đập, tím xanh môi và các ngón tay. Nhưng đứa trẻ chỉ được tuyên bố đã chết một giờ sau khi những nỗ lực hồi sức chính thức thất bại.

Bác sĩ pháp y phụ trách khám nghiệm tử thi lo lắng về một vài vết thương đặc biệt: một vết rãnh cắt và bầm phía trong môi trên đứa trẻ, ngoài ra không còn bất cứ nguyên nhân tử vong rõ ràng nào khác. Ông ấy cho chụp lại những vết thương này, thật không may máy ảnh của nhiếp ảnh gia hiện trường gặp trục trặc, khiến những bức ảnh chất lượng cực thấp và dù có cáu tiết thế nào cũng chẳng giúp ích được gì hơn. Vụ đó là đỉnh cao của sự xui xẻo, bản thân tôi chỉ gặp trường hợp hỏng máy ảnh đúng một lần trong toàn bộ sự nghiệp của mình.

Khi bác sĩ pháp y đưa ra ý kiến của mình với phía cảnh sát và chuyên viên điều tra, ông ấy phải đồng ý rằng vết rãnh mặt trong môi đứa trẻ có thể xuất hiện trong quá trình cấp cứu. Trong trường hợp vết thương đặc thù như vậy, ít khả năng do nguyên nhân trên mà thường là biểu hiện của bạo hành – nhưng cũng không hoàn toàn loại trừ các nỗ lực hồi sức.

Cảnh sát và chuyên viên điều tra chọn cách đồng ý với nguyên nhân vết thương là do quá trình cấp cứu và không điều tra thêm nữa. Họ đang đối mặt với một gia đình khá giả, có chuyên môn, không phải tội phạm hay những kẻ ngược đãi trẻ em họ thường gặp.

Đứa trẻ được chụp X-quang, không có xương nào bị gãy. Bác sĩ pháp y lấy các mẫu mô, cũng bình thường. Tất cả, trừ một khả năng - chắc chắn không phải điều có thể xảy ra – do xuất hiện những tế bào bị viêm ở phổi.

Ông ấy chắc hẳn đã miễn tội cho hai vị phụ huynh bằng cách đưa ra nguyên nhân tử vong là SIDS. Hoặc theo cách nhìn nhận của ông ấy về những vết thương của đứa trẻ, ông ấy có thể gióng lên một khả năng nguyên nhân tử vong bất thường chính là nguyên nhân “không xác định”.

Thời đại đã thay đổi, nhưng cũng có thể vào năm 1996 bác sĩ pháp y đó đang làm việc dưới trướng một chuyên viên điều tra bảo thủ, có thể nói là dốt nát trước những đổi mới khoa học kỹ thuật. Vào thời điểm đó bất cứ luật sư hay thực tập sinh y khoa nào chỉ cần vài năm kinh nghiệm giắt túi cũng có thể trở thành chuyên viên điều tra vụ án.

Tôi không biết chuyên viên điều tra đó là ai, nhưng tôi biết rất nhiều chuyên viên điều tra, đặc biệt là những người không có nền tảng y khoa, thường bối rối trước SIDS vì nó là nguyên nhân tử vong không có chứng cứ rõ ràng. Nhiều chuyên viên điều tra cũng không thích cả từ “không xác định”, đặc biệt khi nạn nhân là trẻ sơ sinh. Họ muốn nói những lời an ủi, dễ chịu với các bậc phụ huynh đang suy sụp chú không phải câu “Chúng tôi cũng không hiểu vì sao con các vị chết”. Những hạn chế này có thể đẩy một chuyên gia pháp y vào vị trí tiến thoái lưỡng nan.

Không rõ lý do gì, bác sĩ pháp y đó đã tóm lấy những mẫu thử từ hai lá phổi được cho là bị viêm và quyết định đứa trẻ chết do nguyên nhân tự nhiên: nhiễm trùng đường hô hấp dưới. Ca tử vong của đứa trẻ được xem như do nguyên nhân tự nhiên.

Nhưng rồi năm sau, đứa con thứ hai của Clark cũng ra đi. Thằng bé bị sinh non vài tuần nhưng sống được, giờ đã hai tháng tuổi. Sally Clark cho con bú sữa mẹ và bổ sung thêm sữa bình. Một buổi tối nọ, người chồng đi chuẩn bị bình sữa cho cữ bú đêm, để người vợ xem TV và đứa con trai nằm trên chiếc ghế rung cho em bé. Khi người mẹ thấy cơ thể con trai mềm đi, cô ta gọi chồng và gọi xe cứu thương. Cứu hộ tới nơi, nhận ra đứa trẻ đã chết.

Cùng một bác sĩ pháp y thụ lý vụ này, ông ấy phát hiện những vết thương nghi là do đứa bé đã bị lắc mạnh nhiều lần, trong nhiều ngày khác nhau. Ông ấy tin đã tìm thấy bằng chứng của xuất huyết trong mắt, tuỷ sống và vài dấu vết dị thường ở xương sườn, chứng tỏ có thể đã có chấn thương trước đó.

Sally Clark và chồng bị bắt vì tình nghi giết hại đứa con thứ hai. Trong khi họ bị thẩm vấn, vị bác sĩ pháp y đã làm một việc đúng đắn là lật lại hồ sơ pháp y của đứa con thứ nhất. Lần này, ông ấy đã theo các hướng dẫn của Bộ Nội vụ Anh, “bất cứ kết luận nào được đưa ra trước đây nhưng giờ không còn chứng minh được nữa, mọi thay đổi ý kiến phải diễn ra ngay lập tức và tường trình rõ ràng, kể cả nó có gây ra nỗi xấu hổ đi chăng nữa.”

Vị bác sĩ pháp y đó đã thay đổi ý kiến, và nhận nỗi xấu hổ kéo dài.

Kiểm tra lại các mẫu xét nghiệm dưới kính hiển vi, ông ấy phát hiện chứng viêm phổi ông ấy kết luận là nguyên nhân tử vong hoàn toàn sai. Không có chứng viêm phổi nào. Ông ấy phát hiện thêm dấu máu trong phế nang đứa trẻ, điều trước đây ông ấy chưa từng đề cập đến. Về sau ông ấy nêu nguyên nhân do trước đó cứ nghĩ các dấu hiệu này phù hợp với những thay đổi ở con người sau khi chết. Tuy nhiên ông ấy nhận thấy những điều này có vẻ bất thường và đưa ra nguyên nhân tử vong do bị ngạt thở.

Đến lúc này, nhiều chuyên gia cho rằng ông ấy nên để ngỏ các câu hỏi bằng cách hiệu chỉnh nguyên nhân tử vong từ “nhiễm trùng đường hô hấp dưới” thành “không xác định”.

Một nhân chứng là chuyên gia sau đó đã giải thích tại tòa lý do nếu là mình sẽ làm như vậy:

“Không xác định... nghĩa là nguyên nhân tử vong có thể tự nhiên nhưng không có cách giải thích có thể là do chết trong nôi, như những nguyên nhân bồi thẩm đoàn đã nghe tới trước đó. Hoặc đứa trẻ đã chết bất thường nhưng tôi không biết nguyên nhân vì sao, hoặc đứa trẻ đã chết vì một căn bệnh tự nhiên nào đó mà vốn hiểu biết của tôi không đủ để chẩn đoán và công nhận...”

Nhưng vị bác sĩ pháp y đó không chọn ghi “không xác định”. Thay vào đó ông ấy nộp một bản tường trình khác với nội dung không nghĩ đứa trẻ đầu tiên chết do nguyên nhân tự nhiên. Sự thay đổi hoàn toàn này đã đưa đến kết luận: “Có những bằng chứng cho thấy đứa trẻ tử vong do thủ đoạn gây ngạt, chẳng hạn làm nghẹt đường thở.

Sáu tuần sau khi bị bắt vì tình nghi giết đứa con trai thứ hai, Sally Clark cũng bị kết tội giết đứa con trai đầu lòng. Tại phiên tòa xét xử, bồi thẩm đoàn đã nghe các chứng cứ nổi tiếng của Giáo sư Bác sĩ Nhi khoa Sir Roy Meadow, người có câu châm ngôn nổi danh: “Một ca trẻ sơ sinh đột tử trong gia đình là bi kịch, hai ca là đáng nghi ngờ, ba ca là giết người trừ phi được chứng minh ngược lại.”

Không may thay, một xác suất đã được thêm vào trong phiên tòa, rồi gắn liền vĩnh viễn với tên tuổi Giáo sư Meadow: “Cơ hội hai đứa trẻ cùng chết vì nguyên nhân tự nhiên trong những hoàn cảnh đó là cực thấp. 1 trên 73 triệu...”

“1 trên 73 triệu” là con số giật tít và hẳn đã quyết định số phận của bị cáo. Ông ấy tiếp tục: “... Đó cũng là xác suất khi đặt cược con ngựa ít có khả năng thắng nhất tại trường đua Grand National... Nếu xác suất là 1 ăn 80, anh cược con thắng giải năm ngoái, năm nay có một con 1 ăn 80 lần nữa, anh cược nó, rồi nó thắng... Các anh biết đấy, để thắng đúng xác suất đó trong số 73 triệu, các anh phải cược con 1 ăn 80 đó liên tục bốn năm.

Sally Clark bị tuyên có tội trong cả hai vụ giết người, theo quyết định của bồi thẩm đoàn với tỷ lệ 10-2 (*) , và bị tuyên án chung thân.

Tôi không trực tiếp liên quan tới vụ này, nhưng nó ảnh hưởng đến tất cả chúng tôi. Việc kết án Sally và các kết quả nghiên cứu của David Southall chỉ ra giết hại trẻ sơ sinh diễn ra thường xuyên hơn chúng ta nghĩ, các bậc phụ huynh giết con không phải chuyện không tưởng. Không loại trừ những bậc phụ huynh “tử tế, trung lưu. Bác sĩ pháp y chúng tôi được mời đến để phân tích y khoa trong bối cảnh suy nghĩ của xã hội bấy giờ, và tôi phải xin lỗi trước khi nói rằng, sự thuần khiết của các sự thật mang tính khoa học hiếm khi xuyên qua được quan điểm của xã hội đương thời.

Cá nhân tôi chẳng thể quên thời kỳ tôi bồng bế đứa trẻ nhèo nhẹo khóc vì dị ứng lactose quanh nhà, đêm này tiếp đêm kia, suy nghĩ rằng miễn đầu óc tôi có khả năng nghĩ được gì khác bất chấp những tiếng thét kia, tôi sẽ làm tất cả chỉ để được ngủ một chút. Tôi hiểu giới trung lưu kể cả khi không bị cơn đói khát và nỗi cô độc bủa vây vẫn có thể là những người yếu thế, tuyệt vọng như bất cứ bậc phụ huynh nào khác.

Chẳng bao lâu sau vụ án Sally Clark là đến vụ án tôi tham gia, cho thấy bản chất mâu thuẫn lớn lao trong công tác bảo vệ trẻ em. Khi tôi nhìn thấy xác đứa bé sáu tháng tuổi trông khỏe mạnh và được chăm sóc tốt giờ nằm trong phòng khám nghiệm, tôi nhanh chóng để ý bộ ba dấu hiệu dễ nhận biết. Đứa bé bị xuất huyết dưới màng cứng (tụ máu não), não đứa bé sưng lên, xuất huyết trên võng mạc. Bộ ba triệu chứng đó kết hợp với sự vắng bóng các vết thương bên ngoài cơ thể, vào thời điểm hiện tại hẳn đã nhanh chóng được công nhận như những dấu hiệu kinh điển của “hội chứng trẻ sơ sinh bị rung lắc mạnh”.

Vào thập niên 40 của thế kỷ trước, một bác sĩ X-quang tên John Caffey đã báo cáo thấy nhiều vết nứt rạn vào nhiều độ tuổi khác nhau ở trẻ, ban đầu cứ nghĩ đó là một loại bệnh mới. Các nghiên cứu sau đó cho thấy những vết rạn do chấn thương liên tục, và vào thập niên 60, cụm từ “hội chứng trẻ sơ sinh bị đánh đập” lần đầu tiên được nhắc đến. Thập niên 70, một biến thể thuộc hệ thần kinh khác, hội chứng trẻ sơ sinh bị rung lắc, được nhà giải phẫu thần kinh Norman Guthkelch công nhận. Những triệu chứng trên cùng căn nguyên do hành động cố ý gây thương tích đã được giới y khoa biết tới. Tuy nhiên chúng chỉ được công luận chú ý vào năm 1997 nhờ vụ án nổi tiếng của cặp đôi bác sĩ ở Massachusetts, sau khi để con họ cho một vú em 19 tuổi người Anh chăm sóc rồi dẫn đến tử vong.

Khi đứa bé đột nhiên yếu đi rồi được đưa đến bệnh viện, đã có bộ ba triệu chứng kinh điển của chứng bệnh. Trong phiên tòa được phát trực tiếp gây ám ảnh toàn nước Mỹ, cô gái trẻ làm vú em tên Louise Woodward bị kết tội giết người. Rất nhiều người Mỹ đã phát điên khi bản án sau đó được chuyển thành ngộ sát vì thẩm phán cho rằng không có đủ bằng chứng. Nguyên nhân bắt nguồn từ sự thiếu đồng thuận giữa các chuyên gia ngành y về hội chứng rung lắc trẻ em. Đó vẫn chưa phải hồi kết của câu chuyện vì giờ bản thân hội chứng rung lắc trẻ em đã trở thành một câu chuyện. Phần lớn mọi người chưa từng nghe đến chứng bệnh này, đột nhiên cái tên Louise Woodward xuất hiện trên khắp mặt báo, các chuyên gia bệnh học đều cảnh giác cao độ trước bộ ba triệu chứng nổi tiếng của nó.

Kỳ thực, khi được coi là nguyên nhân tử vong, hội chứng này luôn gây tranh cãi về mặt khoa học cũng như y học. Chứng rung lắc trẻ sơ sinh, hiện nay thường được biết tới như chấn thương đầu do bị ngược đãi, hoặc chấn thương đầu không do tai nạn, đã kịp tạo ra những nhóm biểu tình và phủ nhận. Các nỗ lực tìm kiếm nguyên nhân tự nhiên gây ra nó chưa bao giờ chấm dứt.

Khá lâu sau khi Sally Clark vào tù, năm 2009 Đại học Hoàng gia về bệnh học đã nỗ lực quy tụ những góc nhìn khác nhau về căn bệnh, nhóm họp đủ thành phần này đã đưa ra biên bản gọi là chấn thương đầu (lại một cái tên khác cho cùng một sự việc) nhắc nhở các chuyên gia pháp y mặc dù bộ ba triệu chứng đều có mặt, vẫn còn những nguyên nhân không do chấn thương khác. Biên bản này nêu rõ chỉ bộ ba triệu chứng không đủ sức làm bằng chứng “không còn nghi ngờ gì nữa” nhằm cáo buộc bố mẹ đã làm hại con cái, vẫn cần thêm bằng chứng hỗ trợ. Phải rất cẩn thận khi phân tích các vết thương, nhất là ở những đứa trẻ dưới ba tháng tuổi, vì nhiều vết thương có thể đã xuất hiện trong quá trình đứa trẻ chào đời.

Có vẻ đã đạt được thỏa thuận. Vậy mà cuộc tranh cãi vẫn không thể hạ nhiệt. Bốn mươi năm kể từ lần đầu tiên mô tả những triệu chứng của căn bệnh, năm 2012, Bác sĩ Norman Guthkelch đã hiệu đính lại lịch sử căn bệnh và bày tỏ lo ngại:

“Xã hội có thể cảm thấy sốc khi những thành viên yếu ớt nhất của mình bị xâm hại và yêu cầu sự trừng phạt nhưng đã có những ví dụ cả y học lẫn luật pháp đều đi quá xa trong việc đặt giả thuyết và kết tội các hành vi bị lên án, mà bằng chứng duy nhất chỉ là bộ ba triệu chứng hoặc thậm chí một hoặc hai trong ba.”

Cuối thập niên 90, hội chứng trẻ nhỏ chết vì bị rung lắc đã hiện diện vững vàng trong tầm theo dõi của các chuyên gia bệnh học, đứa bé sáu tháng tuổi tôi thụ lý có tất cả các dấu hiệu của chứng này. Tuy nhiên, theo người mẹ, đứa bé đã chồm ra khỏi chiếc ghế đặt trên mặt bàn bếp cao, cô ấy không nghĩ đứa bé có thể chồm người ra như vậy. Kết quả, đứa bé ngã từ bàn bếp cao khoảng 1m xuống mặt sàn. Chỉ vài năm trước đây, chắc tôi đã cảm thấy rất khó tin lời cô ấy, nhưng sau vụ Woodward, tôi lo ngại rất nhiều.

Người mẹ xuất thân từ một đất nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá, được người chồng bảo lãnh tới London sống cùng mẹ chồng và gia đình chồng. Cô ấy không nói được tiếng Anh, chỗ ở lại chật ních. Cô ấy vẫn duy trì mối quan hệ hôn nhân với chồng nhưng vì hầu như không có không gian riêng cho gia đình trong căn hộ chung, cô ấy bắt đầu chuyển ra ở riêng trong nhà xã hội (*) . Căn hộ của cô ấy khá sạch sẽ và thông thoáng, ngoài chiếc giường và TV, không còn món đồ nội thất nào khác, thậm chí cô ấy còn phải ngồi trên sàn nhà.

Có vẻ cô ấy ở nhà một mình cả ngày. Ngoài những người thân trong gia đình chồng hiếm khi gặp, cô ấy chỉ biết duy nhất một người bạn ở London, người này sống cách đó khá xa. Tôi nghĩ đến con trai Chris của mình, khóc nhèo nhẹo nhiều năm trước, cảm thấy tội nghiệp cho người phụ nữ này đang cô đơn tột đỉnh trong căn nhà cô ấy sống, tha hương, cùng một đứa trẻ.

Cô ấy không có ô tô, dĩ nhiên, cô ấy di chuyển con trai quanh căn hộ bằng ghế trẻ em loại dùng cho ô tô. Khi nấu ăn, cô ấy đưa con trai vào bếp, đặt trên mặt bàn bếp. Đứa bé không được thắt dây an toàn vào ghế. Một buổi tối nọ, khi đang nấu ăn, cô ấy nghe một tiếng

“uych” lớn, quay lại thì thấy con trai nằm sấp mặt trên sàn. Đứa bé thét lên, hai mắt trợn ngược, nhịp thở bất thường. Có điều gì đó rất xấu đã xảy đến.

Cô ấy cố gọi 999 nhưng họ không hiểu cô ấy đang nói gì. Cô ấy cố gọi cho chồng, chồng cô ấy nói được tiếng Anh, nhưng đường dây cấp cứu đang chặn cuộc gọi. Cô ấy chạy xuống đường, nhờ một người khác gọi 999 nhưng lúc đó cảnh sát đã phản hồi cuộc gọi hoảng loạn của cô ấy dù không ai hiểu gì.

Họ tìm thấy đứa bé bị chảy máu từ cả mũi và miệng, co giật nhẹ rồi dần bất tỉnh. Cảnh sát không cho phép người mẹ lên cùng xe cứu thương, đứa bé nhanh chóng được đưa đến bệnh viện trong tình trạng càng lúc càng tệ. Bản scan CT cho thấy các vết nội thương, nhưng lúc đầu họ cứ nghĩ đứa bé có thể sống sót. Tuy nhiên hệ tuần hoàn của đứa bé trở nên không ổn định, bất chấp mọi nỗ lực, đứa bé qua đời 12 tiếng sau khi người mẹ gọi cấp cứu.

Như những gì chúng tôi đã biết cho tới nay, các nguyên nhân tử vong tự nhiên có bộ ba triệu chứng của chứng chấn thương do rung lắc rất hiếm, chẳng hạn chứng máu khó đông. Dù vẫn phải cẩn thận để nhận ra các nguyên nhân tự nhiên, tôi cảm thấy một đứa trẻ có cả bộ ba triệu chứng chảy máu bề mặt não, sưng não và chảy máu võng mạc phải trải qua chấn thương cực lớn. Đôi khi chấn thương đó có thể là tai nạn, chẳng hạn một vụ đâm xe. Đặc biệt khi không có dấu hiệu bị thương ngoài da, nó không thể là một tai nạn.

Trong trường hợp này tôi càng tin rằng đứa bé đã bị rung lắc vì dù xuất huyết trong, đứa bé không bị thương hộp sọ, không có vết bầm trên đầu, không chấn thương ngoại vi nào khác cho thấy đứa bé đã ngã từ mặt bàn bếp xuống sàn. Đứa bé có cả bộ ba dấu hiệu, dù không có chấn thương ở tuỷ sống – là một dấu hiệu đi kèm khác.

Người mẹ bị buộc tội ngộ sát. Bác sĩ pháp y bên bị cáo cho rằng các chấn thương của đứa bé có thể do bị nâng lên hạ xuống (rung lắc) hoặc va đập phần đầu. Ông ấy cũng đồng ý ở một đứa trẻ 6 tháng tuổi, rung lắc là nguyên nhân thường thấy gây ra những nội thương đó. Ông ấy còn thêm vào rằng đôi khi rất khó quyết định rung lắc hay va đập phần đầu là nguyên nhân chính vì đôi khi những đứa bé bị rung lắc mạnh sau đó lại bị ném mạnh xuống đất. Tuy nhiên ông ấy kết luận chỉ riêng não bị sưng cũng đủ giết chết đứa bé và các vết thương đã xác nhận câu chuyện người mẹ thuật lại.

Xuất hiện bên nguyên, tôi giải thích sơ bộ với luật sư và chỉ ra không có bằng chứng vết bầm hoặc vết thương ngoài da nào chứng minh cho cú ngã. Chi tiết này được đưa ra, bác sĩ pháp y bên bị cáo dẫn chứng một trường hợp hai tuổi ngã từ mặt bàn cao nửa mét ở nhà hàng McDonald’s xuống và chết do não bị sưng, cũng không có vết thương ngoài da nào.

Bồi thẩm đoàn sau đó quyết định người mẹ được miễn tội ngộ sát. Cô ta được tha bổng.

Năm sau cô ta có thêm con trai. Chính quyền địa phương biết cô ta đã được tha tội, nhưng vẫn tin rằng có đủ chứng cứ cho những lo lắng của họ về an toàn của đứa bé thứ hai. Họ chuẩn bị các bước để đưa đứa bé tránh xa người mẹ.

Tại tòa đại hình, một người mẹ bị buộc tội ngộ sát sẽ chỉ bị tuyên án nếu tội của cô ta có bằng chứng không thể chối cãi. Tòa án gia đình, nơi xem xét yêu cầu của chính quyền địa phương về việc đưa đứa bé rời xa mẹ, phải lật lại hồ sơ vụ án nhưng áp dụng mức độ bằng chứng khác. Tòa án gia đình áp dụng tiêu chuẩn bằng chứng thấp hơn – sự cân bằng xác suất để đưa ra kết luận. Điều đó có thể được định nghĩa là 50,1% khả năng phạm tội – tiêu chuẩn bằng chứng thấp hơn tiêu chuẩn bằng chứng “không còn nghi ngờ gì nữa”. Vì thế, các tòa án khác nhau sẽ có những kết luận khác nhau tùy theo mức độ bằng chứng họ yêu cầu. Đôi khi tòa đại hình không đủ bằng chứng buộc tội phụ huynh vì cái chết của con họ nhưng tòa gia đình lại làm được – đưa đứa trẻ còn sống rời khỏi gia đình. Cũng vì thế, sự thật, thứ “hàng hóa” có khả năng đàn hồi tôi từng tin là bất khả xâm phạm lại trở thành không phải vấn đề về thực tế, mà tùy cách định nghĩa.

Không ai có tội nếu xét theo diện có tội theo “cán cân xác suất”. Thậm chí nếu tòa gia đình quyết định dùng định nghĩa này để tố tội một phụ huynh đã giết con mình, bậc phụ huynh ấy vẫn có thể được tha bổng. Và vì tòa án hoàn toàn là cánh cửa đóng kín trước báo giới và công luận, sẽ chẳng ai được biết. Mặc dù mọi người có thể biết rằng tòa án đã ra lệnh rằng tất cả những đứa trẻ sống sót hoặc được sinh ra sau này sẽ bị mang đi, và bọn trẻ sẽ được bảo vệ bằng cách này hay cách khác. Mục đích chính của tòa gia đình không phải bỏ tù phụ huynh mà là bảo vệ trẻ em, đó cũng là trường hợp của người mẹ có đứa con mà theo lời cô ta đã chết do ngã khỏi ghế em bé trên bàn bếp.

Đối với các chuyên viên pháp y, vực thẳm giữa hai tòa án và hai tiêu chuẩn phạm tội trên là cơn ác mộng. Theo các bằng chứng về cái chết của đứa trẻ thứ nhất, những phụ huynh vô can và đau buồn có thể sẽ không bao giờ được phép nuôi những đứa con sau này. Hoặc ngược lại, chúng ta có thể đặt đứa trẻ vào tay những bậc phụ huynh giết con.

Xu hướng phổ biến là sự khoan dung đối với những ca liên quan đến người mẹ, trong đó có cả tôi thời kỳ đầu sự nghiệp. Tôi thông cảm sâu sắc với những phụ huynh đang phải chịu áp lực. Tôi chỉ cần nghĩ đến Chris để cảm nhận được sự thông cảm đó ngay lúc này. Nếu nghèo đói gõ cửa, nợ nần trèo qua cửa sổ, sự hỗn độn len lỏi vào mọi mạch ngầm trong căn nhà, liệu tôi có kìm được sự cáu tiết? Khi khoảng yên tĩnh trong nhà sự xa xỉ, tôi có thể kiểm soát sự kiệt quệ, căng thẳng trước khi chúng biến thành cơn cuồng nộ không?

Lòng trắc ẩn có vị trí của nó nhưng trong trường hợp ngược đãi trẻ em, chúng ta cần dành lòng trắc ẩn của mình cho những cá thể thậm chí chưa được chào đời. Khi xã hội, khi các chuyên gia pháp y nhận ra tình trạng lạm dụng và sát hại trẻ em ngày càng lan rộng, mỗi cái chết của trẻ sơ sinh lại trở nên nghiêm trọng hơn. Công lý cho người đã khuất, đúng vậy. Nhưng sự an toàn của những đứa trẻ còn sống khác trong gia đình càng quan trọng hơn. Xu hướng khoan dung của chúng ta không còn chỗ đứng nữa.

Đôi khi một năm sau khi đứa trẻ thứ nhất qua đời, đứa trẻ thứ hai chào đời, chúng tôi lật lại hồ sơ vụ án, cùng hỏi nhau những câu hỏi về an nguy của người còn sống. Vào thời điểm đó, có lẽ toàn bộ bức tranh liên quan đến cái chết của đứa trẻ đã hiện rõ. Ngược đãi, sự lơ là hay thiếu chăm sóc của bố mẹ đã được khui mở, những góc tối cũng được hé lộ. Toàn bộ vụ án nghiêng theo chiều hướng khác. Chúng tôi lật lại chúng. Trong số các hồ sơ tôi xem xét lại, những vụ có trẻ em là những bãi mìn chôn giấu đầy kho cảm xúc và đạo đức mà tôi xem xét rồi tái xem xét nhiều nhất. Khi chuyển đến Bệnh viện St Georges, tôi muốn tránh những ca đó, nhưng thập niên 90 câu hỏi về trẻ sơ sinh và lý do chúng qua đời trở thành trọng tâm của khoa học pháp y, cần được mọi người quan tâm, trong đó có tôi.

« Lùi
Tiến »